1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập lớn tài chính doanh nghiệp vận tải biển

25 192 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 224,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bất kỳ một nền kinh tế nào cũng đòi hỏi nhà quản trị phải có phương pháp quản lý hợp lý thì mới mang lại hiệu quả kinh tế và phát triển. Quản trị tài chính là một trong những khâu quan trọng then chốt quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp. Làm tốt công tác quản trị tài chính tức là đảm bảo đủ vốn để doanh nghiệp hoạt động và phát triển, đảm bảo các nguồn lực và kết quả hoạt động luôn luôn phân phối và được sử dụng tốt nhất.

Trang 1

Quá trình sản xuất kinh doanh luôn có những biến động và phát triểntương ứng với sự phát triển của khoa học công nghệ Mỗi nhà quản trị tài chínhphải đọc và hiểu được các số liệu trong các báo cáo tài chính của doanh nghiệp.

Từ đó phân tích, đánh giá và đưa ra các quyết sách phù hợp

Bài tập lớn này sử dụng các công cụ cơ bản để phân tích số liệu của hai

công ty vận tải là Công ty Cổ phần vận tải biển Hải Âu và Công ty Cổ phần vận tải biển Sài Gòn để so sánh, đánh giá thực trạng tài chính của hai doanh

nghiệp

Trang 2

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1/ Những khái niệm cơ bản liên quan đến Tài chính doanh nghiệp.

1.1/ Khái niệm tài chính doanh nghiệp.

Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các mối quan hệ kinh tế biểu hiện dướihình thái tiền tệ giữa doanh nghiệp và môi trường xung quanh nó, những mốiquan hệ này nảy sinh trong quá trình tạo ra và phân chia các quỹ tiền tệ củadoanh nghiệp

Như vậy, trong khái niệm tài chính doanh nghiệp có xuất hiện yếu tố tiền

tệ, yếu tố tiền tệ đó thực hiện đầy đủ các chức năng của nó Nhờ đó mà quá trìnhsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thuận lợi Tuy nhiên, chỉkhi có sự thay đổi hình thái giá trị để tạo ra giá trị mới thì mới có sản xuất, kinhdoanh Sự dịch chuyển giá trị đơn thuần, không tăng thêm giá trị mới chỉ là mộtquá trình trong toàn bộ hệ thống của quá trình sản xuất xã hội

Tài chính doanh nghiệp có hai chức năng cơ bản là chức năng phân phối

và chức năng giám đốc bằng tiền

Nhiệm vụ của tài chính doanh nghiệp là:

- Thiết lập những mối quan hệ khăng khít với thị trường vốn để luônluôn chủ động về vốn cho sản xuất kinh doanh

- Xác định mục đích phân phối vốn đúng đắn, rõ rang

- Tính toán chính xác các tiêu chuẩn phân phối vốn đúng với các mụcđích đã xác định

- Tổ chức thực hiện công tác bảo toàn vốn một cách khoa học

- Tổ chức công tác theo dõi, ghi chép phản ánh đầy đủ, liên tục, có hệthống các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp

- Tổ chức công tác phân tích đánh giá toàn diện tình hình thực hiện cácđịnh mức và tiêu chuẩn phân phối, tình hình thực hiện hệ thống các chỉ tiêu tàichính để kịp thời phát hiện những bất hợp lý trong quá trình thực hiện các mốiquan hệ của doanh nghiệp với môi trường kinh tế xung quanh từ đó có nhữngquyết định điều chỉnh hợp lý

- Cùng với các bộ phận quản lý khác của doanh nghiệp, công tác quản lýtài chính góp phần duy trì và phát triển quan hệ với bạn hàng, khách hàng và cácmối quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp đồng thời luôn đảm bảo thực hiện tốt cácquy định, chế độ quản lý của nhà nước

1.2/ Các khái niệm cơ bản liên quan đến Tài chính doanh nghiệp.

1.2.1/Tài sản và nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp.

