Bài nghiên cứu “Hỗ trợ giải quyết việc làm cho lao động hưởng bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh” của Nguyễn Thị Hồng đã đưa chỉ ra rằng trước tình hình khủng hoảng kinh
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ VĂN VÂN
VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG CÔNG NHÂN TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
TỈNH BÌNH DƯƠNG GIAI ĐOẠN 2009 - 2016
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
HÀ NỘI, năm 2018
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ VĂN VÂN
VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG CÔNG NHÂN TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
TỈNH BÌNH DƯƠNG GIAI ĐOẠN 2009 - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là Lê Văn Vân, học viên cao học Khoa xã hội học đợt 1/2016 tại Học Viện Khoa học Xã hội Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ “Vai trò của bảo hiểm thất nghiệp đối với đời sống công nhân tại các khu công nghiệp tỉnh
liệu nghiên cứu thu được từ thực nghiệm và không sao chép Kết quả nghiên cứu là khách quan, trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu có vấn đề xảy ra.
Học viên
Lê Văn Vân
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo của Học viện Khoa học Xã hội đã tận tình giúp đỡ tôi trong 2 năm học vừa qua; Quý thầy cô giảng dạy trong khoa Xã hội học đã hết lòng giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong thời gian học tập tại học viện; Quý thầy, cô trong hội đồng chấm luận văn, đã có nhiều ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thiện nghiên cứu này
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới GS.TS Trịnh Duy Luân, thầy
đã tận tình giảng dạy, quan tâm giúp đỡ, hướng dẫn tôi hoàn thiện luận văn
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin cảm ơn Trung Tâm Dịch Vụ Việc Làm tỉnh Bỉnh Dương và các cộng nhân đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong quá trình thu thập thông tin thực hiện đề tài
Vì điều kiện thời gian cũng như kinh nghiêm còn hạn chế nên luận văn này không thể tránh được những thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của quý thầy cô để hoàn chỉnh quyển luận văn./
Tác giả
Lê Văn Vân
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 15
1 Cơ sở lý luận 15
2 Lý thuyết áp dụng 16
3.Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 18
Chương 2: THỰC TRẠNG THAM GIA BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP CỦA CÔNG NHÂN TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở BÌNH DƯƠNG 22
2.1 Đặc điểm nhân khẩu xã hội của những công nhân tại khu công nghiệp Bình Dương thuộc mẫu nghiên cứu 22
2.2 Một số đặc điểm tham gia bảo hiểm thất nghiệp của công nhân 25
2.3 Công tác triển khai bảo hiểm thất nghiệp cho công nhân 28
Chương 3: BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TRONG ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI CÔNG NHÂN Ở CÁC KHU CÔNG NGHIỆP BÌNH DƯƠNG 42 3.1 Mức độ trợ giúp của bảo hiểm thất nghiệp để trang trải cuộc sống của công nhân 42
3.2 Công tác thực hiên giải quyết bảo hiểm thất nghiệp giai đoạn 2010 – 2016 52
3.3 Đánh giá của người công nhân về Bảo hiểm thất nghiệp 55
KẾT LUẬN 57
KHUYẾN NGHỊ 60 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu 22
Bảng 2.2 Thời gian tham gia 25
Bảng 2.3 Cảm nhận của công nhân 26
Bảng 2.4 Các hỗ trợ mà công nhân quan tâm 27
Bảng 2.5 Số lần và số tiền hưởng trợ cấp 28
Bảng 2.6 Thời gian nhận trợ cấp 28
Bảng 2.7 Cấp thẻ BHYT cho công nhân 29
Bảng 2.8 Tư vấn giới thiệu việc làm cho công nhân 30
Bảng 2.9 Các lý do công nhân đưa ra 31
Bảng 2.10 Các kênh tìm việc 32
Bảng 2.11 Công nhân liên hệ để học nghề 33
Bảng 2.12 Cảm nhận của công nhân về kinh phí 33
Bảng 2.13 Các lý do mức kinh phí không hợp lý 34
Bảng 2.14 Sự tự tin của công nhân sau khi được đào tạo nghề 35
Bảng 2.15 Các lý do của công nhân đưa ra 36
Bảng 2.16 Mức độ trợ giúp của BHTN 42
Bảng 2.17 Các chi phí trong đời sống công nhân 44
Bảng 2.18 Việc lựa chọn mua thực phẩm của công nhân 44
Bảng 2.19 Việc khám chữa bệnh của công nhân và người thân 46
Bảng 2.20 Nhu cầu vui chơi, giải trí của công nhân 47
Bảng 2.21 Chăm lo con con cái 48
Bảng 2.22 Việc chăm lo cho cha mẹ 50
Bảng 2.23 Tâm lý của người công nhân khi nhận trợ cấp 51
Bảng 2.24 Công tác giải quyết BHTN qua từng năm 52
Bảng 2.25 Đánh giá của công nhân 55
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thất nghiệp là một hiện tượng xã hội thường thấy ở các quốc gia trên thế giới Trong nền kinh tế thị trường thì việc thất nhiệp có thể nhìn thấy rõ rệt trong thị trường lao động sôi nổi Hiện tượng thất nghiệp dưới gốc độ xã hội là một hiện tượng tiêu cực Đối với người lao động việc thất nghiệp dẫn đến mất thu nhập không đảm bảo được cuộc sống, dễ tha hóa sa ngã vào những việc phạm pháp, đối với xã hội thì đưa đến hiện tượng không tận dụng được nguồn lao động khó tạo ra sự tăng trưởng kinh tế mong muốn Trước tình hình đó Ngày 1/1/2009, tại Việt Nam một loại hình bảo hiểm mới đã bắt đầu có hiệu lực nhằm bảo vệ, hỗ trợ những đối tượng lao động tất nghiệp Đó
là bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) Sự ra đời của loại bảo hiểm này thật sự là một bước tiến lớn trong con đường phát triển của ngành bảo hiểm Việt Nam nói riêng và nổ lực đảm bảo an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước ta nói chung
BHTN ở Việt Nam ra đời gắn với giai đoạn đầy khó khăn khủng hoảng của nền kinh tế Việt Nam cũng như kinh tế thế giới dẫn đến tỷ lệ người thất nghiệp tăng cao Thực tế cho thấy BHTN đã mang lại những thành công nhất định, cũng như tác động tích cực về mặt đời sống kinh tế xã hội BHTN cũng
là một trong những trụ cột trong chính sách bảo hiểm xã hội nhằm bảo đảm an sinh xã hội luôn nhận được sự quan tâm của người lao động và chính phủ coi
