Lý do chọn đề tài Giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng đối với mọiquốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển có lực lượng lao động lớn nhưViệt Nam.. M
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
BÙI VIỆT CƯỜNG
GIẢI PHÁP GIÁO DỤC TRONG
HỖ TRỢ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI NGHÈO HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
Chuyên ngành: Giáo dục và phát triển cộng đồng
Mã số: Thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ
NHUNG
Trang 2HÀ NỘI, NĂM 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Giải pháp giáo dục trong hỗ trợ giải quyết việc làm cho người nghèo huyện Mường La, tỉnh Sơn La” là đề tài nghiên cứu độc
lập của riêng tôi, được đưa ra dựa trên cơ sở tìm hiểu, phân tích và đánh giá các sốliệu tại huyện Mường La, tỉnh Sơn La Các số liệu là trung thực và chưa được công
bố tại các công trình nghiên cứu có nội dung tương đồng nào khác
Sơn La, ngày 26 tháng 10 năm 2016
Tác giả
Bùi Việt Cường
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn, tôi đã nhận được sự giúp
đỡ nhiệt tình từ các cơ quan, tổ chức và cá nhân Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc lòngbiết ơn chân thành đến các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trongsuốt quá trình thực hiện đề tài
Trước hết tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường đại học Sư phạm HàNội, Khoa Tâm lý giáo dục của trường cùng tập thể các thầy cô giáo, những người đãtrang bị kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất, tôi xin trân trọng cảm ơn Tiến sĩNguyễn Thị Nhung, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trìnhnghiên cứu và hoàn thiện đề tài
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các đồng nghiệp tại Phòng Lao động –Thương binh và Xã hội, Uỷ ban nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La đã giúp đỡtôi thu thập thông tin và tổng hợp số liệu trong suốt quá trình nghiên cứu và hoànthiện luận văn
Xin chân thành cảm ơn tất cả các bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ
và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi có thể hoàn thiện luận văn nghiên cứu
Do thời gian nghiên cứu và kiến thức còn hạn chế, luận văn không thể tránhkhỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến của các thầy, cô giáocùng các bạn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 11 năm 2016
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Bùi Việt Cường
Trang 5MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 2
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 2
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Kết cấu đề tài 3
9 Tóm tắt cô đọng các luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI NGHÈO HIỆN NAY 4
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 4
1.1.1 Những nghiên cứu về giải quyết việc làm trên thế giới 4
1.1.2 Những nghiên cứu về giải quyết việc làm ở Việt Nam 7
1.2 Khái niệm việc làm, giải quyết việc làm 15
1.2.1 Khái niệm việc làm 15
1.2.2 Các dạng việc làm 17
1.2.3 Khái niệm giải quyết việc làm 23
1.2.4 Khái niệm người nghèo 29
1.2.5 Khái niệm giải quyết việc làm cho người nghèo 33
1.3 Nội dung giải quyết việc làm cho người nghèo 36
1.3.1 Hỗ trợ tạo việc làm mới cho người nghèo 37
1.3.2 Hỗ trợ kết nối người nghèo với các cơ sở sử dụng lao động 38
1.3.3 Hỗ trợ nâng cao chất lượng lao động 39
1.3.4 Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng dịch vụ thị trường lao động ở khu vực nông thôn miền núi. 39
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng trong việc giải quyết việc làm cho người nghèo 41
Trang 61.4.1 Tư liệu sản xuất 41
1.4.2 Môi trường 44
1.4.3 Nguồn nhân lực 46
1.4.4.Giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ 47
1.4.5 Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm 48
1.5 Sự cần thiết phải tạo việc làm cho người nghèo 48
Kết luận chương 1 50
Chương 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC HỖ TRỢ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI NGHÈO HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA 51
2.1 Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu 51
2.1.1 Đặc điểm địa lý, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội của huyện Mường La, tỉnh Sơn La 51
2.1.2 Những thuận và khó khăn về tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Mường La ảnh hưởng đến giải quyết việc làm cho người lao động nghèo
57
2.2 Thực trạng về việc làm và giải quyết việc làm cho người nghèo huyện Mường La 59
2.2.1 Đặc điểm về dân số huyện Mường La 59
2.2.2 Đặc điểm về việc làm của người lao động huyện Mường La 60
2.2.3 Thực trạng về nguồn nhân lực trong độ tuổi lao động 61
2.2.4 Thực trạng về việc làm và giải quyết việc làm cho người nghèo của huyện Mường La 63
2.3 Thực trạng về công tác giáo dục - đào tạo nghề cho người nghèo huyện Mường La 65
2.3.1 Kết quả dạy nghề cho lao động nông thôn theo từng Chương trình, Đề án
67
2.3.2 Kết quả hướng nghiệp giáo dục dạy nghề trong các nhà trường trung học phổ thông của huyện, kết quả tập huấn, huấn luyện kỹ thuật 67
Trang 72.4 Đánh giá chung về hỗ trợ giải quyết việc làm cho người nghèo huyện Mường La 68
2.4.1 Một số kết quả đã đạt được về hỗ trợ giải quyết việc làm cho người nghèo huyện Mường La 68
2.4.2 Những hạn chế, trở ngại trong giáo dục hỗ trợ giải quyết việc làm cho người nghèo huyện Mường La 72
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG
Sơ đồ 1.1: Mô hình về trình độ nghề nghiệp của người lao động 35
Bảng 2.1: Tình hình dân số huyện Mường La từ năm 2011-2015 60
Bảng 2.2: Tình hình lao động của huyện Mường La giai đoạn 2011 - 2015 62
Bảng 2.3 Thống kê số hộ nghèo theo các xã 66
Bảng 2.4 : Kết quả giải quyết việc làm ở huyện Mường La giai đoạn 2011-2015, phân theo nhóm ngành 69
Bảng 2.5: Kết quả giải quyết việc làm cho người nghèo ở huyện Mường La giai đoạn 2011 - 2015, phân theo khu vực 70
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng đối với mọiquốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển có lực lượng lao động lớn nhưViệt Nam Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề giải quyết việc làm, Đảng vàNhà nước ta đã có nhiều chủ trương, đường lối, chính sách thiết thực, hiệu quảnhằm phát huy tối đa nội lực, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chuyển đổi cơcấu lao động, đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạonhiều việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị, tăng tỷ lệ sửdụng thời gian lao động ở nông thôn, góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sốngnhân dân, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Mường La là một trong năm huyện nghèo thuộc tỉnh Sơn La (gồm các huyệnPhù Yên, Bắc Yên, Sốp Cộp, Quỳnh Nhai và Mường La) Trong những năm qua,công tác xoá đói giảm nghèo đã được cấp uỷ, chính quyền huyện quan tâm giảiquyết quyết liệt do đó công tác giảm nghèo đã có sự chuyển biến tích cực từ chỗ tỷ
lệ hộ nghèo của huyện ở mức 61% năm 2010 đến năm 2015 giảm xuống còn28,32% Để công cuộc xoá đói giảm nghèo triển khai hiệu quả, từng bước đem lạicuộc sống khá hơn cho người nghèo đang là những thách thức đặt ra cho huyệnMường La Một trong những giải pháp đã và đang được cấp uỷ, chính quyền huyệnMường La thực hiện để giải quyết vấn đề giảm nghèo bền vững đó là vấn đề giảiquyết việc làm cho người nghèo, mặc dù đã đạt được những thành công nhất định,song công tác giải quyết việc làm cho người nghèo huyện Mường La vẫn còn nhiềubất cập cần giải quyết, điều đó đặt ra yêu cầu cần có sự nghiên cứu một cách cơ bản,
có hệ thống vấn đề giải quyết việc làm cho người nghèo huyện Mường La
Đã có không ít các công trình nghiên cứu về việc làm, giải quyết việc làmcho người lao động, tuy nhiên việc nghiên cứu để giải quyết việc làm cho ngườinghèo ở miền núi còn ít được quan tâm nghiên cứu
Xuất phát từ các lý do trên, tôi lựa chọn đề tài “Giải pháp giáo dục trong hỗ trợ giải quyết việc làm cho người nghèo huyện Mường La, tỉnh Sơn La”.