Tài sản của doanh nghiệp là toàn bộ lực lượng vật chất mà doanh nghiệp

có thể sử dụng để tiến hành quá trình sản xuất kinh doanh.Đứng trên góc độ tài

chính, tài sản có thể chí thành hai nhóm cơ bản, đó là: nhóm tài sản dài hạn vànhóm tài sản ngắn hạn

Trang 3

Nhóm tài sản dài hạn và tài sản ngắn hạn bao gồm các loại tài sản ở dướidạng hữu hình hay vô hình Trong đó, tài sản dài hạn có chu kỳ vận dộng biếnđổi hình thái diễn ra tương đối dài thường là từ một năm trở lên, còn tài sản ngắnhạn có chu kỳ vận động biến đổi diễn ra tương đối ngắn thường là dưới một năm.

Trong doanh nghiệp vận tải biển, tài sản đống vai trò quyết định đến quátrình hoạt dộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là bộ phận tài sản thamgia trong quá trình thực hiện các dịch vụ vận tải Trong đó, theo thuật ngữ tàichính tài sản dài hạn còn được gọi là là tài sản cố định, còn tài sản ngắn hạn cònđược gọi là tài sản lưu động

Vốn sản xuất kinh doanh là giá trị ứng trước để hình thành các loại tài sản

của doanh nghiệp Xét tại một thời điểm nhất định, vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của giá trị các tài sản mà doanh nghiệp hiện có để phục vụ sản xuất kinh doanh Có thể nói, tài sản của doanh nghiệp là

nguồn lực vật chất dưới dạng hiện vật, vốn là nguồn lực vật chất của doangnhiệp ở dưới dạng thức giá trị Tài sản của doanh nghiệp có hai nhóm nên vốncủa doanh nghiệp cũng được phân chia làm hai nhóm tương ứng là: vốn cố định

và vốn lưu động

Trong điều kiện kinh tế thị trường, các doanh nghiệp không chỉ sử dụngvốn của bản thân doanh nghiệp mà còn sử dụng các nguồn vốn khác, trong đónguồn vốn vay đóng một vai trò khá quan trọng Do đó, nguồn vốn trong doanhnghiệp được hình thành từ hai nguồn sau: nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu

Nợ phải trả là nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp phát sinh từ các giao dịch

và sự kiện đã qua mà doanh nghiệp phải thanh toán từ các nguồn lực của mình.Việc thanh toán các nghĩa vụ hiện tại có thể được thực hiện bằng nhiều cách nhưtrả bằng tiền, trả bằng tài sản khác, cung cấp dịch vụ , thay thế nghĩa vụ này bằngnghĩa vụ khác, chuyển đổi nghĩa vụ nợ phải trả thành vốn chủ sở hữu

Nguồn vốn chủ sở hữu thể hiện quyền sở hữu của người chủ về các tài sảncủa doanh nghiệp, là giá trị vốn của doanh nghiệp Vốn chủ sở hữu được tạo nên

từ các nguồn sau: từ khoản đóng góp của chủ sở hữu tùy theo loại hình daonhnghiệp, vốn bổ sung từ kết quả kinh doanh ( như lợi nhuận chưa phân phối,chênh lệch do đánh giá lại tài sản, các loại quỹ doanh nghiệp)

1.2.1.1/ Tài sản cố định và vốn cố định

* Tài sản cố định (TSCĐ):

Tài sản cố định trong các doanh nghiệp là những tài sản có giá trị lớn và

dự tính đem lại lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp.

Theo chế độ tài chính hiện hành tài sản cố định phải có đủ 4 tiêu chuẩnsau:

- Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sảnđó

Trang 4

- Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy.

