LỜI CẢM ƠN Luận văn thạc sĩ ngành xã hội học với đề tài “Hành vi tìm kiếm việc làm của hộ gia đình bị thu hồi đất trên địa bàn xã Điềm Thụy, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên” là kết quả
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ THỊ HUYỀN TRANG
HÀNH VI TÌM KIẾM VIỆC LÀM CỦA HỘ GIA ĐÌNH
BỊ THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN XÃ ĐIỀM THỤY,
HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
Ngành: Xã hội học
Mã số: 8.31.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS NGUYỄN XUÂN MAI
Hà Nội, 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Hành vi tìm kiếm việc làm của hộ gia đình bị thu hồi đất trên địa bàn xã Điềm Thụy, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên” là do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của
PGS.TS Nguyễn Xuân Mai Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
là trung thực và chưa hề được công bố trong bất kỳ công trình nào Các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Học viên
Vũ Thị Huyền Trang
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sĩ ngành xã hội học với đề tài “Hành vi tìm kiếm việc làm của hộ gia đình bị thu hồi đất trên địa bàn xã Điềm Thụy, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên” là kết quả của quá trình cố gắng không ngừng của
bản thân và được sự giúp đỡ, động viên khích lệ của các thầy, bạn bè đồng nghiệp và người thân Qua trang viết này tác giả xin gửi lời cảm ơn tới những người đã giúp đỡ tôi trong thời gian học tập - nghiên cứu khoa học vừa qua
Tôi xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với PGS.TS Nguyễn Xuân Mai đã trực tiếp tận tình hướng dẫn cũng như cung cấp tài liệu thông tin khoa học cần thiết cho luận văn này
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Học viện Khoa học Xã hội, khoa Xã hội học đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt công việc nghiên cứu khoa học của mình
Tôi xin chân trọng cảm ơn Lãnh đạo và cán bộ phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Phú Bình đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
và thực hiện luận văn
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp trong cơ quan đã động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, làm việc và hoàn thành luận văn
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Vũ Thị Huyền Trang
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 12
1.1 Các khái niệm liên quan 12
1.2 Lý thuyết áp dụng 16
1.3 Đặc điềm địa bàn nghiên cứu 24
Chương 2 THỰC TRẠNG VIỆC LÀM VÀ HÀNH VI TÌM KIẾM VIỆC LÀM CỦA HỘ GIA ĐÌNH BỊ THU HỒI ĐẤT 27
2.1 Thực trạng việc làm hiện tại của hộ gia đình bị thu hồi đất 27
2.2 Quá trình tìm kiếm việc làm và sự thay đổi thu nhập sau khi bị thu hồi đất 33
Chương 3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI TÌM KIẾM VIỆC LÀM CỦA HỘ GIA ĐÌNH 43
3.1 Sự vận dụng và chuyển hóa các nguồn lực sinh kế 43
3.2 Các yếu tố vĩ mô 63
KẾT LUẬN 72 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
- CNH – HĐH : Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
- KCN : Khu công nghiệp
- UBND : Ủy ban nhân dân
- ILO : International Labour Organization
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Tình hình dân số và lao động trong khu giải phóng mặt bằng 27
Bảng 2.2 Tình hình việc làm chính của các hộ bị thu hồi đất 28
Bảng 2.3 Tình trạng việc làm phụ * Tình trạng việc làm chí nh 30
Bảng 2.4 Nơi làm việc chính 31
Bảng 2.5 Tình trạng việc làm phụ 32
Bảng 2.6 : Chi tiêu hàng ngày của các hộ gia đình 33
Bảng 2.7 Thay đổi việc làm của các hộ 34
Bảng: 2.8 Sự thay đổi tình trạng việc làm chính sau khi b ị thu hồi đất 34
Bảng 2.9 Lý do thay đổi việc làm 36
Bảng 2.10: Khó khăn khi thay đổi công việc theo giới tính 37
Bảng 2.11: Sự thay đổi việc làm và thu nhập 38
Bảng 2.12: Sự thay đổi nguồn thu nhập chính của hộ gia đình 39
Bảng 2.13: Lý do thay đổi thu nhập 40
Bảng 3.1: Giới tính của thành viên trong hộ 43
Bảng 3.2: Tình trạng việc làm theo giới tính 44
Bảng 3.3 Trình độ học vấn theo việc làm 45
Bảng 3.4: Tình trạng việc làm theo cơ cấu tuổi 46
Bảng 3.5 : Tham gia đào tạo nghề khi thay đổi việc làm 47
Bảng 3.6 Nơi tham gia đào tạo nghề 48
Bảng 3.7: Sự giúp đỡ khi thay đổi việc làm 49
Bảng 3.8 Dự định công việc hiện nay 50
Bảng 3.9: Cần sự hỗ trợ từ các dự án và địa phương 51
Bảng 3.10 Những loại tài s ản bị ảnh hưởng khi thu hồi đất 52
Bảng 3.11 Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi 53
Bảng 3.12 Diện tích đất thổ cư bị thu hồi 54
Trang 7Bảng 3.13 Loại hình nhà ở 56
Bảng 3.14 Loại tài sản trong gia đình 57
Bảng 3.15 Mục đích sử dụng số tiền đền bù 58
Bảng 3.16 Tình hình vay vốn của các hộ 61
Bảng 3.17 Nguồn vốn vay của các hộ gia đình 62
Trang 81
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay Đảng và Nhà nước ta đang có chủ trương tiếp tục đẩy mạnh
sự nghiệp CNH – HĐH đât nước trogn quá trình này để đáp ứng yêu cầu phát triển, xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng các KCN, khu đô thị việc thu hồi đất
là một yếu tố khách quan Quá trình xây dựng diễn ra sôi động hơn bao giờ hết kéo theo đó là phần diện tích đất canh tác và đất sinh hoạt bị thu hẹp lại Điều này đã tác động đến toàn bộ hoạt động của người dân khi phải nhường diện đất tư liệu sản xuất quan trọng nhất của gia đình cho các dự án xây dựng phát triển kinh tế xã hội của địa phương Trong khi đó nước ta là nước nông nghiệp hơn 70% dân số là động nông nghiệp, trước thách thức đất sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp dẫn đến người nông dân rơi vào trạng thái bị động và thiếu các điều kiện cần thiết đảm bảo cuộc sống khi họ bị mất việc làm buộc phải tìm kiếm việc làm khác Vì vậy vấn đề việc làm đối với những hộ gia đình bị thu hồi đất được coi là vấn đề bức xúc đặt ra yêu cầu cần được giải quyết nhanh chóng, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân ổn định cuộc sống
Thái Nguyên là một trong những trung tâm phát triển kinh tế lớn của nước ta Năm 2009 dự án “Xây dựng khu công nghiệp Điềm Thụy” được Thủ trướng Chính phủ phê duyệt tại văn bản số 1854/TTg-KTN về điều chỉnh bổ sung các khu công nghiệp tỉnh Thái Nguyên đến năm 2015 tầm nhìn đến năm
2020 trên địa bàn 2 huyện Phú Bình và Phổ Yên với tổng diện tích là 350ha
Dự án xây dựng ngày càng được mở rộng tỷ lệ, diện tích đất bị thu hồi ngày càng lớn đồng nghĩa với những thách thức không nhỏ đối với đời sống, thu nhập và việc làm của người dân sau khi bị thu hồi đất Điềm Thụy là một
xã thuần nông nằm ở phía Tây của huyện Phú Bình, những năm gần đây do ảnh hưởng của quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa và chương trình mục
Trang 92
tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới nhiều diện tích đất bị thu hồi để phục
vụ cho công nghiệp xây dựng, dịch vụ, cơ sở hạ tầng nông thôn, đất đai bị thu hồi người dân mất toàn bộ hoặc một phần diện tích đất sản xuất không có khả năng chuyển đổi việc làm rơi vào tình trạng thất nghiệp, không có việc làm làm, không có thu nhập, đời sống gặp nhiều khó khăn
Cũng như các địa phương khác trong tỉnh dự án khu công nghiệp Điềm Thụy được xây dựng trên địa bàn xã Điềm Thụy với diện tích là 180ha là khu công nghiệp tập trung của tỉnh Thái Nguyên Mặc dù khi thu hồi đất Nhà nước và chính quyền địa phương đã có nhiều chính sách hỗ trợ người dân như bồi thường đất, hỗ trợ giải quyết việc làm, hỗ trợ học nghề, hỗ trợ tái định cư…tuy nhiên những vấn đề này vẫn chưa được giải quyết một cách hiệu quả, còn bộc lộ nhiều hạn chế như việc đào tạo nghề cho lao động bị thu hồi đất chưa đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng lao động của doanh nghiệp, các doanh nghiệp trên địa bàn được giao đất cho đầu tư xây dựng cơ sở sản xuất chưa có trách nhiệm trong việc tuyển dụng lao động bị thu hồi đất
Do nhiều yếu tố khách quan, chủ quan đến nay nhiều lao động bị thu hồi đất vẫn chưa tìm được việc làm, chưa tìm được cho mình công việc ổn định để đảm bảo cuộc sống Từ đó nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức và tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây mật trật tự an toàn xã hội, những khó khăn, bất cập trong đời sống của hộ gia đình khi bị thu hồi đất hiện nay đã đặt ra cho xã Điềm Thụy, huyện Phú Bình cần có những giải pháp giúp người dân tìm kiếm được việc làm đem lại cuộc sống ổn định Xuất phát từ thực tế này tác giả quyết định lựa chọn đề
tài “Hành vi tìm kiếm việc làm của hộ gia đình bị thu hồi đất trên địa bàn
xã Điềm Thụy, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên” Nghiên cứu muốn
hướng đến tìm hiểu thực trạng tìm kiếm việc làm và những khó khăn mà hộ gia đình gặp phải trong quá trình tìm kiếm việc làm
Trang 103
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trên thế giới, kể cả ở Việt Nam đã có không ít công trình, bài báo nghiên cứu về việc làm đối với hộ gia đình bị thu hồi đất Qua các tác phẩm
đã công bố các tác giả không chỉ đưa ra các định nghĩa và còn đi sâu vào tìm hiểu thực trạng, khó khăn trong quá trình tìm kiếm việc làm…với đối tượng
đa dạng và phong phú, các nhà khoa học đi trước đã đặ được không ít những thành tựu to lớn Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn này tác giả đi vào tìm hiểu các nghiên cứu liên quan đến hành vi tìm kiếm việc làm của hộ gia đình
bị thu hồi đất
2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Thế kỷ 21 chứng kiến sự bùng nổ của các đô thị Đây là thế kỷ đô thị đầu tiên mà đến cuối thể kỷ này phần lớn dân cư sẽ sống trong các khu đô thị Lịch sử văn minh nhân loại mang dấu ấn của đô thị rất rõ nét như từ thời La
Mã đã mang dấu ấn của đô thị Trung tâm của La Mã Hy Lạp cổ đại đã hình thành lên các thành bang sống trong đó là các tăng nữ, chủ nô, và thứ dân.Trung Quốc là một quốc gia có điều kiện tự nhiên và phong tục tập quán tương đối giống Việt Nam Là nước đông dân trên thế giới nhưng cũng giống như Việt Nam gần 70% dân số Trung Quốc vẫn sống ở khu vực nông thôn, hàng năm có tới hàng nghìn lao động đến tuổi tham gia vào lực lượng lao động Vì thế nhu cầu giải quyết việc làm ngày càng trở lên gay gắt Sau cải cách và mở cửa nền kinh tế năm 1978, Trung Quốc thực hiện phương châm
“Ly nông bất ly hương” thông qua chính sách khuyến khích phát triển mạnh
mẽ công nghiệp nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lao động xã hội ở nông thôn, từ đó rút ngắn khoảng cách nông thôn và thành thị, Trung Quốc coi trọng việc phát triển công nghiệp nông thôn là con đường giải quyết việc làm vấn đề việc làm và sinh kế của người dân
Trang 114
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã thu hút lực lượng lao động
ở nông thôn, bên cạnh đó chính sách khuyến khích sự đầu tư của kinh tế tư nhân vào khu vực phi nông nghiệp đã thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp địa phương Trong những năm đầu đã có đến 20% thậm chí có nơi đến 50% tổng thu nhập của người dân nông thôn từ các doanh nghiệp địa phương.Cùng với việc đưa ra các chính sách phát triển thì nhà nước cũng đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, tạo điều kiện cho các hộ nông dân sản xuất hàng hóa, thu nua hàng hóa nông nghiệp, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận thị trường tín dụng
Trong những năm gần đây diện tích đất nông nghiệp của Thái Lan đang giảm dần do tốc độ công nghiệp hóa, sự mở rộng các khu công nghiệp giải trí, khu đô thị, kéo theo hiện tượng lơ là trong việc áp dụng các kỹ thuật canh tác mới theo phương châm bền vững khiến đất canh tác bị rửa trôi, xói mòn hoặc nhiễm mặn Điều đó khiến người nông dân không mặn mà với nghề nông, loại bỏ ruộng vườn đến những thành phố lớn đề tìm kiếm việc làm, tạo áp lực việc làm tại các thành phố lớn
Bên cạnh những chính sách khuyến khích hỗ trợ nông dân thì vấn đề liên quan đến tính mềm dẻo như đào tạo nghề kỹ thuật, nâng cao nhận thức của người nông dân được coi trọng hướng đến Nhiều trường đại học, cao đẳng, trung học và các khoa học tại chỗ về kỹ thuật canh tác, chuyển giao công nghệ được mở rộng với nhiều ưu đãi nhằm thu hút và nâng cao trình độ nguồn nhân lực nông thôn
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Quá trình CNH - HĐH đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi cả nước nói chung và trên địa bàn huyện Phú Bình nói riêng Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta phấn đấu đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp Để đạt được mục tiêu này không còn con đường nào khác là qáu trình
Trang 125
CNH - HĐH đất nước Nhằm chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho lao động
bị thu hồi đất tìm được việc làm trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương chính sách hỗ trợ người lao động trong quá trình chuyển đổi cơ cấu việc làm như:
Cuốn sách “Giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa” của PGS TS Nguyễn Thị Thơm, ThS Phí Thị Hằng (đồng chủ biên), NXB Chính Trị quốc gia năm 2009 Sách đề cập đến một số vấn đề
lý luận, và kinh nghiệm thực tiễn về việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa Thực trạng việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa; Phương hướng và giải pháp giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa
Luận án tiến sỹ của tác giả Phí Thị Hương năm 2009 nghiên cứu về “ Sinh kế của hộ nông dân sau thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp tại xã Đông Mỹ, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình” Trong nghiên cứu này tác giả đã đưa ra những minh quá trình xây dựng các khu công nghiệp đã ảnh hưởng đến sinh kế của người dân Những khó khăn
