Sự nóng lên toàn cầu nguyên nhân chính bắt nguồn từ sự phát thải quá mức vào khí quyển các chất có hiệu ứng nhà kính do hoạt động kinh tế và xã hội trên trái đất được cho là biểu hiện chính của Biến đổi khí hậu (BĐKH). Ngày nay BĐKH đã và đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu và là một thách thức lớn đối với môi trường toàn cầu trong đó có Việt Nam. BĐKH xảy ra kéo theo sự tăng lên của nhiệt độ toàn cầu, những biến động mạnh mẽ của lượng mưa và sự gia tăng các hiện tượng khí hậu, thời tiết cực đoan như lũ lụt, hạn hán,… Để giảm nhẹ hậu quả của thiên tai, Liên hiệp quốc đã phát động “Năm quốc tế giảm nhẹ thiên tai” với nhiều nội dung cụ thể, trong đó đặc biệt chú ý thay đổi thái độ của mọi người đối với thiên tai: từ chỗ tập trung nỗ lực vào việc khắc phục hậu quả sau thiên tai sang việc chuẩn bị phòng tránh trước thiên tai. Để nhận thức đúng đắn về hiệu quả của các cực đoan khí tượng đã có nhiều hội thảo quốc tế, trong đó có hội nghị đánh giá về các hiện tượng cực đoan khí tượng của Ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC). Theo IPCC, “kịch bản khí hậu là sự thể hiện đáng tin cậy và đơn giản khí hậu trong tương lai, dựa trên một tập hợp các mối quan hệ khí hậu, được xây dựng để sử dụng trong nghiên cứu những hệ quả có thể của biến đổi khí hậu (BĐKH) do con người tạo ra, thường được dùng như là đầu vào cho các mô hình đánh giá tác động”. Cũng như khí hậu, các kịch bản khí hậu không giống nhau giữa các khu vực khác nhau trên thế giới cũng như các thời đoạn khác nhau trong năm. Xây dựng các kịch bản BĐKH của thế kỉ 21 cũng là đối tượng quan trọng trong nghiên cứu BĐKH của các nước, các vùng lãnh thổ nhỏ hơn trong mỗi nước. Ở nước ta, trong một số công trình cũng đã đưa ra các kịch bản về BĐKH ở Việt Nam đến cuối thế kỉ 21 song hầu hết đều dừng ở một ước lượng chung cho cả nước dựa vào những kịch bản về BĐKH toàn cầu hay chi tiết hơn cho khu vực châu Á của IPCC. Hiện nay, để mô phỏng khí hậu nói chung, những biến đổi khí hậu có khả năng xảy ra ở các vùng đặc biệt là những tiểu khu vực, người ta đã xây dựng các kịch bản BĐKH cho một khu vực nhỏ trên cơ sở các kịch bản BĐKH toàn cầu. Báo cáo chuyên đề trình bày các kết quả xây dựng kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho khu vực TP Phú Yên. Các kịch bản được xây dựng dựa trên cơ sở phương pháp chi tiết hóa thống kê của Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường (SD_IMHEN). Các kịch bản được xây dựng dựa trên kế thừa các kết quả của Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố năm 2012. Nội dung chính của báo cáo bao gồm: 1. Điều kiện tự nhiên 2. Phương pháp chung trong xây dựng kịch bản cho Phú Yên 3. Số liệu sử dụng 4. Kết quả xây dựng kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Phú Yên
Trang 1MỞ ĐẦU
Sự nóng lên toàn cầu nguyên nhân chính bắt nguồn từ sự phát thải quá mức vàokhí quyển các chất có hiệu ứng nhà kính do hoạt động kinh tế và xã hội trên trái đất đượccho là biểu hiện chính của Biến đổi khí hậu (BĐKH) Ngày nay BĐKH đã và đang diễn
ra trên phạm vi toàn cầu và là một thách thức lớn đối với môi trường toàn cầu trong đó
có Việt Nam BĐKH xảy ra kéo theo sự tăng lên của nhiệt độ toàn cầu, những biến độngmạnh mẽ của lượng mưa và sự gia tăng các hiện tượng khí hậu, thời tiết cực đoan như lũlụt, hạn hán,…
Để giảm nhẹ hậu quả của thiên tai, Liên hiệp quốc đã phát động “Năm quốc tếgiảm nhẹ thiên tai” với nhiều nội dung cụ thể, trong đó đặc biệt chú ý thay đổi thái độcủa mọi người đối với thiên tai: từ chỗ tập trung nỗ lực vào việc khắc phục hậu quả sauthiên tai sang việc chuẩn bị phòng tránh trước thiên tai Để nhận thức đúng đắn về hiệuquả của các cực đoan khí tượng đã có nhiều hội thảo quốc tế, trong đó có hội nghị đánhgiá về các hiện tượng cực đoan khí tượng của Ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu(IPCC)
Theo IPCC, “kịch bản khí hậu là sự thể hiện đáng tin cậy và đơn giản khí hậu trong tương lai, dựa trên một tập hợp các mối quan hệ khí hậu, được xây dựng để sử dụng trong nghiên cứu những hệ quả có thể của biến đổi khí hậu (BĐKH) do con người tạo ra, thường được dùng như là đầu vào cho các mô hình đánh giá tác động”.
Cũng như khí hậu, các kịch bản khí hậu không giống nhau giữa các khu vực khácnhau trên thế giới cũng như các thời đoạn khác nhau trong năm Xây dựng các kịch bảnBĐKH của thế kỉ 21 cũng là đối tượng quan trọng trong nghiên cứu BĐKH của cácnước, các vùng lãnh thổ nhỏ hơn trong mỗi nước
Ở nước ta, trong một số công trình cũng đã đưa ra các kịch bản về BĐKH ở ViệtNam đến cuối thế kỉ 21 song hầu hết đều dừng ở một ước lượng chung cho cả nước dựavào những kịch bản về BĐKH toàn cầu hay chi tiết hơn cho khu vực châu Á của IPCC.Hiện nay, để mô phỏng khí hậu nói chung, những biến đổi khí hậu có khả năng xảy ra ởcác vùng đặc biệt là những tiểu khu vực, người ta đã xây dựng các kịch bản BĐKH chomột khu vực nhỏ trên cơ sở các kịch bản BĐKH toàn cầu
Báo cáo chuyên đề trình bày các kết quả xây dựng kịch bản biến đổi khí hậu, nướcbiển dâng cho khu vực TP Phú Yên Các kịch bản được xây dựng dựa trên cơ sở phươngpháp chi tiết hóa thống kê của Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường(SD_IMHEN) Các kịch bản được xây dựng dựa trên kế thừa các kết quả của Bộ Tàinguyên và Môi trường công bố năm 2012 Nội dung chính của báo cáo bao gồm:
1 Điều kiện tự nhiên
2 Phương pháp chung trong xây dựng kịch bản cho Phú Yên
3 Số liệu sử dụng
4 Kết quả xây dựng kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Phú Yên
Cụ thể các nội dung chính như sau:
Trang 21 Đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội tỉnh Phú Yên
1.1 Đặc điểm tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lí
Phú Yên là tỉnh ở Duyên hải Nam Trung Bộ, có tọa độ địa lí:
12o42'36"-13o41'28" vĩ độ Bắc, 108o40'40"-109o27'47" kinh độ Đông; phíabắc giáp tỉnh Bình Định, phía tây giáp hai tỉnh Gia Lai và Đăk Lăk, phía namgiáp tỉnh Khánh Hòa, phía đông là Biển Đông với bờ biển dài khoảng 189
km Diện tích tự nhiên 5060 km2, tỉnh Phú Yên gồm thành phố Tuy Hòa và 8huyện: Sông Cầu, Đồng Xuân, Tuy An, Sơn Hòa, Sông Hinh, Phú Hòa, ĐôngHòa và Tây Hòa
1.1.2 Đặc điểm địa hình
Tỉnh Phú Yên nằm ở sườn phía đông dãy Trường Sơn, phía đông namđịa khối Kon Tum và phía đông bắc đới Đà Lạt, là một trong những khu vựcchịu ảnh hưởng nhiều của hoạt động kiến tạo Do đó, địa hình, địa mạo trongđịa phận tỉnh khá phức tạp, gồm đồi núi, đồng bằng, ven biển với một số đầm,vịnh
Địa hình núi cao tạo thành vòng cung kéo dài từ đèo Cù Mông ở phíabắc đến đèo Cả ở phía nam, độ cao từ 500 m trở lên, có một số đỉnh núi caotrên 1000 m như: La Hiêng (1238 m), Sông Hinh (1196 m), Hòn Ông (1110m)…
Địa hình dạng đồi phân bố chủ yếu ở ven quốc lộ 1A và rải rác dọc bờbiển; trên các bán đảo và đảo, có độ cao khoảng 150-300 m; địa hình đồi cũng
bị chia cắt mạnh; có chỗ còn sót miệng núi lửa cổ trên các bề mặt cao nguyênbazan ở huyện Sơn Hòa, huyện Sông Hinh
Địa hình đồng bằng là những cánh đồng bị chia cắt bởi những dãy núichạy sát ra biển nằm ở hạ lưu các sông Đà Rằng, sông Cầu, sông Kỳ Lộ vàsông Bàn Thạch, có nguồn gốc sông - biển hỗn hợp Địa hình trong các đồngbằng cũng không bằng phẳng liên tục mà có những đồi, gò xen kẽ Riêngđồng bằng Tuy Hòa (hạ lưu sông Ba) là đồng bằng phì nhiêu do sông Ba chảyqua các vùng đất bazan, cuốn theo đất màu mỡ về hạ lưu, bồi đắp cho vùngđồng bằng này
Tiếp giáp với đồng bằng là những gò đồi, những cồn cát, đụn cát ở venbiển Giữa 2 vùng này có những đầm phá, những vùng đất trũng Bờ biển dài
Trang 3khoảng 189 km, khúc khuỷu, có nhiều dải núi chạy sát ra biển, tạo thành các
eo vịnh, đầm phá Dọc bờ biển có các cửa sông, lạch như các cửa: đầm CùMông, vịnh Xuân Đài, Tiên Châu (cửa sông Kỳ Lộ), Tân Quy (đầm Ô Loan),
Đà Diễn (cửa sông Đà Rằng), Đà Nông (cửa sông Bàn Thạch) và cửa vịnhVũng Rô Hai vịnh Vũng Rô và Xuân Đài là vùng nước rộng, sâu và kín gió,thích hợp cho các loại tàu, thuyền lớn hơn 1000 tấn neo đậu, trú ẩn khi có gióbão
Vùng cửa sông, bãi triều nước lợ tạo nên vùng nước lợ (có độ mặn từ 2
Tóm lại, địa hình trong tỉnh Phú Yên thấp dần từ tây sang đông, đồi núichiếm khoảng 70% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, phần còn lại là đồng bằng,ven biển với tổng diện tích khoảng 816 km2, trong đó đồng bằng Tuy Hòachiếm 500 km2
Địa hình phức tạp, đa dạng và chia cắt mạnh ở vùng đồi núi là nhân tốchủ yếu gây nên sự biến đổi trong không gian của các yếu tố khí tượng, thuỷvăn khá phức tạp; phần lớn sông suối có hướng chảy tây bắc - đông nam haytây - đông từ vùng đồi núi cao ra biển
1.1.3 Thổ nhưỡng
Theo kết quả điều tra năm 1976-1978, kết quả xây dựng bản đồ đất tỉ lệ1/100.000 năm 2003, đất thổ nhưỡng của tỉnh gồm các nhóm chính sau đây[18]
- Nhóm đất cát biển: Nhóm này phân bố ở ven biển và một số bãi sông với
diện tích 15009 ha, chiếm tỉ lệ 2,97% Đất có độ phì thấp, chủ yếu trồng rừngphòng hộ, một số có thể trồng hoa màu nhưng năng suất thấp, một số còn lạitrồng dừa, còn đại bộ phận là đất trống đồi trọc, dễ bị hoang mạc hoá Duy trìtrồng rừng dọc theo bờ biển để bảo vệ đất, chắn cát, sóng biển và điều hòamôi sinh
Trang 4gồm có: đất mặn ít và trung bình, đất phèn ít và trung bình, đất mặn phèn,phèn ít và trung bình Loại đất này có phản ứng hơi chua đến kiềm yếu, nghèomùn, hàm lượng đạm và lân tổng số nghèo, nên không thích hợp trồng lúa.Hiện tại một số diện tích đã được cải tạo để nuôi trồng thủy sản và sản xuấtmuối đạt kết quả tốt Đây cũng là phương hướng khai thác lâu dài của nhómđất này
- Nhóm đất phù sa: Nhóm đất này tập trung chủ yếu ở vùng hạ lưu các sông
suối, lớn nhất là hạ lưu sông Ba, hình thành một vùng đất trồng lúa rộng lớn
và các loại cây hoa màu khác Do đất tốt, khai thác sớm và được đầu tư đồng
bộ nên hiệu quả sử dụng đất khá cao Diện tích 55752 ha, chiếm tỉ lệ 11,05%,gồm 5 đơn vị phân loại: Đất phù sa được bồi, đất phù sa không được bồi chưaphân dị, đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng, đất phù sa xám và đất phù sasông ngòi
- Nhóm đất xám: Diện tích khoảng 39552 ha, chiếm tỉ lệ 7,84%, phân bố ở
bậc thềm chuyển tiếp có độ cao 50-100 m, tập trung ở vùng gò đồi thấp ở haihuyện Sông Hinh và Sơn Hòa Do độ phì thấp, đất chua, nghèo mùn và đạmtổng số các chất dễ tiêu và cation trao đổi đều nghèo, dễ bị xói mòn, rửa trôi,nên trên loại đất này thường là đất trống đồi núi trọc dưới dạng đồng cỏ tựnhiên, trảng cỏ, trảng cỏ xen cây bụi, một số có thể trồng hoa màu Trongtương lai, loại đất này có thể trồng cây hàng năm (như cây mía), cây côngnghiệp lâu năm (cao su) và trồng rừng phòng hộ kết hợp với chăn nuôi đại giasúc
- Nhóm đất đen: Diện tích khoảng 18831 ha, chiếm tỉ lệ 3,73%, gồm đất đen
trên đá bazan, đất nâu thẫm phát triển trên đá bazan; phân bố chủ yếu ở vùngthấp, địa hình tương đối bằng (đất đen) và gò đồi (đất nâu thẫm) ở huyện Tuy
An và một số nơi ở huyện Sơn Hòa Loại đất này tuy có độ phì cao, nhưngtầng đất nông, có nhiều đá, và một số nơi độ dốc lớn Tuy vậy, loại đất nàyvẫn được canh tác nông nghiệp, như trồng lúa nước ở vùng đồng bằng, trồnghoa màu (bắp, đỗ, đậu…) và cây công nghiệp: bông, mía… trên vùng đất dốc
- Nhóm đất đỏ vàng: Đây là nhóm đất chiếm diện tích lớn nhất 336579 ha,
chiếm 66,71% gồm 6 đơn vị đất: Đất nâu vàng trên phù sa cổ: 3850 ha Đấtvàng nhạt trên đất cát: 5250 ha Đất nâu đỏ trên đá bazan: 4250 ha Đất nâuvàng trên đá bazan: 25700 ha Đất nâu vàng trên đá magma: 288180 ha và đất
đỏ vàng trên đá phiến sét: 15750 ha
Trang 5Đất đỏ vàng (đất nâu đỏ và đất nâu vàng trên đá bazan) tương đối tốt, có khảnăng sử dụng trong nông nghiệp tập trung ở huyện Tuy An và Sông Hinh.