- Có thời gian sử dụng từ một năm trở lên

- Có giá trị từ ba mươi triệu đồng trở lên

Tài sản cố định trong các doanh nghiệp có đặc diểm: tham gia vào nhiềuchu kỳ sản xuất kinh doanh và sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh, hình thái vậtchất của chúng không thay đổi nhưng nó bị hao mòn và giá trị của nó đượcchuyển dần vào giá trị sản phẩm mà nó làm ra

 Phân loại tài sản cố định:

 Nếu dựa theo mục đích sử dụng TSCĐ, ta có các loại sau:

- Tài sản cố định dùng cho mục đích kinh doanh:

 Đối với TSCĐ hữu hình, những loại sau đây thường xuất hiện trong cácdoanh nghiệp vận tải biển

Loại 1 - Nhà cửa, vật kiến trúc

Loại 2 - Phương tiện vận tải

Loại 3 - Thiết bị, dụng cụ quản lý

 Đối với TSCĐ vô hình: Là những tài sản không có hình thái vật chất, thểhiện một lượng giá trị đã được đầu tư thoả mãn các tiêu chuẩn của tài sản cốđịnh, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh, và do doanh nghiệp nắm giữ, sửdụng trong sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ, cho đối tượng khác thuê có đủcác tiêu chuẩn theo quy định như chi phí về: quyền sử dụng đất, quyền pháthành, bằng sáng chế phát minh, nhãn hiệu thương mại, phần mềm máy tính

- Tài sản cố định dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh, quốcphòng

- Tài sản cố định bảo quản hộ, giữ hộ, cất giữ hộ nhà nước

 Nếu dựa theo mức độ sử dụng TSCĐ, ta có thể chia chúng thành:

- Tài sản cố định đang sử dụng

- Tài sản cố định chưa sử dụng

- Tài sản cố định chờ xử lý

 Nếu theo phạm vi sử dụng, chia thành 2 nhóm:

- Tài sản cố định sử dụng trong sản xuất kinh doanh cơ bản

- Tài sản cố định sử dụng ngoài sản xuất kinh doanh cơ bản

 Nếu theo quyền sở hữu, chia thành 2 nhóm:

- Tài sản cố định thuộc sở hữu của doanh nghiệp

- TSCĐ thuê (thuê hoạt động, thuê tài chính)

 Hao mòn và khấu hao tài sản cố định:

 Hao mòn tài sản cố định:

Trang 5

Hao mòn của tài sản cố định là sự giảm dần giá trị của TSCĐ trong quá trình

sử dụng do tham gia vào quá trình kinh doanh bị cọ xát, bị ăn mòn hoặc do tiến

bộ kỹ thuật

Hao mòn TSCĐ ở hai dạng: Hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình Haomòn hữu hình là sự giảm dần đồng thời cả giá trị sử dụng và giá trị của TSCĐ,biểu hiện của sự hao mòn này là các tính năng tác dụng của tài sản cố định giảmsút, sự giảm này có thể nhìn thấy có thể đo lường được Hao mòn vô hình là sựgiảm thuần túy về giá trị của TSCĐ, khi có TSCĐ khác cùng tính năng tác dụngđược chế tạo mà giá thành hơn, hiện đại hơn

 Khấu hao TSCĐ:

- Bản chất của khấu hao TSCĐ: Nguồn tài chính để tái đầu tư TSCĐ chủyếu là tiền thu hồi giá trị TSCĐ tính trong giá trị sản phẩm được tạo ra, tức làtrong doanh thu, một phần sẽ phải hoàn trả lại cho giá trị TSCĐ đã mất đi để tạo

ra sản phẩm Về phương pháp tính toán, bộ phận giá trị đó là một khoản chi tínhtrong giá thành sản phẩm nhưng về nguồn bù đắp khoản chi phí đó thì phải tínhtrong doanh thu

- Về nguyên tắc tính toán, khấu hao tài sản cố định là sự phân bổ một cách

có kế hoạch giá trị phải khấu hao của tài sản cố định vào thời gian sử dụng hữuích của tài sản đó Sau đó phân bổ vào các sản phẩm mà nó làm ra, với tư cách làmột yếu tố chi phí trong giá thành sản phẩm Khi bán sản phẩm thu tiền về sẽtrích ra tiền khấu hao từ mỗi sản phẩm, tập hợp nên quỹ khấu hao tài sản cốđịnh Quỹ này được sử dụng cho việc tái đầu tư tài sản cố định