về mặt sinh kế mà người dân gặp phải khi bị thu hồi đất
Luận án tiến sỹ của tác giả Nguyễn Thị Diễn, năm 2013 về “Ảnh
hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp cho công nghiệp hóa đến sinh kế của các hộ nông dân ở tỉnh Hưng Yên” Luận án này phân tích tác động của việc
thu hồi đất nông nghiệp để phát triển KCN, cụm công nghiệp đến sinh kế của
hộ nông dân trên địa bàn tỉnh Hưng Yên Kết quả nghiên cứu cho thấy sau khi thu hồi đất nông nghiệp cở sở hạ tầng địa phương được nâng lên, tỉ lệ hộ nghèo giảm đi đáng kể, thu nhập bình quân đầu người tăng Tuy nhiên việc thu hồi đất cũng đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc làm, an ninh lương thực của các hộ nông dân cũng như của địa phương
Trang 136
Nguyễn Kim Hoa (2008) “Tác động của quá trình đô thị hóa đến cơ
cấu lao động và việc làm của hộ gia đình”Tạp chí Xã hội học, số 1, tr39 Bài
viết cho thấy đô thị hóa đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển đổi cơ cấu lao động và việc làm của các hộ gia đình đang làm nghề nông nghiệp chuyển sang những nghề phi nông nghiệp Đô thị hóa đã tạo ra những điều kiện cho lao động của các hộ gia đình phát huy được tính chủ động tự tìm việc làm cho mình, có nhiều cơ hội để tiếp cận và phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp và họ sử dụng nguồn vốn xã hội có hiệu quả hơn
Lê Hiếu (2012)[14] “Về vấn đề chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa”, Tạp chí Quản lý nhà nước số 7, tr 34 Toàn bộ bài viết tác giả đã đưa ra các số liệu thống kê về số lượng đất bị thu hồi, số lượng người nông dân bị mất việc làm, từ đó tác giả đi đến kết luận vấn đề việc làm và thu nhập của những người bị thu hồi đất đnag
là vấn đề bức xúc tác động tới sự phát triển bền vững của đất nước Qua thực trạng trên tác giả cũng đưa ra một số khuyến nghị như lập quy hoạch các khu
đô thị, công nghiệp phải phù hợp với quy hoạch tổng thể, phải có chính sách bồi thường, hỗ trợ thỏa đáng nhằm giải quyết tốt mối quan hệ lợi ích giữa các bên, có chính sách giúp người thu hồi đất chuyển đổi nghề nghiệp, quan tâm giải quyết việc làm ở nông thôn
Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Tiến Trí, năm (2013) [12] về vấn
đề “Giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở huyện Hoài Đức, thành
phố Hà Nội” Trong luận văn này tác giả đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận,
thực tiễn liên quan đến lao động, việc làm và giải quyết việc làm cho lao động
bị thu hồi đất, đồng thời rút ra những kinh nghiệm về giải quyết việc làm ở một số địa phương có thể áp dụng trên huyện, phân tích và đánh giá thực trạng công tác giải quyết việc làm vùng thu hồi đất trên địa bàn huyện Hoài
Trang 14sở lý luận và thực tiễn về việc làm, giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa; phân tích thực trạng chất lượng lao động, việc làm và tình hình giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất ở vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ với những hạn chế và một số vấn đề đặt ra Trên cơ sở đó, các tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất ở khu vực kinh tế trọng điểm Trung Bộ trong thời gian tới
Nhìn chung các công trình đã có những cách tiếp cận khác nhau trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất đó là vấn đề không chỉ riêng một địa phương hay một khu vực nào mà đang diễn ra ở trên tất cả mọi miền đất nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Các công trình trên đã nêu lên tương đối sát với thực tế về những tồn tại và khó khăn của người dân hiện nay trong quá trình bị thu hồi đất Tại mỗi thời điểm cách tiếp cận và quy mô khác nhau sẽ có những thực trạng và giải pháp khác nhau Trên cở sở đó tác giả tiếp tục nghiên cứu theo hướng chuyên sâu, cụ thể trên địa bàn xã Điềm Thụy về hành vi tìm kiếm việc làm và những yếu tố tác động đến quá trình tìm kiếm việc làm và không trùng lặp với các nghiên cứu trước đó
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu: Thực trạng hành vi tìm kiếm việc làm và
những yếu tố tác động đến quá trình này của những hộ gia đình bị thu hồi đất
Trang 158
trên địa bàn xã Điềm Thụy, huyện Phú Bình Từ đó đưa ra những kiến nghị giúp người lao động tìm được việc làm hiệu quả hơn
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: Tìm hiểu thực trạng hành vi tìm kiếm việc
làm của hộ gia đình bị thu hồi đất trên địa bàn xã Điềm Thụy, huyện Phú Bình
- Tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng trong quá trình tìm kiếm việc làm của những hộ gia đình Từ đó đưa ra những đề xuất những kiến nghị nhằm giải quyết
có hiệu quả hơn việc làm đối với những hộ bị thu hồi đất trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Hành vi tìm kiếm việc làm của hộ gia đình
bị thu hồi đất
4.2 Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu những hộ dân bị thu hồi đất trên
địa bàn xã Điềm Thụy, huyện Phú Bình trong 2 năm 2016 - 2017
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng tìm kiếm việc làm của hộ gia đình bị thu hồi đất trên địa bàn xã Điềm Thụy hiện nay như thế nào Các hộ gia đình đã vận dụng các nguồn lực sinh kế như thế nào để tìm kiếm việc làm
- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến hành vi tìm kiếm hay tự tạo việc làm của hộ gia đình bị thu hồi đất
5.2 Giả thuyết nghiên cứu
- Đa số hộ gia đình bị thu hồi đất đều tìm được hay tự tạo việc làm, không có ai bị thất nghiệp Các hộ gia đình đã vận dụng linh hoạt các nguồn lực sinh kế vốn có, đang biến đổi, chuyển hóa để tìm kiếm hay tự tạo việc làm
- Quá trình tìm kiếm việc làm của hộ gia đình còn chịu ảnh hưởng của quá trình công nghiệp hóa, cùng với các yếu tố của nền kinh tế thị trường và chính sách của nhà nước
Trang 169
5.3 Khung phân tích
Hành vi tìm kiếm việc làm của hộ gia đình bị thu hồi đất dựa vào lý thuyết sự lựa chọn hợp lý và khung sinh kế bền vững để phân tích Quá trình đất bị thu hồi đã tác động đến hành vi tìm kiếm hay tự tạo việc làm của hộ gia đình
+ Biến số độc lập
- Hộ gia đình bị thu hồi đất
- Nguồn lực sinh kế gồm: Vốn xã hội, vốn con người, vốn kinh tế, vốn vật chất, vốn tài chính
+ Biến số phụ thuộc
Biến số phụ thuộc ở đây là “hành vi tìm kiếm việc làm” bao gồm 2 yếu
tố tìm kiếm việc làm và đặc điểm công việc
- Tìm kiếm việc làm gồm các yếu tố: Kênh thông tin tìm kiếm việc làm và sự hỗ trợ tìm kiếm việc làm
- Đặc điểm công việc gồm: Thu nhập và chuyên môn, nơi làm việc
Trang 1710
-
5.4 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu được dùng để thực hiện nghiên cứu này là: Phương pháp phân tích tài liệu; phương pháp điều tra bảng hỏi Cụ thể như sau:
