1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đời sống tôn giáo và công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo ở Thái Nguyên hiện nay (LA tiến sĩ)

177 367 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 177
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đời sống tôn giáo và công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo ở Thái Nguyên hiện nayĐời sống tôn giáo và công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo ở Thái Nguyên hiện nayĐời sống tôn giáo và công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo ở Thái Nguyên hiện nayĐời sống tôn giáo và công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo ở Thái Nguyên hiện nayĐời sống tôn giáo và công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo ở Thái Nguyên hiện nayĐời sống tôn giáo và công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo ở Thái Nguyên hiện nayĐời sống tôn giáo và công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo ở Thái Nguyên hiện nayĐời sống tôn giáo và công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo ở Thái Nguyên hiện nayĐời sống tôn giáo và công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo ở Thái Nguyên hiện nayĐời sống tôn giáo và công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo ở Thái Nguyên hiện nay

Trang 1

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ MẠNH ANH

ĐỜI SỐNG TÔN GIÁO VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO Ở THÁI NGUYÊN HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÔN GIÁO HỌC

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ MẠNH ANH

ĐỜI SỐNG TÔN GIÁO VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO Ở THÁI NGUYÊN HIỆN NAY

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Các kết luận khoa học của luận án chƣa công bố trên bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Nguyễn Thị Mạnh Anh

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN 7

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

1.2 Khung lý thuyết nghiên cứu 18

1.3 Một số khái niệm sử dụng trong luận án 24

1.4 Khái quát địa bàn nghiên cứu - tỉnh Thái Nguyên 28

Chương 2: ĐỜI SỐNG TÔN GIÁO VÀ ĐẶC ĐIỂM ĐỜI SỐNG TÔN GIÁO Ở THÁI NGUYÊN 41

2.1 Diện mạo đời sống tôn giáo ở Thái Nguyên 41

2.2 Đặc điểm đời sống tôn giáo ở Thái Nguyên 77

Chương 3: CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO Ở THÁI NGUYÊN HIỆN NAY - NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 84

3.1 Thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở Thái Nguyên hiện nay 84

3.2 Một số hạn chế và những vấn đề đặt ra đối với công tác QLNN về hoạt động tôn giáo ở tỉnh Thái Nguyên 117

Chương 4: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KHUYẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QLNN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO Ở THÁI NGUYÊN HIỆN NAY 125

4.1 Dự báo tình hình tôn giáo và công tác QLNN đối với HĐTG trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 125

4.2 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác QLNN đối với HĐTG ở Thái Nguyên hiện nay 127

4.3 Một số khuyến nghị 141

KẾT LUẬN 148

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 151

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tôn giáo là hiện tượng xã hội, một bộ phận của văn hóa gắn liền với đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, phong tục, tập quán của mỗi quốc gia, dân tộc Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo, đa dân tộc, trong bối cảnh toàn cầu hóa

và hội nhập quốc tế, tôn giáo ở Việt Nam đang có xu hướng phát triển mạnh

Để đáp ứng nhu cầu thực tiễn này, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách mới đối với tôn giáo và công tác quản lý của Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo Năm 2003, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ bảy (khóa IX) ban hành Nghị quyết số 25-NQ/TW về công tác tôn giáo và nhiều chỉ thị, kết luận khác liên quan đến tôn giáo và công tác tôn giáo

Các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng thể hiện qua các văn bản nêu trên đã sớm được cụ thể hóa bằng các văn bản pháp luật của Nhà nước như Hiến pháp năm 2013, Luật tín ngưỡng, tôn giáo, cùng Nghị định thực hiện

Ở địa phương, các cấp ủy, chính quyền tỉnh đã cụ thể hóa các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước để phù hợp với tình hình thực tiễn nhằm đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, giải quyết tốt các nhu cầu chính đáng

về sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo cho mọi người; tạo điều kiện cho giáo hội, chức sắc, chức việc, tín đồ tôn giáo hoạt động theo quy định pháp luật Chính sách đổi mới công tác tôn giáo của Đảng và Nhà nước đã làm cho đại bộ phận chức sắc, chức việc nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo tin tưởng, yên tâm hành đạo, sống “tốt đời, đẹp đạo”, tham gia đóng góp vào công cuộc xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc

Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước (QLNN) đối với hoạt động tôn giáo (HĐTG) cũng còn nhiều hạn chế, cần được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tế như: vấn đề xã hội hóa y tế, giáo dục, từ thiện nhân đạo; quản lý tài sản, đất đai tôn giáo, xây dựng, sửa chữa nơi thờ tự của các tôn giáo; phong chức và quản lý các chức sắc, chức việc, tín đồ tôn giáo; công

Trang 7

nhận các tổ chức tôn giáo; một số hiện tượng tôn giáo mới chưa được công nhận nhưng vẫn hoạt động trái quy định pháp luật Một số cá nhân chưa tuân thủ pháp luật, lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động chống đối, kích động tín đồ nhằm phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất ổn định chính trị, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) Bên cạnh đó một số lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hành nghề mê tín dị đoan hay trục lợi cá nhân Thực tế này đòi hỏi cả trên phương diện lý luận cũng như thực tiễn cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện và thực thi công tác QLNN đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo một cách có hiệu quả nhất

Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi, có nhiều DTTS, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của vùng trung du và miền núi phía Bắc, cửa ngõ của thủ đô Hà Nội Về đời sống tôn giáo, tín ngưỡng, toàn tỉnh có 3 tôn giáo là Phật giáo, Công giáo, Tin lành với 120 nghìn tín đồ và một số hiện tượng tôn giáo mới Trong những năm qua cùng với công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, đời sống sinh hoạt tôn giáo ở Thái Nguyên đang có chiều hướng phục hồi và phát triển Để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, công tác QLNN đối với HĐTG ở địa phương đã và đang có nhiều thay đổi cho phù hợp Các cấp chính quyền của tỉnh đã tập trung chỉ đạo thực hiện các chính sách hỗ trợ cho vùng đồng bào có đạo, vùng đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng

xa, vùng đặc biệt khó khăn Ngoài ra, các cấp chính quyền còn quan tâm, chú trọng tới công tác quản lý về đất đai của các cơ sở thờ tự tôn giáo trên địa bàn tỉnh nhằm đảm bảo hoạt động tôn giáo theo đúng quy định của pháp luật Đồng thời, tăng cường công tác quản lý về dân tộc, tôn giáo, để ngăn chặn các tổ chức truyền đạo trái pháp luật

Tuy nhiên, công tác QLNN đối với HĐTG ở Thái Nguyên vẫn còn nhiều bất cập Một số cán bộ nhận thức về tôn giáo và công tác tôn giáo còn hạn chế nên tham mưu cho cấp ủy chưa kịp thời, dẫn tới sự phối hợp giữa các ban, ngành, đoàn thể trong vùng đồng bào có đạo chưa thực sự đồng bộ, hiện tượng

sử dụng đất, xây sửa, cơi nới cơ sở thờ tự, chuyển nơi sinh hoạt tôn giáo, chia,

Trang 8

tách, sáp nhập tổ chức tôn giáo trực thuộc, sinh hoạt tôn giáo tập trung theo điểm nhóm chưa đúng quy định của pháp luật vẫn diễn ra, khiếu kiện tranh chấp đất đai tôn giáo đã xẩy ra như vụ việc nhà thờ xứ Thái Nguyên Đó là những vấn đề cần được nghiên cứu làm rõ thực trạng và nguyên nhân, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác QLNN đối với HĐTG ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay

Từ các lý do trên, nghiên cứu sinh (NCS) chọn vấn đề “Đời sống tôn giáo và công tác quản lý Nhà nước về hoạt động tôn giáo ở Thái Nguyên hiện nay” cho luận án Tiến sĩ Tôn giáo học của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích của luận án

Trên cơ sở làm rõ thực trạng đời sống tôn giáo và công tác QLNN đối với HĐTG trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên hiện nay, luận án đề xuất một số giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác QLNN đối với

HĐTG ở địa phương trong thời gian tới

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Để đạt được mục đích nêu trên, luận án có một số nhiệm vụ sau:

- Làm rõ quá trình hình thành và đặc điểm của đời sống tôn giáo ở Thái Nguyên

- Làm rõ công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo tác động

đến đời sống tôn giáo ở Thái Nguyên hiện nay - những vấn đề đặt ra

- Đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công

tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở Thái Nguyên hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu về đời sống tôn giáo (tập trung vào một số vấn đề cơ bản là cộng đồng tôn giáo, niềm tin tôn giáo, thực hành niềm tin tôn giáo) và công tác QLNN đối với HĐTG ở Thái Nguyên hiện nay

Trang 9

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: nghiên cứu về đời sống tôn giáo và công tác QLNN đối

với HĐTG trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

Về thời gian: nghiên cứu đời sống tôn giáo và công tác QLNN đối với

HĐTG từ khi có đường lối đổi mới về công tác tôn giáo (Nghị quyết số

24-NQ/TW ngày 16/10/1990 của Bộ Chính trị), nhất là từ khi Pháp lệnh tín

ngưỡng, tôn giáo ra đời (2004) đến nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Đề tài được tiến hành dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chính sách đổi mới của Đảng, Nhà nước ta

về tôn giáo và công tác tôn giáo Ngoài ra, NCS kế thừa thành tựu lý luận, kết quả nghiên cứu, các công trình có liên quan của những người đi trước gắn với việc xem xét thực tiễn đời sống tôn giáo và công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo ở Việt Nam, từ đó đối sánh để có cái nhìn khách quan về thực trạng, gợi mở chính sách liên quan đến đời sống tôn giáo và công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở tỉnh Thái Nguyên

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của tôn giáo học, nghiên cứu liên ngành, như khoa học QLNN, sử học, xã hội học, chính trị học, luật học, trong đó chú trọng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:

Phương pháp nghiên cứu tài liệu (phân loại và hệ thống hóa): Đây là

phương pháp nghiên cứu quan trọng nhất để thực hiện luận án Với phương pháp này, luận án có thể khai thác được nguồn tài liệu phong phú ở từ phía các tôn giáo và Nhà nước về những vấn đề liên quan đến luận án Phân loại là sắp xếp các tài liệu một cách khoa học theo từng mặt, từng vấn đề có cùng dấu hiệu bản chất, cùng một hướng phát triển của đời sống tôn giáo và công tác QLNN đối với HĐTG ở Thái Nguyên Hệ thống hóa là sắp xếp tri thức