đó vừa là mục tiêu, vừa là động lực đối với sự phát triển bền vững đất nước Theo Cục Việc làm, Bộ Lao động- Thương binh và xã hội cho biết, sau hơn 8 năm thực hiện chính sách BHTN, số người tham gia và số người được thụ hưởng ngày càng tăng Tính đến hết tháng 10-2017, cả nước có hơn 11,2 triệu người tham gia bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), bằng 85,6% so với số người
Trang 9tham gia BHXH, trong đó có 3.472.378 người được hưởng trợ cấp thất nghiệp, 114.956 người được hỗ trợ học nghề và khoảng 3.700.000 người được
tư vấn, giới thiệu việc làm
Tuy nhiên vẫn còn những bất cập và khó khăn trong quá trình thực hiện BHTN như: mức hỗ trợ học nghề còn thấp khiến khó thu hút đối tượng tham gia; đối tượng tham gia BHTN chưa bao phủ hết tất cả đối tượng có quan hệ lao động; các quy định về điều kiện hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động (NLĐ) chưa chặt chẽ, do đó tương đối khó để người sử dụng lao động tiếp cận được với
chế độ này
Từ thực trạng trêncho thấy việc nghiên cứu tác động của BHXH đến đời sống người lao động là rất cần thiết nhằm có cách nhìn tổng quan về hiệu
quả của BHXH Do đó tôi chọn đề tài “ Vai trò của bảo hiểm thất nghiệp đối
với đời sống công nhân tại các khu công nghiệp tỉnh Bình Dương giai đoạn 2009-2016”để làm luận văn Cao học Kết quả của cuộc nghiên cứu này sẽ là
cơ sở dữ liệu tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách để có thể đưa ra những biện pháp nâng cao chất lượng của BHXH
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Nhiều năm qua đã có nhiều nghiên cứu về BHTN của các tác giả ở Việt Nam Dưới đây tôi xin trình bày một số công trình nghiên cứu mà tôi có thể tiếp cận được
Bài nghiên cứu “Hỗ trợ giải quyết việc làm cho lao động hưởng bảo
hiểm thất nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh” của Nguyễn Thị Hồng đã
đưa chỉ ra rằng trước tình hình khủng hoảng kinh tế trên thế giới đã tác động đến Việt Nam dẫn đến tình hình thất nghiệp gia tăng ở tỉnh Quảng Ninh.Mặc
dù chính sách BHTN đã có những hổ trợ đáng kể cho người bị thất nghiệp
Trang 10song trong thực tế có một số nội dung của chính sách chưa đạt hiểu quả Có những khó khăn trong việc người lao động nhận hỗ trợ từ nhà nước, người lao động cũng ít quan tâm đến nội dung bảo hiểm vì những lý do khách quan và chủ quan Vì vậy hiệu quả của BHTN chưa đạt hiệu quả cao.[6]
Bài viết khoa học “Kinh nghiệm quốc tế về triển khai bảo hiểm thất
nghiệp và những gợi ý cho Việt Nam” của Phạm Thái Hà đã đưa các mô hình
thực hiện BHTN của các nước như: Trung Quốc, Thái Lan, Hàn Quốc, Đan Mạch từ đó tác giả đưa ra các khuyến nghị cho việc xây dựng BHTN ở Việt Nam: “Thứ nhất, đối tượng áp dụng BHTN, ở hầu hết các nước là những người làm công ăn lương Sau đó khi có điều kiện, sẽ mở rộng đối tượng ra các nhóm lao động khác như nông, lâm, ngư nghiệp… Hình thức BHTN chủ yếu là bắt buộc [4]
Thứ hai, tuy có khác nhau ở rất nhiều điểm, song những điểm chung giống nhau phải kể đến là chính sách BHTN của các nước đều quy định rất chặt chẽ và cụ thể về mức đóng góp vào quỹ BHTN của người lao động, người sử dụng lao động, mức hỗ trợ chính phủ; điều kiện hưởng, mức hưởng,
và thời gian hưởng trợ cấp BHTN,…
Thứ ba, chính sách BHTN phải gắp chặt chẽ với chính sách thị trường lao động như các chương trình việc làm, đào tạo và đào tạo lại tay nghề cho người lao động nhằm giúp người thất nghiệp sớm có cơ hội tìm việc làm mới.“
Ngoài công trình nghiên cứu trên còn có một số công trình nghiên cứu
khác như: Nghiên cứu của Nguyễn Huy Ban: “Nghiên cứu những nội dung cơ
bản của BHTN hiện đại Vấn đề lựa chọn hình thức trợ cấp (TCTN) ở Việt Nam” Công trình nghiên cứu đã đưa ra và phân tích các nội dung cơ bản của
BHTN hiện đại Đồng thời tác giả cũng đề cập tới các hình thức TCTN ở Việt Nam.[1]
Trang 11Chuyên đề luận án của tác giả Nguyễn Quang Vinh về “Các mô hình
và kinh nghiệm thực hiện BHTN trên thế giới đã đưa ra các mô hình BHTN
trên thế giới, đặc biệt là nhấn mạnh đến kinh nghiệm thực hiện BHTN của các nước từ đó đưa ra các khuyến nghị cho Việt Nam [13]
Công trình nghiên cứu:“Thực trạng, giải pháp phòng chống lạm dụng
quỹ BHTN trên địa bàn tỉnh Bình Dương” của tác giải Lê Minh Lý Chủ yếu
tập trung phân tích thực trạng quỹ và các giải pháp chống lạm dụng quỹ BHTN trên địa bàn Bình Dương [8]
Bài nghiên cứu “Chế độ bảo hiểm ở Trung Quốc từ năm 1992 đến nay”
của tác giả Nguyễn Mai Phương đã đưa ra kết luận:Giống như Trung Quốc, hiện nay, tình trạng thất nghiệp ở nước ta cũng đang là một trong những vấn
đề rất nghiêm trọng và bức xúc Bên cạnh đó, trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đổi mới, sắp xếp doanh nghiệp nhà nước, một bộ phận không nhỏ lao động do nhiều nguyên nhân khác nhau
bị mất việc làm, đời sống rất khó khăn, ảnh hưởng đến trật tự an ninh xã hội Việc ra đời bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam dự kiến vào đầu năm 2009 tới sẽ góp phần ổn định đời sống và hỗ trợ cho người lao động được học nghề và tìm việc làm, sớm đưa họ trở lại làm việc, đồng thời còn giảm gánh nặng cho quỹ Nhà nước và doanh nghiệp [9]
Một bài viết khác “Một số giải pháp góp phần hoàn thiện chế độ bảo
hiểm thất nghiệp” của tác giả Bùi Ngọc Thanh đã chỉ ra một số nguyên nhân
gây trở ngại trong việc thực hiện BHTN như: “Có không ít người hiểu không đúng bản chất của chế độ BHTN, họ coi tiền đóng BHTN là thứ "của để dành", mình và người sử dụng lao động đóng được bao nhiêu thì phải tìm cách hưởng cả bấy nhiêu, hưởng cho bằng hết mới thỏa lòng Trên thực tế không phải như thế, có người đóng lâu dài nhưng rất ít khi hưởng, thậm chí
có người đóng suốt cả một đời làm việc mà không khi nào hưởng trợ cấp (đó