- Phương pháp phân tích tài liệu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp là việc biên soạn lại các thông tin có sẵn trong các tài liệu hay nói cách khác là xem xét các thông tin có sẵn trong các tài liệu để rút ra các thông tin cần thiết, có liên quan đến mục tiêu nghiên cứu của đề tài Trong luận văn này, tác giả sử dụng các nguồn tài liệu như: các văn bản quy phạm pháp luật, các công trình nghiên cứu, các bài báo, bài tạp chí liên quan đến vấn đề tìm kiếm việc làm Từ đó phát triển thêm các hướng nghiên cứu mới hoặc nghiên cứu tại các khu vực mà chưa được các nghiên cứu khác đề cập tới
chuyển hóa
Con người
Xã hội
Tự nhiên (đất đai)
Vật chất Tài chính
Thị trường (lao động, kinh doanh
Lựa chọn hợp lý và Hành vi tìm kiếm việc làm
Tìm kiếm việc làm
Kênh thông tin
Sự hỗ trợ trong tìm kiếm việc làm
Đặc điểm công việc Thu nhập Chuyên môn Nơi làm việc
Trang 1811
- Phương pháp điều tra bảng hỏi
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi được thực hiện bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên 120 hộ gia đình và sử lý bằng phần mềm spss 20.0 Phương pháp điều tra trực tiếp phỏng vấn các hộ gia đình
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Vận dụng những phạm trù, khái niệm, phương pháp nghiên cứu và các
lý thuyết xã hội học vào việc mô tả, giải thích các vấn đề về giải quyết việc làm cho hộ gia đình bị thu hồi đất Nghiên cứu nhằm phân tích thực trạng hành vi tìm kiếm việc làm của hộ gia đình bị thu hồi đất trên địa bàn xã Điềm Thụy để từ đó giúp cho chính quyền địa phương các cấp đưa ra những giải pháp giải quyết việc làm cho người dân
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn làm rõ thực trạng hành vi tìm kiếm việc làm của hộ gia đình
bị thu hồi đất và những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tìm kiếm việc làm Trên
cơ sở đó, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện các chính sách hỗ trợ đối với hộ gia đình bị thu hồi đất
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, trong luận văn này, chương 1 sẽ trình bày cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài, trong đó có các định nghĩa và thao tác hóa khái niệm làm việc, giới thiệu các tiếp cận lý thuyết và địa bàn nghiên cứu
Chương 2: Trình bày kết quả nghiên cứu gồm: Thực trạng việc làm và hành vi tìm kiếm việc làm của hộ gia đình bị thu hồi đất
Chương 3: Các yếu tố ảnh hướng đến hành vi tìm kiếm việc làm
Kết luận và kiến nghị
Trang 1912
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1 Các khái niệm liên quan
1.1.1 Khái niệm việc làm
Việc làm là vấn đề được nghiên cứu và đề cập dưới nhiều khía cạnh khác nhau Cùng với sự phát triển của xã hội, quan niệm về việc làm cũng được nhìn nhận một cách khoa học, đầy đủ và đúng đắn hơn
Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đưa ra quan niệm : Người có việc làm là người làm một việc gì đó, có được trả tiền công, lợi nhuận hoặc những người tham gia các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không nhận được tiền công hay hiện vật
Ở Việt Nam, quan niệm về việc làm được quy định trong Bộ luật lao động sửa đổi bổ sung năm (2012) [17] Tại Điều 9, Chương II, Bộ luật Lao động quy định “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”
Như vậy việc làm được hiểu đầy đủ như sau: “Việc làm là hoạt động lao động của con người nhằm mục đích tạo ra thu nhập đối với cá nhân, gia đình hoặc lợi ích cho bản thân gia đình không bị pháp luật cấm, bao gồm:
Những người làm các công việc được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc hiện vật (gọi là việc làm có trả công)
Những người làm các công việc tự làm hoặc các công việc gia đình để thu lợi nhuận cho bản thân hoặc tạo ra thu nhập cho gia đình nhưng không được trả công bằng hiện vật cho công việc đó (gọi là việc làm không được trả công)
Việc làm gồm có việc làm chính thức và việc làm phi chính thức:
Việc làm chính thức là công việc chính mang lại thu nhập chính và những thu nhập về của cải vật chất cho bản thân và gia đình
Trang 2013
Việc làm phi chính thức là những công việc làm thêm ngoài công việc chính Chẳng hạn đối với những người nông dân, việc chính của họ là sản xuất nông nghiệp trong mùa vụ, còn việc làm không chính thức là những việc làm trong lúc nông nhàn
1.1.2 Khái niệm hành vi tìm kiếm việc làm
Để hiểu khái niệm hành vi tìm kiếm việc làm, trước tiên cần điểm qua các luận điểm xoay quanh khái niệm hành vi, Marx Weber cho rằng “hành vi
xã hội là điểm xuất phát của mọi quá trình xã hội” Theo Parson “hành vi cá nhân tuyệt nhiên không phải sản phẩm của một sự tùy tiện hay một sự tự do tuyệt đối nó diễn ra trong quá trình xã hội hóa nhưng không phải hệ quả máy móc của xã hội hóa, nó còn dựa vào những ý định động cơ của chủ thể hành
vi, cũng như vào những phương tiện hành vi của chủ thể” “hành vi cá nhân đều bao hàm những yếu tố bất biến của những bối cảnh văn hóa
Quan điểm của Homans về hành vi lựa chọn duy lý cho rằng “con người là một chủ thể duy lý trong việc xem xét và lựa chọn hành động nào để đem lại phần thưởng lớn nhất và có giá trị nhất…giá trị của kết quả, giá trị của phần thưởng và cả sự mong đợi của mỗi cá nhân bắt nguồn từ hệ chuẩn mực xã hội, từ phong tục, tập quán, truyền thống Theo từ điển Xã hội học của G.Endruweit và G Trommsdorff đã tổng hợp các giả thuyết về những quy luật chung của hành vi, trong đó khẳng định “ Những phương thức hành
vi đã học thuộc, đã chứng tỏ có lợi, sẽ trở thành thói quen vì lý do giảm trách nhiệm năng lực nhận thức, tránh áp lực quyết định quá lớn” Những hành vi thường xuyên được hình thành qua các quá trình trao đổi, sẽ chuyển thành cơ cấu và thể chế xã hội (hình thành cơ cấu, thế chế hóa) [29, tr.193] Các biến
số tác động đến hành vi: (1) Mong đợi - hành vi của cá nhân phụ thuộc vào những điều mong đợi nhất định đã học được; (2) Các quá trình so sánh - sự đánh giá cái được và cái mất phụ thuộc vào việc so sánh với những sự kiện
Trang 2114
tương tự từng xảy ra; (3) Cơ cấu năng lực nhận thức - cá nhân có xu hướng hành vi đạt đến sự cân bằng, giảm sự không hài hòa về nhận thức - cá nhân; (4) Ảnh hưởng của hệ thống giá trị đặc trưng văn hóa - hành vi cá nhân chịu
sự chi phối bởi các giá trị văn hóa nhóm, cộng đồng anh ta tiếp thu trong quá trình xã hội hóa của mình [29,tr.192-195]
Hành vi tìm kiếm việc làm là quá trình lựa chọn việc làm hợp lý, với sự vận dụng linh hoạt những nguồn lực sinh kế đang biến đổi và chuyển hóa, trong bối cảnh tác động phức tạp, đan xen của các yếu tố thị trường và thể chế Hành vi tìm kiếm việc làm bao gồm tìm kiếm thông tin việc làm, lựa chọn việc làm hợp lý của các thành viên phù hợp với vận dụng nguồn lực sinh