Trang 10

thành một hệ thống trên cơ sở một mô hình lý thuyết để hiểu biết về đời sống tôn giáo và công tác QLNN đối với HĐTG ở Thái Nguyên Mục đích của phương pháp này là nhằm khai thác nguồn tư liệu thành văn, khảo cứu quá trình hình thành, phát triển cũng như thực trạng của đời sống tôn giáo và công tác QLNN đối với HĐTG ở Thái Nguyên trong thời kỳ đổi mới

Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp quan sát tham dự

là phương pháp dùng tri giác trực tiếp hoặc gián tiếp một cách có hệ thống để thu thập thông tin về đời sống tôn giáo và công tác QLNN đối với HĐTG ở Thái Nguyên Phương pháp điều tra là phương pháp khảo sát thực địa, điều tra xã hội học, tọa đàm, phỏng vấn, trao đổi với chức sắc, chức việc và cán bộ làm công tác tôn giáo tại địa phương để thu thập thông tin nhằm củng cố cho những nhận định, đánh giá về đời sống tôn giáo và công tác QLNN đối với HĐTG ở Thái Nguyên Phương pháp phân tích tổng kết thực tiễn là phương pháp nghiên cứu và xem xét lại những thành quả thực tiễn về đời sống tôn giáo và công tác QLNN đối với HĐTG ở Thái Nguyên

Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp phân tích là nghiên

cứu các tài liệu, lý luận khác nhau bằng cách phân tích chúng thành từng bộ phận để tìm hiểu sâu sắc về đời sống tôn giáo và công tác QLNN đối với HĐTG ở Thái Nguyên Tổng hợp là liên kết từng mặt, từng bộ phận thông tin

đã được phân tích tạo thành một hệ thống lý thuyết mới đầy đủ, sâu sắc hơn

về đời sống tôn giáo và công tác QLNN đối với HĐTG ở Thái Nguyên Từ việc phân tích đời sống tôn giáo ở Thái Nguyên hiện nay có thể rút ra đặc điểm cơ bản của đời sống tôn giáo liên quan đến công tác QLNN đối với HĐTG ở Thái Nguyên Từ việc phân tích thực trạng công tác QLNN đối với HĐTG ở Thái Nguyên hiện nay, có thể tổng hợp và rút ra những vấn đề đặt ra cho công tác QLNN đối với HĐTG ở Thái Nguyên Phương pháp được sử dụng trong luận án nhằm đạt được hiệu quả cao, có sức thuyết phục trong nghiên cứu vấn đề

Phương pháp lịch sử: Là phương pháp hồi cố, kết hợp giữa lịch đại và

đồng đại đi tìm nguồn gốc phát sinh, phát triển của đời sống tôn giáo ở Thái Nguyên từ đó rút ra bản chất và quy luật của đối tượng

Trang 11

Phương pháp so sánh: Việc sử dụng phương pháp này giúp cho luận án

có thể tiến hành đối chiếu, so sánh đời sống tôn giáo và công tác QLNN đối với HĐTG ở Thái Nguyên, từ đó rút ra những vấn đề nảy sinh và khuyến nghị đối với các cơ quan chức năng

5 Đóng góp mới của luận án

Luận án là công trình nghiên cứu đầu tiên một cách có hệ thống, tương đối toàn diện đời sống tôn giáo và công tác QLNN đối với HĐTG ở Thái Nguyên

Luận án phân tích, đánh giá thực trạng (thành tựu, hạn chế) công tác QLNN đối với HĐTG ở Thái Nguyên từ năm 1990 đến nay, đề xuất một số giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả QLNN đối với HĐTG ở

địa phương trong thời gian tới

Từ góc nhìn Tôn giáo học, cung cấp thêm những bằng chứng khoa học cho các nhà hoạch định chính sách tham khảo trong việc giải quyết vấn

đề tôn giáo ở Thái Nguyên, góp phần vào sự ổn định và phát triển bền vững của địa phương

6 Ý ngh a l ý luận và thực tiễn của luận án

Ý nghĩa lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần làm sáng

tỏ vấn đề lý luận về đời sống tôn giáo và hoàn thiện l ý luận về công tác QLNN đối với HĐTG ở Thái Nguyên và cả nước

7 Kết cấu nội dung luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung đề tài luận án chia làm 4 chương, 11 tiết

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

1.1.1 Những công trình nghiên cứu về đời sống tôn giáo ở Việt Nam và Thái Nguyên

Trong những thập kỷ gần đây, việc nghiên cứu tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam đã được nhiều nhà khoa học quan tâm, nhiều công trình nghiên cứu

về tôn giáo và đời sống tôn giáo đã được công bố, tiêu biểu như:

Cuốn Về tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam hiện nay (1998) do Đặng

Nghiêm Vạn chủ biên, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, đã phác họa đời sống tôn giáo của nước ta trong những thập niên 1990 từ góc độ tiếp cận lý luận

cho đến thực tiễn Với bài viết Một số vấn đề lý luận và thực trạng tôn giáo

Việt Nam, Đặng Nghiêm Vạn cho rằng: “Có thể đưa ra một định nghĩa về tôn

giáo một cách khái quát tất cả những hiện tượng tôn giáo đã có Đó là một bộ phận văn hóa tinh thần mà con người cảm nhận những điều của thế giới vô hình rút ra từ xã hội và tự nhiên mà họ đương sống, tác động hư ảo vào sinh hoạt đời thường và “cuộc sống thế giới bên kia”, theo cách suy nghĩ của nền văn hóa đang chi phối họ” [226, tr.15-15] Trên cơ sở này, tác giả đã khái quát một số đặc điểm tình hình tôn giáo, tín ngưỡng của nước ta, như: 1 Tuyệt đại

bộ phận người Việt Nam có nhu cầu tôn giáo; 2 Hệ thống tôn giáo chính của người Việt Nam là thờ những người đã khuất có công với nước, với làng, với gia đình, dòng họ; 3 Việt Nam là nước đa tôn giáo; Công trình đã chỉ ra những vấn đề lý luận để tác giả của luận án nghiên cứu về đời sống tôn giáo

và đặc điểm của đời sống tôn giáo ở Thái Nguyên

Trong cuốn Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam (2002)

của Đặng Nghiêm Vạn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tác giả đã trình bày những vấn đề lý luận chung về tín ngưỡng, tôn giáo như: Khái niệm tôn giáo, sự khác biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo; xu hướng biến đổi của tôn giáo và tình

Trang 13

hình tôn giáo ở Việt Nam những năm cuối thế kỷ XX Theo đó, tác giả nêu mô hình thực thể tôn giáo với bốn yếu tố: niềm tin tôn giáo gắn với lực lượng siêu nhiên; nội dung giáo lý, giáo luật; lễ nghi hay thực hành đức tin tôn giáo và cộng đồng tôn giáo bao gồm cả thiết chế giáo hội và cộng đồng tín đồ Đây là công trình nghiên cứu tương đối cơ bản những vấn đề lý luận chung về tôn giáo, rất hữu ích cho tác giả của luận án trong quá trình nghiên cứu

Cuốn Về tôn giáo và tôn giáo ở Việt Nam (2004), Tạp chí Nghiên cứu

Tôn giáo chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tập hợp các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước về tôn giáo nói chung,

về lý luận liên quan đến vấn đề tôn giáo nói riêng, những đặc điểm, vai trò của tôn giáo ở Việt Nam trong đời sống hiện nay Ở phần thứ nhất - những vấn đề lý luận chung về tôn giáo, các bài viết tập trung làm sáng tỏ khái niệm

và ngôn từ dùng trong tôn giáo Ở phần thứ hai - về các tôn giáo cụ thể ở Việt Nam, các bài viết đi vào phân tích sự phát triển, đặc điểm và xu hướng biến đổi của Phật giáo, Công giáo, đạo Tin lành, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, đạo Mẫu ở Việt Nam Mặc dù phạm vi tiếp cận trong các kết quả nghiên cứu của cuốn sách đã bao quát được cả góc độ lý luận cũng như thực tiễn, song khái niệm, đặc trưng, cấu trúc của đời sống tôn giáo lại chưa được đề cập đến một cách rõ ràng, cụ thể Vì vậy, vấn đề này cần được tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ hơn ở những công trình về sau

Cuốn Tôn giáo trong mối quan hệ văn hóa và phát triển ở Việt Nam

(2004) của Nguyễn Hồng Dương, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, với cách tiếp cận tôn giáo từ một số vấn đề lý luận, tác giả đi vào phân tích vai trò của một

số tôn giáo cụ thể đối với văn hóa và phát triển ở nước ta, như: Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, Công giáo, Tin lành Điểm lưu ý trong công trình nghiên cứu này là tác giả đã đưa ra khái niệm tôn giáo với những hướng tiếp cận khác nhau Thứ nhất, tôn giáo tiếp cận theo hướng bản thể nhằm mục đích đi vào nghiên cứu, lý giải bản chất tôn giáo Thứ hai, tôn giáo tiếp cận theo hướng chức năng

Trang 14

nhằm mục đích chỉ ra vai trò, vị trí của tôn giáo trong đời sống chính trị - văn hóa - xã hội Thứ ba, tôn giáo tiếp cận theo hướng tổng hợp nhằm mục đích lý giải cả bản chất lẫn vai trò và chức năng của tôn giáo Với cách tiếp cận này, công trình nghiên cứu đã giúp cho tác giả luận án có cái nhìn đa chiều về đời sống tôn giáo để từ đó có thể rút ra những kết luận một cách khách quan và toàn diện về vấn đề mà luận án quan tâm

Tác phẩm Đời sống tôn giáo tín ngưỡng Thăng Long - Hà Nội (2010) của

Đỗ Quang Hưng, Nxb Hà Nội, kết hợp phương pháp lịch sử tôn giáo tác giả dựng lại lịch sử các tôn giáo chính ở Thăng Long - Hà Nội như Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao Đài cũng như các loại hình tín ngưỡng và đặt nó trong tổng thể không gian tâm linh tín ngưỡng Thăng Long - Hà Nội, từ đó đưa ra những nhận xét bước đầu khá thú vị về đời sống tôn giáo tín ngưỡng ở đây Mặc dù tác giả không chỉ rõ những vấn đề lý luận cụ thể về khái niệm cũng như đặc trưng cơ bản của đời sống tôn giáo, song tác giả đã thành công khi chỉ ra rằng, đời sống tôn giáo, tín ngưỡng là một bộ phận quan trọng trong đời sống tinh thần, xã hội của người Thăng Long - Hà Nội và nó cũng biến đổi cùng với sự biến đổi của đời sống kinh tế - xã hội Công trình này đã gợi mở cho tác giả hướng tiếp cận nghiên cứu đời sống tôn giáo ở Thái Nguyên từ quá khứ cho đến hiện tại