- Nhóm đất vàng đỏ trên núi: Diện tích của loại đất này khoảng 11300 ha,
chiếm 2,5% phân bố trên núi cao, độ dốc lớn, không sử dụng cho sản xuấtnông nghiệp
- Nhóm đất thung lũng dốc tụ: Phân bố rải rác ven các suối nhỏ với diện
tích 1.246 ha, chiếm tỉ lệ 0,31% Đất có độ phì cao, thích hợp cho trồng câyngắn ngày
- Các loại đất khác: Các loại đất khác có diện tích 21192 ha, chiếm tỉ lệ
4,21%, gồm núi đá (18360 ha) và đất khác (2832 ha), không có ý nghĩa đốivới sản xuất nông nghiệp
Nhìn chung tài nguyên đất tỉnh Phú Yên khá đa dạng về nhóm, các loại đấtphân bố trên nhiều dạng địa hình khác nhau tạo ra những tiểu vùng sinh thái -nông lâm thích hợp với nhiều loại cây trồng, đặc biệt là cây trồng lâu nămvùng đồi
1.1.4 Thảm phủ thực vật: Tỉnh Phú Yên có 3 kiểu rừng chính:
- Rừng kín lá rộng thường xanh: Kiểu rừng này rất phổ biến, chiếm tới 96,5%
diện tích rừng tự nhiên, phân bố hầu hết ở các vùng đồi núi với độ cao
300-1000 m, trên đất feralit màu vàng đỏ hoặc xám được hình thành từ đá granít,cát kết hoặc đất dốc tụ, nơi có tầng đất trung bình đến dày, cấu trúc phức tạp,loài đa dạng, phong phú, có khả năng phòng hộ cao, có khoảng 302 loại cây
gỗ thuộc 39 họ thực vật khác nhau, điển hình là các họ: Dầu, đậu, giẻ, bứa,thị, sim, long não, đào lộn hột, sổ, dâu tằm…
- Rừng rụng lá (khộp): Kiểu rừng này chiếm diện tích nhỏ (3,5% diện tích
rừng tự nhiên), phân bố chủ yếu ở khu bảo tồn thiên nhiên Krông Trai; chủyếu là rừng non với trữ lượng bình quân 40-80 m3/ha, độ tán che 0,3-0,5 Tổhợp thực vật chủ yếu thuộc họ dầu, họ đào lộn hột, họ gạo, họ vừng, họ tử vi,
họ vang, họ ban…
- Rừng trồng: Hiện có 20963 ha và khoảng 8,4 triệu cây phân tán Rừng trồng
gồm các loại cây chủ yếu như: Bạch đàn, keo lá tràm, keo tai tượng, xà cừ,phi lao, điều, dầu rái, sao đen, gỗ đỏ, muồng đen, giáng hương và một số loàikhác, trong đó chủ yếu là bạch đàn, keo, phi lao
Trang 6Theo thống kê đến tháng 11 năm 2006 của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Phú Yên[1], diện tích đất có rừng ở tỉnh Phú Yên là 160994,7 ha, trong đó rừng tựnhiên 125888,5 ha (chiếm 78,19%), rừng trồng 35106,2 ha (chiếm 21,81%),diện tích đồi núi có rừng khoảng 120063,2 ha, diện tích đất khác khoảng
223473 ha Độ che phủ của rừng 31,9% Tuy nhiên, độ che phủ của rừng có
sự chênh lệch khá lớn giữa các huyện, cao nhất ở huyện Tây Hòa (49,8%) vàthấp nhất ở huyện Tuy An (7%), các huyện ở vùng đồng bằng ven biển có độche phủ của rừng thấp
Tuy diện tích rừng trồng tăng lên trong những năm gần đây (năm 2000:1829,5 ha, năm 2001: 7193,9 ha, năm 2002: 3088,4 ha, năm 2003: 3582,1 ha,năm 2004: 378,8 ha và năm 2005: 3908 ha), nhưng tỉ lệ rừng năm 2006khoảng 31,9% thấp hơn so với năm 1978 (41,1%), năm 1995 (34,4%) và năm
2000 (34,7%) Độ che phủ của rừng theo diện tích các huyện thể hiện ở bảng1.1
Bảng 1.1 Độ che phủ của rừng trong các huyện thuộc tỉnh Phú Yên
TT Thành phốHuyện, tự nhiên (ha)Diện tích đất có rừng (ha)Diện tích Độ che phủ(%)
từ tháng IX đến tháng XII, chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc, áp thấpnhiệt đới và bão, mưa nhiều
Trang 7Trên cơ sở số liệu quan trắc khí tượng tại 2 trạm Tuy Hòa và Sơn Hòa,đồng thời tham khảo số liệu quan trắc khí tượng tại một số trạm của các tỉnhlân cận, sau đây sẽ đánh giá chung về sự biến đổi của một số yếu tố khí hậutheo không gian và thời gian (bảng 1.2)
a/ Lượng bức xạ: Tại trạm Tuy Hòa, lượng bức xạ trung bình năm đạt tới147,3 kcal/năm; lượng bức xạ trung bình tháng tương đối cao trong các thángIII-VIII (13,9-15,4) kcal/cm2 và tương đối thấp trong các tháng X-XII (9-9,4)kcal/cm2 Cán cân bức xạ thực nghiệm trung bình năm tại trạm Tuy Hòa đạttới 97,86 kcal/cm2, cao nhất vào tháng IV (10,21 kcal/cm2) và thấp nhất vàotháng XII (4,27 kcal/cm2)
b/ Số giờ nắng: Tổng số giờ nắng trung bình năm khoảng 2500-2600 giờ/năm
ở vùng đồng bằng ven biển (2497 giờ/năm tại trạm Tuy Hòa) giảm cònkhoảng 2300-2500 giờ ở vùng trung du (2313 giờ/năm tại trạm Sơn Hòa) vàdưới 2300 giờ/năm ở vùng núi cao Số giờ nắng trung bình tháng của cáctháng trong năm dao động trong phạm vi từ 93,8 giờ (tháng XII) đến 255 giờ(tháng IV, V) tại trạm Sơn Hoà; 120 giờ (tháng XII) đến 270 giờ (tháng IV,V) tại trạm Tuy Hòa
Số giờ nắng trong các tháng mùa khô thường trên 200 giờ, cao nhất vào tháng
IV, V, còn trong các tháng mùa mưa thường dưới 200 giờ, thấp nhất vàotháng XII
c/ Nhiệt độ không khí: Nhiệt độ không khí trung bình năm khoảng (26-27)oC
ở vùng đồng bằng ven biển, (22-23)oC ở vùng núi cao Nhiệt độ không khítrung bình tháng dao động không nhiều: (23,3-29,3)oC tại trạm Tuy Hòa,(22,1-28,8)oC tại trạm Sơn Hòa; các tháng V-VIII đều có nhiệt độ trung bìnhtháng 28-29,5oC, thấp nhất vào tháng I (22-23)oC
Trang 8Bảng 1.2 Đặc trưng trung bình tháng, năm một số các yếu tố khí tượng
Thời kìquantrắc
Tuy
Hòa
Bức xạ tổng
cộng(kcal/cm2)
1996-2004 9,40 11,30 13,90 14,90 14,20 14,50 15,40 14,50 11,4 9,00 9,40 9,40 147,3
Bức xạ thực nghiệm
(kcal/cm2) 4,99 7,33 8,51 10,21 9,09 9,38 9,59 8,76 6,25 5,11 4,43 4,27 87,92Sơn
Hòa
1979-2005 174,6 203,4 257,5 272,2 270,5 229,9 243,1 225,9 197,5 169,7 134,0 119,7 2497,9Sơn
Hòa
Nhiệt độ TB
(°C)
2005
1977-22,1 23,3 25,5 27,7 28,8 28,6 28,5 28,2 27,0 25,5 24,3 22,5 26,0
Trang 9Tuy
Hòa
1979-2005 23,3 23,8 25,4 27,4 28,9 29,3 29,0 28,8 27,7 26,4 25,4 23,8 26,6Sơn
Hòa
1979-2005 89,8 79,5 97,1 105,7 141,0 167,6 180,5 170,6 114,0 75,2 77,9 87,4 1386,5Sơn
Trang 10Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối đã quan trắc được đạt tới 40,5oC vào năm 1994,tại trạm Tuy Hòa, 41,7oC vào năm 1983 tại trạm Sơn Hòa Nhiệt độ thấp nhấttuyệt đối 15,2oC tại trạm Sơn Hòa đều xuất hiện vào năm 1984.