kế gia đình đang biến đổi và chuyển hóa, đa dạng hóa nguồn thu nhập (việc làm chính, việc làm phụ của các thành viên, chuyển đổi/bổ xung hoạt động sản xuất, kinh doanh…), chuyển đổi việc làm, đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện sản xuất kinh doanh (mua bán/thuê, xây dựng/cải tạo nhà cửa, nhà xưởng, đất đai, máy móc, phương tiện vận chuyển…), đào tạo, thôi việc, tự tạo việc làm, liên kết, phân công lại lao động gia đình/chuyển đổi chức năng các thành viên gia đình
Hành vi tìm kiếm việc làm là hành vi xã hội ở đây được hiểu như một quá trình xã hội, quá trình này bắt đầu từ thời điểm hộ gia đình tìm kiếm việc làm cho các thành viên đến khi họ tìm được công việc ổn định đảm bảo cuộc sống Quá trình tìm kiếm việc làm này gắn với sự xuất hiện nhu cầu có được một công việc của hộ gia đình có chủ động tìm kiếm hay không chủ động tìm kiếm việc làm nhưng họ sẵn sàng tiếp nhận một công việc cho bản thân Quá tìm kiếm việc làm của hộ gia đình gắn với các đặc điểm như chi phí tìm kiếm, thời gian tìm kiếm, sự thuận lợi, khó khăn Đây cũng chính là các chỉ báo sẽ được quan tâm đo lường trong quá trình thu thập các dữ liệu thực nghiệm Tương tự như các hành vi xã hội khác, hành vi tìm kiếm việc làm của hộ gia
Trang 221.1.3 Khái niệm gia đình
Theo Từ điển Xã hội học (2010)[32] “Gia đình là một nhóm thuộc loại đặc biệt vì nó biểu hiện một loại cấu trúc vai trò nhất định (bố/mẹ/con gái/con trai/cháu/em…), với nó thì sự khác biệt về giới tính và thế hệ là tiêu chí của
cơ cấu gia đình (một hay đa thế hệ; nam/nữ) và qua nó sẽ chuyển hóa một quan hệ hợp tác và doàn kết rất đặc biệt mà ở tất cả các xã hội đều tổ chức theo nghi lễ sự thành lập của nó Ngoài ra xã hội cũng trao cho nhóm đặc biệt này những chức năng rất đặc biệt
Khi nhìn vào lịch sử và so sánh các nền văn hóa sẽ thấy ngay là các chức năng gia đình có thể thay đổi như thế nào Nhưng ở đâu thì gia đình ít ra cũng có chức năng tái sinh về mặt sinh học và xã hội
Theo Luật hôn nhân và gia đình (2014)[16 ]: Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định
Gia đình là chủ thể của quan hệ dân sự khi các thành viên của một gia đình có tài sản chung để hoạt động kinh tế chung trong quan hệ sử dụng đất, trong hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và trong một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định
Theo cách hiểu khác thì hộ gia đình hay còn gọi đơn giản hộ là một đơn
vị xã hội bao gồm một hay một nhóm người ở chung và ăn chung (nhân khẩu) Đối với những hộ có từ 2 người trở lên, các thành viên trong hộ có thể
có hay không có quỹ thu chi chung hoặc thu nhập chung Hộ gia đình không
Trang 2316
đồng nhất với khái niệm gia đình, những người trong hộ gia đình có thể có hoặc không có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng hoặc hôn nhận hoặc cả hai
1.1.4 Khái niệm thu hồi đất
Theo quy định tại khoản 11, Điều 3 Luật đất đai năm 2013 quy định Thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất
vi phạm pháp luật về đất đai
Thu hồi đất ở đây được hiểu dưới các khía cạnh dưới khác nhau: Như thu hồi đất là quyết định hành chính của người có thẩm quyền nhằm chấm dứt quan hệ sử dụng đất của người sử dụng đất
Việc thu hồi đất được sử dụng với các mục đích khác nhau: Thu hồi do nhu cầu của Nhà nước; thu hồi vì các lý do đương nhiên và thu hồi do vi phạm pháp luật đất đai Trong luận văn này khái niệm thu hồi đất được sử dụng là do quá trình CNH - HĐH đất nước, Nhà nước với tư cách là chủ đầu
tư lớn nhất có nhiệm vụ xây dựng các cơ sở hạ tầng, các công trình công cộng…cùng với các chủ đầu tư khác có nhu cầu sử dụng lại do những tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang có quyền sử dụng do được giao đất, thuê đất,
do nhận chuyển quyền sử dụng đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất Do vậy, vì lợi ích phát triển kinh tế xã hội những hộ đang sử dụng đất phải chấp hành quyết định thu hồi đất của Nhà nước
1.2 Lý thuyết áp dụng
1.2.1 Lý thuyết lựa chọn hợp lý/duy lý
Trong các nội dung thao tác hóa khái niệm đã đề cập đến khái niệm hành vi tìm kiếm việc làm, theo đó hành vi tìm kiếm việc làm của hộ gia đình
bị thu hồi đất là một hành vi lựa chọn mang tính hợp lý, là kết quả của một quá trình cân nhắc, tìm hiểu, tích lũy kinh nghiệm, cân nhắc giữa chi phí và
Trang 2417
kết quả cũng như chịu sự tác động chi phối của các định hướng giá trị cá nhân
và đồng thời các chuẩn mực cá nhân, chuẩn mực xã hội
George Homans (1910-1989) là nhà xã hội học người Mỹ, một trong các tác giả nổi tiếng của lý thuyết trao đổi xã hội G.Homans được bầu làm Chủ tịch Hội Xã hội học Hoa Kỳ năm 1964 và được phong giáo sư danh dự của Đại học Havard năm 1988
Khi nghiên cứu về hành vi xã hội, G.Homans đã đưa ra khái niệm
“hành vi xã hội sơ đẳng”được hiểu là những hành vi mà con người lặp đi lặp lại không phụ thuộc vào việc nó có được hoạch định trước hay không Hành
vi xã hội sơ đẳng được diễn ra dưới nhiều hình thức, từ phản xạ có điều kiện, đến kỹ năng, kỹ xảo đến thói quen Theo G.Homans, hành vi sơ đẳng là cơ sở của sự trao đổi giữa hai hay nhiều người
G Homans chỉ ra ba đặc trưng cơ bản của hành vi xã hội Một là, hiện thực hóa - hành vi phải được thực hiện trên thực tế chứ không phải trong ý niệm Hai là, hành vi đó được khen thưởng hay bị trừng phạt từ phía người khác Ba là,người khác ở đây phải là nguồn củng cố trực tiếp đối với hành vi chứ không phải là nhân vật trung gian của một cấu trúc xã hội nào đó
Từ các định đề trên, Homans chỉ ra rằng hành vi lựa chọn nghề nghiệp của con người đều có tính quy luật, tức là chịu sự chi phối có tính tất yếu bên trong của mỗi thành phần và mỗi kiểu loại nghề nghiệp khác nhau Vì các hoạt động nghề nghiệp của con người được thúc đẩy bởi khát vọng để đạt được những phần thưởng và tránh các chi phí vô ích, đồng thời kích thích nghề nghiệp phát triển theo hướng vi mô và nâng cao giá trị nghề nghiệp trong xã hội Nếu trong quá trình hoạt động nghề nghiệp, con người thực hiện một cách có khoa học, mang tính chuyên môn hóa cao và nhiệt tình với nghề nghiệp thì kết quả hoạt động nghề nghiệp của con người sẽ được nâng cao hơn, từ đó giúp con người hòa nhập vào các quan hệ xã hội thuận lợi hơn, đây
Trang 2518
là sự mong đợi của con người trong thực hiện nghề nghiệp mà họ đã chọn và không muốn phải biến đổi Tuy nhiên, với sự tương tác của con người trong các quan hệ xã hội, nếu hoạt động nghề nghiệp bị suy giảm giá trị, gây thiệt thòi cho người lao động và không đem lại lợi ích tối ưu cho họ thì chủ thể có xu hướng thay đổi nghề nghiệp Đây là một hành vi lựa chọn hiện thực trên thực tế chứ không phải trên ý niệm, vì bản chất của con người luôn có xu hướng nhân bội giá trị kết quả hành động của mình thông qua hoạt động nghề nghiệp