Bài viết Tái cấu hình đời sống tôn giáo ở Việt Nam hiện nay: Những

thách thức về mặt pháp lý của Đỗ Quang Hưng, Tạp chí Công tác tôn giáo, số

7/2011, trên cơ sở làm rõ khái niệm quan trọng tái cấu hình đời sống tôn giáo

và một số khái niệm có liên quan như thị trường tôn giáo, sự phục hồi tôn

giáo, bước đầu nêu ra một số vấn đề có tính hệ luận khi đời sống tôn giáo

xuất hiện trạng thái “tái cấu hình” và những suy tư cá nhân góp phần vào việc giải quyết những thách thức mới ấy về mặt pháp lý Theo tác giả điểm đáng chú ý nhất của đời sống tôn giáo ở Việt Nam hiện nay là đã và đang có sự thay đổi cơ bản của “cái tôn giáo”, đó là sự tái cấu hình tôn giáo trong đời sống xã hội nói chung và trong quan hệ của nó với hệ thống pháp lý nói riêng

Trang 15

Kỷ yếu hội thảo Linh mục Phạm Bá Trực và đường hướng Công giáo

đồng hành cùng dân tộc trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp

(1946-1954), Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội 2011, do Viện Tôn giáo và tỉnh Thái Nguyên tổ chức Kỷ yếu gồm hai phần với 19 bài tham luận, đã phân tích, đánh giá về thân thế, sự nghiệp, vị trí, vai trò của linh mục Phạm Bá Trực trong phong trào yêu nước của người Công giáo và đường hướng đồng hành cùng dân tộc của người Công giáo Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp

Cuốn Đời sống tôn giáo ở Việt Nam và Trung Quốc (2011), do Viện

Nghiên cứu Tôn giáo, Viện Khoa học xã hội Việt Nam và Đại học Trung Sơn, Trung Quốc chủ biên, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, là kết quả của cuộc hội thảo khoa học diễn ra vào tháng 4 năm 2010 tại Việt Nam với gần 30 báo cáo khoa học của các nhà nghiên cứu Việt Nam và Trung Quốc xoay quanh vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam và Trung Quốc với nhiều khía cạnh khác nhau như nghi lễ, hương ước, biến đổi đối tượng thờ cúng, vai trò của tôn giáo với đời sống Ngoài ra, cuốn sách còn đề cập đến một số vấn đề tôn giáo học như niềm tin tôn giáo, tính tôn giáo, phương pháp nghiên cứu tôn giáo học, Kết quả nghiên cứu của cuốn sách giúp cho tác giả luận án có cơ

sở thực tiễn để nghiên cứu về đời sống tôn giáo ở Thái Nguyên hiện nay

Luận án tiến sĩ Dân tộc học Đời sống tôn giáo của tín đồ đạo Cao Đài

trong bối cảnh văn hóa Nam Bộ (2010) của Huỳnh Ngọc Thu, Viện Khoa học

xã hội Việt Nam đã làm sáng tỏ một số khái niệm công cụ như tôn giáo, đời sống tôn giáo Tác giả cho rằng, “đời sống tôn giáo có thể hiểu là những hoạt động liên quan đến tôn giáo của con người và xã hội Những hoạt động này có thể bao gồm: hoạt động tôn giáo, hoạt động tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo, hội đoàn tôn giáo ”[174, tr.20] Mặc dù tiếp cận theo quan điểm dân tộc học và nhân học, song công trình nghiên cứu này là tài liệu tham khảo hữu ích cho tác giả luận án hoàn thành mục đích và nhiệm vụ đề ra, nhất là khi nghiên cứu khái niệm đời sống tôn giáo

Trang 16

Luận án Tiến sĩ Triết học Đời sống tín ngưỡng, tôn giáo: Những vấn đề

lý luận và thực tiễn cấp bách ở Việt Nam hiện nay (2013) của Nguyễn Hoài

Sanh, Viện Khoa học xã hội đã hệ thống hóa, góp phần làm rõ các quan điểm

cơ bản về tín ngưỡng, tôn giáo và đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay Luận án bước đầu đề xuất một số khuyến nghị và giải pháp nhằm giải quyết tốt vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo, tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển đất nước Mặc dù luận án chưa làm sáng tỏ khái niệm cũng như cấu trúc của đời sống tôn giáo, song những kết luận rút ra từ luận án là tài liệu tham khảo

bổ ích cho việc nghiên cứu đời sống tôn giáo ở Thái Nguyên hiện nay

Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có một số công trình nghiên cứu về tình

hình và đời sống tôn giáo, tiêu biểu như đề tài Nghiên cứu tình hình tôn giáo

và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước về tôn giáo ở tỉnh Thái Nguyên (2005), Đề tài khoa học cấp tỉnh, KX05-04 do Nguyễn Kim

Huỳnh, Ban Tôn giáo tỉnh Thái Nguyên làm chủ nhiệm, đã phân tích tương đối khách quan, toàn diện thực trạng tình hình tổ chức của Công giáo và Phật giáo, từ tình hình đất đai, cơ sở thờ tự, đến sự phân bố chức sắc, chức việc, tín

đồ trên địa bàn tỉnh và đưa đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả

QLNN về tôn giáo Chuyên đề Đạo Tin lành trong cộng đồng các dân tộc

thiểu số ở tỉnh Thái Nguyên - Thực trạng, dự báo tình hình và những vấn đề đặt ra trong công tác quản lý nhà nước về tôn giáo, là một chuyên đề trong đề

tài KX05-04, trên cơ sở trình bày khái quát những nội dung cơ bản của Tin lành, quá trình du nhập đạo Tin lành vào Việt Nam, đặc điểm tình hình các DTTS, nhất là dân tộc Mông, Dao ở Thái Nguyên, chuyên đề tập trung làm rõ quá trình du nhập, phát triển đạo Tin lành vào vùng đồng bào DTTS ở Thái Nguyên, nhất là từ năm 1989 đến năm 2005 Đồng thời chuyên đề làm rõ thực trạng đạo Tin lành trong cộng đồng người Mông, người Dao và một số dân tộc khác (Kinh, Tày, Nùng), nêu lên xu hướng và những vấn đề đặt ra cho công tác QLNN đối với hoạt động của đạo Tin lành theo tinh thần Chỉ thị số

Trang 17

01/2005/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 04/02/2005 về một số công tác đối với đạo Tin lành Chuyên đề là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị để tác giả hoàn thành luận án

Luận văn thạc sĩ tôn giáo học: “Ảnh hưởng của lối sống đạo Công giáo

đối với đời sống tinh thần của giáo dân ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay” (2015)

của Nguyễn Thùy Dung, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, đã làm rõ thực trạng đời sống đạo Công giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống tinh thần của giáo dân trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên hiện nay Đề tài đã cung cấp nguồn tư liệu tham khảo hữu ích cho luận án

Trịnh Thị Mai, Ban Tôn giáo tỉnh Thái Nguyên với bài Đồng bào Công

giáo Thái Nguyên sống tốt đời đẹp đạo trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo tinh thần Thư chung 1980 của Hội đồng Giám mục Việt Nam, Kỷ yếu

hội thảo khoa học 30 năm Thư chung 1980 Hội đồng Giám mục Việt Nam, Nxb

Tôn giáo, Hà Nội 2010 nêu lên những hoạt động xã hội và các phong trào thi đua yêu nước của đồng bào Công giáo ở Thái Nguyên hiện nay

1.1.2 Những công trình nghiên cứu về QLNN đối với hoạt động tôn giáo ở Việt Nam và Thái Nguyên

Công tác tôn giáo nói chung, QLNN về tôn giáo nói riêng đã và đang thu hút được sự quan tâm của cả giới nghiên cứu cũng như cán bộ hoạt động thực tiễn, đáng chú ý có các công trình như:

Cuốn Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trong điều kiện xây

dựng nhà nước dân chủ, pháp quyền Việt Nam hiện nay (2001), do Nguyễn

Hữu Khiển chủ biên, Nxb Công an nhân dân, trên cơ sở phân tích một số vấn

đề lý luận chung về công tác QLNN, cuốn sách trình bày quan điểm của Đảng

và Nhà nước ta về công tác QLNN đối với HĐTG, trong đó vấn đề cơ bản là tạo điều kiện thuận lợi về sinh hoạt cho đồng bào có đạo, ngăn chặn các hoạt động lợi dụng tôn giáo để tuyên truyền xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Những giải pháp và kiến nghị mà tác giả cuốn

Trang 18

sách đưa ra cho công tác QLNN đối với HĐTG ở nước ta rất giá trị cho tác giả luận án khi nghiên cứu, phân tích và đề ra những giải pháp cho công tác QLNN đối với HĐTG ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay

Cuốn Bước đầu tìm hiểu về mối quan hệ giữa Nhà nước và Giáo hội

(2003), do Đỗ Quang Hưng chủ biên, Nxb Tôn giáo, là tập hợp những bài viết của các học giả và nhà nghiên cứu tập trung bàn về nội hàm thuật ngữ “Quản lý nhà nước” và “Quản lý hành chính nhà nước” trong lĩnh vực tôn giáo, về chủ thể

và khách thể quản lý trong lĩnh vực này, cùng với mối quan hệ giữa các pháp nhân công quyền và các pháp nhân dân sự trong QLNN đối với HĐTG ở nước

ta Ngoài làm rõ những vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa tôn giáo và Nhà nước (chính trị), cuốn sách giới thiệu chính sách tôn giáo ở một số nước như Nga, Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Liên minh châu Âu, Công trình giúp tác giả của luận án tham khảo vấn đề QLNN đối với HĐTG ở mức độ vĩ mô