d/ Độ ẩm tương đối của không khí trung bình năm khoảng 80-82% ở vùngđồng bằng ven biển (83-85)% ở vùng đồi núi thấp và trên 85% ở vùng núicao Các tháng mùa mưa đều có độ ẩm tương đối cao, đạt tới 80-90%, còn độ
ẩm không khí trong các tháng mùa khô tương đối thấp, nhất là vào các thángVI-VIII
e/ Gió: Tốc độ gió trung bình năm khoảng (2-2,5) m/s ở vùng đồng bằng venbiển, 1,5-2 m/s ở vùng đồi núi Tốc độ gió trung bình tháng cao nhất vào cáctháng có gió tây khô nóng (các tháng VI-VIII), riêng ở trạm Tuy Hoà, do chịuảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới nên tốc độ gió trung bình tháng XI vàXII đạt tới 3,1 m/s Tốc độ gió trung bình tháng thấp nhất khảng 1,0 m/s vàotháng X ở trạm Sơn Hòa và 1,7 m/s vào tháng IX, X tại trạm Tuy Hòa
Hướng gió thịnh hành là hướng tây bắc vào các tháng I, II, III và XI, XII,hướng gió đông bắc vào các tháng IV-VI và hướng tây vào các tháng VII-IX.Tốc độ gió lớn nhất đã quan trắc được đạt tới 40 m/s tại trạm Tuy Hòa, 25 m/stại trạm Sơn Hòa
Tốc độ gió lớn nhất ứng với chu kì 10 năm tại 2 trạm Tuy Hòa và Sơn Hòatương ứng: 28 m/s và 24 m/s, với chu kì 50 năm tương ứng 35 m/s và 29 m/s.g/ Bốc hơi
Lượng bốc hơi trung bình năm đo bằng ống Piche khoảng 1386 mm tại trạmTuy Hòa, 1466 m3/s tại trạm Sơn Hòa và có thể giảm còn 1000-1200 mm ởvùng núi cao Lượng bốc hơi trung bình tháng dao động trong khoảng 55-195
mm tại trạm Sơn Hòa, 75-180 mm tại trạm Tuy Hòa Các tháng V-VIII đều cólượng bốc hơi lớn, trong đó tháng VIII có lượng bốc hơi trung bình tháng lớnnhất Các tháng X-XII có lượng bốc hơi trung bình tháng thấp nhất
Lượng bốc thoát hơi tiềm năng trung bình năm được tính theo phương phápPenman - Monteith đạt tới trên 1500 mm ở vùng đồng bằng ven biển
Lượng bốc hơi thực tế được tính theo phương pháp cân bằng nước trung bìnhthời kì nhiều năm thời đoạn năm theo phương trình dưới đây:
Trong đó:
Trang 11Zo: Lượng bốc hơi trung bình năm trung bình thời kì nhiều năm (mm);X0, Yo: Tương ứng là lượng mưa năm và độ sâu dòng chảy năm trungbình thời kì nhiều năm (mm).
Giá trị Zo còn được tính theo công thức kinh nghiệm của M.I Bu-đưu-cô(2.10)
Căn cứ vào kết quả đo mưa và dòng chảy tại một số trạm thuỷ văn và bản đồlượng mưa năm và lượng dòng chảy năm trung bình thời kì nhiều năm (cáchình 2.2 và hình 2.5) có thể xác định được giá trị Xo và Yo trung bình lưu vựccủa các lưu vực sông loại vừa, đồng thời kết hợp với giá trị Zo tính được theocông thức kinh nghiệm nêu trên, đã xây dựng bản đồ đường đẳng trị lượngbốc hơi năm trung bình thời kì 1977-2010 (hình 1.2)
Từ bản đồ đẳng trị lượng bốc hơi trung bình năm có thể nhận thấy:
- Giá trị bốc hơi trung bình (Eo) biến đổi trong phạm vi từ dưới 700 mm ở vùnnúi cao đến trên 1000 mm ở vùng đồng bằng ven biển, thể hiện rõ xu thế giảmkhi độ cao địa hình tăng lên
- Giá trị Eo < 700 mm xuất hiện ở vùng đồi núi phía bắc và tây bắc huyệnSông Cầu, huyện Đồng Xuân - thượng nguồn sông Bà Bồng, sông Cầu vàsông Kỳ Lộ
- Giá trị Eo = (700-800) mm xuất hiện ở vùng đồi núi phía nam tỉnh thuộchuyện Sông Hinh, Đông Hòa và Tây Hòa, nơi có X0 > 2600 mm và X0 ≥ 1900mm
- Giá trị Eo = (1000 -1100) mm xuất hiện ở vùng đồng bằng ven biển cáchuyện Sông Cầu, Tuy An, Phú Hòa, Đông Hòa và thành phố Tuy Hòa
- Giá trị Eo trung bình trên địa phận tỉnh Phú Yên khoảng 925 mm
h/Bão và áp thấp nhiệt đới
Tỉnh Phú Yên là một trong những nơi thường chịu ảnh hưởng bão và áp thấpnhiệt đới nhiều nhất ở nước ta Theo thống kê, trong thời gian 1976-2010 đã
có 494 cơn bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến nước ta, trong đó khu vực
từ Phú Yên đến Bình Thuận chiếm 22,3%, chỉ sau khu vực từ Quảng Bìnhđến Thừa Thiên Huế (26,2%)
Bão và áp thấp nhiệt đới thường đổ bộ hay ảnh hưởng đến ven biển Nam
Trang 12trung vào tháng IX-XII Theo số liệu quan trắc trong thời kì 1977- 2010, bão
và áp thấp nhiệt đới độ đổ bộ vào tỉnh Phú Yên nhiều nhất không quá 2 cơn(1980, 1983), có những năm không có cơn nào (1982, 1985, 1986), tính trungbình có 0,7 cơn/năm ảnh hưởng đến Phú Yên
Khi bão vào gây ra mưa to, gió mạnh, thường dẫn đến là lũ lụt, như trận lũlịch sử xuất hiện vào tháng X/1993 và gây thiệt hại rất lớn về người và củacải
Trang 13Hình 1.2 Bản đồ đường đẳng trị lượng bốc hơi năm trung bình tỉnh Phú
Trang 14f/ Gió tây
Hàng năm, gió tây khô nóng thường xuất hiện vào các tháng VII-IX với sốngày trong năm khoảng 30-90 ngày, tương đối nhiều ở vùng đồi núi phía tây(83 ngày tại Sơn Hòa) và tương đối ít ở vùng đồng bằng ven biển phía đông(34-56 ngày) Gió tây khô nóng xuất hiện trong thời kì mưa ít hay không cómưa, nhiệt độ không khí cao làm tăng lượng bốc thoát hơi và do đó làm chonước trong sông suối, ao hồ cạn kiệt, gây nên hạn hán, ảnh hưởng nghiêmtrọng đến kinh tế - xã hội, nhất là sức khoẻ con người
1.1.6 Mạng lưới sông suối
Trên địa phận tỉnh Phú Yên có 5 sông chính: sông Bà Bồng, sông Cầu, sông