Hành vi lựa chọn duy lý trong trường hợp tìm kiếm việc làm của hộ gia đình bị thu hồi đất được thể hiện ở chỗ nó được xem như một quá trình tích lũy, cân nhắc và ra quyết định của mỗi cá nhân Để đạt được một công việc nào đó không phải kết quả của một hành vi lựa chọn đơn thuần mà xuất phát
từ định hướng giá trị về công việc được định hình trong quá trình xã hội hóa của họ cũng như có sự chi phối của các tác nhân liên quan đặc biệt là các mối quan hệ xã hội gần gũi như các thành viên trong gia đình Sau quá trình cân nhắc các nguồn lực mình đang nắm giữ hay có thể huy động từ mạng quan hệ (nguồn lực con người, nguồn lực kinh tế, nguồn lực xã hội…) cá nhân đó đi đến các giải pháp tìm kiếm hay các kênh kết nối với các vị trí việc làm Sự lực chọn cuối cùng sẽ là một vị trí công việc phù hợp nhất với định hướng giá trị ban đầu cũng như xứng đáng nhất với những chi phí bỏ ra
Mỗi lý thuyết đều đưa ra những quan điểm và cách tiếp cận khác nhau của mình, nhưng các lý thuyết đều có một hệ thống luận điểm khá chặt chẽ, logíc và khá hoàn chỉnh theo cách tiếp cận của mình, tạo cơ sở khoa học cho những cắt nghĩa về sự biến đổi cơ cấu xã hội - nghề nghiệp Việc cắt nghĩa, giải thích được bắt đầu từ những biến đổi của các thành phần, mối quan hệ cá nhân - xã hội, mạng lưới nghề nghiệp, kiểu loại nghề nghiệp, vị thế, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mỗi ngành nghề trong mạng lưới của từng nhóm xã
Trang 2619
hội đến sự biến đổi trong những quyết định lựa chọn nghề nghiệp ngày càng hợp lý (duy lý) của con người trong xã hội hiện đại
1.2.2 Khung sinh kế bền vững
Sinh kế một khái niệm thường được hiểu và sử dụng theo nhiều cách và
ở những cấp độ khác nhau, người đầu tiên sử dụng khái niệm này là Robert Champers với nghĩa như sau: “Sinh kế gồm năng lực, tài sản, cách tiếp cận (dự trữ tài nguyên, quyền sở hữu, quyền sử dụng đất) và các hoạt động cần thiết cho cuộc sống”
Theo tổ chức CRD (Trung tâm phát triển nông thôn Miền Trung Việt Nam) cho rằng sinh kế là tập hợp tất cả các nguồn lực và khả năng mà con người có được kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để kiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ
Theo khái niệm nêu trên ta thấy sinh kế bao gồm toàn bộ những hoạt động của con người để đạt được mục tiêu dựa trên những nguồn lực sẵn có của con người như các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các nguồn vốn, lao động
có trình độ phát triển khoa học công nghệ
Chiến lược sinh kế là quá trình quyết đinh về các vấn đề hộ bao gồm những vấn đề như thành phần của hộ, tính gắn bó giữa các thành viên, phân
bố các nguồn lực vật chất và phi vật chất của hộ Để duy trì hộ, hộ gia đình thường có các chiến lược khác nhau theo chiến lực sinh kế chia làm 3 loại như sau:
- Chiến lược tích lũy là chiến lược dài hạn nhằm hướng tới tăng trưởng và có thể là kết hợp của nhiều hoạt động hướng tới tích lũy và giàu có
- Chiến lược tái sản xuất là chiến lược trung hạn gồm có nhiều hoạt động tạo thu nhập nhưng ưu tiên có thể nhắm tới hoạt động của cộng đồng và
an sinh xã hội
Trang 27Khung sinh kế bền vững bao gồm những nhân tố chính ảnh hưởng đến sinh kế của con người, và những mối quan hệ cơ bản giữa chúng Nó có thể
sử dụng để lên kế hoạch cho những hoạt động phát triển mới và đánh giá sự đóng góp vào sự bền vững sinh kế của hoạt động hiện tại
Mục đích sử dụng sinh kế là để tìm hiểu những cách thức mà con người
đã kết hợp và sử dụng các nguồn lực, khả năng nhằm kiếm sống cũng như để đạt được mục tiêu và ước nguyện của họ Mà những mục tiêu và ước nguyên
mà con người đạt được nhờ sử dụng và kết hợp các nguồn lực khác nhau có thể gọi là kết quả sinh kế Đây là những thứ mà con người muốn đạt được trong cuộc sống kể cả trước mắt cũng như lâu dài
Nghiên cứu kết quả sinh kế sẽ cho chúng ta hiểu được động lực nào dẫn tới các hoạt động mà họ đang thực hiện và những ưu tiên của họ là gì Đồng thời cũng cho thấy phản ứng của người dân trước những cơ hội và nguy cơ mới kết quả sinh kế thể hiện trên chỉ số như cuộc sống hưng thịnh hơn, đời sống được nâng cao, khả năng tổn thương giảm, an ninh lương thực được củng cố và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên Do đó cần phải kết hợp và sử dụng khác nhau như đất đai, vốn, khoa học công nghệ
Trang 28Tiếp cận sinh kế cần tập trung trước hết và đầu tiên với con người khung sinh kế được xác định 5 loại nguồn vốn: nguồn vốn con người, vốn xã hội, vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn tài chính
+ Vốn con người:
Nguồn lực con người bao gồm kỹ năng, kiến thức, khả năng lao động
và sức khỏe con người Các yếu tố đó giúp con người có thể theo đuổi những chiến lược tìm kiếm thu nhập khác nhau và đạt được những mục tiêu kế sinh nhai của họ Ở mức độ gia đình nguồn vốn con người được xem là số lượng
và chất lượng nhân lực có sẵn
Việc hỗ trợ nguồn vốn con người có thể thực hiện cả trực tiếp lẫn gián tiếp Trong cả hai cách thực hiện đó kết quả thực sự mang lại chỉ khi con người chính bản thân họ sẵn sàng đầu tư vào vốn nhân lực của họ bằng cách tham gia vào các khóa đào tạo hay trường học Trong nhiều trường hợp ta nên kết hợp cả hai hình thức hỗ trợ, cơ chế phù hợp nhất cho việc kết hợp hỗ trợ
là thực hiện các chương trình trọng điểm, các chương trình trọng điểm có thể hướng vào việc phát triển nguồn nhân lực, đề xuất những thông tin qua việc phân tích các phương thức kiếm sống để chắc chắn rằng các nỗ lực tập trung vào nơi cần thiết nhất sẽ góp phần làm phát triển nguồn vốn con người
Trang 2922
+ Vốn xã hội
Vốn xã hội là tất cả nguồn lực xã hội mà có thể giúp con người kiếm sống được Như vậy vốn xã hội có thể hiểu là mạng lưới các mối quan hệ mà con người có thể làm tăng sự tin cậy lẫn nhau, cơ hội việc làm hay sự biết đến các cơ quan tổ chức một cách rộng rãi hơn
Các tương tác và mạng lưới cả chiều dọc lẫn chiều ngang có tác động làm tăng cả uy tín và khả năng làm việc của con người, mở rộng tiếp cận với các thể chế, như các thể chế chính trị và cộng đồng Hầu hết những nỗ lực xây dựng vốn xã hội đều tập trung vào các thể chế địa phương, ngay cả hoạt động trực tiếp (thông qua việc tạo ra các khả năng, huấn luyện đào tạo hay phân phối các nguồn lực) hoặc gián tiếp thông qua việc tạo ra một môi trường dân chủ thông thoáng Do đó cần gắn chặt trách nhiệm của các tổ chức tiết kiệm
và tín dụng vào nguồn vốn xã hội, cùng như việc kết hợp quản lý các tai họa cần phải dựa vào việc kết nối các hành động để hạn chế chúng
+ Vốn tự nhiên
Vốn tự nhiên là cụm từ để chỉ các nguồn lực tự nhiên sẵn có mà con người