Công trình Chính sách tôn giáo và nhà nước pháp quyền (2014) của Đỗ

Quang Hưng, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội đã trình bày vấn đề từ nguyên lý thế tục đến mô hình nhà nước thế tục, nêu rõ nội dung, bản chất, tính phổ quát của chính sách tôn giáo, nhấn mạnh về hoạch định phạm vi của chính sách tôn giáo, xem xét quyền tự do tôn giáo là một thành tố của quyền con người Trên

cơ sở giới thiệu mô hình nhà nước thế tục và kinh nghiệm xây dựng nhà nước thế tục ở một loạt nước Âu - Mĩ, Pháp, Đức, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Đông Nam Á, Bắc Phi, Trung Đông, tác giả đã trình bày toàn cảnh đời sống tôn giáo ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong mối quan hệ giữa Nhà nước và Giáo hội Tác giả cho rằng, “Quan hệ Nhà nước - Giáo hội ở Việt Nam hiện nay không chỉ là vấn đề cốt lõi trong chính sách tôn giáo mà còn là một vấn đề chính trị xã hội cấp bách Cần phải có những nghiên cứu toàn diện hơn, từ hai phía Nhà nước và Giáo hội để có thể giải quyết tốt vấn đề này” [88, tr.436] Có thể nói, đây là một công trình nghiên cứu tương đối toàn diện

từ lý luận cho đến thực tiễn về công tác QLNN đối với HĐTG ở nước ta, rất hữu ích trong quá trình thực hiện mục đích và nhiệm vụ mà luận án đã đề ra

Trang 19

Cuốn: Quản lý hoạt động tôn giáo - Cơ sở lý luận và thực tiễn (2005)

do Bùi Đức Luận (chủ biên), Nxb Tôn giáo, Hà Nội, dành một số trang (từ tr.7 - tr.32) đề cập đến một số vấn đề lý luận về QLNN đối với hoạt động tôn giáo Theo đó là các khái niệm, mục tiêu, chủ thể và khách thể quản lý, nội dung quản lý và phương pháp quản lý Ngoài ra còn là các nội dung thực tiễn QLNN đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo (đến thời điểm nghiên cứu); quá trình xây dựng Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo Với công trình trên, luận án một mặt tiếp thu những vấn đề lý luận về QLNN đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, mặt khác là những nội dung về QLNN đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo để vận dụng nghiên cứu ở chương 3 và một phần chương 4

Tác giả TS Nguyễn Tất Đạt có hai công trình được xuất bản: Công

trình thứ nhất: Tìm hiểu quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở Việt

Nam (2016), Nxb Hà Nội; Công trình thứ hai: Tìm hiểu thủ tục hành chính trong lĩnh vực tôn giáo ở Việt Nam hiện nay (2017), Nxb Tôn giáo, Hà Nội

Công trình thứ nhất giúp độc giả tìm hiểu quan điểm, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tôn giáo, nhất là trong thời kỳ đổi mới Tác giả cuốn sách giới thiệu những phương pháp, nội dung, hình thức QLNN về tôn giáo, giúp cho người đọc tiếp cận các kỹ năng quản lý, cách thức giải quyết các vấn đề tôn giáo trong xã hội Việt Nam hiện nay

Công trình thứ hai về cơ bản khắc họa toàn cảnh bức tranh tôn giáo ở Việt Nam Công trình giúp bạn đọc tiếp cận các thuật ngữ liên quan đến thủ tục hành chính của nhà nước khi giải quyết các hoạt động liên quan đến tôn giáo, các chủ thể tham gia quan hệ thủ tục hành chính trong lĩnh vực tôn giáo Công trình dành phần nội dung so sánh những thủ tục hành chính quy định

trong Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 và những quy định mới trong

Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 để giúp cá nhân, tổ chức dễ dàng tiếp cận với Luật tín ngưỡng, tôn giáo

Trang 20

Hai công trình trên, luận án vận dụng vào nghiên cứu ở chương 3 và một phần chương 4

Bài Quản lý nhà nước về tôn giáo trong thời kỳ đổi mới của Hoàng

Minh Đô, Tạp chí Lịch sử Đảng số 8, năm 2006 đã đề cập đến một số thành tựu và hạn chế trong lãnh đạo công tác QLNN đối với HĐTG của Nhà nước

ta từ năm 1986 đến năm 2006 Tác giả cho rằng, bên cạnh những thành tựu đã đạt được công tác QLNN về tôn giáo trong 20 năm đổi mới cũng còn một số hạn chế Ví như việc quán triệt quan điểm chỉ đạo giải quyết vấn đề tôn giáo và quán triệt chính sách pháp luật về tôn giáo trong đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác tôn giáo và liên quan đến tôn giáo chưa thực sự đi vào chiều sâu; hoạt động truyền đạo trái pháp luật và hoặc sự xuất hiện một số tôn giáo mới hoạt động ngoài khuôn khổ pháp luật còn diễn ra khá phổ biến; việc xây dựng, đề xuất chính sách, pháp luật trong công tác QLNN đối với HĐTG còn chậm,

Đề tài cấp Bộ Quản lý nhà nước về tôn giáo ở các tỉnh Tây Nguyên

(2010), do Ngô Văn Minh làm chủ nhiệm, Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III chủ trì, trên cơ sở làm rõ một số vấn đề về lý luận QLNN đối với HĐTG trong thời kỳ đổi mới ở nước ta, đề tài khảo sát hoạt động tôn giáo và công tác QLNN về tôn giáo tại các tỉnh Tây Nguyên từ tháng 6/2004 đến tháng 6/2009 Từ đó, đề xuất một số giải pháp cơ bản để tăng cường công tác QLNN về tôn giáo tại Tây Nguyên như tăng cường công tác tư tưởng nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ và quần chúng nhân dân, nhất là đồng bào có đạo về quan điểm, chính sách tôn giáo và vai trò của QLNN trên lĩnh vực tôn giáo Hoàn thiện thể chế QLNN về tôn giáo Phát huy trách nhiệm của cả hệ thống chính trị trong việc phối hợp tổ chức quản lý HĐTG Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của người có đạo Ngăn chặn, đấu tranh với các tôn giáo không hợp pháp và hoạt động tôn giáo vi phạm pháp luật Củng cố, kiện toàn bộ máy và đội ngũ cán bộ làm công tác QLNN về tôn giáo ở Tây Nguyên

Trang 21

Luận án Tiến sĩ Tôn giáo học “Quản lý Nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam

từ năm 1975 đến nay” (2014) của Bùi Hữu Dược, Viện Khoa học xã hội, Viện

Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, trên cơ sở phân tích một số vấn đề lý luận cũng như thực tiễn về công tác QLNN đối với HĐTG ở Việt Nam từ năm 1975 đến nay, luận án đề ra một số khuyến nghị đối với QLNN về tôn giáo Trong 6 khuyến nghị mà luận án đưa ra, chúng tôi cho rằng khuyến nghị nâng cao tính chuyên nghiệp trong QLNN về tôn giáo là một trong những điểm mới so với khuyến nghị ở các công trình nghiên cứu khác, giúp chúng tôi lưu ý kế thừa trong luận án của mình

Đề tài Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Nhà

nước về an ninh - trật tự đối với đạo Công giáo ở tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay (2006), do Ngô Quang Bắc làm chủ nhiệm, Công an tỉnh Thái

Nguyên chủ trì, trên cơ sở phân tích thực trạng QLNN về an ninh trật tự đối với hoạt động của Công giáo ở tỉnh Thái Nguyên, đề tài đưa ra dự báo tình hình và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN về an ninh, trật tự đối với Công giáo ở Thái Nguyên Đề tài cho rằng, bên cạnh những mặt tích cực, thực trạng công tác QLNN về an ninh, trật tự đối với các hoạt động của Công giáo ở tỉnh Thái Nguyên còn nhiều vấn đề bất cập, hạn chế cần phải được khắc phục, như sự tuân thủ pháp luật, sự tôn trọng chính quyền chưa được đề cao, còn nhiều vụ việc phức tạp nghiêm trọng Tình trạng này là do

sự tồn tại, yếu kém trong công tác QLNN về an ninh, trật tự đối với Công giáo ở tỉnh Thái Nguyên

Luận văn Thạc sĩ Triết học: Đạo Tin lành và công tác đối với đạo Tin

lành ở Thái Nguyên hiện nay (2011) của Lê Quốc Tuấn, Trường Đại học khoa

học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã trình bày thực trạng đạo Tin lành và công tác đối với đạo Tin lành ở tỉnh Thái Nguyên từ khi có Chỉ thị

số 01/2005/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số công tác đối với đạo Tin lành (2005), đến năm 2010 Luận văn đã cung cấp nguồn tư liệu tham khảo hữu ích cho tác giả thực hiện luận án

Trang 22

Khóa luận Cử nhân Chính trị chuyên ngành công tác tôn giáo Công tác

quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay (2012)

của Nguyễn Tiến Dũng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, trên cơ sở nêu lên những vấn đề lý luận về công tác QLNN đối với HĐTG, nêu khái quát tình hình tôn giáo, tác giả tập trung làm rõ thực trạng công tác QLNN đối với HĐTG ở Thái Nguyên từ khi có Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (2004) đến năm

2011 Khóa luận đã cung cấp nguồn tư liệu tham khảo hữu ích cho tác giả thực hiện luận án

Hoàng Thị Lan với bài viết Kết quả công tác quản lý nhà nước về tôn

giáo ở tỉnh Thái Nguyên, caicachhanhchinh.gov.vn/20.12.2010.doc nêu lên

những kết quả đạt được của công tác QLNN đối với HĐTG ở tỉnh Thái Nguyên từ khi có Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (2004) đến năm 2011

1.1.3 Những vấn đề đặt ra và hướng giải quyết của luận án

Qua khảo cứu các công trình nghiên cứu liên quan đến Đề tài luận án cho thấy vấn đề đời sống tôn giáo và công tác QLNN đối với HĐTG ở Việt Nam và Thái Nguyên đã được nghiên cứu ở khía cạnh và mức độ sau đây:

Một là, các công trình nghiên cứu nêu trên đã khái quát, chỉ ra đời sống

tôn giáo và công tác QLNN đối với HĐTG từ góc độ lý luận và thực tiễn

Hai là, trên cơ sở thực trạng đời sống tôn giáo và hoạt động QLNN về

tôn giáo tại địa bàn tỉnh, đề ra một số giải pháp để phát huy hơn nữa vai trò của Nhà nước đối với việc quản lý HĐTG và khắc phục hạn chế, yếu kém còn tồn đọng của công tác này

Nhìn chung cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề này một cách tổng thể từ góc độ tôn giáo học Kế thừa thành quả của các công trình nghiên cứu đi trước, luận án triển khai nghiên cứu, làm rõ những vấn đề sau:

Một là, làm rõ quá trình hình thành, đặc điểm đời sống tôn giáo ở Thái

Nguyên và công tác QLNN đối với HĐTG ở Thái Nguyên hiện nay

Trang 23

Hai là, làm rõ đời sống tôn giáo của các tôn giáo cụ thể (Phật giáo,

Công giáo, Tin lành và các hiện tượng tôn giáo mới đang hiện diện ở Thái Nguyên) và đặc điểm đời sống tôn giáo có ảnh hưởng đến công tác QLNN đối với HĐTG ở Thái Nguyên hiện nay

Ba là, làm rõ thực trạng công tác QLNN đối với HĐTG và những vấn

đề đặt ra cho công tác này ở Thái Nguyên hiện nay

Bốn là, khuyến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công

tác QLNN đối với HĐTG ở Thái Nguyên hiện nay

1.2 KHUNG LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU

1.2.1 Câu hỏi nghiên cứu

- Cơ sở lý luận, thực tiễn đời sống tôn giáo và công tác QLNN đối với HĐTG ở Thái Nguyên như thế nào?