Kỳ Lộ, sông Ba và sông Bàn Thạch Ngoài ra còn có một số sông suối nhỏ ởvùng ven biển (bảng 1.3) (hình 1.2)
- Sông Bà Bồng bắt nguồn từ vùng núi phía nam đèo Cù Mông, chảy theo
hướng gần bắc nam qua địa phận xã Xuân Lộc huyện Sông Cầu, đến gầnLong Thành tiếp nhận thêm một nhánh sông bắt nguồn từ Núi Hòn Khổ (954m) từ phía bờ phải chảy vào rồi đổ ra vịnh Cù Mông tại Long Thạnh 2 Sông
Bà Bồng dài khoảng 15 km, diện tích lưu vực khoảng 90 km2
- Sông Cầu mà thượng nguồn được gọi là sông Bình Ninh, là sông lớn nhất ở
huyện Sông Cầu, bắt nguồn từ sườn phía đông nam dãy núi ở phía tây bắchuyện Sông Cầu (Hòn Gio 786 m), chảy theo hướng tây bắc - đông nam quathị trấn Sông Cầu, rồi đổ ra vụng Chao tại Dân Phước
Dòng chính sông Cầu dài 26 km, độ dài lưu vực 24 km, độ rộng trung bìnhlưu vực 6,7 km, diện tích lưu vực 161 km2, độ dốc trung bình lưu vực 18,1%,mật độ lưới sông 0,3 km/km2
- Sông Kỳ Lộ là sông lớn thứ 2 ở tỉnh Phú Yên Sông Kỳ Lộ bắt đầu từ nhánh
sông La Hiêng chảy từ núi To Net (1030 m) ở xã Đăk Song huyện KrôngChro tỉnh Gia Lai, chảy theo hướng gần bắc nam vào địa phận tỉnh Phú Yên ở
xã Phú Mỡ huyện Đồng Xuân rồi chuyển hướng tây bắc - đông nam chảy quatrị trấn La Hai đến Phú Mỹ chia ra làm 2 nhánh đổ ra vụng Xuân Đài
Sông Kỳ Lộ dài 105 km, độ dài lưu vực 62,6 km, độ rộng trung bình lưu vực30,7 km, độ dốc trung bình lưu vực 18,6% và mật độ lưới sông 0,6 km/km2.Với diện tích lưu vực 1920 km2, trong đó có khoảng 439 km2 ở tỉnh lân cận(331 km2 lưu vực sông La Hiêng thuộc tỉnh Gia Lai, 108 km2 lưu vực suối Cái
và Khe Cách thuộc tỉnh Bình Định), còn lại 1481 km2 thuộc tỉnh Phú Yên,
Trang 15bao gồm địa phận huyện Đồng Xuân và một phần huyện Tuy An, một phầnhuyện Sơn Hoà (các xã Sơn Hội, Sơn Định, Sơn Long).
Trang 16Bảng 1.3 Đặc trưng hình thái lưu vực của các sông chính trong tỉnh Phú Yên
Sông
Đổ vào sông/
biển
Vị trí cửa sông
Độ cao nguồn sông (m)
Chiều dài sông (km)
Chiều dài lưu vực (km)
Diện tích lưu vực (km 2 )
Đặc trưng trung bình lưu vực
Kinh độ Đông
Vĩ độ Bắc
Độ cao (m)
Độ dốc (%)
Chiều rộng (km)
Mật độ lưới sông (km/km 2 )
Hệ số phát triển đường phân nước
Hệ số không đối xứng
Hệ số không cân dối lưới sông
Hệ số hình dạng
Hệ số uốn khúc
Trang 17Cà Lúi Ba 108045’
30’’
13007’
00’’ 425 48 38 190 386 14,5 5,1 0,41 1,78 0,04 6,33 0,13 1,23Lam (Thu) Ba 10810’’056’ 1330’’003’ 200 21 27 148 234 8,1 5,5 0,19 1,62 -0,33 2,5 0,20 1,50Hinh Ba 10800’’058’ 1300’’002’ 550 88 59 1040 526 15,7 17,7 0,53 1,59 -0,34 1,03 0,30 1,07Con Ba 10940’’002’ 1315’’001’ 500 20 19 124 159 8,6 6,5 0,46 1,30 -0,35 4,36 0,34 1,05Bạc Ba 10900’’003’ 1340’’001’ 438 30 27 238 240 13,1 8,8 0,58 1,35 -0,22 0,85 0,33 1,32
Đồng Bò Ba 10915’’009’ 1200’’059’ 700 27,0 22,0 144 215 8,7 6,5 0,55 1,50 0,11 0,67 0,30 1,13
Bàn Thạch Biển 10935’’023’ 1245’’038’ 700 68,0 30,0 592 228 15,4 19,7 0,50 1,30 0,37 0,38 0,66 2,13Sông Trong BànThạch 10915’’016’ 1220’’050’ 400 40,1 16,0 166 292 20,3 10,4 0,41 1,22 0,09 1,41 0,65 2,15
Trang 18Sông Kỳ Lộ có 11 nhánh sông cấp I (chảy trực tiếp vào dòng chính) như cácsông: Khe Cách, Gâm, Cà Tôn, suối Đập, Trà Bương, Cổ, Cạy, Tà Hồ… Trong lưu vực sông Kỳ Lộ có một số hồ chứa: hồ Phú Xuân, Đồng Tròn - AnHoà, Bầu Đô…, có 23 đập dâng và 18 trạm bơm Ở hạ lưu sông Kỳ Lộ (còngọi là sông Cái) có hệ thống thuỷ lợi Tam Giang gồm 3 đập dâng là TamGiang, Hà Yến và Đồng Kho, diện tích tưới thiết kế 2200 ha
- Sông Ba là một trong 9 hệ thống sông lớn ở nước ta và là sông lớn nhất ở
Duyên hải Nam Trung Bộ Thượng nguồn sông Ba bắt nguồn từ sườn núi phíađông nam dãy núi Ngọc Rô (1579 m) thuộc xã Đăk Rông huyện KBang tỉnhGia Lai, chảy theo hướng gần bắc - nam đến Cheo Reo tiếp nhận sông Ayun
từ phía bờ phải chảy vào, từ đó chuyển hướng tây bắc - đông nam chảy vàođịa phận tỉnh Phú Yên tại Buôn Học xã Krông Pa huyện Sơn Hòa, từ CủngSơn sông chảy theo hướng gần tây - đông đổ ra biển tại cửa Đà Diễn ở phíanam thành phố Tuy Hòa
Trong địa phận tỉnh Phú Yên sông Ba có một số sông nhánh chính như cácsông: sông Con, Bạc, Cái, Đồng Bò… Ngoài ra, nhánh sông Cà Lúi bắt nguồn
từ phía tây bắc huyện Sơn Hòa chảy theo hướng tây bắc - đông nam trong địaphận xã Cà Lúi (huyện Sơn Hòa, từ đó sông Cà Lúi chảy theo hướng gần bắc
- nam và tây bắc - đông nam đổ vào sông Ba tại Buôn Lê, xã Krông Pa ở phía
bờ trái Sông Cà Lúi được lấy làm địa giới giữa 2 tỉnh Phú Yên và Gia Lai.Phần lớn lưu vực sông Cà Lúi (145 km2 trong số 190 km2) nằm trong địa phậnhuyện Sơn Hòa Nhánh sông Krông Hnăng chảy vào sông Ba từ phía bờ tráitại thượng lưu Buôn Học Một số sông nhánh của sông Krông Hnăng chảytrong địa phận huyện Sông Hinh với diện tích lưu vực khoảng 75 km2
Hạ lưu sông Ba được gọi là sông Đà Rằng, có mạng lưới kênh mương kháphát triển, đặc biệt là mạng lưới kênh Bắc và kênh Nam của hệ thống thuỷ lợiĐồng Cam