có thể khai thác và sử dụng nó Có một sự khác biệt lớn trong các nguồn lực tạo nên nguồn vốn tự nhiên từ hàng hóa công cộng vô hình như không khí và đa dạng sinh học đến các tài sản có thể sử dụng trực tiếp cho sản xuất như cây cối, đất đai, sống suối, ao hồ…Đối với các nước đang phát triển, nông nghiệp là nghề chính, vì vậy nếu không có đất hoặc đất nông nghiệp bị thu hẹp sẽ ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của các hộ gia đình sống bằng nghề nông
Trong khung sinh kế bền vững Mối quan hệ giữa nguồn vốn tự nhiên
và các tồn hại có sự gắn kết thực sự, nhiều thảm họa tàn phá kế sinh nhai của người nghèo thường xuất phát từ các tiến trình của tự nhiên tàn phá nguồn vốn tự nhiên (cháy rừng, lũ và động đất làm thiệt hại về hoa màu) và tính mùa
Trang 30Cơ sở hạ tầng là một trong những loại tài sản hỗ trợ trực tiếp người dân, đặc biệt là người nghèo Tài sản này có thể giúp người nghèo thoát nghèo một cách nhanh chóng nếu được đầu tư đúng, và phù hợp với sinh kế
hộ nghèo như hệ thống đường xá, y tế
+ Vốn tài chính
Vốn tài chính là nguồn tiền mà hộ gia đình có thể dùng để tạo ra thu nhập cho gia đình của họ Nguồn vốn có thể có từ việc hộ gia đình đã tích lũy qua nhiều năm dưới dạng tiền mặt, tiền gửi ngân hàng hoặc bằng vàng Định nghĩa được sử dụng ở đây không mang tính chất kinh tế mà nó bao gồm những dòng tích trữ và có thể góp phần vào việc tiêu dùng sản phẩm Tuy nhiên, nó phải được thực hiện để đạt được một nền tảng sinh kế quan trọng, người ta có thể làm theo những cách sinh kế khác nhau
Chiến lược sinh kế và nguồn lực sinh kế
Chiến lược sinh kế là cách thức sinh nhai để người dân đạt được mục tiêu của họ Các hộ gia đình, các cộng đồng (đặc biệt hộ nghèo, cận nghèo) thường theo đuổi chiến lược đa sinh kế (nhiều cách sinh sống) để giảm thiểu rủi ro Các chiến lược sinh kế đó có thể phụ thuộc hoặc không phụ thuộc vào
Trang 3124
điều kiện môi trường, chúng phụ thuộc trước hết bởi những nguồn lực sinh kế của hộ gia đình (con người, tự nhiên, vật chất, tài chính, xã hội) và chịu tác động bởi thị trường (lao động, hàng hóa, đất đai, dịch vụ, tín dụng…) trong nền kinh tế và chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước Người dân có thể sử dụng những gì mà họ có thể tiếp cận được để tồn tại hoặc cải thiện tình hình hiện tại
1.3 Đặc điềm địa bàn nghiên cứu
Phú Bình là huyện trung du miền núi nằm ở phía nam của tỉnh Thái Nguyên, cách trung tâm thành phố 26 km Huyện Phú Bình giáp huyện Đồng
Hỷ về phía Bắc; giáp Thành phố Thái Nguyên và huyện Phổ Yên về phía Tây Huyện có 20 đơn vị hành chính gồm 19 xã và 1 thị trấn Huyện Phú Bình đang trong quá trình xây dựng, phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong những năm qua, được sự đầu tư, quan tâm của các cấp, ngành từ trung ương đến địa phương nền kinh tế của huyện đã có những bước phát triển to lớn, xuất hiện các khu, cụm công nghiệp lớn như khu công nghiệp Điềm Thụy, cụm công nghiệp Kha Sơn đời sống nhân dân được cải thiện, cơ
sở hạ tầng được quan tâm, đầu tư xây dựng
Ngày 24/10/2011, UBND tỉnh Thái Nguyên phê duyệt Quyết định số 2638/QĐ-UBND Theo đó Ban quản lý các Khu công nghiệp Thái Nguyên được giao nhiệm vụ làm chủ đầu tư trực tiếp dự án Khu công nghiệp Điềm Thụy nhằm xây dựng hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng, tạo môi trường thu hút đầu tư, phát triển KCN và trở thành một trong những trung tâm công nghiệp của tỉnh, tạo công ăn việc làm cho lao động địa phương, làm tiền đề phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân, góp phần vào sự nghiệp CNH - HĐH đất nước
Dự án khu công nghiệp Điềm Thụy được xây dựng trên địa bàn xã Điềm Thụy nằm ở phía Tây của huyện Phú Bình, cách trung tâm huyện 7 km
Trang 3225
về phía Đông Với tổng diện tích đất tự nhiên là 1.290ha, tổng dân số là 7.919 người, các hộ dân trên địa bàn xã chủ yếu sống bằng nghề nông nghiệp, điều kiện kinh tế khó khăn Điềm Thụy là địa bàn giao nhau của nhiều tuyến đường giao thông như quốc lộ 37, tỉnh lộ 261, tỉnh lộ 266 chạy qua là điều kiện thuận lợi cho địa phương phát triển kinh tế xã hội
Dự án khu công nghiệp Điềm Thụy được đầu tư xây dựng đã làm cho đời sống của một bộ phận người dân trên địa bàn xã bị thay đổi việc thu hồi đất cho công nghiệp hóa đã tác động trực tiếp đến việc làm và đời sống của các hộ trước mắt cũng như lâu dài Việc mất đất, thiếu việc làm, không tự chủ
về lương thực là tình trạng phổ biến của các hộ nông dân vùng bị thu hồi đất
Vì một phần lớn diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi cho việc xây dựng các khu công nghiệp, đô thị hóa và xây dựng cơ sở hạ tầng, số hộ mất đất phải chuyển đổi việc làm tăng lên nhanh chóng
Với hiện trạng đất đai chủ yếu là đất nông nghiệp, đồi núi thấp cho hiệu quả kinh tế chưa cao, việc dự án chuyển đổi loại hình sử dụng đất sang đất KCN nhận được phản hồi tốt từ người dân Nguồn kinh phí để thực hiện chi trả cho công tác bồi thường, GPMB tại khu vực này cũng không quá cao do giá đất nông nghiệp có giá trị thấp hơn đất phi nông nghiệp khi thu hồi Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, có một số những khó khăn do điều kiện tự nhiên tác động trực tiếp đến tiến độ của dự án Ngoài ra, địa hình đồi núi thấp xen kẽ ruộng, dân cư thưa thớt cũng gây khó khăn trong đi lại cho các cán bộ làm công tác bồi thường, GPMB khi thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến các chính sách liên quan đến việc thu hồi đất
Thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp, các công trình trong những năm gần đây đã tạo ra những thay đổi lớn trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương Khu công nghiệp được đầu tư xây dựng đã đánh dấu một bước phát triển mới, cơ sở hạ tầng được đầu tư cải tạo làm cho
Trang 33Tiểu kết chương
Nghiên cứu về hành vi tìm kiếm việc làm của hộ gia đình bị thu hồi đất dựa vào lý thuyết sự lựa chọn hợp lý và khung sinh kế bền vững để lý giải cho hành vi tìm kiếm việc làm của các hộ Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý giúp cá nhân đưa ra sự cân nhắc giữa chi phí và lợi ích của sự lựa chọn và tính quy luật Khi nghiên cứu về qá trình tìm kiếm việc làm của các hộ gia đình chúng
ta sẽ thấy tùy vào các nguồn lực sinh kế vốn có của bản thân và gia đình mà các hộ sẽ vận dụng vào quá trình tìm kiếm việc làm khác nhau
Trang 3427
Chương 2 THỰC TRẠNG VIỆC LÀM VÀ HÀNH VI TÌM KIẾM VIỆC LÀM CỦA
HỘ GIA ĐÌNH BỊ THU HỒI ĐẤT
2.1 Thực trạng việc làm hiện tại của hộ gia đình bị thu hồi đất
Trước tình trạng đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, người nông dân không có việc làm, đời sống gặp nhiều khó khăn chính quyền địa phương đã phối hợp với các doanh nghiệp cùng với những hộ bị thu hồi đất giải quyết tình trạng việc làm cho các thành viên trong hộ gia đình bị thu hồi đất