Trang 112 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và thực trạng công tác giải quyết việc làm cho ngườinghèo huyện Mường La, tỉnh Sơn La, đề xuất một số giải pháp hỗ trợ giải quyếtviệc làm của huyện nhằm tạo ra nhiều việc làm mới cho người nghèo, góp phần cảithiện cuộc sống, xoá đói giảm nghèo nhanh và bền vững
3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Người nghèo huyện Mường La, tỉnh Sơn La
- Đối tượng nghiên cứu: Giải pháp hỗ trợ giải quyết việc làm cho ngườinghèo ở huyện Mường La
4 Giả thuyết khoa học
Nếu nắm rõ được những vấn đề cơ bản để giải quyết việc làm cho ngườinghèo, đánh giá được thực trạng, nguyên nhân giải quyết việc làm cho người nghèohuyện Mường La, từ đó sẽ đề xuất được những giải pháp đúng đắn giải quyết tốthơn việc làm cho người nghèo
5 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
5.1 Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về lao động, việc làm, giải quyếtviệc làm cho người nghèo
5.2 Khảo sát thực trạng giải quyết việc làm cho người nghèo huyện Mường
La và các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng trên
5.3 Đề xuất một số giải pháp hỗ trợ giải quyết việc làm cho người nghèohuyện Mường La
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn về nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng vấn đề giải quyếtviệc làm cho người nghèo huyện Mường La từ năm 2010 đến nay
- Giới hạn về khách thể nghiên cứu: Người nghèo trong độ tuổi lao động cókhả năng lao động ở huyện Mường La
- Giới hạn về địa bàn nghiên cứu: 04 xã đặc biệt khó khăn và 03 xã, thị trấnthuộc huyện Mường La gồm xã Ngọc Chiến, Chiềng Lao, Nặm Giôn, Chiềng Công,Mường Bú, Mường Chùm và thị trấn Ít Ong
Trang 127 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản;
- Phương pháp điều tra;
Chương 3: Giải pháp giáo dục hỗ trợ giải quyết việc làm cho người nghèohuyện Mường La, tỉnh Sơn La
9 Tóm tắt cô đọng các luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả
- Là công trình nghiên cứu đầu tiên về nội dung giải pháp giáo dục hỗ trợquyết việc làm cho người nghèo ở huyên Mường La
- Trên cơ sở nghiên cứu, luận văn đã nêu được thực trạng những hạn chếtrong giải quyết việc làm cho người nghèo của huyện
- Các giải pháp của luận văn sẽ góp phần giải quyết nhiều việc làm chongười nghèo của huyện Mường La, thực hiện hiệu quả công tác xây dựng nôngthôn, công tác xóa đói giảm nghèo nhanh và bền vững
Trang 13Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
CHO NGƯỜI NGHÈO HIỆN NAY 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Việc làm cho người lao động là một vấn đề luôn được quan tâm Bởi lẽ, đâykhông chỉ là vấn đề có liên quan đến cuộc sống của người lao động, mà còn liênquan đến tất cả các quá trình phát triển xã hội Đây là một vấn đề có liên hệ, liên kếtgiữa các quá trình kinh tế, xã hội và nhân khẩu Quá trình đó diễn ra trong mỗi quan
hệ giữa con người với tự nhiên, con người với con người trong đó có liên quan đếncác lợi ích kinh tế và luật pháp Đây là vấn đề chủ yếu của toàn bộ đời sống xã hội.Nhưng vào mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, giải quyết việc làm cho người lao độngcũng có những đặc điểm khác nhau
Chính vì vậy, việc nghiên cứu về việc làm cho người lao động được nhiềunhà khoa học, nhà quản lý cả trong và ngoài nước quan tâm Trong phạm vi củaluận văn, phần tổng quan tình hình nghiên cứu chỉ tập trung giới thiệu một số côngtrình tiêu biểu liên quan đến việc làm cho người lao động, trong đó có lao độngnghèo trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Mường La, tỉnh Sơn La
1.1.1 Những nghiên cứu về giải quyết việc làm trên thế giới
Sách tham khảo và bài báo khoa học
Các Mác (1818-1883) - nhà kinh tế học và triết học người Đức có công trình
vĩ đại “Tư bản” được phát hành vào năm 1867 Sự xuất hiện của công trình này đãđưa ông trở thành nhà khoa học kinh tế vĩ đại nhất của thế kỷ XIX
Trong tác phẩm nổi tiếng này, Ông đã đưa ra lý thuyết giá trị thặng dư vàphân tích bản chất và những thành tố đặc biệt của hàng hoá sức lao động - một loạihàng hoá đặc biệt trong nền kinh tế thị trường Trong quá trình nghiên cứu, CácMác đã phát hiện ra rằng, cái giá trị tăng thêm mà các ông chủ tư bản có được saukhi bỏ vốn đầu tư sản xuất kinh doanh chính là do lao động không công của ngườicông nhân làm thuê tạo ra Song để có những giá trị thặng dư ấy, nhà tư bản phải tạo
ra một chỗ làm việc cụ thể trong chuỗi kế hoạch sản xuất kinh doanh của họ bằng
Trang 14cách đầu tư tư bản vào sản xuất, kinh doanh Và hơn nữa, người lao động nếu khôngthể kết hợp sức lao động sống của mình với chỗ làm việc cụ thể do nhà tư bản tạo ra,thì bản thân họ cũng không thể chuyển sức lao động thành việc làm, và do đó cũngkhông thể tạo ra giá trị và giá trị thặng dư.
Vấn đề việc làm được ông nghiên cứu chi tiết ở chương XXIII, tập 23 C.Mác
- Ăngghen toàn tập về “Quy luật phổ biến của tích luỹ tư bản chủ nghĩa”, trong đóông phân tích sự tăng thêm của tư bản đến vị trí của giai cấp công nhân và việc làm.Luận cứ quan trọng nhất của công trình này là sự biến đổi cấu tạo hữu cơ của tư bảntrong quá trình tích luỹ C.Mác cho rằng, cùng với những điều kiện khác không thayđổi, kết cấu của tư bản cũng vẫn không thay đổi - nghĩa là để vận dụng một khốilượng tư liệu sản xuất hay tư bản bất biến nhất định, bao giờ cũng cần một khốilượng sức lao động như trước Rõ ràng là lượng cầu về sức lao động và quỹ sinhhoạt của công nhân sẽ tăng lên một cách tỷ lệ với tư bản, và tư bản tăng lên càngnhanh bao nhiêu thì lượng cầu đó cũng càng tăng lên nhanh bấy nhiêu Theo ông,đầu tư tăng (tăng tư bản) sẽ làm gia tăng cầu sức lao động, do đó, khả năng có việclàm của người lao động sẽ được gia tăng Tuy nhiên, với mục đích có được càngnhiều giá trị thặng dư càng tốt, việc gia tăng tư bản của nhà tư bản luôn được tínhtoán làm sao tốc độ gia tăng tư bản bất biến nhanh hơn tốc độ gia tăng tư bản khảbiến Đầu tư cải tiến kỹ thuật công nghệ là biện pháp tốt nhất để tăng năng suất laođộng, gia tăng sản xuất giá trị thặng dư Do đó, sự gia tăng việc làm trong điều kiệnsản xuất tư bản chủ nghĩa không tăng cùng tỷ lệ với sự gia tăng đầu tư tư bản, mà có
xu hướng giảm tương đối
Như vậy, xét trên tổng thể, tư bản khả biến và cầu sức lao động giảm tươngđối, số lượng việc làm tăng chậm hơn toàn bộ vốn của nền sản xuất xã hội Từ đóMác đưa ra nhận định về nạn nhân khẩu thừa tương đối trong phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa Ông khẳng định, sự tăng lên của bộ phận tư bản khả biến bao giờcũng gắn liền với những biến động mạnh mẽ của việc sản xuất ra số nhân khẩu thừatạm thời Và cùng với sự tích luỹ tư bản do bản thân nó đẻ ra, nhân khẩu công nhâncũng sản xuất ra với một quy mô ngày càng lớn những phương tiện làm cho họ trở
Trang 15thành nhân khẩu thừa tương đối Dân cư dôi dư này có ý nghĩa rất quan trọng đểphát triển sản xuất tư bản chủ nghĩa, đảm bảo lao động thường xuyên cần thiết cho
xã hội và cũng là đòn bẩy quan trọng cho việc đẩy mạnh sản xuất giá trị thặng dư
Những nghiên cứu của C.Mác về hàng hoá sức lao động, về sự sản xuất ragiá trị thặng dư, về ngày lao động, sự phân công lao động, sự thay đổi trong đạilượng giá cả sức lao động và của giá trị thặng dư, sự chuyển hoá giá trị sức lao độnghay giá cả sức lao động thành tiền công, quá trình tích luỹ tư bản, nhất là lý luận củaông về tích luỹ tư bản,v.v được chuyển tải trong tập 23 đã cung cấp những cơ sởkhoa học cơ bản, trong đó có quan niệm về lao động, việc làm cho các nhà kinh tếMác-xít, các nhà nghiên cứu về các nền kinh tế trên thế giới cũng như các vấn đềphát sinh trong xây dựng và phát triển kinh tế của các quốc gia Đồng thời, đâycũng là kim chỉ nam để Đảng và Nhà nước ta xây dựng đường lối phát triển kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá và xây dựng nông thôn mới cũng như giải quyết việc làm cho ngườilao động trong đó có lao động nông nghiệp
John Maynard Keynes trong cuốn Lý luận chung về việc làm, lãi suất và tiền
tệ đã xem việc làm trong mối quan hệ chặt chẽ với sản lượng thu nhập tiêu dùng đầu tư - tiết kiệm Vị trí trung tâm trong lý thuyết của ông là việc làm J.M.Keynescho rằng, tình trạng việc làm được xác định trong mối quan hệ giữa tác động cácyếu tố thị trường lao động, sự vận động của thất nghiệp, tình trạng sản xuất, khốilượng sản phẩm, quy mô thu nhập, ông khẳng định: khi việc làm tăng lên thì tổngthu nhập tăng lên Cùng với sự tăng lên của thu nhập, ông cho rằng, khi thu nhậptăng thì tiêu dùng cũng tăng lên, nhưng do tâm lý của quần chúng, tốc độ tăng tiêudùng luôn thấp hơn tốc độ tăng thu nhập, làm cho cầu tiêu dùng thực tế giảm tươngđối so với thu nhập, dẫn đến một bộ phận hàng hoá không bán được Đây là nguyênnhân gây ra khủng hoảng, ảnh hưởng đến sản xuất chu kỳ sau, do đó làm giảm việclàm, gia tăng thất nghiệp Muốn khắc phục tình trạng đó, cần phải có một khốilượng đầu tư nhằm kích thích quần chúng tiêu dùng phần tiết kiệm của họ Do vậy,theo ông, để tăng việc làm, giảm thất nghiệp phải tăng tổng cầu nền kinh tế, gồm cả
Trang 16-cầu tiêu dùng và -cầu đầu tư Ông chỉ ra rằng, việc điều tiết vĩ mô nhằm giải quyếtviệc làm, tăng thu nhập đòi hỏi phải sử dụng các công cụ chính sách kinh tế nhằmkhuyến khích đầu tư và giảm tiết kiệm Có như vậy mới giải quyết được tình trạngkhủng hoảng và thất nghiệp Chính phủ có vai trò kích thích tiêu dùng để tăng tổngcầu thông qua các khoản chi tiêu chính phủ, hoặc thông qua các chính sách đầu tư.