Phần giá trị của tài sản cố định được chuyển vào sản phẩm để thu hồi cầnphải tương ứng với hao mòn ( gồm cả hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình )của nó Đến khi tài sản cố định hết giá trị sử dụng thì cũng đồng thời thu đủ vốn,

có thể thay thế nó bằng tài sản cố định khác

- Về mặt pháp lý, khấu hao TSCĐ của doanh nghiệp phải được nhà nước

quản lý Nhà nước quy định về phương pháp tính, tiêu chuẩn tính toán… đối vớitừng loại TSCĐ trong danh mục mà cơ quan chức năng quản lý nhà nước quyđịnh Việc tính toán khấu hao cụ thể sẽ ảnh hưởng đến quy mô, cơ cấu chi phísản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Về phương pháp khấu hao, có phương pháp khấu hao bình thường vàphương pháp khấu hao nhanh

Đối với các doanh nghiệp vận tải biển, việc áp dụng phương pháp khấu haonhanh có thể áp dụng đối với những TSCĐ mà hiệu quả sử dụng của nó dễ bị ảnhhưởng do thay đổi công nghệ Những TSCĐ đó có thể là các tàu biển, cácphương tiện xếp dỡ và một số loại thiết bị khác có vai trò quyết định năng suất,chất lượng sản phẩm và hiệu quả quản lý

* Vốn cố định (VCĐ)

Trang 6

Vốn cố định là số tiền doanh nghiệp ứng trước để đầu tư cho tài sản cố định Xét tại mỗi thời điểm nhất định thì vốn cố định của doanh nghiệp là biểu

hiện bằng tiền của giá trị còn lại của toàn bộ các tài sản cố định hiện có củadoanh nghiệp (giá trị này là giá trị còn lại của tài sản cố định ghi trên sổ sách kếtoán của doanh nghiệp)

 Đặc điểm của vốn cố định:

- Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất

- Vốn cố định được dịch chuyển từng bộ phận vào giá thành sản xuất ởtrong các chu kỳ

- Hoàn thành một vòng luân chuyển sau một thời gian dài, tương ứng vớithời gian sử dụng tài sản cố định

 Các nhóm TSCĐ – VCĐ trong doanh nghiệp vận tải biển:

1.2.1.2/ Tài sản lưu động và vốn lưu động

* Tài sản lưu động (TSLĐ):

Tài sản lưu động của một doanh nghiệp là tập hợp toàn bộ các tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu thông dùng trong doanh nghiệp, chúng là những đối tượng lao động và những khoản vốn trong quá trình lưu thông thanh toán của doanh nghiệp

Chúng chỉ tham gia một lần vào quá trình sản xuất kinh doanh, khi tham giavào sản xuất kinh doanh chúng biến đổi hoàn toàn hình thái vật chất của mình đểtạo ra những hình thái của sản phẩm

 Phân loại tài sản lưu động :

 Nhóm 1: Nguyên vật liệu chính: nhóm đối tượng này là nhân tố rất quantrọng quyết định hình thái vật chất của sản phẩm

 Nhóm 2: Vật liệu phụ và nhiên liệu: các đối tượng này chỉ tham gia mộtlần vào một quá trình sản xuất, nó nhanh chóng biến đổi hình thái vật chất Vìthế nó được gọi là tài sản lưu động Những tài sản lưu động này chỉ tồn tại trongkhâu sản xuất (dự trữ sản xuất và các giai đoạn công nghệ chế biến) nên nó đượccoi là tài sản lưu động sản xuất

Trang 7

* Vốn lưu động (VLĐ):

Vốn lưu động là số tiền ứng trước để đầu tư cho tài sản lưu động Xét tại mộtthời điểm nhất định, số vốn đó là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị hiện cócủa các tài sản lưu động của doanh nghiệp

* Đặc điểm của vốn lưu động:

- VLĐ chỉ tham gia một lần trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh

- Khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nó biếnđổi hình thái rất nhanh Chuyển toàn bộ giá trị từ hình thái tiền tệ ban đầu quacác hình thái vật chất khác để rồi trở lại hình thái tiền tệ trong hcu kỳ sản xuấtkinh doanh

* Các nhóm TSLĐ - VLĐ:

- VLĐ dự trữ cho hoạt động thường xuyên:

+ Nhiên liệu dự trữ+ Vật liệu dự trữ

- Vốn bằng tiền

- Vốn thanh toán (Giá trị các khoản phải thu)

- VLĐ khác, giá trị của các loại TS: Tạm ứng, ký quỹ, ký cược…

Trong cơ cấu vốn chung của doanh nghiệp thì tỷ trọng VLĐ không lớn hơn

so với tỷ trọng VCĐ Cũng như VCĐ, VLĐ được báo cáo thường xuyên, đầy đủtrong Bảng cân đối kế toán

1.2.2/ Chi phí, thu nhập và lợi nhuận của doanh nghiệp

1.2.2.1/ Chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm

* Chi phí sản xuất kinh doanh

 Khái niệm:

Chi phí hoạt động của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp chi ra để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định

 Đặc điểm của chi phí sản xuất kinh doanh:

- Khi doanh nghiệp phát sinh các khoản chi phí làm giảm lợi ích kinh tế

- Các khoản chi phí của doanh nghiệp phải có giá trị và xác định được giá trị

một cách đáng tin cậy Chúng được đo lường và tính toán bằng tiền Khoản chi

này có thể chi trả ngay bằng tiền mặt, hoặc có thể khấu trừ bằng tài sản kể cả cáckhoản mua chịu hàng hoá

- Các khoản chi phí phải được tính trong 1 kỳ kế toán nhất định, có thể lànăm - kỳ kế toán cơ bản; tháng, quí, 6 tháng - kỳ kế toán tạm thời

- Các khoản chi phí này có liên quan đến các hoạt động của doanh nghiệp

 Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh:

Trang 8

Căn cứ vào tính chất, mục đích của từng hoạt động trong doanh nghiệp, chi

phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được chia làm 3 loại:

Chi phí sản xuất kinh doanh

Là những chi phí có liên quan đến quá trình sản xuất và tiêu thụ sảnphẩm Căn cứ theo quá trình kinh doanh, chi phí sản xuất kinh doanh được chiathành 3 loại: Chi phí sản xuất sản phẩm, chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phítiêu thụ sản phẩm ( Chi phí bán hàng)

- Chi phí sản xuất sản phẩm là biểu hiện bằng tiền tất cả các hao phí về vậtchất và lao động mà doanh nghiệp bỏ ra để sản xuất sản phẩm trong một thờigian nhất định Các chi phí này phát sinh có tính thường xuyên và gắn liền vớiquá trình sản xuất sản phẩm

+ Chi phí vật tư trực tiếp: Là toàn bộ các hao phí nguyên vật liệu chính,vật liệu phụ, công cụ dụng cụ sử dụng trực tiếp cho quá trình tạo ra sản phẩmhoặc cung cấp dịch vụ

+ Chi phí nhân công trực tiếp: Là các khoản thù lao phải trả cho các cán bộ

và công nhân trực tiếp tạo ra sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ như: Lương chính,lương phụ, các khoản phụ cấp, các khoản trích theo lương của cán bộ và côngnhân trực tiếp sản xuất

+ Chi phí sản xuất chung: Chi phí khấu hao của các tài sản cố định phục

vụ cho các quá trình trực tiếp tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ trong các phânxưởng, tổ đội sản xuất Chi phí tổ chức, quản lý và phục vụ sản xuất ở các phânxưởng, tổ đội sản xuất như: Chi phí nhân viên phân xưởng; Chi phí vật liệu; Chiphí dụng cụ sản xuất; Chi Khấu hao tài sản cố định ở các phân xưởng.; Chi phídịch vụ mua ngoài; Chi phí khác bằng tiền