Hiện nay đa số các hộ đều tìm được việc làm chỉ có một bộ phận nhỏ lao động không tìm được việc làm Sau khi được UBND tỉnh Thái Nguyên phê duyệt quyết định xây dựng dự án KCN phần diện tích 180 ha với khoảng trên 700 hộ dân sinh sống trong đó các hộ chủ yếu là ở nông thôn mật độ dân
cư thư thớt từ 2000 - 3000m2/hộ nằm rải rác trên toàn khu vực dự án Dân cư trong khu vực chủ yếu là lao động thuần nông, một số ít làm công nhân, lao động tự do và kinh doanh buôn bán nhỏ lẻ cạnh đường tỉnh lộ 261
Bảng 2.1 Tình hình dân số và lao động trong khu giải phóng mặt bằng
Nguồn ban quản lý các khu công nghiệp năm 2013
Qua bảng số liệu trên cho thấy dân số là và lao động trong khu vực quy hoạch dự án KCN Điềm Thụy tại thời điểm năm 2013 khá cao, chủ yếu là lao động sản xuất nông nghiệp(73,2%), số lao động phi nông nghiệp chỉ có
Trang 3528
26,8% Dự án KCN được đưa vào khai thác và sử dụng đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương góp phần giải quyết việc làm nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân Điềm Thụy là một xã thuần nông của huyện dân cư chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp là chính, trình độ dân trí thấp, kể từ khi có dự án KCN tình trạng việc làm của người dân
đã có sự thay đổi đáng kể từ sản xuất nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ
Qua khảo sát ngẫu nhiên về tình hình tình trạng việc làm chính hiện nay của 120 hộ với tổng số 325 lao động kết quả như sau:
Bảng 2.2 Tình hình việc làm chính của các hộ bị thu hồi đất
Nguồn: Khảo sát thực tế luận văn 2018
Trong tổng số 325 lao động có việc làm hiện nay thì số lao động làm việc trong lĩnh vực kinh tế tư nhân chiếm tỷ lệ cao nhất chiếm 39.4%, kinh doanh buôn bán cũng chiếm tỷ lệ đáng kể 29.2%, số lao động làm nông - lâm nghiệp vẫn còn tương đối nhiều mặc dù diện tích đất bị thu hẹp nhưng do không tìm được việc làm khác lên họ phải làm nông nghiệp chiếm 8.9% Số lao động có trình độ học vấn cao làm công ăn lương nhà nước chiếm tỷ lệ
Trang 3629
thấp 4.6%, số lao động làm việc khác như cắt tóc, gội đầu trong đó đa số lao động tự mở cửa hàng, hoặc đi làm thuê tại cửa hàng, giúp việc gia đình chiếm tỷ lệ khá cao 17.8% Nhìn chung tình trạng việc làm của người dân hiện nay khá ổn định, không có hộ nào thất nghiệp, đa số các hộ đều tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm cho gia đình Với tình trạng việc làm hiện nay cho thấy thu nhập của lao động chưa ổn định, số lao động làm việc trong lĩnh vực khác vẫn còn khá cao, việc làm bấp bênh dẫn đến thu nhập không cao
Với mục tiêu xây dựng nước ta trở thành nước CNH - HĐH theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp xây dựng, dịch vụ giảm tỷ trọng các ngành nông nghiệp Sau khi bị thu hồi đất thì số lao động chuyển sang làm việc trong các nhà máy xí nghiệp, kinh doanh buôn bán tăng lên và số lao động sản xuất nông nghiệp giảm đi do họ không còn đất canh tác trong khi đó
họ vẫn còn nhu cầu ăn, mặc, ở, đi lại…dẫn đến họ phải tìm một công việc khác để đảm bảo duy trì cuộc sống hàng ngày Phần diện tích đất các hộ bị thu hồi chủ yếu phục vụ cho việc xây dựng các KCN, trung tâm thương mại đây là điều kiện thuận lợi cho các hộ chuyển đổi nghề nghiệp Bên cạnh việc làm chính các hộ còn tạo việc làm phụ cho gia đình để nâng cao thu nhập
Trang 3730
Bảng 2.3 Tình trạng việc làm phụ * Tình trạng việc làm chính
Tình trạng việc làm chính
Tổng Việc làm phụ
Tự làm nông - lâm nghiệp
Kinh doanh, buôn bán
Làm công
ăn lương cho kinh tế
tư nhân
Làm công
ăn lương nhà nước
% 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0
Nguồn: Khảo sát thực tế luận văn năm 2018
Nhìn vào bảng số liệu cho thấy trong 120 hộ điều tra về tình trạng việc làm chính và việc làm phụ trong 325 lao động ngoài việc làm chính có 197 lao động có thêm việc làm phụ, chiếm tỷ lệ cao: 60,9% Bên cạnh việc làm chính là kinh doanh buôn bán, làm công ăn lương cho kinh tế tư nhân vẫn còn 8.1% số lao động trong hộ tự làm nông - lâm nghiệp (khai thác nguồn lực đất đai còn lại sau thu hồi đất) nhằm cung cấp thêm nguồn lương thực, thực phẩm cho gia đình Số lao động kinh doanh buôn bán thêm chiếm tỷ lệ cao nhất trên 50% số lao động có việc làm phụ trong các hộ gia đình, còn lại số lao động làm việc phụ khác chiếm tỷ lệ cũng khá cao 39.6%
Hầu hết các nghề việc làm chính đều có tỷ lệ cao làm thêm nghề phụ, đặc biệt là nông làm nghiệp, hay buôn bán kinh doanh có tỷ lệ cao vượt trội
Trang 3831
(100,0% và 52.3%) Làm công ăn lương dù ở khu vực nào hay nghề khác cũng
có trên một nửa số lao động phải làm thêm nghề phụ Đó là xu hướng đa dạng hóa nghề nghiệp và nguồn thu nhập của các hộ gia đình nông thôn Xu hướng này phản ánh tính thiếu ổn định của việc làm chính trong bối cảnh biến động thị trường việc làm, cũng như các việc làm chính thường tạo ra thu nhập thấp
Nơi làm việc của các hộ cũng khá đa dạng, làm việc tại địa phương là chủ yếu (85,6%) và các hộ còn di cư đi nơi khác (di cư ngắn) để tìm việc làm (14,4%)
tỷ lệ thấp trên 10%, số lao động có nơi làm việc không ổn định chiếm tỷ lệ không đáng kể
Trong tổng số 120 hộ với 368 nhân khẩu, trung bình mỗi hộ có 3.06 lao động Số lao động có việc làm chính là 325 lao động, trung bình mỗi hộ có
Trang 3932
2.70 lao động, còn lao động có việc làm phụ là 197 lao động, trung bình có 1.65 lao động Hiện buôn bán, dịch vụ chiếm trên 50% số lao động làm nghề phụ Tiếp theo là làm mướn chiếm 19.7%, tiểu thủ công nghiệp 12.1%, số lao động làm nông nghiệp và làm nghề khác chỉ trên dưới 8%
số hộ có mức chi tiêu rất khó khăn cũng chiếm một tỷ lệ không nhỏ 5%
Trang 40cố định mà thay đổi theo thời gian phát triển của kinh tế xã hội, khi xã hội thay đổi con người cũng thay đổi theo để hòa nhịp với tốc độ phát triển của kinh tế xã hội Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật đòi hỏi lao động trong các hộ gia đình cũng phải thay đổi, không ngừng học hỏi nâng cao trình độ để nâng cao chất lượng cuộc sống, muốn có mức sống cao trước hết phải có việc làm ổn định
2.2 Quá trình tìm kiếm việc làm và sự thay đổi thu nhập sau khi bị thu hồi đất
2.2.1 Quá trình tìm kiếm việc làm sau khi bị thu hồi đất
Việc làm của hộ gia đình được xem xét cả về nhu cầu sử dụng lao động của hộ và nhu cầu việc làm của hộ Trong gia đình mỗi thành viên có công việc nhất định tùy theo khả năng thích nghi của từng cá nhân mà công việc thay đổi cũng thay đổi theo Sau khi bị thu hồi đất đa số các hộ đều chuyển đổi việc làm chỉ có một bộ phận nhỏ các hộ không chuyển đổi việc làm là do không đáp ứng được yêu cầu của công việc đặt ra Đất nông nghiệp ngày càng