Nolwen Heraff - Jean Yves Martin trong cuốn Lao động, việc làm và nguồnnhân lực ở Việt Nam sau 15 năm đổi mới đã nghiên cứu khái quát về tình hình laođộng, việc làm và nguồn nhân lực Việt Nam giai đoạn 1986-2000 Theo đó cho thấy,bắt đầu sự nghiệp đổi mới, Việt Nam có một ưu thế lớn là có nguồn nhân lực dồi dào,khả năng mở rộng việc làm trong quá trình đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trườngrất lớn, song do chất lượng nguồn nhân lực thấp, đa số là lao động chưa qua đào tạonghề nên khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển rất hạn chế
Điểm đáng chú ý nhất ở tác phẩm này là đã chỉ ra những hạn chế của nguồnnhân lực và ảnh hưởng của nó đến sự phát triển kinh tế - xã hội và vấn đề giải quyếtviệc làm ở nước ta giai đoạn 1986-2000 Những kết quả nghiên cứu của công trìnhnày, cũng như nghiên cứu của Slandes đã cung cấp cho người đọc có một cái nhìntương đối khách quan, khoa học về lao động, việc làm và nguồn nhân lực Việt Namtrong giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi từ mô hình kinh tế bao cấp sang kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đó là những tư liệu giúp cho chúng ta cócái nhìn đầy đủ hơn về lao động, việc làm và nguồn nhân lực Việt Nam trong từnggiai đoạn phát triển của đất nước
1.1.2 Những nghiên cứu về giải quyết việc làm ở Việt Nam
Tài liệu chuyên khảo, tham khảo trong nước
Đề tài KX.04 Luận cứ khoa học cho việc xây dựng chính sách giải quyết việclàm ở nước ta khi chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần do NguyễnHữu Dũng làm chủ nhiệm đã nghiên cứu các nội dung sau: Xây dựng luận cứ khoahọc cho việc hoạch định chính sách giải quyết việc làm của Việt Nam trong điềukiện chuyển đổi cấu trúc nền kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý kinh tế; Khuyếnnghị một số chính sách quan trọng nhất trong lĩnh vực việc làm; Đề xuất mô hình
Trang 17tổng quát và hệ thống biện pháp nhằm đảm bảo thực hiện chính sách quốc gia xúctiến việc làm Kết quả nghiên cứu của đề tài này đã đóng góp một số luận cứ, cơ
sở khoa học cho Đảng và Nhà nước ta trong việc hình thành các chủ trương,chính sách về giải quyết vấn đề việc làm thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiệnđại hoá đất nước và trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
Đề tài cấp Bộ “Một số vấn đề phát triển xã hội nông thôn năm 2009” (Laođộng và việc làm nông thôn) do Bùi Quang Dũng làm chủ nhiệm tập trung nghiêncứu một số vấn đề trong quá trình phát triển xã hội nông thôn năm 2009 như tìnhtrạng thất nghiệp, thiếu việc làm, đào tạo nghề cho lao động, tình trạng di dân đô thị
và nghèo đói của người lao động ở nông thôn Việt Nam,v.v Kết quả nghiên cứu chothấy sự chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, tình trạng thất nghiệp mùa
vụ ở nông thôn là nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự di dân như một chiến lược kinh tếcủa người nông dân Đô thị trở thành “cái túi” chứa lao động nông thôn, với sức épgia tăng ngày càng lớn về việc làm, y tế, giáo dục, ổn định xã hội,v.v Người laođộng di cư đang phải đối mặt với nhiều khó khăn khi mưu sinh ở thành thị dẫn đếnhiện tượng dòng di cư “đảo chiều” về nông thôn, gây nên tình trạng thiếu việc làmcho lao động nông thôn không di cư Phân tích các chính sách giảm nghèo, hỗ trợ sảnxuất và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản ở nông thôn, tác giả cũng chỉ ra những bấtcập trong xây dựng và thực hiện chính sách của Nhà nước
Ngoài ra, đề tài cấp Bộ “Hiện trạng cung - cầu nguồn lao động kỹ thuật thànhphố Hồ Chí Minh và định hướng giải pháp đào tạo, sử dụng cho giai đoạn tới 2010”
do Nguyễn Trần Dương làm chủ nhiệm cũng đề cập đến rất nhiều vấn đề quan trọngliên quan đến chủ đề nghiên cứu này Đặc biệt, đề tài đã cung cấp một hệ thống giảipháp đào tạo, sử dụng lao động kỹ thuật cho thành phố Hồ Chí Minh Các kết quảnghiên cứu của đề tài có giá trị tham khảo rất tốt khi tìm kiếm các giải pháp về laođộng, việc làm cho thủ đô Hà Nội
Luận án Tiến sĩ
Luận án của Trần Thị Bích Hạnh đã nghiên cứu để tìm kiếm các giải phápnhằm sử dụng hiệu quả nguồn lao động, xem đây là những vấn đề có tính chủ yếu
Trang 18trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của khu vực Tuy vậy, luận án mớichỉ tập trung nghiên cứu, tìm kiếm các biện pháp, các cách thức dưới góc độ quản
lý, gợi mở các phương án có tính kỹ thuật, luận án chưa đi sâu nghiên cứu về bảnchất của tình hình lao động, việc làm để từ đó có thể đề ra những giải pháp mangtính bền vững, lâu dài, có thể dẫn dắt các biện pháp có tính tình thế trong việc xử lýcác vấn đề lao động, việc làm khi có phát sinh Bên cạnh đó, công trình trên chưaphát hiện được những vấn đề có tính quy luật của sự vận động về việc làm và chấtlượng nguồn lao động, nên các giải pháp đưa ra mang đậm tính kỹ thuật, thiếu một
sự khái quát có tính nguyên lý, giúp cho chúng ta có thể kế thừa nó trong việc nhậndiện các hiện tượng nảy sinh về vấn đề việc làm, lao động trong quá trình xây dựng
và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nói chung, tiếntrình đẩy mạnh công nghiệp, hiện đại hoá và xây dựng nông thôn mới nói riêng
Luận án của Phạm Đức Chính với mục tiêu cải thiện việc sử dụng nguồnnhân lực có chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng làm việc sau khi xuất khẩu lao động ởnước ngoài trở về, đã nghiên cứu cơ sở lý luận về chính sách về sử dụng nguồnnhân lực sau xuất khẩu lao động, phân tích thực trạng và đề xuất các nhóm giảipháp nhằm hoàn thiện chính sách nói trên ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Luận
án đã xác định những đặc trưng, đặc điểm nổi bật của nguồn nhân lực sau xuất khẩulao động với ưu thế là sự thích ứng cao với nền kinh tế thị trường, làm rõ vai trò củanhà nước cùng với những nhân tố ảnh hưởng đến xây dựng và thực thi chính sách,
hệ thống các lĩnh vực liên quan đến điều kiện tái hoà nhập và lập nghiệp, tạo việclàm cho người lao động sau khi trở về nước trên cơ sở các tiêu chí đánh giá phù hợptrong điều kiện quản lý ở nước ta hiện nay
Phân tích thực trạng chính sách của nhà nước đối với nguồn nhân lực sauxuất khẩu lao động trong thời gian qua, luận án đã nghiên cứu, làm rõ những nộidung của chính sách cần được điều chỉnh như: Các đối tượng thực thi chính sáchcần nắm bắt được kế hoạch nguồn nhân lực sau xuất khẩu lao động về nước hàngnăm, vì nhu cầu sử dụng trong nước là không nhỏ nhằm bảo đảm sự tác động, tínhđáp ứng của chính sách cũng như hiệu lực của chính sách; Khắc phục tình trạng chỉ
Trang 19có khoảng 20% số lao động trở về được sử dụng Nhà nước cần bổ sung những nộidung cụ thể nhất là sự đồng bộ của hệ thống chính sách để tăng tính hiệu quả và tínhphù hợp, thích đáng của chính sách Trên cơ sở phân tích, đánh giá chính sách thờigian qua và định hướng phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn tới trong đó có mục tiêucủa hoạt động xuất khẩu lao động, luận án đã đề xuất 6 nhóm giải pháp nhằm hoànthiện chính sách sử dụng nguồn nhân lực sau xuất khẩu lao động, nhưng chưa cógiải pháp cụ thể để sử dụng nguồn nhân lực này đưa về nông thôn bổ sung cho lựclượng lao động trong quá trình xây dựng nông thôn mới Đây cũng là những vấn đềđược tác giả Nguyễn Lương Trào nghiên cứu khá kỹ trong luận án tiến sĩ của mìnhnhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả của việc đưa lao động Việt Nam đi làm việc cóthời hạn ở nước ngoài.