- Chi phí quản lý doanh nghiệp Bao gồm các chi phí quản lý hành chính,chi phí quản lý kinh doanh và các chi phí chung khác có liên quan toàn bộ hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp như: Tiền lượng phụ cấp và các khoản tínhtheo lương ( BHXH, BHYT, Lệ phí công đoàn) của Ban giám đốc, nhân viêncác phòng ban, Chi phí khấu hao và sửa chữa tài sản sử dụng chung cho cả doanhnghiệp, chi phí vật liệu, văn phòng phẩm, chi phí thông tin liên lạc, điện nướccũng như các chi phí dịch vụ mua ngoài thuộc văn phòng doanh nghiệp, thuế và

lệ phí, các chi phí chung cho toàn doanh nghiệp như lãi vay, chi phí kiểm toán,tiếp tân, tiếp khách, công tác phí.v.v

- Chi phí tiêu thụ sản phẩm ( Chi phí bán hàng - chi phí lưu thông ), Baogồm :

+ Chi phí trực tiếp tiêu thụ sản phẩm: Chọn lọc, đóng gói, bao bì, vậnchuyển, bảo quản, thuê kho bãi, các chi phí nhân công, chi phí khấu hao và sửachữa tài sản cố định thuộc phạm vi lưu thông.v.v

Trang 9

+ Chi phí hỗ trợ và phát triển: Chi phí điều tra nghiên cứu thị trường,quảng cáo, giới thiệu sản phẩm, chi phí cho các dịch vụ sau bán hàng v.v.

Chi phí hoạt động tài chính

Là các khoản chi kể cả các khoản lỗ liên quan đến các hoạt động về vốnngoài nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm các chi phí liênquan đến hoạt động đầu tư tài chính như hoạt động liên doanh, cho vay vốn, gửitiền ở ngân hàng, mua bán ngoại tệ, chứng khoán, các khoản dự phòng giảm giáđầu tư chứng khoán., chi phí về lãi tiền vay, chi phí về chênh lệch tỷ giá ngoạitệ

Chi phí khác

Gồm các khoản chi phát sinh bất thường mà doanh nghiệp không lườngtrước được như: Chi phí nhượng bán, thanh lý tài sản cố định; Tiền bị phạt do viphạm hợp đồng kinh tế; Các khoản phạt do vi phạm chế độ giao nộp ngân sách;Chi phí dự phòng phải thu khó đòi và dự phòng giảm giá hàng tồn kho

* Giá thành sản phẩm

 Khái niệm:

Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ chi phí của doanh nghiệp bỏ ra để hoàn thành việc sản xuất hoặc để sản xuất và tiêu thụ một lượng sản phẩm nhất định.

Cần phân biệt chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp với giá thành,giá thành sản phẩm bao giờ cũng gắn liền với khối lượng sản phẩm nhất địnhđược thực hiện bằng một lượng chi phí nhất định Chi phí sản xuất kinh doanh đềcập đến toàn bộ chi phí để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh nói chung,giá thành sản phẩm thì phải được tính cho phạm vi tập hợp chi phí nhất định(khối lượng mỗi loại sản phẩm xác định), không phải bất cứ chi phí nào chi racho sản xuất kinh doanh đều được tính trong giá thành sản phẩm mà chỉ đượctính trong giá thành sản phẩm liên quan đến sản phẩm

Giá thành được tập hợp chung cho một khối lượng sản phẩm nhất định, gọi

là giá thành tổng sản lượng hay tổng giá thành

Giá thành đơn vị được tính theo từng đơn vị sản phẩm Đơn vị tính của giáthành đơn sản phẩm là đơn vị kép: đồng/1 đv sản phẩm Trong vận tải biển ta sửdụng các đơn vị tính giá thành: đ/T; đ/T.HL; đ/Ttq; đ/Txd

 Ý nghĩa của chỉ tiêu giá thành:

Giá thành là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh trình độ trang bị

kỹ thuật công nghệ, trình độ tổ chức và quản lý của doanh nghiệp

Giá thành là cơ sở để xác định giá bán sản phẩm, sản xuất với giá thành

hạ thì doanh nghiệp có thể hạ thấp giá bán thu hút được khách hàng đảm bảo sựthắng lợi trong điều kiện cạnh tranh

Trang 10

Giá thành là cơ sở để tính toán lợi nhuận của doanh nghiệp, sản xuất vớigiá thành ngày càng hạ thì doanh nghiệp mới có thể nâng cao lợi nhuận, tạo điềukiện cải tiến máy móc thiết bị, công nghệ, nâng cao trình độ tay nghề cho ngườilao động đồng thời nâng cao đời sống vật chất văn hoá, tinh thần cho họ.

1.2.2.2/ Thu nhập và lợi nhuận của doanh nghiệp

* Thu nhập của doanh nghiệp

 Khái niệm:

Thu nhập là biểu hiện bằng tiền của giá trị các khoản doanh nghiệp thu về trong kỳ từ hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác

 Ý nghĩa của thu nhập:

Thu nhập của doanh nghiệp là một chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp, nó phản ánh tổng hợp quy mô tổ chức sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp

Thu nhập là biểu hiện sự chấp nhận của thị trường đối với sản phẩm củadoanh nghiệp Bởi vì việc tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp luôn gắn với tìnhhình thị trường Nếu tiêu thụ nhiều và thu nhập cao có nghĩa là sản phẩm củadoanh nghiệp đã đáp ứng được yêu cầu của thị trường

Thu nhập của doanh nghiệp là nguồn bù đắp các khoản chi phí mà doanhnghiệp đã chi ra cho quá trình sản xuất kinh doanh, là nguồn thanh toán cáckhoản nghĩa vụ với Ngân sách, thanh toán các khoản nợ với người cho vay đồngthời là nguồn tạo ra lợi nhuận Đó chính là điều kiện cần thiết để doanh nghiệptái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng

* Lợi nhuận của doanh nghiệp:

 Khái niệm:

Lợi nhuận của doanh nghiệp là phần chênh lệch giữa thu nhập và chi phí bỏ

ra để có thu nhập đó.

 Ý nghĩa của lợi nhuận:

Lợi nhuận là chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh quan trọng nhất, là mụctiêu cuối cùng của doanh nghiệp

Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng phản ánh quy mô, trình độ trang bị kỹthuật, trình độ tổ chức và quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 11

Lợi nhuận của mỗi doanh nghiệp là nguồn thu quan trọng của Ngân sáchNhà nước Điều đó tạo điều kiện thực hiện các công việc chung của toàn xã hộinhư xây dựng đường xá, cầu cống, bệnh viện, trường học, các công trình phúc lợicông cộng, bảo đảm an ninh quốc phòng, trật tự, an toàn xã hội

Phần lợi nhuận còn lại sau khi thực hiện nghĩa vụ đóng góp vào Ngânsách Nhà nước tạo điều kiện để doanh nghiệp tăng cường đầu tư hiện đại hoátrang thiết bị kỹ thuật, dây chuyền công nghệ, đào tạo nâng cao trình độ chuyênmôn của người lao động Điều đó là điều kiện cần thiết cho việc nâng cao năngsuất, chất lượng và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Lợi nhuận của doanh nghiệp còn tạo điều kiện nâng cao đời sống vật chất,văn hoá, tinh thần của người lao động trong doanh nghiệp Phần lợi nhuận để lạidoanh nghiệp, sau khi trích lập các quỹ tái đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh

sẽ phục vụ cho các hình thức tiêu dùng của doanh nghiệp Trong đó quỹ tiềnthưởng làm tăng thu nhập của cán bộ công nhân viên, cải thiện đời sống vật chấtcủa họ Quỹ phúc lợi phục vụ cho việc đầu tư xây dựng các công trình phúc lợicông cộng trong doanh nghiệp như nhà ăn, nhà trẻ, câu lạc bộ , tổ chức cácphong trào văn hoá văn nghệ, thể dục, thể thao, vui chơi giả trí, tổ chức cácchuyến thăm quan du lịch, nghỉ mát và trợ cấp cho những người lao động gặphoàn cảnh khó khăn