Trang 12là một số lao động trong doanh nghiệp nhà nước); ngược lại có những người thời gian tham gia BHTN chưa dài lắm nhưng đã hưởng trợ cấp một số lần Theo Luật Bảo hiểm xã hội thì BHTN vẫn chứa đựng đầy đủ nguyên tắc vừa chia sẻ giữa những người lao động (tương tự như chế độ ốm đau, người ta vẫn đóng góp nhưng không ai mong muốn ốm nặng, ốm dài ngày để tận hưởng chế độ này), vừa theo nguyên tắc đóng-hưởng, nếu "cực chẳng đả, vạn bất đắc dĩ" mà thực sự là thất nghiệp mới phải đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp (cũng như vạn bất đắc dĩ mà ốm đau, bệnh tật thì mới hưởng chế độ bảo hiểm đau ốm) ” Qua đó tác giả cũng kiến nghị một số giải pháp như sau: “Vấn
đề lớn nhất, bao trùm nhất là trong các trường hợp mất việc làm và chấm dứt hợp đồng lao động (quy định tại khoản 4 Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội).Cần được xác định cụ thể, rõ ràng trường hợp nào đích thực là thất nghiệp (thời gian làm thủ tục chuyển đổi nơi làm việc có phải là thất nghiệp không Người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận với nhau để cùng có lợi, kẻ không phải nộp một thời gian, người được hưởng trợ cấp một thời gian rồi lại trở lại làm việc, thời gian "không nộp, được hưởng" có phải là thất nghiệp không; Có phải tất cả các trường hợp bị sa thải đều là thất nghiệp không, trường hợp nào thì thực hiện theo chế độ của bộ luật Lao Động, trường hợp nào thì theo chế độ BHTN; doanh nghiệp bị phá sản thì những ai là người thất nghiệp được trợ cấp thất nghiệp, những ai được thực hiện chế độ theo Luật phá sản; Doanh nghiệp giải thể hoặc ngừng sản xuất thì giải quyết chế độ cho người lao động theo chế độ ngừng việc, chế độ giải thể doanh nghiệp hay tất
cả đều cho vào BHTN ) Nếu không hướng dẫn để xác định đúng đắn người
thất nghiệp thì quỹ BHTN sẽ còn tiếp tục chi hộ cho khá nhiều chế độ khác
mà lẽ ra các nguồn khác phải chi và nguy cơ hụt quỹ sẽ đến sớm ”[11]
Đề tài nghiên cứu cấp Bộ về “Đánh giá và hoàn thiện cơ chế chính
sáchBHTN nhằm tăng cường tính bền vững” do Lê Quang Trung làm Chủ
Trang 13nhiệm đã phân tích quy trình thực hiện BHTN phải được mở rộng từng bước
để tránh tăng đột ngột các chi phí và gây ra khó khăn đối với các chủ Doanh nghiệp trong việc tham gia đóng phí BHTN, ảnh hưởng tiêu cực đến duy trì việc làm cho NLĐ của Doanh nghiệp Vì vậy, chính sách BHTN thường được
áp dụng khi hệ thống BHXH đã phát triển và khi điều kiện kinh tế, trình độ QLNN về thất nghiệp cho phép Cũng vì vậy mà Chính phủ các nước thường thực hiện chính sách BHTN từng bước theo khả năng quản lý của Chính phủ
và khả năng về nguồn tài chính cho thực hiện chính sách này ” [12]
2.2 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Bìa nghiên cứu báo cáo “Unemployment Insurance Benefits and
Family Income of the Unemployed” của Douglas W.Elmendorf đã đưa ra
nhận định “Tổng số tiền trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp (UI) của Hoa Kỳ tăng
tự động trong các giai đoạn suy thoái Sự gia tăng lợi ích giao diện người dùng trong thời kỳ suy thoái kinh tế vĩ mô khiến cho nền kinh tế vĩ mô giảm sâu hơn bằng cách giúp các công nhân thất nghiệp duy trì một phần sức mua của họ Nghĩa là, bằng cách bù đắp một phần số tiền thất nghiệp cho thu nhập
bị mất, trợ cấp UI giúp phá vỡ chu kỳ tiêu cực của tình trạng thất nghiệp gia tăng dẫn đến giảm tiêu thụ, dẫn đến giảm thêm hoạt động kinh tế.v.v.v ” [18]
Một nghiên cứu khác “The Role of Unemployment Insurance as an
automatic stabilizer during a recession” của tác giả Dr Wayne Vroman cũng
đưa ra nhận định: “ Khi cuộc khủng hoảng của cuộc Đại suy thoái nhường chỗ cho sự phục hồi kinh tế, hệ thống bảo hiểm thất nghiệp liên bang (UI) đã giúp duy trì đất nước trong thời kỳ thất nghiệp tiếp tục chức năng thiết yếu của nó trong nền kinh tế Mỹ Chương trình tạo ra các tiêu đề trong mỗi đợt liên tiếp của phần mở rộng bồi thường thất nghiệp bất thường tiếp tục công việc cơ bản của nó trong việc cung cấp thay thế thu nhập cho công nhân bị sa thải khỏi công việc Giai đoạn hiện tại, khi nhu cầu về hệ thống tương đối
Trang 14thấp, chính xác là lúc để có những cuộc hội thoại lý luận về cải cách nó - trước giai đoạn căng thẳng cao tiếp theo được sử dụng rộng rãi và bền vững.v.v.v ” [16]
Trong bài nghiên cứu “The current state of Unemployment Insurance :
Challenges anh Prospects” của Ellion Schreur và Benjamin W.Veghte đã đưa
ra quan điểm: “Hệ thống bảo hiểm thất nghiệp đã là một trụ cột của an ninh kinh tế cho các gia đình làm việc cho 80 năm Nó đã thay đổi phong cách trong các môhình công việc và trong thành phần của lực lượng lao động mà các nhà thiết kế của chương trình không thể lường trước được Mặc dù thiết
kế của nó đã bị căng thẳng bởi những thay đổi sâu sắc về nhân khẩu học, nền kinh tế, thị trường lao động, nhu cầu ngân sách và cạnh tranh mà các nhà hoạch định chính sách nhà nước phải đối mặt, và theo chiều sâu và thời gian của cuộc Đại suy thoái, không thể thiếu của nó đối với nền kinh tế Mỹ Các nhà hoạch định chính sách ngày nay đang phải đối mặt với thách thức của việc tìm kiếm những cách sáng tạo để hiện đại hóa và tái tạo lại hệ thống.v.v.v ” [15]
Bài nghiên cứu “Unemployment Insurance: Problems and Prospects”
của Wayne Vroman cũng đưa ra quan điêm: “Chương trình bảo hiểm thất nghiệp (UI) cung cấp phúc lợi hàng tuần cho những công nhân đủ tiêu chuẩn
bị mất việc làm và đang tích cực tìm việc làm Số tiền trợ cấp đó một phần dựa trên thu nhập trước đây của công nhân Thành phần của gia đình người lao động và thu nhập của cả gia đình nói chung không được tính đến Không bao giờ, toàn bộ gia đình của người lao động có thể bị ảnh hưởng cả bởi chính
tả của chính bản thân việc làm và bởi sự hỗ trợ mà quyền lợi UI mang lại,v.v…” [17]
Trong bài kỷ yếu hội thảo khoa học “Unemployment insurance,