Một số sách tham khảo, chuyên khảo liên quan đến đề tài
Cuốn “Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam” của Nguyễn HữuDũng và Trần Hữu Trung nghiên cứu về chính sách việc làm ở Việt Nam trong thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nội dung công trình có thểkhái quát trên một số vấn đề chủ yếu sau:
Thứ nhất, nghiên cứu về phương pháp luận và phương pháp tiếp cận chính
sách việc làm Các tác giả cho rằng: “vấn đề cốt lõi, bao trùm nhất là phải tạo rađiều kiện và cơ hội để người lao động có việc làm, thu nhập đảm bảo cuộc sống củabản thân và gia đình, đồng thời góp phần cho xã hội Đó là nội dung cơ bản củachính sách việc làm”
Thứ hai, tiếp cận phương pháp nghiên cứu chính sách việc làm Các tác giả
cho rằng, chính sách việc làm phải được đặt trong hoàn cảnh của quá trình chuyểnđổi nền kinh tế cũng như chủ trương đa phương hoá các quan hệ quốc tế Đồng thời,chính sách việc làm cũng phải dựa trên sự sáng tạo của quần chúng nhân dân, nhằmphát huy tối đa sức sáng tạo của nhân dân, phục vụ hiệu quả công cuộc đổi mới pháttriển đất nước
Thứ ba, công trình đã hệ thống khái niệm về lao động, việc làm Các tác giả
đã nghiên cứu và đề cấp đến các nội dung chủ yếu như: quan niệm cơ bản về lao
Trang 20động và việc làm; hệ thống khái niệm cơ bản về lao động và việc làm được vậndụng ở nước ta Ở những nội dung này, trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu
có trước, các phạm trù: việc làm, lực lượng lao động, người có việc làm, người thấtnghiệp, những người không thuộc lực lượng lao động được tác giả giới thiệu mộtcách khái quát, nhằm phục vụ cho mục tiêu làm rõ những vấn đề có liên quan đếnchính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam
Thứ tư, công trình phân tích làm rõ nguyên nhân và những mâu thuẫn chủ
yếu của vấn đề thị trường lao động và việc làm ở Việt Nam trong những năm đầucủa quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Thứ năm, công trình đề xuất hệ thống quan điểm, phương hướng giải quyết
việc làm phù hợp với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở Việt Nam
Và cho rằng: một trong những vấn đề cơ bản nhất của sự thay đổi trong nhậnthức về việc làm là coi trọng yếu tố tự tạo việc làm của người lao động trong cácthành phần kinh tế Điều đó sẽ tạo thuận lợi cho việc giải phóng tiềm năng lao độngcủa đất nước một cách hiệu quả nhất Đây là một trong những thay đổi có tính cănbản của nhận thức về vấn đề tìm kiếm việc làm của người lao động, trong điều kiệnphát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Với những nội dung chính vừa nêu, công trình này đã đề cập đến rất nhiềukhía cạnh khác nhau liên quan đến vấn đề việc làm cho người lao động Song dođược nghiên cứu ở những năm trước 1997, nên các lập luận, kiến giải có những hạnchế nhất định Tuy nhiên, công trình đã mang đến người đọc những kiến thức bổích, nhất là phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu về chính sách giải quyết việclàm cho lao động nông nghiệp trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
Cuốn Lao động, việc làm và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn Việt Namcủa Nguyễn Xuân Khoát bàn về nhiều vấn đề cấp thiết của việc sử dụng nguồn laođộng và phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn Việt Nam trong các giai đoạn pháttriển Ở mỗi một công trình được giới thiệu trong cuốn sách, tác giả cố gắng nêuđược vai trò, ý nghĩa, thực trạng và phương hướng, biện pháp giải quyết các vấn đềđặt ra Đồng thời, cuốn sách góp phần làm sáng rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của
Trang 21việc sử dụng hợp lý nguồn lao động và phát triển kinh tế- xã hội ở nông thôn nước
ta Điều đó có ý nghĩa cho việc hoạch định việc sử dụng nguồn lao động nôngnghiệp trong quá trình xây dựng nông thôn mới hiện nay
Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu khác như Một số vấn đề laođộng, việc làm và đời sống người lao động ở Việt Nam hiện nay hay Thị trường laođộng Việt Nam định hướng và phát triển cũng cung cấp rất nhiều bàn luận có giá trịcho đề tài nghiên cứu của luận án
Các bài viết, nghiên cứu chuyên đề
Các bài báo khoa học nghiên cứu về vấn đề việc làm ở trong nước thời gianqua cũng được rất nhiều người quan tâm, nổi bật là những bài viết sau:
Bài viết “Phương hướng cơ bản giải quyết việc làm ở nước ta hiện nay” củatác giả Trần Đình Hoan đã nêu lên những quan điểm và phương hướng cơ bản củaĐảng ta trong việc giải quyết vấn đề việc làm trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiệnđại hoá đất nước và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Bài Một số vấn đề về chiến lược phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trongthời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá của tác giả Võ Hồng Phúc đã khẳng định vaitrò của nguồn nhân lực trong phát triển và hưng thịnh đất nước: Nguồn nhân lực làmục tiêu của phát triển, được thụ hưởng những thành quả của sự phát triển Vàchính sự thụ hưởng đó tiếp tục tạo ra sự kích thích, động lực cho sự phát triển củachính bản thân nguồn lực và sự phát triển chung Nguồn nhân lực có vị trí, vai tròđặc biệt đối với sự phát triển của mỗi quốc gia Nguồn nhân lực tốt, chất lượng cao
là tiền đề vững chắc và là nhân tố quyết định đến tốc độ phát triển kinh tế - xã hội,tăng năng suất lao động Nguồn nhân lực tốt, nhất là nhân lực có trình độ cao đảmbảo chắc chắn trong việc đưa ra những quyết định sáng suốt, đúng đắn đối vớiđường lối, chủ trương, chính sách và phương thức thực hiện các quyết sách về pháttriển và hưng thịnh quốc gia Đồng thời góp phần quyết định đến sự hoàn thiện của
hệ thống pháp luật và tạo điều kiện thuận lợi cho sự thành công của việc xây dựng
và phát triển nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Nguồn nhân lực có trình độcao là nền tảng vững chắc đảm bảo cho việc chuẩn bị tốt và thực hiện thành công
Trang 22quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và hợp tác quốc tế, đồng thời là cơ sở quan trọng
để thực hiện các nhiệm vụ giữ trật tự an ninh xã hội, củng cố sức mạnh quốc phòng
và bảo vệ vững chắc sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước Bài viết đưa ra một số nộidung cơ bản của chiến lược phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong thời kỳ côngnghiệp hoá, hiện đại hoá:
Trước hết quy mô nguồn nhân lực tiếp tục tăng nhanh đồng thời với yêu cầuchuyển hướng mạnh sang đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng của sự phát triển đangtạo áp lực lớn về đầu tư cả về chiều rộng và theo chiều sâu cho phát triển nhân lực
Thứ hai, yêu cầu tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao, bền vững và chuyển
dịch mạnh cơ cấu theo hướng tiến bộ, năng suất, hiệu quả và nâng cao sức cạnhtranh của nền kinh tế đòi hỏi nguồn nhân lực phải có sự phát triển mạnh mẽ,thay đổitoàn diện về chất lượng
Thứ ba, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ cùng với sự hình thành nền
kinh tế trí thức và hàm lượng chất xám chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong mỗi sảnphẩm, nhiều nguồn thông tin đa dạng, phong phú và dễ dàng tiếp cận đến tất cả mọingười, tác động toàn diện đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội đòi hỏi nguồn nhânlực phải năng động, nhanh chóng nắm bắt những tri thức và tiến bộ khoa học - côngnghệ mới, thích nghi với những bối cảnh mới đang liên tục thay đổi
Thứ tư, quá trình hội nhập, hợp tác và toàn cầu hoá đang diễn ra nhanh chóng
đòi hỏi nguồn nhân lực nước ta phải phát triển đến trình độ ngang tầm quốc tế nhằmvừa đáp ứng yêu cầu mới thường xuyên thay đổi của hệ thống luật pháp quốc tế,đồng thời phải giữ gìn, bảo vệ và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống tốtđẹp của dân tộc
Thứ năm, sự phát triển của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa vừa đòi
hỏi sự đổi mới không chỉ về một số nội dung của phát triển nguồn nhân lực, mà còn
về phương thức phát triển nguồn nhân lực
Thứ sáu, công cuộc cải cách hành chính nhà nước, đổi mới quản lý kinh tế và
xã hội diễn ra một cách sâu, rộng và toàn diện, đặt ra những yêu cầu mới đối với sựphát triển nguồn nhân lực không chỉ riêng đối với những người làm công tác quản
Trang 23lý, mà cả trong nhận thức về hành vi, trách nhiệm và cách ứng xử của mọi ngườidân Bài viết cũng xác định những quan điểm cơ bản về phát triển nguồn nhân lực ởViệt Nam đó là: phát triển nguồn nhân lực là nhiệm vụ hàng đầu và là khâu đột phácủa chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện nay Chiến lược pháttriển nguồn nhân lực phải hướng vào việc xây dựng đội ngũ những người lao động
có phẩm chất và năng lực ngày càng cao với cơ cấu hợp lý về trình độ, ngành nghề
và theo lãnh thổ Coi trọng việc phát hiện, bồi dưỡng, trọng dụng và tôn vinh nhântài Phát triển nguồn nhân lực là trách nhiệm của nhà nước và toàn xã hội Đảm bảocông bằng xã hội trong phát triển nguồn nhân lực, quan tâm nhiều hơn đến pháttriển nguồn nhân lực đến các vùng kém phát triển và các bộ phận dân cư hiện cònđang gặp nhiều khó khăn, thực hiện mục tiêu đoàn kết, ổn định xã hội và phát triểnbền vững Bài viết cũng đưa ra các mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể về pháttriển nguồn nhân lực cho 10 năm đầu của thế kỷ 21 ở nước ta Ngoài chức năng sảnxuất và dịch vụ, bộ phận này có nhiệm vụ chuẩn bị lao động kỹ thuật cao hơn chogiai đoạn sau Lao động phổ thông, chủ yếu ở nông thôn và khu vực phi kết cấu vớichức năng chính là tạo việc làm, phục vụ nhu cầu tại chỗ và đảm bảo thu nhập, đờisống cho người lao động Những nội dung xoá đói, giảm nghèo nhằm phát triểnnguồn nhân lực sẽ thay đổi, hướng vào việc nâng cao chất lượng của các mục tiêugiảm nghèo và cải thiện đời sống, sử dụng mức chuẩn nghèo quốc tế và lồng ghépvới mục tiêu phát triển thiên niên kỷ đã được 149 nguyên thủ quốc gia và nhữngngười đứng đầu chính phủ của 180 nước (trong đó có Việt Nam) thông qua tại Hộinghị thượng đỉnh Thiên niên kỷ tháng 9-2000 Những biến đổi tiến bộ trong cơ cấulao động, cùng với quá trình giảm nghèo sẽ góp phần tích cực vào việc hình thành
và phát triển ở nước ta một tầng lớp trung lưu chiếm đa số trong xã hội và có ýnghĩa định hướng cho sự phát triển tiếp theo của nguồn nhân lực trong những nămtới Đây cũng là những nội dung được tác giả Nguyễn Hữu Dũng đề cập trong bàiviết của mình
Bài Tổng quan nông nghiệp nông thôn Việt Nam sau 25 năm thực hiện Nghịquyết 10 của Bộ chính trị (Khoá VI) của tác giả Nguyễn Sinh Cúc đã đánh giá
Trang 24những thành tựu và hạn chế về sản xuất nông nghiệp và đời sống ở nông thôn sau
25 năm thực hiện Nghị quyết 10 Đây là những tư liệu quan trọng để luận án đánhgiá hiện trạng về phát triển nông nghiệp nông thôn trước khi có chương trình xâydựng nông thôn mới
Ngoài ra còn nhiều bài viết của các tác giả khác cũng cung cấp rất nhiềuthông tin có giá trị tham khảo cho đề tài luận án về thực trạng, các vấn đề đặt racũng như các giải pháp nhằm giải quyết các vấn đề đó
Các bài viết nói trên mới chỉ đề cập đến từng mặt, từng góc cạnh của vấn đềviệc làm cho người lao động như cung cầu sức lao động, số lượng, chất lượng sứclao động, chính sách sử dụng lao động, các biện pháp, cách thức giải quyết việc làmcho người lao động ở Việt Nam Nhìn chung, dưới các góc độ nghiên cứu khácnhau, các công trình nghiên cứu của các tác giả đã tiếp cận và làm rõ được nhiềukhía cạnh của tình hình việc làm, tình hình nguồn lao động, thị trường lao động vàviệc thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế, giải quyết việc làm chongười lao động Đây là những căn cứ khoa học quan trọng để kế thừa và phát triểncho quá trình nghiên cứu thực hiện của luận văn
1.2 Khái niệm việc làm, giải quyết việc làm
1.2.1 Khái niệm việc làm
Việc làm là một khái niệm phức tạp, nó gắn với hoạt động thực tiễn của conngười, vì vậy để hiểu rõ được khái niệm về việc làm thì chúng ta phải hiểu rõ kháiniệm người có việc làm
Tại Hội nghị lần thứ 13 năm 1983 tổ chức lao động thế giới (ILO) đưa raquan niệm: “Người có việc làm là những người làm một việc gì đó, có được trảcông, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vàocác hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vị lợi ích hay vì thu nhập gia đình,không nhận được tiền công hay hiện vật”
Người có việc làm là những người lao động ở tất cả các khu vực (công và tư)
có thu nhập đem lại nguồn sống cho bản thân và gia đình, xã hội.Tại nhiều nướctrên thế giới sử dụng khái niệm này
Trang 25Khi điều tra thống kê về lao động và việc làm, khái niệm trên được cụ thểhoá bằng các tiêu thức khác nhau, tuỳ thuộc vào mỗi nước trên thế giới đặt ra.Trong đó có thể chia ra thành hai nhóm:
Nhóm thứ nhất: Là nhóm có việc làm và đang làm việc, đó là những người
đang làm bất cứ công việc gì được trả công hoặc làm việc trong các trang trại hay
cơ sở sản xuất kinh doanh của gia đình;
Nhóm thứ hai: Là những người có việc làm nhưng hiện không làm việc,
đó là những người có việc làm nhưng hiện tại đang nghỉ ốm hoặc các lý do cánhân khác;
Những người không thuộc hai nhóm trên được gọi là những người không
có việc làm
Theo Điều 9, Bộ Luật Lao động năm 2012: “Việc làm là hoạt động lao độngtạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm” Như vậy một hoạt động được coi làviệc làm nếu nó đáp ứng được hai tiêu chuẩn:
Thứ nhất, đó là hoạt động không bị pháp luật ngăn cấm;
Thứ hai, hoạt động đó phải đem lại thu nhập cho người lao động.