Dòng chính sông Ba dài 388 km, độ dốc bình quân lưu vực 10,9%, mật độlưới sông 0,94 km/km2 Diện tích lưu vực hệ thống sông Ba khoảng 13900
km2, trong đó 11420 km2 nằm trong địa phận các tỉnh Gia Lai và Đăk Lăk, chỉ
có khoảng 2480 km2 nằm trong địa phận tỉnh Phú Yên (bao gồm khoảng 145
km2 lưu vực sông Cà Lúi và 75 km2 lưu vực sông Krông Hnăng) Địa phậnhuyện Sông Hinh, Phú Hòa, thành phố Tuy Hòa và phần lớn huyện Sơn Hòa,một phần huyện Tây Hòa năm trong lưu vực sông Ba
Trang 19Trong lưu vực sông Ba đã và đang xây dựng nhiều công trình thuỷ lợi, thuỷđiện, trong đó có một số công trình lớn đáng chú ý sau đây:
Hình 1.1 Bản đồ lưới sông và lưới trạm khí tượng thuỷ văn tỉnh Phú Yên
Trang 20+ Cụm Nhà máy Thuỷ điện Kanak - An Khê đang được xây dựng trêndòng chính ở thượng nguồn sông Ba;
+ Nhà máy Thuỷ điện Ia Yun Hạ trên nhánh sông Ia Yun đã đi vào hoạtđộng;
+ Nhà máy Thuỷ điện Sông Hinh trên nhánh sông Hinh đã được khai thác
- Sông Bàn Thạch còn được gọi là sông Bánh Lái ở thượng lưu và sông Đà
Nông ở phía gần biển Suối Đen là suối ở thượng nguồn sông Bánh Lái, bắtnguồn từ sườn phía bắc dãy núi cao trên 1000 m, chảy qua vùng núi hòn Kỳ
Đà (964 m) ở phía phải, hòn Ông (796 m) ở phía trái theo hướng tây nam đông bắc và gần nam - bắc; từ Hoà Mỹ đến Đông Mỹ chảy theo hướng gầntây - đông rồi từ Đông Mỹ lại chuyển hướng tây bắc - đông nam, đổ ra biểntại cửa Đà Nông trong mùa lũ, nhưng trong mùa cạn thì chuyển dòng theohướng đông nam - tây bắc rồi đổ ra cửa Phú Hiệp Sông Bàn Thạch có một sốsông nhánh chính như các sông: suối Đá Đen (diện tích lưu vực 166 km2),sông Trong (126,5 km2), sông Mới (95 km2)… sông Bàn Thạch dài 68 km, độdài lưu vực 30 km, độ rộng lưu vực 19,7 km, độ dốc trung bình lưu vực15,4%, mật độ lưới sông 0,50 km/km2 Với diện tích 592 km2, lưu vực sôngBàn Thạch bao trùm hầu hết địa phận hai huyện Tây Hòa và Đông Hòa
-Đường phân nước giữa sông Đà Rằng và sông Bàn Thạch không rõ ràng vìđịa hình thấp và tương đối bằng phẳng và có kênh mương nối liền kênh namcủa hệ thống thuỷ lợi Đồng Cam với sông Bánh Lái
Ngoài các sông nêu trên, ở vùng ven biển còn có một số sông suối nhỏ chảytrực tiếp ra biển, với tổng diện tích lưu vực khoảng 191 km2
Tóm lại, trong địa phận tỉnh Phú Yên có 5 sông tương đối lớn và lớnvới 21 sông nhánh cấp I, 18 sông nhánh cấp II, 1 sông nhánh cấp III và một sốsông suối nhỏ khác Tổng diện tích lưu vực của toàn bộ sông suối chảy quađịa phận tỉnh Phú Yên khoảng 16904 km2, trong đó 11859 km2 nằm ở các tỉnhlân cận và 5045,3 km2 nằm trong tỉnh Phú Yên
Trang 211.2 Hiện trạng kinh tế - xã hội
1.2.1 Hiện trạng nền kinh tế - xã hội tỉnh Phú Yên giai đoạn 2001-2005
Trong thời gian qua, cùng với nhân dân cả nước, nhân dân tỉnh PhúYên đã phát huy những thuận lợi, vượt qua nhiều khó khăn thử thách về thiêntai, dịch bệnh, giá cả thị trường biến động, thực hiện thắng lợi các chỉ tiêukinh tế - xã hội và nhiệm vụ chủ yếu trong kế hoạch 5 năm (2001-2005) theoNghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Yên lần thứ XIII Theo báo cáo kếhoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2006-2010) và phương hướng nhiệm
vụ của chiếm lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2006-2015) của Banchấp hành Đảng bộ Tỉnh Phú Yên Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Phú Yên lầnthứ XIV (III/2006) và Báo cáo tổng hợp quy hoạch phát triển kinh tế - xã hộitỉnh Phú Yên đến năm 2020, thì hiện trạng nền kinh tế - xã hội tỉnh Phú Yênđược thể hiện trên những mặt chủ yếu dưới đây:
a) Hiện trạng nền kinh tế
Nền kinh tế đạt tới tốc độ tăng trưởng khá và ổn định Tốc độ tăng GDPbình quân hàng năm trong giai đoạn 2001-2005 đạt 10,7%, cao hơn so vớigiai đoạn 1996-2005 (8,3%), và cao hơn so với bình quân cả nước 7,51%
Năm 2005, GDP theo giá trị hiện hành đạt 5.201.104 triệu đồng, bìnhquân đầu người đạt 6,04 triệu đồng/người Tốc độ tăng trưởng bình quân hàngnăm giá trị sản xuất của các ngành kinh tế trong giai đoạn 2001-2005 như sau:Nông - lâm - ngư nghiệp: 5,6%, công nghiệp - xây dựng: 19,6%, dịch vụ:12,1%, so với giai đoạn 1996-2000 đã có sự thay đổi đáng kể: công nghiệp -xây dựng: 13%, dịch vụ: 8,1% và nông lâm - ngư nghiệp: 4,5%
Cơ cấu nền kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng dần tỉ trọngcủa ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỉ trọng của ngành nông - lâm -ngư nghiệp Tỉ trọng của các ngành kinh tế năm 2000 như sau: Công nghiệp -xây dựng: 45,4%, nông - lâm - ngư nghiệp: 22% và dịch vụ: 32,6%; đến năm
2005, tỉ trọng của các ngành kinh tế nêu trên tương ứng như sau: 30%, 35,7%
và 34,3%
Dưới đây là hiện trạng của các ngành kinh tế
(1) Nông - lâm - ngư nghiệp và phát triển nông thôn
- Sản xuất nông nghiệp: giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân hàng năm
Trang 22đó sản phẩm hàng hóa chiếm 30% Đồng thời, đã hình thành một số vùngchuyên canh, vùng nguyên liệu tập trung phục vụ cho các nhà máy, như vùngnguyên liệu mía 18045 ha, sắn 10565 ha, điều 6000 ha…