income security measures and active labour market policies in ASEAN”của
Trang 15Dự án ILO / Nhật Bản Thúc đẩy và Xây dựng Bảo hiểm thất nghiệp vàDịch
vụ việc làm trong khu vực ASEAN cho Châu Á và Thái Bình Dương đã nêu lên nhận định: “Trong năm 2011, ba năm sau khi cuộc Đại suy thoái bắt đầu, các chương trình bảo hiểm thất nghiệp (UI) của tiểu bang đang ở vị trí tài chính tồi tệ nhất kể từ khi được thành lập theo Đạo luật An sinh Xã hội năm
1935 Trong khi lợi ích từ chương trình UI đã giúp ổn định thu nhập cho hàng triệu gia đình và cung cấp một sự thúc đẩy cho nhu cầu tổng hợp của nền kinh
tế, dự trữ quỹ ủy thác giao dịch người dùng ròng đã giảm mạnh Các vấn đề tài chính hiện tại xảy ra do dự trữ thấp trước thời kỳ suy thoái lớn; tình trạng thất nghiệp sâu và kéo dài tiếp tục làm giảm doanh thu và tăng chi tiêu Trong
16 tiểu bang đánh giá cơ sở tiền lương chịu thuế của họ để theo kịp với mức tăng trưởng tiền lương trung bình, dự trữ UI thích hợp hơn và hầu hết các tiểu bang như vậy đã tránh được sự cần thiết phải vay từ chính phủ liên bang Cơ
sở tiền lương chịu thuế liên bang được sử dụng để thu thuế giao dịch liên bang vẫn ở mức 7.000 đô la kể từ năm 1983 (Ngược lại, cơ sở thuế OASDI
An Sinh Xã Hội là $ 106,800 và được lập chỉ mục để tăng trưởng với mức lương trung bình.) Tóm tắt này thảo luận về nguyên nhân của tỷ lệ và quy mô chưa từng thấy các khoản vay bằng các chương trình UI của tiểu bang trong
và sau cuộc Đại suy thoái và xem xét các đề xuất lập pháp hiện hành để cải
thiện khả năng thanh toán của các chương trình UI này, v.v…”
Hầu hết các nước ASEAN đều có chương trình trả lương bắt buộc, mặc
dù một số quốc gia cũng đã bắt đầu các chương trình bảo hiểm thất nghiệp như một biện pháp bổ sung để bảo vệ những người bị mất việc làm Thanh toán tiền lương mang lại lợi ích xã hội theo nghĩa là nó tạo ra quan hệ công nghiệp ổn định, giảm tình trạng bất ổn xã hội và thúc đẩy các kỹ năng cụ thể theo ngành Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy rằng người sử dụng lao động chịu chi phí trả tiền thôi việc thường là những người sử dụng lao động đang trong
Trang 16tình trạng tài chính khó khăn Do đó, rất khó cho chính phủ thực thi và giám sát thanh toán thôi việc cho người sử dụng lao động sa thải công nhân do phá sản Những người lao động chưa được tổ chức, tức là lao động trẻ và công nhân kinh tế phi chính thức, ít có khả năng nhận trợ cấp thôi việc Các chương trình thanh toán tiền lãi cũng có nhược điểm cản trở việc điều chỉnh cơ cấu trong doanh nghiệp do chi phí đóng các đơn vị sự nghiệp để mở các đơn vị mới với công nhân mới Giao diện người dùng do đó là một cách để giảm thiểu tác động tiêu cực của việc trả lương thôi việc Chi phí được chia sẻ bởi nhà tuyển dụng và người lao động thay vì chỉ sử dụng lao động Ở các quốc gia nơi giao diện người dùng đã dần dần thay thế các hệ thống thanh toán bị gián đoạn, tỷ lệ không tuân thủ và ngăn chặn sa thải có xu hướng giảm Tuy nhiên, một số nhóm công nhân không muốn tham gia vào giao diện người dùng vì họ coi đó là một hình thức thuế mới Một số công nhân có xu hướng cảm thấy rằng việc bãi bỏ khoản thôi việc bắt buộc phải trả để đổi lấy việc giới thiệu UI sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh công việc của họ Thanh toán trợ cấp thôi việc có thể làm giảm nguy cơ người lao động gặp phải thất nghiệp, nhưng nó không bảo vệ trong thời gian thất nghiệp Mặt khác, UI không làm giảm nguy cơ người lao động phải đối mặt với tình trạng thất nghiệp, nhưng sẽ bảo vệ người lao động khỏi hậu quả của việc mất việc làm
Từ nghiên cứu, người nói muốn đề xuất các quốc gia không có giao diện người dùng để giảm mức độ thanh toán thôi việc và giới thiệu giao diện người dùng thay thế Để đảm bảo tính bền vững về tài chính, chúng tôi đề nghị quản trị quỹ UI độc lập với các chương trình hỗ trợ việc làm hoặc an sinh xã hội khác Cuối cùng, cần có một chương trình riêng biệt cho những người lao động kinh tế phi chính thức có mức lương thường không đều và thấp và thường không có mối quan hệ hợp đồng với người sử dụng lao động Đối với những người lao động, các chính sách thị trường lao động thay thế và thích nghi thay thế và an ninh thu nhập cần được xác định ” [14]
Trang 17Qua phân tích các tài liệu, công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Bảo hiểm thất nghiệp, các tác giả đều tập trung nghiên cứu vào các tác động của BHTN tới đời sống của người lao động nói chung và những bất cập gặp phải trong quá trình thực hành BHTN Các nghiên cứu được tiến hành ở nhiều ngành khoa học như: Quản trị, Chính sách công, Kinh tế v.v Nhưng những nghiên cứu ở lĩnh vực Xã hội học về vấn đề này còn rất ít Trước thực tiễn hiện nay còn nhiều bất cập trong vấn đề thực hiện BHTN và cần có những nghiên cứu về kết quả tác động của BHTH dưới góc độ Xã hội học
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích được đề ra trong đề tài nghiên cứu, các nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra cụ thể như sau:
Trang 18- Tìm hiểu tổng quan về vấn đề BHTN hiện nay
- Xây dựng cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu vần đề
- Thu thập thông tin số liệu sơ cấp qua bảng hỏi
- Xử lý các thông tin số liệu thu thập bằng phương pháp định lượng
- Phân tích số liệu và chỉ ra vai trò của BHTN đối với đời sống vật chất của công nhân ở KCN tỉnh Bình Dương
4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài làvai trò của bảo hiểm thất nghiệp đến
đời sống của công nhân các khu công nghiệp ở Bình Dương
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Tình hình công nhân được hưởng BHTN hiện nay như thế nào?
- Ý kiến của người công nhân đã được thụ hưởng BHTN là gì?
- Vài trò của BHTN đối với đời sống vật chất của người công nhân ra sao?