Việc chuẩn và lượng hoá khái niệm việc làm tạo cơ sở thống nhất trong lĩnhvực điều tra nghiên cứu và hoạch định chính sách về việc làm
Như vậy, việc làm là hoạt động được thể hiện trong ba dạng sau:
Thứ nhất, hoạt động lao động để nhận tiền công hoặc tiền lương bằng tiền
mặt hay hiện vật;
Thứ hai, hoạt động lao động để thu lợi nhuận cho bản thân.
Thứ ba, làm công việc cho hộ gia đình của mình, không được trả thù lao dưới
mức tiền công, tiền lương cho công việc đó Bao gồm sản xuất nhà nước trên ruộngđất do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ sở hữu, quản lý hay có quyền sử dụnghoặc hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộlàm chủ hoặc quản lý
Như vậy khái niệm việc làm được mở rộng và tạo ra khả năng to lớn giảiphóng tiềm năng lao động, tạo việc làm cho người lao động
Trang 26Việc làm còn có thể hiểu là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức laođộng và tư liệu sản xuất hoặc phương tiện sản xuất ra của cải vật chất và tinh thầncho xã hội Theo quan niệm này thì việc làm bao gồm:
Thứ nhất: Là sự biểu hiện của hai yếu tố sức lao động và tư liệu sản xuất; Thứ hai: Lấy lợi ích vật chất, tinh thần mà các hoạt động đó đem lại, xem xét
hoạt động đó có phải là việc làm hay không
Từ đó ta có việc làm là trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sảnxuất Sự phù hợp đó thể hiện trên cả mặt số lượng và chất lượng thông qua tỷ lệgiữa chi phí ban đầu C và chi phí lao động V Quan hệ tỷ lệ này phù hợp với trình
độ công nghệ của sản xuất Khi trình độ kỹ thuật công nghệ thay đổi thì quan hệ nàycũng thay đổi theo
VL = C/VTrong đó : VL : việc làm
C : tư liệu sản xuấtV: lực lượng lao động
1.2.2 Các dạng việc làm
Trong lý thuyết và cả trong thực tế việc làm được chia làm nhiều hình thứckhác nhau Những hình thức việc làm là các phương pháp tổ chức pháp lý và nhữngđiều kiện sử dụng lao động Trong khuôn khổ của thị trường lao động quốc gia hoạtđộng lao động của con người được tổ chức với sự trợ giúp của những hình thức tổchức pháp lý khác nhau, được phân biệt bởi định mức điều tiết pháp lý thời gian vàchế độ ngày làm việc, sự đều đặn của hoạt động lao động, vị trí thực hiện côngviệc,v.v
Việc làm đầy đủ: khái niệm việc làm đầy đủ không thể chỉ giải thích theo
một nghĩa, nó phụ thuộc vào tiêu chí và tính chất của vấn đề Đầy đủ ở đây không
có nghĩa là việc làm chung cho tất cả mọi người, đảm bảo chỗ làm việc cho tất cảdân số có khả năng lao động Xã hội luôn có khuynh hướng đạt được cân đối nguồnlao động trong mức tối đa, dự đoán dòng chuyển động nguồn lao động được dựatrên cơ sở dự báo và lên kế hoạch tạo chỗ làm việc
Trang 27Trong tư duy và thực tế ở phương Tây, việc làm đầy đủ là tình hình nền kinh
tế, mà ở đó tất cả những người mong muốn làm việc có việc làm với mức lươngthực tế khống chế Trong ngữ cảnh này nó được sử dụng đồng nhất như khái niệm
“toàn dụng nhân lực”
Trong lý thuyết kinh tế và thực tế người ta còn chia việc làm đầy đủ ra thànhnhiều dạng như việc làm năng suất, hiệu quả và hợp lý
Việc làm năng suất có nghĩa là việc làm tạo ra những phúc lợi và dịch vụ hữu
ích cả cho xã hội và cả cho từng người lao động
Việc làm hợp lý dự đoán sự phân chia một cách tối ưu người đang làm việc theo
các ngành sản xuất và các khu vực lãnh thổ của đất nước với mục đích sản xuất ranhững sản phẩm và sử dụng những dịch vụ phục vụ cho nhu cầu
Việc làm hiệu quả là việc làm trong sản xuất sinh lợi nhuận được trang bị kỹ
thuật với tổ chức lao động tiên tiến, năng suất lao động cao và đảm bảo chất lượngsản phẩm Nó dự đoán sự hiện có những cán bộ và đội ngũ những nhà quản lý cótrình độ chuyên nghiệp cao và hướng tới công việc có hiệu quả Khái niệm việc làmhiệu quả này thường hướng vào sự phát triển toàn diện con người và hoàn toàn chấpnhận được, nhưng nó khá rộng và không có khả năng đo được bằng một chỉ tiêu.Tuy nhiên có thể đưa ra tính chất định lượng để đánh giá qua hệ thống chỉ tiêu như:
+ Mức độ việc làm của cư dân bằng lao động chuyên nghiệp trên tổng dân
số, thể hiện dưới dạng phần trăm (gọi là hệ số việc làm) Hệ số này cho thấy sự phụthuộc mức độ việc làm vào yếu tố nhân khẩu, có nghĩa là hệ số sinh, chết và tốc độtăng trưởng dân số, được tính toán trên các con số thống kê, hệ số đó là một trongnhững con số biểu hiện sự phồn vinh của xã hội;
+ Mức độ việc làm của dân số có khả năng lao động trong nền kinh tế - xãhội Về quan điểm kinh tế học, mức độ việc làm của dân số có khả năng lao độngthể hiện, một mặt là đòi hỏi của kinh tế - xã hội đối với người lao động, mặt khác làđòi hỏi của người lao động về chỗ làm việc Nó được tính theo hệ số phần trăm giữatổng số dân cư đang hoạt động chuyên nghiệp với số lượng toàn bộ dân số có khảnăng lao động (nguồn nhân lực);
Trang 28+ Tỉ lệ phân chia nguồn lao động xã hội theo lĩnh vực công ích xã hội Khitính được hệ số việc làm bằng lao động chuyên nghiệp ta có thể xác định được hệ sốviệc làm bởi việc học hành cũng như các dạng hoạt động công ích xã hội khác Điều
đó cho phép làm rõ những tỉ lệ cần thiết;
+ Cấu trúc phân bố người lao động hợp lý theo ngành và theo khu vực kinh
tế Chỉ tiêu này, thường được gọi là chỉ tiêu hợp lý, tỉ lệ phân chia tiềm năng laođộng theo dạng việc làm, ngành, khu vực kinh tế,v.v ;
+ Chỉ tiêu gắn với việc tối ưu hoá cấu trúc chuyên môn nghề nghiệp củ ngườilao động, cho phép làm rõ ràng sự phù hợp cấu trúc chuyên môn nghiệp vụ của dân
số lao động với cấu trúc chỗ làm việc, đồng thời cũng xác định hệ thống đào tạo cán
bộ là phù hợp với đòi hỏi của nền kinh tế
Về hiệu quả việc làm có thể theo chỉ tiêu định mức thất nghiệp Hiện nay, ởphương Tây, việc làm đầy đủ và có hiệu quả đạt được khi có sẵn định mức thấtnghiệp tự nhiên Định mức thất nghiệp tự nhiên là mức độ của nó mà kiềm chế mứclương thực tế và giá cả không thay đổi với mức tăng trưởng năng suất lao độngbằng không Trong thực tế định mức thất nghiệp được tính bằng cách tính tổng thấtnghiệp tạm thời và thất nghiệp cấu trúc Phương pháp đơn giản nhất để tính địnhmức thất nghiệp tự nhiên là tính theo mức độ của nó trong điều kiện lạm phát ở mứcvừa phải Vì vậy, không nên đánh giá việc làm đầy đủ và có hiệu quả chỉ theo mộtphương pháp, mà để nhận được thông tin chính xác thì nên sử dụng hệ thống các chỉtiêu đã nêu trên
Việc làm hợp lý: là sự thoả mãn nhu cầu làm việc cho bất cứ ai có khả
năng lao động trong nền kinh tế quốc dân và phù hợp với trình độ, nguyện vọngcủa họ
Việc làm hợp lý không những hàm chứa nội dung việc làm đầy đủ mà cònnói rõ việc làm đó phải phù hợp với khả năng và nguyện vọng của người lao động.Việc làm hợp lý, do vậy có năng suất lao động và hiệu quả kinh tế - xã hội cao hơn
so với việc làm đầy đủ Trong quá trình thực hiện việc làm đầy đủ, cần từng bước,từng bộ phận thực hiện việc làm hợp lý Việc làm hợp lý phản ánh sự phù hợp về
Trang 29mặt số lượng và chất lượng của các yếu tố con người với điều kiện vật chất của sảnxuất và xã hội, hợp lý giữa lợi ích cá nhân người lao động với lợi ích của xã hội.