Qua đó ta thấy lợi nhuận của mỗi doanh nghiệp có ý nghĩa rất to lớn, nóđồng thời đảm bảo 3 lợi ích là lợi ích Nhà nước hay lợi ích toàn dân, lợi íchdoanh nghiệp và lợi ích của cá nhân từng người lao động của doanh nghiệp

1.3/ Những chỉ tiêu tài chính đặc trưng

1.3.1/ Nhóm chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán

Tình hình tài chính của doanh nghiệp lại được thể hiện rõ nét qua khả năngthanh toán Nếu doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán thì tình hình tài chính làtốt và ngược lại Do vậy, khi đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanhnghiệp không thể không xem xét khả năng thanh toán đặc biệt là khả năng thanhtoán ngắn hạn

(1) Chỉ tiêu đánh giá khái quát khả năng thanh toán

Tỷ suất thanh toán hiện hành = Tổng Giá trị tài sản

Tổng Nợ phải trả

Về mặt lý thuyết, nếu trị số chỉ tiêu tỷ suất thanh toán hiện hành của doanhnghiệp ≥ 1, doanh nghiệp bảo đảm được khả năng thanh toán tổng quát và

Trang 12

ngược lại; trị số này < 1, doanh nghiệp không bảo đảm được khả năng trang trảicác khoản nợ.

(2) Khả năng thanh toán ngắn hạn

Tỷ suất thanh toán ngắn hạn =

Tổng Tài sản lưu động và Đầu tư

ngắn hạnTổng Nợ ngắn hạn

Tỉ suất này cho thấy khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn (phải thanhtoán trong vòng một năm hay một chu kỳ kinh doanh) của doanh nghiệp là caohay thấp Nếu chỉ tiêu này xấp xỉ bằng 1 thì doanh nghiệp có đủ khả năng thanhtoán các khoản nợ ngắn hạn và tình hình tài chính là bình thường hoặc khả quan.(3) Khả năng thanh toán nhanh

Tỷ suất thanh toán nhanh =

Tổng Vốn bằng tiền và tương đương

tiền Tổng Nợ ngắn hạn Chỉ tiêu này dùng để đánh giá khả năng thanh toán nhanh các khoản nợngắn hạn của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo, phản ánh khả năng chuyển đổithành tiền của tài sản lưu động Thực tế cho thấy nếu chỉ tiêu này tính ra mà lớnhơn 0,5 hoặc nhỏ hơn 0,1 đều không tốt vì sẽ gây ứ đọng vốn hoặc thiếu tiền đểthanh toán

(4) Khả năng thanh toán tức thời

Tỷ suất thanh toán tức thời = Tổng Vốn bằng tiền và tương đương tiềnTổng Nợ ngắn hạnThực tế cho thấy, tỷ suất này nếu > 0,5 thì tình hình thanh toán tương đốikhả quan, còn nếu < 0,5 thì doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong việc thanhtoán, công nợ và do đó, có thể phải bán gấp hàng hoá, sản phẩm để trả nợ vìkhông đủ tiền thanh toán Tuy nhiên, nếu tỉ suất này quá cao lại phản ảnh mộttình hình không tốt vì vốn bằng tiền quá nhiều, vòng quay tiền chậm làm giảmhiệu quả sử dụng vốn

(5) Khả năng thanh toán nợ dài hạn

Tỷ suất thanh toán

Giá trị còn lại của TSCĐ hình thành bằngnguồn vốn vay hoặc nợ dài hạn

Tổng Nợ dài hạn

Ngày đăng: 17/12/2018, 23:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w