5.2 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1: BHTN chưa hỗ trợ nhiều cho cuộc sống của người công nhân
Trang 19Giả thuyết 2: Tỷ lệ người công nhân được thụ hưởng BHTN đánh giá BHTN chưa giúp gì được nhiều cho cuộc sống của họ ở mức cao
5.3 Phương pháp nghiên cứu
5.3.1 Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp
Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp được áp dụng để phân tích các tài liệu liên quan đến chính sách BHTN
5.3.2 Cở mẫu
Trong đề tài cỡ mẫu định lượng là 200 trường hợp
5.3.3 Phương pháp chọn mẫu
- Mẫu định lượng: Đối với người công nhân sử dụng phương pháp
chọn mẫu thuận tiện với hai khách thể một là các công nhân thụ hưởng bảo hiểm thất nghiệp tại cơ quan Bảo hiểm xã hội tại tỉnh Bình Dương
5.3.4 Phương pháp thu thập thông tin
- Mẫu định lượng: dùng bộ câu hỏi tự điền, người thực hiện đề tài phát
bộ câu hỏi và công nhân tự trả lời bộ câu hỏi theo hướng dẫn
Về bảng câu hổi gồm 35 câu được thiết kế theo bảng dễ đọc dể hiểu sắp xếp theo thứ tự bằng các câu hỏi đóng và được chuẩn hóa bao gồm các nội dung là:
- Thông tin chung của người công nhân (10 câu hỏi)
- Vai trò của bảo hiểm thất nghiệp (25 câu hỏi)
Mẫu định tính: thực hiện phỏng vấn sâu với các gợi ý về nội dung cần tìm hiểu nhằm đi sâu nghiên cứu vấn đề, lý giải được các chỉ báo định lượng
- Đối với người công nhân: phỏng vấn sâu tập trung vào cảm nhận, đánh giá về sự hỗ trợ của BHTN đối với sinh hoạt đời sống trong thời gian thất nghiệp
- Đối với cán bộ quản lý BHTN: phỏng vấn sâu tập trung vào những khó khăn và thuận lợi khi giải quyết BHTN cho người công nhân
Trang 206.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu vấn đề bảo hiểm thất nghiệp đối với người công nhân là đề tài có ý nghĩa thực tiễn Các kết quả tìm thấy trong đề tài nghiên cứu sẽ chỉ ra được vai trò của BHTN và những hạn chế của nó hiện nay đối với người công nhân thụ hưởng Từ đó đưa ra các khuyến nghị thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách BHTN
7 Cơ cấu luận văn
Ngoài Phần Mở đầu và Kết luận, Khuyến nghị, nội dung luận văn gồm
3 chương như sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu đề tài
Chương 2 Thực trạng tham gia bảo hiểm thất nghiệp của công nhân tại các khu công nghiệp Bình Dương
Trang 21Chương 3 Bảo hiểm thất nghiệp trong đời sống của công nhân ở các khu công nghiệp Bình Dương
8 Khung phân tích
1.Trợ cấp thất nghiệp
bảo hiểm y tế
2 Hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm 3 Hỗ trợ học nghề
ĐỜI SỐNG CÔNG NHÂN
Đáp ứng nhu
cầu cơ bản
hàng ngày
Đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe
Chăm lo cho Cha mẹ, con cái
Nhu cầu giả trí, sinh hoạt văn hóa Tâm lý BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
(Luật việc làm 2013 và Nghị định số 28/2015/ NĐ–CP)
Trang 22Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1 Cơ sở lý luận
1.1 Khái niệm thất nghiệp:
Thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, có
nhu cầu việc làm, đang không có việc làm
1.2 Nguyên nhân thất nghiệp
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp trong nền kinh tế
Có thể nêu ra một số nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng thất nghiệp sau:
- Chu kỳ sản xuất kinh doanh thay đổi
- Sự gia tăng dân số, tăng nguồn cung lao động cùng với quá trình quốc
tế hóa và hội nhập cũng khiến nguy cơ thất nghiệp cao hơn
- Nguyên nhân từ người lao động
- Sự thay đổi cơ cấu ngành nghề
- Sự ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào nền kinh tế
- Do các yếu tố thị trường
- Một số nguyên nhân khác
1.3 Bảo hiểm thất nghiệp:
Bảo hiểm thất nghiệp là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi bị mất việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp
Căn cứ theo Luật Việc Làm năm 2015 và Nghị định số 28/2015/ NĐ –
CP thì các chế độ hỗ trợ của BHTN bao gồm:
1.Trợ cấp thất nghiệp , Bảo hiểm y tế
2 Hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm
3 Hỗ trợ học nghề
Trang 232 Lý thuyết áp dụng
2.1 Sử dụngcách tiếp cận vai trò của An sinh xã hội
* Đối với xã hội
Thứ nhất: Hệ thống ASXH là một trong những cấu phần quan trọng
trong các chương trình xã hội của một quốc gia và là công cụ quản lý của nhà
nước thông qua hệ thống luật pháp, chính sách và các chương trình ASXH
Mục đích của nó là giữ gìn sự ổn định về xã hội - kinh tế - chính trị của đất nước, đặc biệt là ổn định xã hội, giảm bất bình đẳng, phân hoá giàu nghèo,
phân tầng xã hội; tạo nên sự đồng thuận giữa các giai tầng, các nhóm xã hội
trong quá trình phát triển
ASXH còn là một trong những trụ cột cơ bản trong hệ thống chính sách
xã hội Nó hướng đến bảo đảm mức sống tối thiểu cho người dân, bảo vệ giá
trị cơ bản và là thước đo trình độ phát triển của một nước trong quá trình phát
triển và hội nhập
Thứ hai: Bảo đảm ASXH là nền tảng của phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước Thông qua việc áp dụng các cơ chế điều tiết, phân phối lại thu nhập giữa các khu vực kinh tế, các vùng kinh tế và các nhóm dân cư, ASXH có thể được coi như là một giá đỡ đảm bảo thu nhập cho người dân
Hệ thống chính sách ASXH được thiết kế trên cơ sở các nguyên tắc
công bằng, đoàn kết ở các mức độ khác nhau còn thể hiện giá trị và định
hướng phát triển của một quốc gia Cách thức thiết kế hệ thống ASXH chính
là sự thể hiện mô hình phát triển xã hội, quan điểm lựa chọn đầu tư cho con
người
Thứ ba: Hệ thống ASXH góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh
và bền vững thông qua việc "điều hoà”các "mâu thuẫn xã hội", đảm bảo xã
hội không có sự loại trừ, điều tiết tốt hơn và hạn chế các nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn và bất ổn định xã hội
Trang 24Nhà nước thông qua chính sách ASXH để cân đối, điều chỉnh nguồn lực cho các vùng nghèo, vùng chậm phát triển, tạo nên sự phát triển hài hoà, giảm bớt sự chênh lệch giữa các vùng; mở rộng chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội, hạn chế bất bình đẳng giữa các nhóm dân cư
Thông qua việc hoạch định và thực hiện chính sách ASXH, cho phép các Chính phủ tiến hành lựa chọn mục tiêu tăng trưởng hiệu quả và bền vững Một hệ thống ASXH lâu dài, đầy đủ có thể thực hiện mọi mục tiêu tái phân phối của xã hội, giải phóng các nguồn lực trong dân cư
* Đối với các gia đình