Khái niệm việc làm đầy đủ và việc làm hợp lý cũng chỉ mang ý nghĩatương đối Vì trong nền kinh tế thị trường có điều tiết thì việc làm đầy đủ và việclàm hợp lý không có nghĩa là không có người thất nghiệp Mục tiêu phấn đấu củachúng ta là việc làm, tiến tới việc làm đầy đủ, việc làm hợp lý và tự do lựa chọnviệc làm
Việc làm chính: là công việc mà người thực hiện dành nhiều thời gian nhất hoặc
có thu nhập cao hơn so với các công việc khác Như vậy, những hoạt động lao độngcủa con người mang lại nguồn thu nhập chính cho bản thân và gia đình họ thì đó là việclàm chính Hiện nay các hoạt động lao động được coi là việc làm chính, ví dụ nhữngngười lao động làm việc trong các doanh nghiệp, các cơ quan đơn vị bởi vì thời gian vànguồn thu nhập của họ lại chiếm cao hơn so với các công việc làm thêm ngoài giờ của
họ Mặc dù hiện nay, vấn đề làm thêm giờ hoặc làm ở nhà do có cửa hàng của giađình nhưng số thời gian mà họ việc trong một ngày vẫn chiếm tỉ lệ cao tại cácdoanh nghiệp, cơ quan
Mặt khác, những hộ gia đình có cơ sở sản xuất kinh doanh dựa vào nguồnsẵn có của mình để mở một cửa hiệu mà nguồn thu nhập lại phụ thuộc rất lớnvào cửa hiệu thì khi đó, công việc mà họ làm tại cửa hàng đó cũng được coi làviệc làm chính
Việc làm phụ là việc làm thêm theo nhu cầu hoặc mong muốn của người lao
động để kiếm thêm thu nhập ở một công sở khác hoặc là ngay tại chính nơi mìnhđang làm việc Việc làm phụ được xếp vào nhóm những công việc kiêm nhiệm cả ởnhững công sở khác và cả ở nơi đang làm việc; những công việc dịch vụ vào nhữnglúc nhàn rỗi; buôn bán lặt vặt Trong số nhiều hình thức việc làm khác nhau thìviệc làm phụ chiếm một vị trí đặc biệt Nó gắn với đặc thù bản chất việc làm và cảvới tác động mà nó ảnh hưởng tới hoạt động của thị trường lao động Việc làm phụ
là hình thức sử dụng lực lượng lao động bổ sung vào hoạt động lao động, hay nói cụ
Trang 30thể là việc làm có thu nhập thêm ở doanh nghiệp (công sở) khác hoặc là ngay tại nơiđang làm việc, mà đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Việc làm thêm là nhu cầu chính đáng của người lao động để tăng thu nhậptrong điều kiện mức sống còn thấp như ở Việt Nam, đồng thời còn là mong muốnthể hiện khả năng cạnh tranh của chính bản thân người lao động trên thị trường laođộng và cũng là một “cầu nối đặc biệt” đảm bảo thay thế chỗ làm việc mới trongtương lai mà không phải trải qua thời kỳ thất nghiệp Hiện nay, việc làm thêm tuỳtiện ở một số ngành (như giáo dục, y tế), sự khác biệt quá lớn giữa tiền lương và thunhập của một bộ phận công chức dưới danh nghĩa việc làm thêm của khu vực nhànước ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay lại ảnh hưởng rất tiêu cực đến tình hìnhkinh tế - xã hội nói chung và sự phát triển đồng bộ thị trường lao động nói riêng
Cùng với chính sách mới cho người lao động được tự do lựa chọn công việc
và nghề nghiệp thì việc làm phụ là một biểu hiện hợp lý Tuy nhiên, ở Việt Nam,biểu hiện này về cơ bản nó gắn với những xuất hiện tiêu cực như: việc làm khôngđầy đủ, thu nhập của người lao động thấp, tăng trưởng kinh tế chưa bền vững Xét
từ góc độ này thì phát triển việc làm phụ rộng rãi chỉ là biểu hiện tạm thời và nó sẽgiảm khi nền kinh tế - xã hội của đất nước phát triển ổn định
Việc làm không trọn ngày hay việc làm dở dang có đặc điểm công việc trong
chế độ thời gian làm việc không trọn ngày làm việc hoặc tuần làm việc không đầy
đủ, nghỉ phép bắt buộc không hưởng lương theo chủ động của lãnh đạo công sở(doanh nghiệp), có thể được ấn định từ phía công ty, người thuê lao động và thậmchí có thể từ sự thoả thuận đồng ý của người lao động, đó là việc làm không trọnngày tự nguyện Thời gian gần đây, cả chế độ này hay chế độ kia đều được sử dụngrộng rãi ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển
Đối với người lao động, việc làm không trọn ngày hoàn toàn có thể chấpnhận được trong hàng loạt các trường hợp: phụ nữ có con nhỏ, những lao động lớntuổi, những người tàn tật, thanh niên vừa đi học, vừa đi làm đều có lợi thế với loạihình việc làm này
Trang 31Việc làm độc lập: là công việc độc lập theo chủ động cá nhân không thu
nhận lao động làm thuê khi sản xuất những hàng hoá tiêu dùng và các dịch vụ khácnhau Đồng thời người lao động làm chủ những phương tiện sản xuất nhất định và
tự tổ chức công việc cho mình Trong giới hạn nhất định việc làm độc lập là tình thếphải chọn của người lao động thất nghiệp (có thể do doanh nghiệp không đủ nănglực đảm bảo khả năng với mức lương đầy đủ), nhưng điều đó không thể phủ nhậnvai trò tích cực chủ động của nó
Việc làm tổng thể: là việc làm trong tất cả các lĩnh vực hoạt động lao động,
cả trong nền kinh tế của đất nước, cả trong các hệ thống giáo dục và đào tạo chuyênnghiệp, trong dịch vụ quốc phòng, kinh tế gia đình, trong các công sở, tôn giáo vàtrong cả trong các dạng khác hoạt động công ích xã hội
Việc làm linh hoạt (thời gian linh hoạt): là việc làm tồn tại dưới nhiều dạng,
hình thức phổ biến là khi người lao động thoả thuận với người sử dụng lao động cóthể tự lựa chọn thời gian bắt đầu và kết thức công việc, đồng thời bắt buộc ngườilao động phải tuân theo chế độ ngày làm việc hoặc quỹ thời gian theo tuần (tháng)
đã quy định
Việc làm tạm thời: là những công việc theo hợp đồng hoặc là công việc khoán.
Các công ty quan tâm tới loại hình công việc này vì họ có thể tự do thay đổi số lượnglao động làm thuê, giảm chi phí cho nhân viên bằng cách trả lương tạm thời thấp hơncho người đang làm việc, thay thế linh hoạt những người thường xuyên vắng mặt vì lý
do nào đó, tăng nhanh chóng số người làm việc Việc làm tạm thời được sử dụng rộngrãi trong các ngành thương mại, dịch vụ và xây dựng
Việc làm theo thời vụ: là loại hình việc làm gắn với những công việc theo
thời vụ trong nông nghiệp, xây dựng, khai thác rừng, ở các khu nghỉ mát, trongcác ngành mía đường, đánh bắt hải sản và nhiều ngành khác với công việc khôngđều trong năm Với loại hình này phần thời gian còn lại đáng kể trong năm ngườilao động không có việc làm Về bản chất nó là biến thể của việc làm tạm thời,nhưng có điểm khác ở chỗ là việc làm thời vụ có thể lặp lại hàng năm ở chỗ nàyhay chỗ khác
Trang 32Việc làm không tiêu chuẩn hoá: là loại việc làm bao gồm rất nhiều hình thức,
một trong số đó là làm việc tại nhà, khi người lao động nhận nguyên vật liệu, máymóc, công cụ từ công ty rồi thường kỳ trao trả thành phẩm hoặc bán thành phẩm.Không ít người quan tâm tới loại hình công việc này, bởi vì chính họ tự xác địnhđược thời gian, khối lượng công việc, vì chính họ xác định được thời gian, khốilượng công việc và có thể kết hợp với việc khác như: chăm sóc con cái, vừa làm,vừa học thêm, làm các việc lặt vặt trong gia đình Mặt khác, công ty lại giảm đượcdiện tích sản xuất, tiết kiệm chi phí lương mà những người làm ở nhà thường đượcnhận ít hơn những người làm chính
Hình thức quan trọng của việc làm không theo tiêu chuẩn hoá là nhữngcông việc xã hội, được tổ chức bởi các dịch vụ việc làm và chính quyền địaphương dành riêng cho những người thất nghiệp Đó là những công việc tạm thời
ít cần đến chuyên môn như: thu dọn địa hạt, tham gia vào xây dựng đường giaothông,v.v
1.2.3 Khái niệm giải quyết việc làm
1.2.3.1 Giải quyết việc làm
Theo khái niệm việc làm nêu ở phần trên, việc làm là phạm trù để chỉ trạngthái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất,công nghệ,v.v ) để sử dụng sức lao động đó Rõ ràng tạo được việc làm cho ngườilao động hoặc tạo nhiều việc làm luôn gắn với quá trình phát triển kinh tế xã hội,phát huy sức mạnh tiềm năng của con người, phát huy trí tuệ người lao động để tạo
ra nhiều của cải cho xã hội Chính vì vậy, Văn kiện Đại hội X của Đảng đã nêu rõ
“Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định vàphát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầubức xúc của nhân dân” Vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động là cần thiết,không những mang tầm quốc gia mà vượt ra bên ngoài khu vực và thế giới Tuỳthuộc vào các cách thức tiếp cận và mục đích nghiên cứu khác nhau mà người ta đưa
ra khái niệm về giải quyết việc làm:
Trang 33Giải quyết việc làm là một quá trình tạo ra môi trường hình thành các chỗlàm việc và sắp xếp người lao động phù hợp với chỗ làm việc để có các việc làmchất lượng, đảm bảo nhu cầu của cả người lao động và người sử dụng lao động,đồng thời đáp ứng được mục tiêu phát triển đất nước.