- Thực trạng đời sống tôn giáo ở Thái Nguyên hiện nay như thế nào? Đặc điểm đời sống tôn giáo ở Thái Nguyên tác động, ảnh hưởng như thế nào đối công tác QLNN về tôn giáo ở địa phương?

- Thực trạng công tác QLNN đối với HĐTG ở Thái Nguyên hiện nay như thế nào?

- Công tác QLNN đối với HĐTG ở Thái Nguyên đang đặt ra vấn đề gì? Cần có giải pháp gì để nâng cao hiệu quả của công tác QLNN đối với HĐTG

ở Thái Nguyên, nhằm đảm bảo đời sống tôn giáo ở Thái Nguyên ổn định và phát triển?

1.2.2 Giả thuyết nghiên cứu

- Đời sống tôn giáo ở Thái Nguyên được hình thành trong quá trình lịch sử với 04 loại hình tôn giáo, cụ thể là Phật giáo, Công giáo, Tin lành

và các hiện tượng tôn giáo mới Đời sống tôn giáo của các tôn giáo trên có điểm tương đồng song mỗi loại hình cũng có sắc thái riêng

- Các cộng đồng tôn giáo ở Thái Nguyên được hình thành chủ yếu do những người từ nơi khác di cư đến (người Kinh từ miền xuôi lên, người Mông

di cư từ các tỉnh khác đến); các cộng đồng này mới được hình thành, đang trong quá trình hình thành (các hiện tượng tôn giáo mới); thành phần xã hội,

Trang 24

tộc người của các cộng đồng tôn giáo ở Thái Nguyên khá đa dạng; các tôn giáo ở Thái Nguyên đẩy mạnh hoạt động tôn giáo, xây dựng tổ chức và cơ sở vật chất Đặc điểm đời sống tôn giáo ở Thái Nguyên nêu trên có tác động, ảnh hưởng đáng kể đến công tác QLNN đối với HĐTG ở địa phương hiện nay

- Công tác QLNN đối với HĐTG ở Thái Nguyên đạt được những thành tựu quan trọng, tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ thực hiện công tác QLNN đối với HĐTG được củng cố, xây dựng vững mạnh; công tác QLNN đối với HĐTG từng bước đi vào nề nếp, tạo điều kiện thuận lợi cho các tôn giáo hoạt động theo quy định của pháp luật

- Đời sống tôn giáo và công tác QLNN đối với HĐTG đang đặt ra nhiều vấn đề cần chấn chỉnh: tình trạng hoạt động, sinh hoạt tôn giáo chưa tuân thủ pháp luật vẫn diễn ra ở một số nơi; một số hiện tượng tôn giáo mới chưa được quản lý, song vẫn mặc nhiên tồn tại, hoạt động, nhưng chưa có chế tài xử lý Đó là vấn đề tổ chức Dương Văn Mình hay vấn đề Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ, các nhóm tín ngưỡng thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh; chính sách, pháp luật còn một số điều chưa phù hợp với thực tế địa phương; vấn đề

tổ chức và cơ sở thờ tự của các điểm nhóm Tin lành đang đặt ra

1.2.3 Lý thuyết nghiên cứu

Lý thuyết thực thể tôn giáo: Lý thuyết này do các học giả phương Tây

sử dụng trong nghiên cứu xã hội học tôn giáo, xem tôn giáo là một thực thể xã hội đặc biệt Thực thể đó bao gồm niềm tin vào cái thiêng, việc thực hành gắn với niềm tin đó và cộng đồng người có cùng niềm tin vào cái thiêng Vận dụng lý thuyết này, luận án sẽ triển khai nghiên cứu đời sống tôn giáo của các tôn giáo ở Thái Nguyên trên ba phương diện là: Niềm tin tôn giáo, thực hành tôn giáo và cộng đồng tôn giáo Nói cách khác, lý thuyết này cho phép luận án nghiên cứu đời sống tôn giáo ở Thái Nguyên với tư cách là các thực thể tôn giáo (Phật giáo, Công giáo, Tin lành, các hiện tượng tôn giáo mới) sống động bao gồm các cộng đồng tôn giáo được hình thành trong lịch sử với những thực hành tôn giáo hay hoạt động tôn giáo (hành đạo, truyền đạo và quản đạo)

do một hệ thống tổ chức hành chính đạo điều hành Lý thuyết này được áp dụng trong chương hai để nghiên cứu về quá trình hình thành, phát triển của

Trang 25

các tôn giáo (cộng đồng tôn giáo, hoạt động tôn giáo và tổ chức giáo hội) ở Thái Nguyên trong lịch sử và thực trạng của nó hiện nay

Lý thuyết cấu trúc - chức năng: Lý thuyết này do Durkheim, Weber,

E Tylor, B Malinowski phát triển, được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu

xã hội học tôn giáo Lý thuyết cấu trúc cho phép luận án nghiên cứu tôn giáo

là một thực thể xã hội đặc biệt, có hệ thống cấu trúc gồm nhiều bộ phận, thiết chế cấu thành và chúng có mối quan hệ tương tác lẫn nhau tạo thành một chỉnh thể Thuyết cấu trúc nghiên cứu đời sống tôn giáo ở Thái Nguyên thấy được các bộ phận, các chi tiết, cũng như sự tương tác giữa chúng trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể Nó cũng cho thấy mỗi yếu tố hay bộ phận thuộc cấu trúc của tổng thể đều đảm nhiệm một hoặc nhiều chức năng

Do vậy, cùng với thuyết cấu trúc là thuyết chức năng, nghĩa là nghiên cứu về chức năng của mỗi bộ phận trong hệ thống cấu trúc Mỗi bộ phận trong hệ thống cấu trúc có chức năng khác nhau, song chúng lại có mối quan

hệ mật thiết với nhau, tương tác lẫn nhau, bổ sung cho nhau làm cho tôn giáo tồn tại như một chỉnh thể Ngoài những chức năng chung, mỗi tôn giáo lại có các chức năng riêng trong từng cộng đồng cụ thể và phụ thuộc vào bối cảnh văn hóa, xã hội, kinh tế, môi trường và thể chế chính trị của xã hội vào thời điểm đó Chức năng xã hội cơ bản của tôn giáo là liên kết cá nhân và nhóm xã hội tạo nên một cộng đồng dựa trên nền tảng của niềm tin và sự thực hành niềm tin tôn giáo Tiếp cận lý thuyết chức năng khi nghiên cứu đời sống tôn giáo ở Thái Nguyên giúp thấy được quá trình truyền bá đức tin (truyền giáo), tiếp nhận đức tin (gia nhập đạo) và thực hành đức tin (sinh hoạt tôn giáo), tạo thành các cộng đồng tôn giáo cụ thể (Phật giáo, Công giáo, Tin lành, các hiện tượng tôn giáo mới), cùng với các thiết chế của nó Mỗi bộ phận trong từng cộng đồng tôn giáo có chức năng riêng, tương tác lẫn nhau và phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của từng thời kỳ lịch sử nhất định Lý thuyết cấu trúc - chức năng được áp dụng trong luận án để nghiên cứu ở chương 2 nhằm chỉ ra quá hình thành phát triển của các cộng đồng tôn giáo ở Thái Nguyên cũng như các mối quan hệ của chúng; thấy được vai trò, tác

Trang 26

động, ảnh hưởng của chúng đối với đời sống sinh hoạt tôn giáo, văn hóa, xã hội của chức sắc, chức việc, tín đồ Lý thuyết này cũng được sử dụng trong chương ba để thấy rõ vị trí, vai trò của QLNN về tôn giáo trong công tác tôn giáo của hệ thống chính trị và quá trình phát triển xã hội ở địa phương từ năm

1990 đến nay

Lý thuyết xung đột (hay lý thuyết mâu thuẫn): Do K.Marx (1818-1883)

và F.Engels (1820-1895) khởi xướng, được nhiều học giả phương Tây kế thừa Lý thuyết này nhấn mạnh sự mâu thuẫn, xung đột và biến đổi xã hội Theo K.Marx và F.Engels toàn bộ sự phát triển xã hội từ buổi đầu văn minh đến nay diễn ra trong sự mâu thuẫn thường xuyên và chính sự mâu thuẫn, đấu tranh là nguồn gốc, động lực của sự biến đổi, phát triển xã hội, trong đó có tôn giáo Theo C Mác, bản chất của tôn giáo có tính chất hai mặt, vừa là biểu hiện của thế giới hiện thực vừa là sự phản kháng chống lại thế giới đó [115, tr.570]

Áp dụng lý thuyết xung đột vào nghiên cứu đời sống tôn giáo và công tác QLNN đối với HĐTG ở Thái Nguyên để thấy được có sự xung đột, mâu thuẫn về lợi ích giữa giáo lý, giáo luật hay quan điểm của một số tôn giáo có

sự khác biệt hay độ “vênh” với chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta

Ví như quan điểm cấm nạo phá thai hay sử dụng các phương pháp nhân tạo để ngừa thai là mắc phải tội giết người, vi phạm giới răn thứ năm của Công giáo, mâu thuẫn với chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình của Đảng và Nhà nước ta Hoặc quan điểm “hôn nhân bất khả phân ly”, chỉ chấp nhận ly thân không được ly hôn của Công giáo đi ngược lại với Luật hôn nhân và gia đình của Nhà nước ta Hay quan điểm cấm hôn nhân đồng tính của Giáo hội Công giáo đi ngược lại với Luật hôn nhân và gia đình mới được Quốc hội thông qua cho phép hôn nhân đồng tính Quan điểm “không tham gia chính trị” của một

số tổ chức, hệ phái Tin lành ở Việt Nam có mâu thuẫn gì với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về khuyến khích các tôn giáo đồng hành cùng dân tộc không Hay việc đập bỏ bàn thờ gia tiên của đạo Tin lành, tổ chức Dương Văn Mình hay việc nhất thể hóa bát hương của những người theo

Trang 27

tín ngưỡng Hồ Chí Minh có mâu thuẫn gì với tục thờ cúng tổ tiên của người Việt, người Mông không?