Nếu một hệ thống ASXH được thiết kế hiệu quả có thể tạo điều kiện cho các gia đình đầu tư tốt hơn cho tương lai Trong vai trò này, hệ thống
ASXH cơ bản là khắc phục các rủi ro trong tương lai, cho phép các gia đình
tiếp cận đến được các cơ hội để phát triển
Hệ thống ASXH còn góp phần hỗ trợ cho các gia đình quản lý được rủi
ro Thông qua các chương trình ASXH, ít nhất nó cũng giúp cho các gia đình
đương đầu được với những giai đoạn khó khăn trong cuộc sống
ASXH còn là một yếu tố bảo hiểm, cho phép các gia đình được lựa
chọn sinh kế để phát triển Như vậy, hệ thống ASXH vừa bảo vệ cho các
thành viên trong xã hội vừa nâng cao khả năng tồn tại độc lập của họ trong cuộc sống [3]
2.2 Lý thuyết hành động xã hội
Dựa vào động cơ (cái thúc đẩy có ý thức) của hành động xã hội , Max Weber đã phân biệt rõ bốn loại hành động xã hội:
a Hành động duy lý – công cụ: là hành động được thực hiện với sự
cân nhắc về hoàn cảnh, tính toán định hướng vào điều kiện để xác định sự hợp lý về mục đích hành động và lựa chọn công cụ, phương tiện để thực hiện nhằm đạt hiệu quả cao nhất Hành động này nổi trội lên vai trò của ý chí chủ quan của chủ thể hành động
Trang 25b Hành động duy lý – giá trị: là hành động được thực hiện vì bản thân
hành động (mục đích tự thân) Thực chất loài hành động này có thể nhằm vào những mục đích phi lý nhưng lại được thực hiện bằng những công cụ phương tiện duy lý Ở đây nó nổi trội lên vài trò của yếu tố khách quan bắt buộc chủ thể phải cân nhắc, cẩn trọng để lựa chọn những gì mà nó cho là có nghĩa, có giá trị (đã được hình thành trong đời sống xã hội) và nó đòi hỏi được chủ thể thực hiện bằng niềm tin, nghĩa vụ với các giá trị này
c Hành động cảm tính: là hành động do các trạng thái xúc cảm hoặc
tình cảm bột phát gây ra mà không có sự cân nhắc, xem xét, phân tích mối quan hệ giữa công cụ, phương tiện và mục đích hành động Nó không cần đạt mục đích bên ngoài nào đó mà nó có một ý nghĩa ngay ở trong tính xác định của chính đặc tính của hành vi
d Hành động theo truyền thống: là loại hành động tuân thủ những thói
quen, nghi lễ, phong tục, tập quán đã được truyền lại từ đời này qua đời khác Hành động này dựa trên cơ sở bắt chước mô hình hành vi truyền thống nào đó
đã được củng cố và khẳng định, chấp nhận, nó được thực hiện trên cơ sở phản ứng tự động đối với kích thích quen thuộc đang tồn tại trong khuôn khổ tâm thế đã từng được thiết lập [7]
Vận dụng cách tiếp cận Vai trò của an sinh xã hội vào đề tài nghiên cứu nhằm làm rõ tác động của BHTN đối với đời sống của người công nhân trong thời gian thất nghiệp Bên cạnh đó vận dụng lý thuyết Hành động xã hội để phân tich các cách sử dụng nguồn hỗ trợ thất nghiệp của công nhân để phục
vụ cho cuộc sống hàng ngày
3.Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
3.1 Vị trí địa lý
Bình Dương là tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ Tên gọi cũ là Sông Bé nay được tách ra hai tỉnh là Bình Dương và Bình Phước với diện tích 2694,4 km2
Trang 26Phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước
Phía Nam giáp Thành phố Hồ Chí Minh
Phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai
Phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và Thành phố Hồ Chí Minh
Tỉnh Bình Dương có 9 đơn vị hành chính cấp huyện gồm 1 thành phố
là Thủ Dầu Một, 4 thị xã là : Dĩ An, Thuận An, Bến Cát, Tân Uyên và
4 huyện : Bắc Tân Uyên, Bàu Bàng, Dầu Tiếng, Phú Giáo
Theo thống kê của chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tỉnh Bình Dương năm 2016 toàn dân số toàn tỉnh là 1.995.817 người với 15 dân tộc anh
em cùng chung sống trên địa bàn, mật độ dân số 741 người/km²
3.2 Tình hình kinh tê – xã hội
Báo cáo tổng kết tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh năm
2017 của UBND tỉnh kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục giữ vững đà tăng trưởng Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) tăng 9,15%, GRDP bình quân đầu người đạt 115,9 triệu đồng, Chỉ số phát triển công nghiệp tăng 10,98%, trong
đó 23/25 sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với cùng kỳ và có 11 nhóm tăng trên 10%
Trong năm 2017, tỉnh tiếp tục triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp; các chỉ số về năng lực cạnh tranh, cải cách hành chính của địa phương tiếp tục được cải thiện; thường xuyên tổ chức hội nghị gặp gỡ hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, số vốn đầu tư trong nước tăng cao so với năm 2016, vốn đầu tư nước ngoài vượt kế hoạch đề ra Theo đó, toàn tỉnh đã thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 2,514 tỷ đô la
Mỹ, vượt gần 80% kế hoạch năm; thu hút đầu tư trong nước đạt 42.379 tỷ đồng [2]
Hoạt động xuất nhập khẩu tiếp tục phát triển mạnh do doanh nghiệp, nhà đầu tư tận dụng các cơ hội, khai thác tốt các thị trường và tác động tích
Trang 27cực từ các hiệp định, cam kết trong thương mại Việt Nam đã tham gia ký kết Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 28,533 tỷ đô la Mỹ, nhập khẩu ước đạt 23,819
tỷ đô la Mỹ, duy trì thặng dư thương mại trên 4,7 tỷ đô la Mỹ… Trong 29 chỉ tiêu chủ yếu có 10 chỉ tiêu vượt kế hoạch, 18 chỉ tiêu đạt kế hoạch và 1 chỉ tiêu tuy chưa đạt nhưng vẫn tăng hơn so với năm 2016 Tỉnh đã tích cực triển khai các giải pháp huy động hợp lý các nguồn lực cho đầu tư phát triển Ước tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt 81.264 tỷ đồng, tăng 11,6%
Công tác bảo đảm an sinh xã hội, giải quyết việc làm và đào tạo nghề của tỉnh trong năm 2017 đạt nhiều kết quả tích cực Tỉnh đã huy động nhiều nguồn lực để chăm lo cho các đối tượng chính sách, xã hội và thực hiện các giải pháp giảm nghèo bền vững Công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe trẻ
em, thực hiện bình đẳng giới, phòng chống các tệ nạn xã hội tiếp tục có những chuyển biến tích cực
Ngành giáo dục - đào tạo tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập; chú trọng phát triển toàn diện năng lực, phẩm chất đạo đức và
kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên Công tác xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo tiếp tục được đẩy mạnh, đặc biệt là giáo dục mầm non ở những vùng có nhiều khu, cụm công nghiệp