Diện tích gieo trồng một số cây trồng hàng năm như sau: Lúa: 58300 ha,trong đó lúa đông xuân: 25300 ha, lúa hè thu: 22700 ha, lúa mùa: 10300 ha;ngô: 5800 ha; khoai lang: 6300 ha; sắn: 9900 ha; mía: 18200 ha; lạc: 900 ha,sản lượng lúa đạt 321100 tấn
- Chăn nuôi phát triển ổn định Theo thống kê vào thời điểm 1/8/2005, toàntỉnh có 2716 con trâu, tăng bình quân 2,5%; 201.642 con bò, tăng bình quân8,7%; đàn heo 196961 con, tăng bình quân 4,2%; đàn gia cầm 1898791 con,tăng bình quân 1,8% Đã hình thành các mô hình trang trại, phát triển chănnuôi theo hướng công nghiệp thay thế dần phương thức truyền thống nhỏ lẻ
- Giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng bình quân hàng năm khoảng 5,6%; đẩymạnh công tác trồng rừng, chăm sóc và bảo vệ rừng, trồng mới trên 16000 harừng tập trung và hơn 10 triệu cây phân tán Diện tích đất có rừng đến năm
2006 khoảng 160994,7 ha, trong đó rừng tự nhiên 125888,5 ha, rừng trồng35106,2 ha độ che phủ bình quân 31,9% Diện tích đất trống đồi núi trọckhoảng 120063,2 ha Tuy nhiên, do khai thác, chặt phá rừng bừa bãi, nên độche phủ của rừng từ 41% năm 1978, giảm còn 34,4% năm 1995, 34,7% năm
2000 và 31,9% năm 2006
- Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của ngành thuỷ sản khoảng 7,9%.Sản lượng thuỷ sản khai thác năm 2005 khoảng 38584 tấn, tăng bình quânhàng năm 5,1%, với giá trị 380 tỉ đồng (theo giá so sánh năm 1994) Nuôitrồng thuỷ sản đã trở thành một nghề sản xuất chủ yếu
- Kinh tế khu vực nông thôn phát triển theo hướng đa dạng hoá ngành nghề,giảm dần sản xuất thuần nông Cơ sở hạ tầng được phát triển, góp phần cảithiện và đổi mới bộ mặt nông thôn: 100% số xã có điện lưới quốc gia và 55%dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch Tính đến năm 2006, hệ thốngcông trình thủy lợi trên toàn tỉnh là 182 công trình, trong đó: 69 đập dâng, 72trạm bơm, 41 hồ chứa và nhiều công trình đê kè chống lũ lụt, xói lở bờ sông
và ngăn mặn Năng lực tưới thiết kế của các công trình thủy lợi khoảng30327,4 ha diện tích canh tác, trong đó riêng hệ thống thuỷ lợi Đồng Cam
19800 ha; tuy nhiên, diện tích tưới thực tế chỉ đạt khoảng 25180 ha, riêng hệthống thuỷ lợi Đồng Cam 17750 ha, hiệu quả tưới đạt 83% Công tác thuỷ lợitiếp tục được phát triển trong giai đoạn 2001-2005, đã hoàn thành và đưa vào
sử dụng nhiều công trình thuỷ lợi như hồ chứa nước Xuân Bình, nâng cấp hệ
Trang 23thống thuỷ lợi Đồng Cam, hồ Đồng Khôn, Tân Giang Thượng…, kiên cố 184
km kênh mương… Nhờ đó, đã ổn định nước tưới cho trên 25000 ha và tăngdiện tích tưới gần 300 ha, nâng tổng diện tích gieo trồng được tưới lên 55000
ha, đạt 56% Đặc biệt, đã đưa vào khai thác Nhà máy Thuỷ điện Sông Hinh,đang xây dựng Nhà máy Thuỷ điện Sông Ba Hạ (công suất 220 MW), KrôngNăng (64 MW), Đá Đen (9 MW)…
Công tác cấp thoát nước cũng được phát triển Đã và đang tập trung đầu tư đểđưa vào sử dụng nhà máy nước Củng Sơn, Đồng Xuân, Tuy An Nhà máynước thành phố Tuy Hòa có công suất 28000 m3/ng cấp cho thành phố TuyHòa và các khu công nghiệp Hòa Hiệp, An Phú; đầu tư xây dựng nhà máynước Phú Hòa với công suất 3000 m3/ng; hầu hết các thị trấn đều có nhà máynước với công suất của mỗi nhà máy khoảng 2000-3000 m3/ng
(2) Công nghiệp
Nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm của sản xuất công nghiệp khoảng19,6% Năm 2005, giá trị sản xuất công nghiệp đạt 1765,7 tỉ đồng (theo giáthực tế), 1470,1 tỉ đồng theo giá so sánh năm 1994 Đã và đang hình thànhcác khu công nghiệp tập trung với diện tích quy hoạch 985,3 ha (khu côngnghiệp Hòa Hiệp 101,5 ha, khu công nghiệp An Phú 97 ha, khu công nghiệpĐông Bắc Sông Cầu) Công nghiệp chế biến tăng bình quân hàng năm khoảng19,9% và đã hình thành một số ngành công nghiệp chế biến quan trọng như:chế biến đường, tinh bột sắn, thuỷ sản; sản xuất bia và nước giải khát; sảnxuất hàng tiêu dùng và xuất khẩu
Công nghiệp khai khoáng chủ yếu là chế biến thô với tốc độ tăng trưởng bìnhquân hàng năm khoảng 15,6% Công nghiệp sản xuất và phân phối điệnchiếm tỉ trọng 89,2% trong cơ cấu ngành với mức tăng bình quân hàng nămkhoảng 15,5% Đặc biệt, nhà máy Thuỷ điện Sông Hinh đã đi vào hoạt động
và phát huy hiệu quả và hàng năm sản xuất 390 triệu kWh, đồng thời gópphần phòng chống lũ và cấp nước cho vùng hạ lưu sông Ba
(3) Dịch vụ
Các ngành dịch vụ tăng trưởng khá với mức tăng bình quân hàng nămkhoảng 12,1%; cơ cấu ngành dịch vụ có chuyển biến tích cực, đáp ứng tốthơn cho các nhu cầu sản xuất, kinh doanh và phục vụ đời sống nhân dân.Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ xã hội có mức tăng bìnhquân hàng năm khoảng 12,9%; tổng kim ngạch hàng địa phương xuất khẩu
Trang 24năm tăng 16,8% và doanh thu tăng bình quân 21,1%/năm Dịch vụ vận tảicũng phát triển mạnh với mức tăng bình quân 12,2%/năm Các ngành dịch vụkhác như Bưu chính - Viễn thông, Tín dụng cũng phát triển.