Lý thuyết khoa học quản lý: Nội dung chủ yếu của lý thuyết này chỉ rõ chủ

thể quản lý tác động (trực tiếp hoặc gián tiếp) tới đối tượng quản lý, nhắm tới mục tiêu làm cho đối tượng quản lý hoạt động (vận hành) phù hợp với ý chí của chủ thể quản lý đã định ra từ trước

Vì vậy: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản

lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra từ trước [Bùi Đức Luận (chủ biên) Quản lý hoạt động tôn giáo - Cơ sở lý luận và thực tiễn, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2005, tr.8]

Từ cơ sở lý thuyết khoa học quản lý, quản lý hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo được hiểu như sau:

Theo nghĩa rộng, QLNN đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo là quá

trình sử dụng quyền lực nhà nước (quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp) của các

cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật để tác động, điều chỉnh, hướng các hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra phù hợp với luật pháp, đạt được mục tiêu cụ thể trong quản lý

Theo nghĩa hẹp, QLNN đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo là quá

trình chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp, ngoài ra có các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân được Nhà nước trao quyền quản lý như Bộ Nội vụ (BTGCP), Bộ Công an, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và môi trường…) để điều chỉnh các hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra theo đúng quy định của pháp luật

Chủ thể quản lý

Chủ thể quản lý theo nghĩa rộng là các cơ quan nhà nước thuộc hệ

thống lập pháp (Quốc hội), các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống hành pháp (Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp) và các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống tư pháp (Tòa án nhân dân các cấp)

Trang 28

Chủ thể quản lý theo nghĩa hẹp là cơ quan nhà nước thuộc hệ thống

hành pháp (Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp, ngoài ra có các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân được Nhà nước trao quyền quản lý như Bộ Nội vụ (BTGCP), Bộ Công an, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và môi trường…)

Khách thể quản lý

Là hoạt động tôn giáo của các tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo; chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ các tổ chức tôn giáo; chức việc, người thuộc tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo (Ban Tôn giáo Chính phủ - Trường Nghiệp vụ công tác tôn giáo: Tập tài liệu Tôn giáo

và nghiệp vụ công tác tôn giáo, Hà Nội, 2017, tr.26-27-Bản vi tính)

Luật tín ngưỡng, tôn giáo (2016), Điều 60 Nội dung QLNN về tín ngưỡng, tôn giáo quy định:

1 Xây dựng chính sách, ban hành văn bản quy phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo

2 Quy định tổ chức bộ máy QLNN về tín ngưỡng, tôn giáo

3 Tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo

4 Phổ biến, giáo dục pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo

5 Nghiên cứu trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức làm công tác tín ngưỡng, tôn giáo

6 Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo

7 Quan hệ quốc tế trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo

Lý thuyết về khoa học quản lý, đặc biệt là QLNN đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, và quy định tại Điều 60, Luật tín ngưỡng, tôn giáo được luận án sử dụng khi viết về chương 3 và chương 4

Trên cơ sở khung lý thuyết luận án sử dụng trong nghiên cứu được đề cập ở trên, nội dung cốt lõi của luận án được mô hình hóa qua sơ đồ dưới đây:

Trang 29

1.3 MỘT SỐ KHÁI NIỆM SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN

Tôn giáo: Theo từ điển tiếng Việt, tôn giáo được xác định 1) Hình thái

ý thức xã hội gồm những quan niệm dựa trên cơ sở niềm tin và sùng bái những lực lượng siêu nhiên, cho rằng lực lượng siêu tự nhiên quyết định số phận con người, con người phải phục tùng và tôn thờ, tôn giáo nảy sinh rất sớm từ trong xã hội nguyên thủy 2) Hệ thống những quan niệm tín ngưỡng

ĐỜI SỐNG TÔN GIÁO VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG

TÔN GIÁO Ở THÁI NGUYÊN

Thực thể tôn giáo

Đời sống tôn giáo

và đặc điểm tôn giáo ở Thái Nguyên Cấu trúc chức năng

Khoa học quản lý (quản lý

nhà nước đối với hoạt động

tín ngưỡng, tôn giáo)

Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo

ở Thái Nguyên

Lý thuyết xung đột

Đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản

lý nhà ước đối với hoạt động tôn giáo ở Thái Nguyên hiện nay

Trang 30

hay những vị thần linh nào đó và những hình thức lễ nghi thể hiện sự sùng bái

ấy Ở Việt Nam có nhiều tôn giáo: đạo Phật, đạo Thiên Chúa, đạo Cao Đài” [231, tr239] Theo Đặng Nghiêm Vạn, tôn giáo là một thực thể xã hội, bao gồm có bốn yếu tố: niềm tin, nội dung, giáo lễ và cộng đồng: “có một niềm tin, một nội dung (giáo lý, giáo luật), những nghi thức, những quy chế về tổ chức, những kiêng cữ của nó”[226, tr.21] Ông viết: “một tôn giáo nào cũng

bao gồm một hệ thống niềm tin, được hình thành do những tình cảm thông qua những hành vi tôn giáo biểu hiện rất khác nhau, được quy định bởi một

nội dung mang tính siêu thực (hay siêu nhiên), nhằm tập hợp những thành

viên thành một cộng đồng có tính xã hội” [227, tr.75-76] Theo tác giả, một cộng đồng tôn giáo bao giờ cũng có hai bộ phận: những người quản lý điều hành theo thiết chế được định ra (tổ chức quản lý còn gọi là giáo hội) và

những tín đồ thường [227, tr.131] Theo Luật tín ngưỡng, tôn giáo: “Tôn giáo

là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức” [70, tr.7]

Do tính đa dạng của tôn giáo nên hiện nay còn có nhiều quan niệm về tôn giáo và tiêu chí xác định tôn giáo cũng rất khác nhau Theo luận án, trên phương diện QLNN, tiêu chí xác định tôn giáo cụ thể phải đảm bảo bốn yếu tố: 1) Giáo chủ (người sáng lập tôn giáo) hay đối tượng thờ cúng (niềm tin); 2) Giáo lý (tính thiêng), triết lý, mỗi tôn giáo có triết lý riêng; 3) Giáo luật (luật lệ), lễ nghi (giáo lễ, nghi lễ) của tôn giáo, mỗi tôn giáo có luật lệ quy định riêng và có nghi lễ riêng; 4) Giáo hội, tổ chức, thiết chế của tôn giáo, mỗi tôn giáo có tổ chức riêng

Hiện tượng tôn giáo mới: là thuật ngữ dùng để chỉ các hiện tượng tôn

giáo mới xuất hiện trên thế giới từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhất là từ những thập niên 60, 70 của thế kỷ XX, còn ở Việt Nam là những hiện tượng xuất hiện từ sau khi có chính sách đổi mới (1986) đến nay, như nhóm tâm linh tín ngưỡng Hồ Chí Minh, Long Hoa Di Lặc, Chân không, Con Rồng cháu Tiên, Dương Văn Mình, Thanh Hải Vô thượng sư, Pháp môn Diệu âm, Hội

Trang 31

thánh của Đức Chúa Trời Mẹ ngoài ra còn có rất nhiều cách gọi khác nhau, như đạo lạ, tạp giáo Trong luận án tác giả gọi là hiện tượng tôn giáo mới

Đời sống tôn giáo: là việc thực hành và biểu lộ đức tin tôn giáo thầm kín

hoặc công khai của mỗi tín đồ hay tập thể cộng đồng tôn giáo và mối quan hệ giữa thể chế tôn giáo với cộng đồng tín hữu hoặc mối quan hệ giữa các thành phần trong cộng đồng tôn giáo trong việc thể hiện đức tin tôn giáo của mình Đời sống tôn giáo bao hàm đời sống sinh hoạt tôn giáo và đời sống xã hội được dẫn dắt bởi đức tin tôn giáo

Thực thể tôn giáo: là một khái niệm dùng để chỉ toàn bộ hiện thực

tôn giáo tồn tại trong lịch sử đồng thời là một thiết chế và kết cấu của đời sống xã hội, chịu sự tác động từ các mối quan hệ và tương tác với các thiết chế xã hội khác Thực thể tôn giáo gồm có bốn yếu tố: niềm tin vào cái thiêng; nội dung (giáo lý); việc thực hành gắn với niềm tin đó và cộng đồng

người có cùng niềm tin vào cái thiêng và có năm tính chất: tính lịch sử, tính

tập thể, tính vật thể, tính biểu tượng và tính kinh nghiệm, nhạy cảm, có nghĩa

là một thực thể tôn giáo, nhìn theo hệ thống luận là một tiểu hệ thống của tổng thể xã hội [191, tr.8-9]

Tổ chức tôn giáo: là tổ chức của những người cùng chung một tôn

giáo có Hiến chương, Điều lệ, nêu rõ tôn chỉ mục đích được Nhà nước phê duyệt, có đăng ký hoạt động tôn giáo và hoạt động tôn giáo ổn định, có trụ sở giao dịch của tổ chức, có tên gọi không trùng tên gọi của tổ chức tôn giáo đã

được Nhà nước công nhận Theo Luật tín ngưỡng, tôn giáo: “Tổ chức tôn giáo

là tập hợp tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành của một tôn giáo được tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận nhằm thực hiện các hoạt động tôn giáo” [70, tr.7]

Tín đồ: “là người tin, theo một tôn giáo và được tổ chức tôn giáo đó

thừa nhận” [70, tr.7] Mỗi tôn giáo có cách gọi, tiêu chí và cách thức thừa nhận tín đồ riêng của mình

Trang 32

Chức sắc tôn giáo: “là tín đồ được tổ chức tôn giáo phong phẩm hoặc

suy cử để giữ phẩm vị trong tổ chức” [70, tr.7]

Chức việc: “là người được tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực

thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo bổ nhiệm, bầu cử hoặc suy cử để giữ chức vụ trong tổ chức” [70, tr.7]

Quản lý: là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản

lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan

QLNN: là sự chỉ huy, điều hành xã hội của các cơ quan nhà nước (lập

pháp, hành pháp và tư pháp) để thực thi quyền lực Nhà nước thông qua các văn bản quy phạm pháp luật