Về văn hóa, thể thao và du lịch, tỉnh đã thực hiện tốt công tác tuyên truyền cổ động trực quan, tổ chức các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao thiết thực chào mừng các ngày lễ, kỷ niệm lớn của đất nước và các sự kiện chính trị của địa phương, trọng tâm là kỷ niệm Bình Dương 20 năm phát triển Bên cạnh đó, tỉnh tiếp tục đẩy mạnh Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững; chú trọng phát triển giáo dục - đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phòng chống tham nhũng, lãng
Trang 28phí, nâng cao tính minh bạch và năng lực cạnh tranh, tạo môi trường thuận lợi
thu hút đầu tư, phát triển sản xuất, kinh doanh; nâng cao hiệu quả hoạt động
đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
Bản đồ tỉnh Bình Dương
Nguồn: Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Bình Dương
Trang 29Chương 2 THỰC TRẠNG THAM GIA BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP CỦA CÔNG
NHÂN TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở BÌNH DƯƠNG
Nói tới thất nghiệp là nói tới tình trạng không có việc làm của những người trong độ tuổi lao động, có nhu cầu làm việc nhưng lại không được đáp ứng nhu cầu đó Có thể nói, tình trạng như vậy (thất nghiệp nói chung) đã có
từ rất lâu, phổ biến ở mọi nơi trên thế giới nói chung, xong việc mà người dân Việt Nam được biết tới bảo hiểm thất nghiệp thì chỉ có cách đây một vài năm
mà thôi, và vì thế chính sách bảo hiểm thất nghiệp có thể coi là mới trong hệ thống các chính sách của nước ta hiện nay
Dân số toàn tỉnh Bình Dương năm 2015 là 1.918.558 người trong đó có 1.572.223 người trong độ tuổi lao động, số cơ quan, đơn vị, DN sử dụng lao động là 13.531 đơn vị với tổng số 992.365 lao động Theo số liệu thống kê đến tháng 9-2016, tổng số cơ quan, đơn vị, DN trên địa bàn tỉnh đã tham gia BHXH bắt buộc, BHTN (BHTN) là 7.700 đơn vị có 825.685 người tham gia BHTN
2.1 Đặc điểm nhân khẩu xã hội của nhữngcông nhân tại khu công nghiệp Bình Dương thuộc mẫu nghiên cứu
Trong nghiên cứu này mẫu nghiên cứu gồm 200 người công nhân đang thụ hưởng Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) trên địa bàn tỉnh Bình Dương
Bảng 2.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
Trang 31Trong tổng số 200 người đang thụ hưởng BHTN tham gia nghiên cứu
tỷ lệ chênh lệch giữa nam và nữ không quá cao với 58% là nam, 42% là nữ Trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số với 75,6%, kế đến là Khmer 10,5%, Hoa
là 8,5% và các dân tộc khác chiếm tỷ lệ 5,5%
Với trình độ phần lớn là lao động phổ thông 54%, trình độ Cao đẳng là 11% và Đại học 15% Số người đã kết hôn là 50,5% và chưa kết hôn chiếm tỷ
lệ 41,5% Hoàn cảnh cư trú của những người tham gia nghiên cứu chủ yếu là
ở nhà thuê – trọ ở mức 56%, ở với gia đình là 37,5%
Về nơi đã từng làm việc của họ tập trung nhiều ở các công ty chế biến thực phẩm 26,5%, công ty may mặc, giày da 27% và sản xuất thiết bị, linh kiện
ở mức 18% Cùng với lý do mất việc là Thu nhập không cao chiếm tỷ lệ 42%, hết hạn hợp đồng 38% và công việc không phù hợp với trình độ là 12,5%
Số liệu cho thấy hiện nay chất lượng nhân công hiện nay ở các khu công nghiệp tại Bình Dương chưa cao chủ yếu là lao động phổ thông tập trung nhiều vào ngành sản xuất may mặc – giày da, chế biến thực phẩm Một phần nguyên do này là do đa số các công ty sản xuất này đều yêu cầu tuyển chọn công nhân có trình độ từ trung học cơ sở, trung học phổ thông ở số lượng lớn, nhưng thực tế trong số họ còn chưa hoàn thành một bậc học nào tuy nhiên trong bối cảnh cuộc cách mạng 4.0 đang bùng nổ, nhiều lao động
trình độ thấp cũng đứng trước nguy cơ dư thừa do xu thế robot hóa
Do trình độ thấp dẫn đến năng suất lao động không cao, các công việc đòi hỏi công việc có kỹ thuật cao hơn thì người công nhân không đáp ứng được dẫn đến nghỉ việc hoặc đồng lương người công nhân hưởng được cũng bèo bọt, đời sống khó khăn Hiện nay tình trạng chưa kết hôn ở đối với người công nhân ở các khu công nghiệp ngày càng cao do áp lực công việc sản xuất, tăng ca kiếm tiền cho nên người công nhân không còn thời gian để tìm hiểu các mối quan hệ để tiến tới hôn nhân, dành cho gia đình dẫn đến nhiều hệ lụy đáng tiếc Phần lớn công nhân đều là xuất phát từ các địa phương khác đổ về
Trang 32Bình Dương để tìm việc làm do đó nhu cầu thuê nhà thuê trọ của người công nhân ở mức cao là việc phổ biến
2.2.Một số đặc điểm tham gia BHTN của công nhân
2.2.1 Thời gian tham gia BHTN của công nhân
Bảng 2.2 Thời gian tham gia
Nguồn: Số liệu khảo sát tháng 3/2018
Bảng 2.4 cho biết tỷ lệ người công nhân tham gia số người công nhân tham gia BHTN mới được 1 năm có tỷ lệ là 14,5%, tham gia từ 2 đến 4 năm
có mức 37%, tham gia từ 4 đến 6 năm có 21% cuối cùng là tham gia từ 6 năm trở lên có tỷ lệ là 27,5% Những con số trên biểu hiện từ khi quy định nhà nước về BHTN ra đời đến nay đã được triển khai tốt, tỷ lệ người tham gia BHTN khá cao, điểm hình trong giai đoạn mới ban hành từ năm 2008 thì chỉ
có 27,5% người công nhân tham gia vì do mới ban hành cho nên người lao động nói chung chưa nắm rõ hết hoặc chưa được thực hiện đầy đủ ở các cơ sở
sử dụng lao động, tuy nhiên càng về sao tỷ lệ người tham gia BHTN càng tăng do sự triển khai rộng rãi
2.2.2 Cảm nhận của công nhân về công tác tư vấn, thủ tục về BHTN
Kết quả từ bảng 2.4 cho biết có 71,5% người được khảo sát cho biết rằng họ cảm thấy dễ hiểu khi được tư vấn BHTN, tỷ lệ người cảm thấy khó hiểu là 16% và có 12,5% người thấy rắc rối khi được tư vấn Về thủ tục giấy
tờ về BHTN thì có 70.5% người được hỏi cho biết họ cảm thấy bình thường, 29,5% người cảm thấy rắc rối Từ đây có thể thấy được mặc dù công tác tư vấn về BHTN của các cán bộ hữu trách làm cho người công nhân cảm thấy dễ hiểu với tỷ lệ 71,5% một con số khả quan , về các thủ tục giấy tờ, lâu nay
Trang 33công cuộc cải cách hành chính đã được tiến hành quyết liệt ở các cơ quan hành chính, với kết quả tỷ lệ người công nhân cho biết cảm thấy bình thường khi được hỏi về thủ tục hành chính cho thấy công cuộc cải cách hành chính
đã có những hiệu quả đáng kể trong việc giải quyết BHTN
Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận người công nhân vẫn cảm thấy khó hiểu và rắc rối trong vấn đề giấy tờ hành chính BHTN Một phần nguyên nhân do trình độ của người công nhân vẫn còn hạn chế do đó để công tác tư vấn tiến BHTN hiệu quả cho người công nhân nói chung rất cần sự nhiệt tình