b) Văn hoá - xã hội
Đến năm 2007, dân số toàn tỉnh là 885807 người mật độ dân số bìnhquân 175 người/km2, trong đó dân số thành thị: 179170 người, dân số nôngthôn 706637 người Dân cư phân bố không đều, ở miền núi 50-60 người/km2,các huyện đồng bằng ven biển 200-400 người/km2, khu vực đô thị 1300người/km2
Trong giai đoạn 2001-2005 đã giải quyết việc làm cho 115 nghìn laođộng Cơ cấu lao động đã chuyển dịch tích cực theo hướng giảm dần lao độngkhu vực nông nghiệp và nông thôn (từ 77,1% năm 2000 còn 69,2% vào năm2005), tăng lao động khu vực công nghiệp (từ 6,7% năm 2000 tăng lên 11,2%vào năm 2005) và dịch vụ (từ 16,2% năm 2000 tăng lên 19,6% năm 2005) Tỉ
lệ hộ nghèo toàn tỉnh từ 26377 hộ năm 2000 (chiếm 15,3% tổng số hộ) giảmxuống 9588 hộ (5,1%) năm 2005
Công tác y tế, dân số, gia đình và trẻ em cũng được đẩy mạnh Đếncuối năm 2005, toàn tỉnh có 20% số xã đạt chuẩn quốc gia về Y tế Hệ thốngkhám chữa bệnh được sắp xếp lại và nâng cấp
Toàn tỉnh có 424 trường học và cơ sở đào tạo với 225000 học sinh từ mầmnon đến Trung học phổ thông và 10000 sinh viên học ở các trường Trung họcchuyên nghiệp, cao đẳng và Đại học trong cả nước
1.2.2 Vị trí, thách thức và cơ hội của kinh tế - xã hội tỉnh Phú Yên trong khu vực miềm Trung
Trong bối cảnh kinh tế hiện nay sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh PhúYên luôn chịu tác động mạnh từ môi trường quốc tế và trong nước trên cả haiphương diện tích cực và tiêu cực
a) Cơ hội phát triển
Bộ Chính trị có Nghị quyết số 39-NQ/TW về phát triển kinh tế - xã hội miềnTrung; Chính phủ đã có Quyết định số 113/2005/QĐ-TTg về Chương trìnhhành động thực hiện Nghị quyết 39 Những chủ trương đó thể hiện sự quantâm của Đảng và Nhà nước trong việc tạo điều kiện cho các tỉnh ở khu vựcmiền Trung khai thác tiềm năng thế mạnh để phát triển, giảm nguy cơ tụt hậu
so với cả nước
Trang 25Phát triển vùng kinh tế trọng điểm miền Trung có sức lan tỏa tạo cú huýchcho kinh tế trong vùng phát triển, Phú Yên là tỉnh liền kề có nhiều cơ hội đểtận dụng sự lan tỏa này
Phú Yên cũng là tỉnh tiếp giáp với các tỉnh Tây Nguyên, giao thông thuận tiệntạo điều kiện xây dựng cửa ngõ ra biển Đông của các tỉnh này Đồng thời cáctỉnh Tây Nguyên thuộc vùng tam giác phát triển của khu vực Đông Nam Á,bước đầu đã hình thành các cửa khẩu quốc tế Bờ Y (Kon Tum), Đức Cơ (GiaLai) tạo cơ hội cho Phú Yên dễ dàng tiếp cận với thị trường Lào và Cămp PuChia
b) Những thách thức
Với sự hình thành vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (phía bắc), Khánh Hòa(phía nam) đang trên đà phát triển mạnh, đặt ra nhiều yếu tố bất lợi về lợi thếcạnh tranh Phú Yên nằm gần các trung tâm công nghiệp, thương mại và dịch
vụ lớn của miền Trung như: Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang…, nên cácngành thương mại, dịch vụ của Phú Yên sẽ bị ảnh hưởng và phải đối mặt với
sự cạnh tranh của các trung tâm này
Tóm lại, trong giai đoạn vừa qua, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh PhúYên đã phát triển mạnh với mức tăng trưởng khá và ổn định Cơ cấu cácngành kinh tế có sự chuyển biến tốt theo hướng tăng dần tỉ trọng của ngànhcông nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỉ trọng của ngành nông - lâm - ngư nghiệp.Trong ngành nông - lâm - ngư nghiệp cũng có sự chuyển dịch sang cơ cấu câytrồng, vật nuôi, phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá Ngành công nghiệp
có mức tăng trưởng cao Các ngành dịch vụ phát triển khá Cơ sở vật chất kĩthuật hạ tầng kinh tế - xã hội được phát triển, làm thay đổi bộ mặt đô thị vànông thôn Các hoạt động văn hoá - xã hội cũng có chuyển biến tích cực, đờisống nhân dân được cải thiện An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội đượcgiữ vững, quốc phòng được củng cố vững chắc
Bảng 1.4a Kết quả thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu trong quy hoạch 10 năm
(2001-2010) tỉnh Phú Yên
h
Thực hiện
Thực hiện cả nước
Trang 26Nông-Lâm_Ngư nghiệp 4,0
7 Giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng địaphương TriệuUSD 25-30 568
7
Nguồn: Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Yên lần thứ XIV
Bảng 1.4b Chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu của tỉnh Phú Yên
Trang 27TT Chỉ tiêu Đơn vị 2000 2001 2002 2003 2004 (sơ bộ)2005
7 Diện tích lúacả năm 103 ha 57,7 59,5 58,3 59,1 59,5 58,3
8 Năng suất lúa cả năm tạ/ha 48,1 47,2 50,5 53,8 54,5 55,1
9 Sản lượng lúa cả năm 103 tấn 277,6 280,6 294,5 318,2 324,3 321,1
Trang 28TT Chỉ tiêu Đơn vị 2000 2001 2002 2003 2004 (sơ bộ)2005ngô
13 Diện tích khoai lang 103 ha 0,7 0,6 0,5 0,4 0,3 0,3
Trang 29TT Chỉ tiêu Đơn vị 2000 2001 2002 2003 2004 (sơ bộ)2005mặt nước
Trang 30TT Chỉ tiêu Đơn vị 2000 2001 2002 2003 2004 (sơ bộ)2005địa phương
Nguồn: - Niên giám Thống kê tỉnh Phú Yên năm 2011;
- Quy hoạch tổng thể phát triển KTXH tỉnh Phú Yên đến năm 2020.
2 Phương pháp xây dựng kịch bản cho Phú Yên
2.1 Phương pháp chung
Để xây dựng kịch bản BĐKH cho khu vực Phú Yên, hàng loạt phươngpháp đã được sử dụng nhằm xây dựng kịch bản BĐKH cho Việt Nam nhưứng dụng các phần mềm SDSM, SIMCLIM, ứng dụng phương pháp chi tiếthoá thống kê, khai thác sản phẩm của các mô hình động lực toàn cầu, khuvực,… Sau đây sẽ giới thiệu sơ lược về các phưong pháp cũng như sản phẩmmang tính minh hoạ
Kiểm tra các nhân tố dựbáo;
Hiệu chỉnh mô hình;
Tổ hợp các dữ liệu hiện tại bằng các nhân tố trong quan trắc;
Hình 1.1 Giao diện của phần mềm
SDSM
Trang 31 Đưa đầu ra mô hình lên công cụ đồ họa;
Tổ hợp các dự tính cho khí hậu tương lai
Các mô hình hoàn lưu toàn cầu (General Circulation Model) có trongSIMCLIM: Có 20 mô hình khí hậu được sử dụng trong SIMCLIM Các môhình này có sẵn trong cơ sở dữ liệu của tổ chức PCMDI (http://www-pcmdi.llnl.gov/)
Chức năng đánh giá tác động:
- Chức năng đánh giá tác động lên môi trường nước: Tác động lên môi trường nước thể hiện qua các tính toán cân bằng nước Mô hình tính toán sự khác nhau giữa lượng mưa và bốc hơi tiềm năng Đầu vào của mô hình là nhiệt độ trung bình, lượng mưa và bức xạ mặt trời tháng dài hạn và đầu ra là giá trị cân bằng nước
- Chức năng đánh giá tác động lên nông nghiệp: Sử dụng các tính toán nhiệt (degree-day) để đánh giá tác động của biến đổi khí hậu lên nông nghiệp.Chức năng này của SIMCLIM tính toán lượng nhiệt tích lũy hay còn được gọi
là thời gian sinh lý hoặc thời gian nhiệt
- Chức năng đánh giá tác động xói lở bờ và tổng lượng nước