Quản lý hành chính nhà nước: là việc tổ chức thực thi quyền hành

pháp để quản lý, điều hành các lĩnh vực của đời sống xã hội bằng pháp luật và theo pháp luật

QLNN đối với hoạt động tôn giáo, gọi tắt là QLNN về tôn giáo: là

quá trình dùng quyền lực nhà nước (quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp) của các cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật để tác động điều chỉnh, hướng dẫn HĐTG của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra phù hợp với pháp luật đạt được mục tiêu hoạt động của chủ thể Do đó, QLNN về tôn giáo là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, hướng các hoạt động tôn giáo phục vụ lợi ích chính đáng của các tín đồ và phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Nhà nước quy định bằng pháp luật các hoạt động tôn giáo nhằm bảo đảm quyền bình đẳng giữa công dân, các tổ chức xã hội trước pháp luật, hình thành khung pháp lý làm

cơ sở để các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật

Chủ thể QLNN về tôn giáo ở Việt Nam: theo Hiến pháp năm 2013, ở

Việt Nam có các loại cơ quan nhà nước sau đây: 1) Các cơ quan quyền lực nhà nước (Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương); 2) Các cơ quan

Trang 33

hành chính nhà nước gồm: Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh, UBND cấp huyện, UBND cấp xã)…; 3) Các cơ quan xét xử (Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp cao, các Tòa án nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện và tương đương); 4) Các cơ quan kiểm sát (Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện) Chủ tịch nước là một chức vụ nhà nước, một

cơ quan đặc biệt thể hiện sự thống nhất của quyền lực, có những hoạt động thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp nên không xếp vào bất kỳ một loại cơ quan nào…

Theo nghĩa hẹp, chủ thể quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo

bao gồm các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống hành pháp gồm: Chính phủ, UBND các cấp ngoài ra có các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân được Nhà nước trao quyền quản lý như Bộ Nội vụ (BTGCP), Bộ Công an, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và môi trường…

Khách thể quản lý tôn giáo: là các tổ chức tôn giáo, chức sắc, người

tu hành, chức việc, tín đồ tôn giáo với những hoạt động tôn giáo cụ thể thuộc phạm vi quản lý điều chỉnh của pháp luật

Chính sách tôn giáo: là thuật ngữ để chỉ cơ sở cho QLNN về tôn giáo

Ở Việt Nam hiện nay, chính sách tôn giáo được thể hiện ở chủ trương, đường lối của Đảng và hệ thống pháp luật của Nhà nước đối với công tác tôn giáo và QLNN về tôn giáo

1.4 KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU - TỈNH THÁI NGUYÊN 1.4.1 Địa lý tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội

1.4.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên

Thái Nguyên là tỉnh trung du miền núi, trung tâm chính trị, kinh tế của khu Việt Bắc nói riêng, vùng trung du miền núi Đông Bắc nói chung; là cửa ngõ giao lưu kinh tế - xã hội, đầu mối giao thông giữa vùng trung du miền núi phía Bắc với vùng đồng bằng Bắc Bộ; phía Bắc giáp tỉnh Bắc Kạn, phía Tây

Trang 34

giáp các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, phía Đông giáp tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và phía Nam giáp thủ đô Hà Nội, diện tích tự nhiên: 3.562,82 km2 Thái Nguyên được tái lập ngày 01/01/1997, có 09 đơn vị hành chính, gồm 2 thành phố: Thái Nguyên và Sông Công; thị xã Phổ Yên và 6 huyện: Phú Bình, Đồng Hỷ, Võ Nhai, Định Hóa, Đại Từ, Phú Lương; có 180 xã, phường, thị trấn (gồm có 30 phường, 10 thị trấn và 140 xã, với 3.032 thôn, bản, tổ dân phố), trong đó có 4 huyện miền núi và 1 huyện vùng cao, 124 xã, thị trấn miền núi, vùng cao với 1.985 thôn, bản có người DTTS, dân số hơn 660 nghìn người (chiếm 59% dân số trong toàn tỉnh) Đồng bào DTTS có trên 339 nghìn người (chiếm 27% dân số), định cư ở ba khu vực: 35 xã, thị trấn thuộc khu vực I; 41 xã, thị trấn thuộc khu vực II và 48 xã thuộc khu vực III [5, tr.1]

Có địa hình khá phức tạp so với các tỉnh miền núi, trung du khác, điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển nông, lâm nghiệp Tài nguyên khoáng sản phong phú về chủng loại, có tiềm năng lớn để phát triển công nghiệp luyện kim, khai khoáng Thái Nguyên có trữ lượng than lớn thứ hai của cả nước, kim loại màu có thiếc, chì, kẽm, vonfram, vàng, đồng, niken, thủy ngân; khoáng sản vật liệu xây dựng có trữ lượng lớn cho phát triển ngành vật liệu xây dựng

Hạ tầng cơ sở như hệ thống đường giao thông (đường bộ, đường sắt, đường sông), điện nước, bưu chính viễn thông và công nghệ thông tin phát triển khá toàn diện và thuận lợi Nhiều công trình dự án được xây dựng, như

Dự án tổ hợp công nghệ cao Samsung; Dự án xây dựng cấp bách hệ thống chống lụt sông Cầu kết hợp hoàn thiện hai bờ sông Cầu, thành phố Thái Nguyên; Dự án xây dựng trung tâm thương mại Vincom; Dự án Nghĩa trang

An Lạc viên, đã tạo điều kiện cho Thái Nguyên có bước đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội trước mắt cũng như lâu dài

Nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, cách mạng, văn hóa, nghệ thuật để phát triển kinh tế du lịch sinh thái, du lịch tâm linh, du lịch về nguồn, như Hồ Núi Cốc, hang Phượng Hoàng; các di tích lịch sử cách mạng như An

Trang 35

toàn khu Việt Bắc - ATK, có rừng Khuôn Mánh, di tích khảo cổ học thời đồ

đá cũ ở huyện Võ Nhai Ngoài ra còn nhiều di tích kiến trúc nghệ thuật chùa chiền, đình đền, như khu Bảo tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam, đền Đuổm, chùa Hang, chùa Phủ Liễu, đền Xương Rồng, đền Đội Cấn Chính quyền tỉnh đang triển khai xây dựng quy hoạch khu du lịch hang Phượng Hoàng, suối

Mỏ Gà, hồ Suối Lạnh; khu du lịch văn hóa tâm linh Hồ Núi Cốc tại khu vực Đền Gàn, thuộc xóm 10, xã Vạn Thọ (Đại Từ)

Là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực đứng thứ ba trong cả nước, chỉ sau Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, với 7 trường đại học, 11 trường cao đẳng và trung học chuyên nghiệp, 9 trung tâm dạy nghề, mỗi năm đào tạo được khoảng 100 nghìn lao động

Bên cạnh những thành tựu đạt được, Thái Nguyên cũng có nhiều khó khăn, thách thức như: các tệ nạn xã hội, thiên tai, dịch bệnh gia súc; giá cả đầu tư ở hầu hết các ngành sản xuất đều tăng làm cho chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm tăng lên, ảnh hưởng không nhỏ tới sức cạnh tranh Đời sống của một

bộ phận đồng bào dân tộc còn khó khăn, nhất là đồng bào các DTTS

Trang 36

1.4.2 Dân tộc

1.4.2.1 Tộc người và cư dân

Thái Nguyên có 45 dân tộc sinh sống, dân số toàn tỉnh có gần 1,2 triệu người Theo số liệu điều tra thực trạng kinh tế - xã hội 53 DTTS Việt Nam 01/7/2015, tỉnh Thái Nguyên có 339.036 người DTTS chiếm 28% dân số toàn tỉnh (tăng 1% so với năm 2009) Trong đó 8 dân tộc có dân số đông, gồm dân tộc Tày 123.197 người (chiếm 10,95%), Nùng 63.816 người (chiếm 5,03%), Sán Dìu 44.134 người (chiếm 3,49%), Sán Chay 32.483 người (chiếm 2,74%), Dao 25.360 người (chiếm 2,00%), Mông 7.230 người (chiếm 0,48%), Hoa 2.064 người, Mường 1.687 người, Thái 928 người, Ngái 495 người, Giáy

110 người Còn lại là các DTTS khác đang sinh sống trên địa bàn tỉnh [5, 2; 179, tr.20] Đồng bào các DTTS sinh sống tập trung chủ yếu ở 5 huyện miền núi, vùng cao là: Định Hóa, Võ Nhai, Phú Lương, Đồng Hỷ, Đại Từ Toàn tỉnh 124 xã miền núi, vùng cao với 1985 xóm, bản người DTTS, nhiều thôn, bản cư dân DTTS sống xen kẽ với dân tộc Kinh Điều đó tạo điều kiện thuận lợi để tăng cường quan hệ hiểu biết lẫn nhau trong lao động sản xuất, giao lưu kinh tế, văn hóa xã hội giữa các dân tộc Tuy vậy, cũng có nhiều xóm, bản chỉ có một dân tộc cư trú như dân tộc Tày có: 267 xóm; Sán Chay:

tr.1-64 xóm, bản; Nùng: 42 xóm, bản; Mông: 13 xóm, bản; Sán Dìu: 56 xóm, bản; Dao: 57 xóm, bản [179, tr.23] Trải qua các thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng bào các DTTS ở tỉnh Thái Nguyên luôn giữ vững một lòng đi theo Đảng và cách mạng, phát huy truyền thống đoàn kết, cần cù lao động sản xuất, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, giữ gìn và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc

Thực hiện các chương trình chính sách dân tộc và chính sách xây dựng nông thôn mới, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thiết yếu vùng đồng bào DTTS từng bước được quan tâm đầu tư, hoàn thiện Đến nay, toàn tỉnh có 100% có đường ô tô đến trung tâm và 97,3% xóm, bản có mạng lưới điện

Trang 37

quốc gia Đến đầu năm 2017, số hộ nghèo ở 124 xã dân tộc miền núi là 31.118/191.596 hộ, chiếm 16,24%, giảm 2,98% so với năm 2016, giảm nhanh hơn mức nghèo bình quân toàn tỉnh là 0,79%; số hộ cận nghèo là 29.936/191.596 hộ, chiếm 12,49%, giảm 0,06% so với năm 2016 [5, tr.2]