Với khái niệm trên, việc giải quyết việc làm không chỉ có nhiệm vụ chứcnăng của Nhà nước mà còn là trách nhiệm của xã hội, của các cơ quan doanh nghiệp
và ngay bản thân người lao động Hiện nay, các chính sách của Nhà nước luôn quantâm chú trọng đến tạo công ăn việc làm cho người lao động thông qua các văn bảnquy phạm pháp luật, các chương trình, chính sách hỗ trợ tới tận hộ gia đình, các cánhân sẵn sàng làm việc Chính vì vậy, chính sách nhà nước là một trong những tácđộng quan trọng rất mạnh đến việc làm của người lao động như khuyến khích cácdoanh nghiệp mở rộng sản xuất như giảm thuế tiền sử dụng đất, thuê nhà xưởng,văn phòng, hỗ trợ về cơ sở hạ tầng điện đường, trường trạm nhằm phục vụ cho cáccông trình sản xuất,v.v Chính sách chính sách nhà nước tác động toàn diện đếnvấn đề giải quyết việc làm Bên cạnh đó, các chương trình, chiến lược phát triển,các hoạt động cụ thể của các doanh nghiệp tác động trực tiếp đến giải quyết việclàm cho người lao động như đào tạo nguồn lao động, tuyển dụng, bố trí sắp xếp laođộng phù hợp năng lực và yêu cầu,v.v
Trong khái niệm trên, giải quyết việc làm còn có một ý nghĩa là tạo thêmđược công ăn việc làm mới cho người lao động Ở đây là tạo thêm công ăn việc làmmới cho người lao động mang tính chất là người lao động đang không có việc làmnay có việc làm chứ không phải là người lao động đang đi làm có thêm được việclàm khác nữa Với khái niệm như vậy, theo cách hiểu trên thì giải quyết việc làm làtạo thêm việc làm mới từ các cơ chế chính sách của Nhà nước cũng như việc tuyểndụng thêm lao động của các doanh nghiệp
Ngoài ra, hình thành môi trường cho sự kết hợp các yếu tố sức lao động và tưliệu sản xuất Ở đó thông qua cơ chế chính sách khuyến khích thu hút của Nhà nước,thông qua sự hoạt động đầu tư của nhà sản xuất nhằm tạo thêm nơi làm việc mà ngườilao động có thể vận dụng sức lao động của mình mà sản xuất của cải cho xã hội
Trang 341.2.3.2 Tạo việc làm
Tạo việc làm cho người lao động nghèo là đưa người lao động vào làm việc
để tạo ra trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, tạo ra hàng hoá vàdịch vụ theo yêu cầu thị trường
Vấn đề tạo việc làm cho người lao động nghèo là một vấn đề rất phức tạpnhưng là rất cần thiết mà mỗi quốc gia, mỗi địa phương luôn phải quan tâm Việc tạoviệc làm cho người lao động chịu ảnh hưởng của không những là nền kinh tế xã hội
mà còn chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố khác Vì vậy khi xem xét để đưa ra chínhsách tạo việc làm cho người lao động cần phải quan tâm đến rất nhiều nhân tố khác
Thực chất của tạo việc làm cho người lao động nghèo là tạo ra trạng thái phùhợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất gồm cả về chất lượng và cả số lượng Chấtlượng, số lượng của tư liệu sản xuất phụ thuộc vào vốn đầu tư, những tiến bộ khoahọc kỹ thuật áp dụng trong sản xuất cũng như việc sử dụng và quản lý các tư liệu đó
Số lượng lao động phụ thuộc vào quy mô và cơ cấu dân số Chất lượng laođộng phụ thuộc vào kết quả đào tạo, phát triển của giáo dục và y tế Ngoài ra vấn đềmôi trường cho sự kết hợp giữa các yếu tố này là hết sức quan trọng, nó bao gồm cácchính sách, điều kiện khuyến khích người lao động cũng như người sử dụng lao độngtrong công việc Thị trường lao động chỉ có thể được hình thành khi người lao độngvới người sử dụng lao động gặp gỡ trao đổi đi đến nhất trí vấn đề sử dụng sức laođộng, do vậy vấn đề tạo việc làm phải được nhìn nhận ở cả người lao động và người
sử dụng lao động đồng thời không thể không thể kể đến vai trò của Nhà nước
Người sử dụng lao động là người chủ yếu tạo ra chỗ làm việc cho người laođộng, bao gồm các doanh nghiệp có vốn đầu tư trong và ngoài nước Để có quan hệlao động thì giữa người lao động và người sử dụng lao động phải có những điềukiện nhất định Đó là người sử dụng lao động cần phải có vốn, công nghệ, kinhnghiệm và thị trường tiêu thụ Còn người lao động cần phải có sức khoẻ, trình độchuyên môn, kinh nghiệm phù hợp với công việc của mình Để có được việc làmđược trả công theo ý muốn của mình thì người lao động luôn phải học hỏi, trau dồikiến thức cho mình để theo kịp sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật Ngoài ra người lao
Trang 35động phải luôn tự đi tìm việc làm phù hợp với mình để đem lại thu nhập cho giađình mình.Tuy nhiên khi nói đến quan hệ lao động giữa người lao động và người sửdụng lao động không thể không kể đến vai trò của Nhà nước Nhà nước quản lýquan hệ lao động bằng các chính sách khuyến khích động viên nhằm đem lại lợi íchcho cả hai bên Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho cả người lao động và người sửdụng lao động để họ phát huy tối đa năng lực của mình Ngoài ra Nhà nước cũngđưa ra các chiến lược đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, đảm bảo phân bổ nguồnnhân lực một cách hợp lý Vì vậy, khi nghiên cứu tạo việc làm cần chú ý đến vấn đềđầu tư của Nhà nước cũng như tư nhân là các khu vực có thể tạo ra cơ hội việc làmcho người lao động.
Hiện nay việc đầu tư của Nhà nước cũng như của các tư nhân đều tập trung ởthành thị và các khu công nghiệp vì ở những nơi này sẽ tạo ra được tỷ lệ lợi nhuậncao hơn và có khả năng liên kết với nhau hơn Chính vì điều này sẽ gây ra hiệntượng người lao động từ nông thôn ra thành thị và cũng làm tăng tỷ lệ thất nghiệp ởnông thôn, do đó cần phải có chính sách tạo việc làm phù hợp cho cả người laođộng ở thành thị và nông thôn
1.2.3.3 Nội dung cơ bản của giải quyết việc làm
Từ khái niệm giải quyết việc làm như đã nêu trên, có thể thấy được nội dung
cơ bản của giải quyết việc làm đó là: Dự báo nguồn lao động, phân tích thực trạnggiải quyết việc làm và ban hành chính sách việc làm
Một là, dự báo nguồn lao động Đó là việc tính toán lượng lao động tương lai
dựa vào những giả thiết nhất định về xu hướng vận động của dân số nói chung vàlượng lao động nói riêng trong cả một quá trình dài hạn
Bản thân dự báo nguồn lao động không chỉ đơn thuần là dự báo về số lượnglao động trong khu vực hay trong một vùng là bao nhiêu trong những năm tiếp theo,
mà thực chất dự báo nguồn lao động là một khái niệm tổng hợp gồm nhiều vấn đềliên quan phản ánh mối quan hệ và tác động qua lại đến nguồn lao động Chẳng hạn,
để có thể đưa ra được một chính sách, cơ chế đúng đắn về giải quyết việc làm thì bảnthân các quan hoạch định chính sách rất cần biết về các thông tin dự báo về nguồn lao
Trang 36động như chất lượng lao động, số lượng lao động có sự khác nhau hay nói cách khác
có một khoảng cách quá xa hay không tại cùng một thời điểm của các khu vực, đơn
vị khác nhau,v.v , ở các địa phương có những điều kiện văn hoá, xã hội, tự nhiênkhác nhau thì sẽ tác động tới chất lượng, số lượng lao động và ý thức của người laođộng như thế nào,v.v Chính vì tính chất tổng hợp này đã xác định việc lựa chọnđược phương pháp dự báo và cũng như đưa ra được chính sách chính xác
Tuỳ thuộc vào mục đích của việc xây dựng, hoạch định chính sách người tađưa ra cách tính dự báo Nếu theo tính chất dự báo nguồn lao động thì có thể dự báotheo thời gian (ngắn hạn 5 năm, trung hạn 10 năm hay dài hạn trên 10 năm ) hay
dự báo theo phạm vi lãnh thổ (quốc gia, vùng, miền, địa phương,v.v ) Có thể dựbáo nguồn lao động theo tính chất nghề nghiệp, theo chất lượng lao động hay theotừng lĩnh vực
Các kết quả dự báo được ứng dụng nhiều cho xây dựng, hoạch định chínhsách phát triển kinh tế xã hội, là một bộ phận của kế hoạch dài hạn và trung hạn chomỗi đơn vị, địa phương Mức độ chính xác của kết quả dự báo phụ thuộc vào nguồnlực liên quan tới nguồn lao động Hay nói cách khác, các giả thiết đưa ra phụ thuộcvào khả năng làm thay đổi các xu hướng tăng, giảm của tỉ lệ sinh, chết, di dân, xuhướng chất lượng sao cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội
Hai là, phân tích thực trạng nguồn lao động Thực chất phân tích nguồn lao
động thường được gắn liền với quá trình dự báo nguồn lao động Bản thân của quátrình dự báo nguồn lao động thì các số liệu cũng phản ánh theo một xu hướng nhấtđịnh nào đó Tuy nhiên, hiện nay để có được số liệu chính xác cũng như cần thiếtcho quá trình nghiên cứu và thực thi ban hành chính sách giải quyết việc làm thì cầnmột con số chính xác, phù hợp với tiêu chí, tính chất của sự việc