cố gắng của các cán bộ hữu trách và sự hợp tác từ người công nhân
Hiện nay ngoài trụ sở chính, để tạo thuận lợi hơn cho người công nhân, hiện Trung tâm Dịch vụ việc làm Bình Dương mở 3 chi nhánh vệ tinh đặt tại các huyện Bến Cát, Dĩ An và Tân Uyên để tiếp nhận và giải quyết chế độ BHTN.Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh Bình Dương chú trọng công tác truyền thông, tuyên truyền bằng nhiều hình thức như tư vấn trực tiếp cho người công nhân, tại các sàn giao dịch việc làm; tuyên truyền bằng các tài liệu in như sổ tay,
tờ rơi, áp-phích tại các điểm tiếp nhận hồ sơ bảo hiểm thất nghiệp; tuyên truyền qua website của Trung tâm, qua các hội nghị do Trung tâm tổ chức…Để giúp người công nhân quyền lợi cũng như nghĩa vụ khi tham gia BHTN
Bảng 2.3 Cảm nhận của công nhân
Trang 342.2.3 Sự quan tâm của người công nhân về sự hỗ trợ của BHTN
Bảng 2.4 Các hỗ trợ mà công nhân quan tâm
Nguồn: Số liệu khảo sát tháng 3/2018
Qua bảng 2.6 thể hiện mối quan tâm của người công nhân tập trung nhiểu nhất vào sự trợ cấp thất nghiệp với mức tỷ lệ cao nhất 44%, kế đến là vần đề giới thiệu việc làm có tỷ lệ 39,5% Trạngthái tâm lý chung của người lao động, một là đa phần người công nhân chú ý nhiều đến sự trợ cấp thất nghiệp, không phủ nhận khi thất nghiệp con người phải trải qua một trạng thái tâm lý tiêu cực vì áp lực của cuộc sống do đó con người thường chú tâm đến
sự trợ cấp, tuy nhiên nếu ỷ lại vào sự trợ cấp thất nghiệp lâu dài sẽ tạo nên một gánh nặng cho ngân sách đất nước
Bên cạnh đó tỷ lệ người công nhân quan tâm đến việc giới thiệu việc làm cũng khá cao thể hiện mong muốn sớm có việc làm trở lại, đây là điều rất tích cực trong thị trường lao động ngoài ra nhu cầu được hỗ trợ học nghề của người công nhân lại chiếm tỷ lệ khá khiêm tốn mặc dù đã có chính sách hỗ trợ
Theo thống kê, trong số 42.000 trường hợp làm hồ sơ đề nghị hưởng BHTN tại Trung tâm DVVL tỉnh 9 tháng đầu năm 2016, có 1.573 trường hợp
đề nghị hỗ trợ học nghề, đạt tỷ lệ 3,6% con số náy đã nói lên phần đông người lao động khá thờ ơ với việc hỗ trợ học nghề với nhiều lý do khác nhau Như vậy đa số công nhân khi được hưởng BHTN thi phần lớn chỉ ỉ quan tâm đến quyền lợi trước mắt là nhận được bao nhiêu tiền, có việc gì làm được ngay mà không quan tâm đến các quyền lợi liên quan
Trang 352.2.4 Số tiền BHTN được trợ cấp
Bảng 2.2 thể hiền về số tiền được trợ cấp thì có 51% số người công nhân được trợ cấp từ 1 đến 3 triệu đồng, tỷ lệ người công nhân hưởng từ 3 đến 5 triệu đồng ở mức 44% và số người hưởng từ 5 đến 7 triệu đồng có tỷ lệ 3,5% và cao nhất là số người được trợ cấp từ 7 triệu trở lên có 1,5% Tỷ lệ người hưởng BHTN lần đầu tiên là 79%, lần thứ 2 là 17% và chỉ có 4% người hưởng lần 3 Nhìn chung đa phần người công nhân hưởng BHTN là lần đầu, vẫn còn có những người lãnh lần thứ hai và thứ ba,việc lãnh BHTN nhiều lần thể hiện sự bấp bênh trong việc làm của một bộ phận công nhân
Nguồn: Số liệu khảo sát tháng 3/2018
2.3 Công tác triển khai BHTN cho công nhân
2.3.1 Thời gian nhận trợ cấp so với quy định
Trang 36Bảng 2.6 cho thấy có 78,5% người công nhân nhận BHTN đúng hạn còn 21,5% người nhận chưa đúng hạn Thực tế cho thấy cho dù chính quyền tỉnh Bình đã lấy phương châm “Đúng đối tượng, đúng chế độ và đúng thời hạn” để tiến hành giải quyết trợ cấp BHTN cho người lao động nhưng qua kết quả khảo sát thì việc giải quyết nhận đúng hạn chưa đạt mức hoàn toàn vẫn còn giải quyết chậm trễ vì những lý do khách quan và chủ quan
2.3.2 Công tác triển khai BHYT kèm theo BHTN
Theo kết quả của Bảng 2 7 thấy được rằng có 88,5% người hưởng BHTN có nhận được BHYT kèm theo còn lại 11,5% người chưa nhận được BHYT Theo quy định hiện hành của Nghị định số 28/2015/ NĐ–CP của Thủ tướng chính phủ là: Căn cứ quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp, tổ chức bảo hiểm xã hội cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người lao động Nhìn chung việc cấp BHYT kèm theo trợ cấp BHTN cho công nhân thất nghiêp tại Bình Dương được thực hiện tốt mặc dù vẫn còn một tỷ lệ ít người vẫn chưa nhận được vì các lý do, điều này đòi hỏi sự quan tâm nhiều hơn từ cán bộ hữu trách để đảm bảo cho mọi người lao động hưởng BHTN có đầy đủ BHYT kèm theo Việc cấp BHYT kèm theo trợ cấp BHTN là một bước tiến lớn trong chính sách an sinh xã hội nó không chỉ mang tính nhân văn mà còn thật sự hữu ích, BHYT góp phần giảm nhẹ chi phí trị bệnh , bớt gánh nặng kinh tế cho người thất nghiệp
Bảng 2.7.Cấp thẻ BHYT cho công nhân
Trang 372.3.3 Công tác tư vấn giới thiệu việc làm
Qua phân tích Bảng 2.8 có 75,5% người hưởng BHTN được tư vấn giới thiệu việc làm còn 24,5% người không được tư vấn vì những lý do khác nhau, đánh giá về công tác tư vấn giới thiệu ( GTVL )trong đó có 43,7% người đánh giá hiệu quả, 47,7% số người đánh giá ở mức bình thường và có 8,6% người đánh giá không hiệu quả Qua đây có thể thấy số người có nhu cầu được tư vấn GTVL là khá cao và đã được Trung tâm dịch vụ việc làm (TTDVVL) đáp ứng đủ tuy nhiên sự đánh giá hài lòng cũng chỉ ở mức trung bình, đa phần người được tư vấn vẫn chưa thấy hiệu quả cao, điều khả quan là chỉ có một tỷ
lệ thấp người đánh giá không hiệu quả Để đạt được những khả quan trên Trung tâm DVVL tỉnh Bình Dương đã xây dựng và ban hành quy trình tư vấn cho người lao động cụ thể: Người công nhân đến tìm việc, được cán bộ GTVL từ vấn tìm hiểu nguyện vọng của công nhân cán bộ GTVL kiểm tra thông tin, hồ sơ ứng viên, bổ sung hoàn tất hồ sơ, đồng thời yêu cầu người lao động đăng ký thông tin tìm việc làm Kế tiếp, cán bộ GTVL tìm hiểu và lựa chọn doanh nghiệp phù hợp với nhu cầu tìm việc của NLĐ Tiếp theo, cán bộ GTVL sơ tuyển – phỏng vấn kỹ năng mềm của công nhân Sau đó cán bộ GTVL hẹn lịch phỏng vấn với doanh nghiệp tại trung tâm, hoặc phát hành giấy giới thiệu hướng dẫn NLĐ đến DN phỏng vấn, đồng thời mời công nhân tham dự sàn giao dịch việc làm Tại bước tiếp theo cán bộ GTVL kiểm tra kết quả phỏng vấn sơ tuyển của NLĐ, nếu ứng viện đạt thì lưu thông tin hồ sơ ứng viên Cuối cùng, cán bộ GTVL nhập số liệu báo cáo Đó là các bước quy trình tư vấn GTVL cho người lao động mà cán bộ Trung tâm phải thực hiện
Bảng 2.8 Tư vấn giới thiệu việc làm cho công nhân