Tuy nhiên, do điều kiện thiếu vốn, thiếu giống và tư liệu sản xuất, trình

độ canh tác lạc hậu nên năng suất (lương thực) còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn khá cao, trình độ dân trí thấp Các phương tiện thông tin đại chúng (đài, báo) cũng còn hạn chế trong việc phổ biến, tuyên truyền, hướng dẫn kỹ thuật làm

ăn, canh tác đến với đồng bào Một số dân tộc như người Mông, người Dao mới di cư từ nơi khác đến Một số dân tộc còn có tập quán du canh, du cư, cuộc sống chưa ổn định Vì vậy, chất lượng cuộc sống (vật chất, tinh thần) của đồng bào các DTTS còn rất thấp so với đồng bào Kinh Đồng bào các DTTS

ở Thái Nguyên có một số nét tâm lý đặc trưng chung như: dễ tin, dễ ngờ; ghét những thói hư tật xấu, sự phản bội; tự ty dân tộc, dễ tự ái, không tin vào sự hứa hẹn suông mà chỉ tin vào những việc làm, hành động cụ thể

1.4.2.2 Văn hóa các tộc người thiểu số ở Thái Nguyên

Do có vị trí thuận lợi, ở trung tâm của khu vực miền núi và trung du phía Bắc, là cửa ngõ nối liền với vùng đồng bằng châu thổ Bắc bộ, nên Thái Nguyên vừa là cái nôi, điểm hội tụ nền văn hóa đặc sắc của các DTTS trong vùng, vừa là nơi giao lưu, hội nhập với nền văn hóa của người Việt (Kinh) vùng đồng bằng tạo nên một nền văn hóa phong phú đa dạng và đậm đà bản sắc dân tộc Điều này được thể hiện qua văn học dân gian truyền miệng, ca dao, dân ca và các lễ hội truyền thống của các dân tộc Thái Nguyên Mỗi dân tộc có một nền văn hóa dân gian đa dạng, phong phú mang sắc thái riêng như truyện thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, nhất là kho tàng ca dao, dân ca của các dân tộc với những làn điệu như hát Gầu Plềnh (hát giao duyên), Gầu Xống (hát cưới xin), Gầu Tú Ở (hát cúng ma) của người Mông ở Đồng Hỷ; hát lượn của người Tày, Nùng ở Định Hóa, Võ Nhai…

Trang 38

Các DTTS ở Thái Nguyên đều có tín ngưỡng, tôn giáo truyền thống đa thần theo quan niệm vạn vật hữu linh, liên quan đến gia đình, dòng họ, cộng đồng, đến nghi lễ vòng đời người và lễ thức nông nghiệp Trong đó nổi bật nhất

là tục thờ cúng tổ tiên trong gia đình, dòng họ, thần bản, làng và các hình thức tôn giáo sơ khai Tín ngưỡng, tôn giáo truyền thống của các DTTS ở Thái Nguyên thường gắn với lễ hội dân gian Ngoài các loại hình tôn giáo sơ khai như tôtem giáo, bái vật giáo, saman giáo, ma thuật giáo, một số dân tộc chịu ảnh hưởng của Đạo giáo, Phật giáo, Công giáo, Tin lành Trong những thập niên gần đây, tín ngưỡng, tôn giáo truyền thống của các DTTS ở Thái Nguyên lâm vào khủng hoảng, duy trì nhiều hủ tục lạc hậu, nặng nề và đứng trước thách thức lớn của nền kinh tế thị trường trong bối cảnh toàn cầu hóa Đó là một trong những nguyên nhân làm cho một bộ phận người DTTS, nhất là người Mông, người Dao từ bỏ tín ngưỡng truyền thống gia nhập đạo Tin lành

Lễ hội truyền thống của các dân tộc cũng là nét văn hóa mang tính bản địa rõ rệt như lễ hội Lồng Tồng (xuống đồng), hội Then, các hội đền hàng năm như hội đền Đuổm, hội chùa Hang… Trong lễ hội luôn có cả những hoạt động văn hóa thể thao dân tộc như tung còn (Tày, Nùng), đánh đu, đánh vật, chọi gà, đánh cờ của người Việt (Kinh), đánh quay, trồng cây chuối của người Cao Lan - Sán Chỉ, múa sư tử của người Hoa… làm rộn rã tưng bừng không khí ngày hội Hưởng ứng cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới”, đồng bào các DTTS đã tích cực giữ gìn, phát huy các phong tục tập quán tốt đẹp, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc; xóa bỏ hủ tục lạc hậu, bài trừ mê tín dị đoan, thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới xin, tang ma và lễ hội

Trong các tộc người thiểu số ở Thái Nguyên, dân tộc Mông, Dao có số lượng đông và cũng là những tộc người có sự chuyển đổi mạnh mẽ về tín ngưỡng, tôn giáo trong nhiều thập kỷ trở lại đây, đó là họ từ bỏ tín ngưỡng, tôn giáo truyền thống theo tôn giáo mới: Tin Lành Sự chuyển đổi tôn giáo

Trang 39

của một bộ phận người Mông, Dao không chỉ làm biến đổi đời sống tôn giáo

ở Thái Nguyên mà còn có tác động không nhỏ tới nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường sinh thái trên địa bàn tỉnh, đặt ra nhiều vấn đề với

cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo Do vậy, trong những tộc người thiểu số ở Thái Nguyên, luận án chú trọng nghiên cứu, phát hiện những vấn đề liên quan đến người Mông, Dao

* Dân tộc Mông: là dân tộc có nguồn gốc từ Trung Quốc, di cư đến

Việt Nam và sinh sống chủ yếu trên các đỉnh núi cao của các tỉnh biên giới phía Bắc từ rất lâu đời Nhất là sau khi chiến tranh biên giới phía Bắc, người Mông di cư sâu vào nội địa, định cư ở Thái Nguyên khiến dân số người Mông

ở tỉnh tăng nhanh Năm 1979, ở Thái Nguyên mới có 644 người Mông, nhưng

10 năm sau, đã tăng lên tới 2.264 người (năm 1989); số người Mông tăng lên gấp hơn hai lần vào năm 1999, với 4.831 người và hiện nay có 7.230 người tăng 49,65% Cư trú ở 35 xóm, bản (13 xóm, bản bộ cư dân là tộc người Mông và 22 xóm bản xen kẽ với các dân tộc khác), thuộc 20 xã của 4 huyện Đồng Hỷ, Võ Nhai, Phú Lương, Định Hóa Người Mông ở Thái Nguyên chủ yếu thuộc ngành Mông Trắng có nguồn gốc từ tỉnh Cao Bằng, ngoài ra, có trên 100 người thuộc ngành Mông Đen có nguồn gốc từ Lạng Sơn di cư đến

từ năm 1930, cư trú lẻ tẻ tại huyện Định Hóa [5, tr.2; 179, tr.20]

Người Mông thường cư trú ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng cao, đèo núi hiểm trở, đường xá đi lại, đời sống khó khăn Đa số họ làm nương rẫy trồng ngô, chỉ có một số rất ít làm ruộng canh tác lúa nước Do thiếu đất canh tác và trình độ thâm canh lạc hậu nên tỷ lệ hộ nghèo còn chiếm khá cao (trên 40% số hộ) và tỷ lệ thiếu ăn vẫn còn (10% số hộ) Người Mông có một nền văn hóa truyền thống đa dạng, đặc sắc và độc đáo Họ có một niềm tin “sắt đá”, đã tin thì khó bỏ với một tâm thức dân tộc theo “cái lý của người Mông” Tuy nhiên hiện nay nền văn hóa và thiết chế xã hội truyền thống của họ đang phải đối mặt với những thách thức mới

Trang 40

Người Mông có tín ngưỡng, tôn giáo đa thần, với nhiều hình thức khác nhau như thờ cúng tổ tiên, saman giáo, ma thuật và thờ nhiều vị thần

Thờ cúng tổ tiên Tín ngưỡng này có vị trí đặc biệt quan trọng trong

việc tạo dựng và bảo lưu văn hóa cội nguồn của người Mông Đối với người Mông, thờ cúng tổ tiên không chỉ thể hiện lòng biết ơn với người đã khuất hay việc bắt buộc theo tục lệ tang ma, mà còn là sự cầu mong, sự tạ lỗi, xin tha thứ trước tổ tiên Nơi thờ tổ tiên của người Mông ở vách tường gian giữa của ngôi nhà (không gian thiêng - gian dành cho các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo) Bàn thờ tổ tiên (Cungv Pox Ziês - nghĩa là chỗ nghỉ chân của tổ tiên), được làm rất đơn giản chỉ là tờ giấy bản màu đỏ cắm ống hương của các cụ tổ, dán ở vách gian chính đối diện với cửa ra vào chính Một số vùng hay một số dòng họ (họ Vũ, họ Lầu, họ Và, ), có bàn thờ riêng bằng gỗ Trên bàn thờ, ngoài mảnh giấy bản, còn có ba ống hoặc bát hương Nơi đặt bàn thờ là không gian thiêng và chỉ có đàn ông mới được đến gần Người Mông thực hiện nghi lễ thờ cúng tổ tiên vào các dịp lễ tết, năm mới, lễ cưới xin, tang ma và một số dịp khác (lễ cơm mới, lễ đặt tên trẻ sơ sinh, lễ trưởng thành, lễ gọi vía, lễ thả hồn) [132, tr.91-101; 227, tr.288] Thờ cúng tổ tiên vẫn là tín ngưỡng giữ vị trí cực kỳ quan trọng của người Mông, nhưng hiện nay do nhiều nguyên nhân khách quan

và chủ quan, hầu hết người Mông ở Thái Nguyên đã từ bỏ tín ngưỡng này để gia nhập đạo Tin lành hoặc tổ chức Dương Văn Mình

Thờ cúng thần nhà, thần cửa Các gia đình người Mông đều thờ thần nhà

với quan niệm đó là vị thần thiêng liêng quản lý mọi công việc trong nhà, biểu tượng của sự no đủ, giàu sang Chỗ thờ thần đặt ngay sát vị trí nơi thờ tổ tiên Việc cúng thần được tiến hành cùng với các dịp cúng lễ tổ tiên nhằm kính cáo thần và cầu xin thần phù hộ Bên cạnh thần nhà, người Mông còn thờ thần cửa vì theo quan niệm của họ, vị thần này có vai trò quan trọng để bảo vệ con người và tài sản, tránh sự xâm nhập của cái ác, cái xấu Người Mông cho rằng, thần cửa là con gà trống và được thờ cúng cùng với dịp thờ cúng tổ tiên, thần nhà

Ngày đăng: 19/12/2018, 10:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w