Việc phân tích thực trạng nguồn lao động thường được xem xét trên hai khíacạnh cơ bản đó là: phân tích tổng quát chung và phân tích theo từng lĩnh vực, khíacạnh khác nhau
Thông thường phân tích tổng quát chung là đưa ra các số liệu mang tính tổngquát như sẽ có bao nhiêu người trong độ tuổi lao động, có bao nhiêu người hiện nay
Trang 37và dự báo trong thời gian tới không có việc làm hay còn gọi là thất nghiệp, baonhiêu người bước ra khỏi độ tuổi lao động hoặc không còn khả năng lao động.Những điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế xã hội của khu vực, có
bị thiếu hụt lao động hoặc bị thất nghiệp với mức tỉ lệ cao quá không Với số liệu nhưvậy, người đọc có thể hình dung ra được mức độ quan trọng của việc cần thiết phải giảiquyết việc làm cho người lao động
Sự phân tích thực trạng nguồn lao động theo từng khía cạnh cụ thể hoặc lĩnhvực nào đó Ví dụ, cần đánh giá chất lượng nguồn lao động trong thời gian tới cũngnhư cần tạo việc làm ở hiện tại thì cần dựa vào dự báo của chất lượng lao động nhưlao động được đào tạo, không qua đào tạo, lao động có bằng nghề chuyên môn, laođộng không có nghề chuyên môn Ngoài ra cũng có thể phân tích một cách kết hợpgiữa chất lượng lao động với từng lĩnh vực cụ thể Với việc dự báo như vậy, sẽ giúpcho người ban hành chính sách có thêm cơ sở để hoạch định chính sách một cáchchính xác, đúng đắn
Người ta sử dụng các chỉ tiêu thất nghiệp và tỉ lệ thất nghiệp để phân tíchđánh giá giải quyết việc làm tại một khu vực nào đó, trong đó tỉ lệ thất nghiệpthường được sử dụng hơn Tỉ lệ thất nghiệp sẽ cho ta biết được mức độ với với con
số so sánh mang tính tương đối của người lao động đã có việc làm Với con số tỉ lệthất nghiệp mà cho phép người hoạch định chính sách có thể xem xét và đánh giámột cách tổng quát nhất tình hình giải quyết việc làm Có thể giúp cho nhà hoạchđịnh chính sách so sánh mức độ tương đối giải quyết việc làm qua các thời kỳ khácnhau tại một khu vực, địa phương nhất định nào đó
Với sự đánh giá phân tích về giải quyết việc làm tại mỗi quốc gia, địaphương khác nhau trên cơ sở đó mà người ta đặt ra mục tiêu mức độ cần giảm tỉ lệthất nghiệp Thông thường, nhà hoạch định chính sách có xu hướng ban hành chínhsách việc làm mà muốn tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người lao động, cónghĩa là giảm tỉ lệ thất nghiệp càng thấp càng tốt Đó là một trong những điều đánglưu ý qua tâm của nhà hoạch định chính sách
Trang 38Tuy nhiên, theo các nhà kinh tế học, không thể giảm hết tỉ lệ thất nghiệp, tuyrằng đó là lý tưởng nhưng cần tính đến khả năng thúc đẩy cũng như tạo động lực chomọi người lao động có ý thức vươn lên, tự giác trao đổi học tập và phấn đấu bồidưỡng bản thân Trong nền kinh tế thị trường ngày nay, hiện tượng thất nghiệp vẫnxảy ra, theo nghiên cứu cho thấy, để kích thích sự tăng trưởng và phát triển kinh tế xãhội thì cần duy trì mức tỉ lệ thất nghiệp từ 3% -5% Đây cũng là điều khó khăn choviệc xây dựng và hoạch định chính sách, tính toán sao cho vẫn đạt mục tiêu gia tăngnăng suất lao động cao nhưng vẫn phải đảm bảo tình hình xã hội trong nước có công
ăn, việc làm cho người lao động Điều đó đòi hỏi có sự phối hợp giữa các chính sáchcủa chính phủ, chính quyền địa phương có sự linh hoạt áp dụng cho từng thời điểmsao cho phù hợp
Ba là, ban hành chính sách việc làm Chính sách việc làm là tổng thể các
quan điểm, tư tưởng, các mục tiêu, giải pháp và công cụ nhằm sử dụng lực lượnglao động và tạo việc làm cho lực lượng lao động đó Hay nói cách khác, chính sáchviệc làm là sự thể chế hoá pháp luật của Nhà nước trên lĩnh vực lao động và việclàm, là hệ thống các quan điểm, phương hướng mục tiêu và các giải pháp giải quyếtviệc làm cho người lao động
Chính sách việc làm thực chất là một hệ thống các chính sách chung có quan
hệ và tác động đến việc mở rộng và phát triển việc làm cho lực lượng lao động của toàn
xã hội, như các chính sách: Khuyến khích phát triển các lĩnh vực, những ngành nghề cókhả năng thu hút nhiều lao động, chính sách tạo việc làm cho những đối tượng đặc biệt(lao động nữ, người tàn tật, đối tượng tệ nạn xã hội,v.v ); chính sách hợp tác và xuấtkhẩu lao động đi nước ngoài
1.2.4 Khái niệm người nghèo
Đói nghèo từ tiếng nói của chính người nghèo
Tiếng nói của người nghèo cho ta những cảm nhận cụ thể, rõ ràng nhất vềcác khía cạnh của nghèo đói (nghèo đói không chỉ bao hàm sự khốn cùng về vậtchất mà còn là sự thụ hưởng thiếu thốn về giáo dục và y tế Một người nghèo ởKênia đã nói về sự nghèo đói: “Hãy quan sát ngôi nhà và đếm xem có bao nhiêu lỗ
Trang 39thủng trên đó Hãy nhìn những đồ đạc trong nhà và quần áo tôi đang mặc trênngười Hãy quan sát tất cả và ghi lại những gì ông thấy Cái mà ông thấy chính lànghèo đói” Một nhóm thảo luận Braxin đã định nghĩa về đói nghèo là: “Tiền lươngthấp và thiếu việc làm, và cũng có nghĩa là không được hưởng thụ về y tế, không cóthức ăn và quần áo” Ngoài ra, khái niệm đói nghèo còn được mở rộng để tính đến
cả nguy cơ dễ bị tổn thương, không có tiếng nó và quyền lực Từ tiếng nói củangười nghèo, các nhà nghiên cứu đã đưa ra các khái niệm về đói nghèo Tuỳ thuộcvào cách tiếp cận, thời gian nghiên cứu và sự phát triển kinh tế của một quốc gia mà
ta có các quan điểm khác nhau về nghèo đói
Quan niệm trước đây
Trước đây người ta thường đánh đồng nghèo đói với mức thu nhập thấp Coithu nhập là tiêu chí chủ yếu để đánh giá sự nghèo đói của con người Quan niệmnày có ưu điểm là thuận lợi trong việc xác định số người nghèo dựa theo chuẩnnghèo, ngưỡng nghèo Nhưng thực tế đã chứng minh việc xác định đói nghèo theothu nhập chỉ đo được một phần của cuộc sống Thu nhập thấp không phản ánh hếtđược các khía cạnh của đói nghèo, nó không cho chúng ta biết được mức khốn khổ
và cơ cực của những người nghèo Do đó, quan niệm này còn rất nhiều hạn chế
Quan điểm hiện nay
Hiện nay do sự phát triển của nền kinh tế thế giới, quan điểm đói nghèo đãđược hiểu rộng hơn, sâu hơn và cũng có thể được hiểu theo các cách tiếp cậnkhác nhau:
Hội nghị bàn về giảm nghèo đói ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương do
Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á Thái Bình Dương Liên Hiệp Quốc (viết tắt
là ESCAP) tổ chức tháng 9 năm 1993 tại Băng Cốc - Thái Lan đã đưa ra kháiniệm về định nghĩa đói nghèo: Nghèo đói bao gồm nghèo tuyệt đối và nghèotương đối
+ Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng vàthoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được
xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế và phong tục tập quán củađịa phương
Trang 40+ Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư sống dưới mức trungbình của cộng đồng.
+ Theo khía cạnh kinh tế: Nghèo là do sự thiếu lựa chọn dẫn đến cùng cực vàthiếu năng lực tham gia vào đời sống kinh tế xã hội của quốc gia, chủ yếu là tronglĩnh vực kinh tế
+ Theo khía cạnh khác: Nghèo là sự phản ánh trình độ phát triển kinh tế xã hộitrong từng giai đoạn lịch sử, trong phạm vi một quốc gia, một khu vực, một vùng
- Năm 1998, Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (viết tắt là UNDP)công bố một bản báo cáo nhan đề “khắc phục sự nghèo khổ của con người” đã đưa
ra những định nghĩa về nghèo
+ Sự nghèo khổ của con người: thiếu những quyền cơ bản của con người nhưbiết đọc, biết viết, được tham gia vào các quyết định cộng đồng và được nuôi dưỡngtạm đủ
+ Sự nghèo khổ tiền tệ: thiếu thu nhập tối thiểu thích đáng và khả năng chitiêu tối thiểu
+ Sự nghèo khổ cực độ: nghèo khổ, khốn cùng tức là không có khả năng thoảmãn những nhu cầu tối thiểu
+ Sự nghèo khổ chung: mức độ nghèo kém nghiêm trọng hơn được xác địnhnhư sự không có khả năng thoả mãn những nhu cầu lương thực và phí lương thực chủyếu, những nhu cầu này đôi khi được xác định khác nhau ở nước này hoặc nước khác
Quan niệm của Việt Nam
Hiện nay ở Việt Nam có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh khái niệmnghèo đói, song ý kiến chung nhất cho rằng:
Ở Việt Nam thì tách riêng đói và nghèo thành 2 khái niệm riêng biệt
- Nghèo: là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thoả mãn mộtphần những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mứcsống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện
- Đói: là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tốithiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu và vật chất để duy trì cuộc sống Đó là