Vấn đề về thủ tục theo DSU của WTO trong vụ tranh chấp này. Ngoài ra, phân tích luận điểm, bào chữa của các bên trong tranh chấp về vấn đề thủ tục và thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Ban Hội thẩm của DSB. Trong các lập luận này, bị đơn sử dụng chủ yếu các điều 3.3, 3.4, 3.7, 3.8, và 11 của DSU
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2và phán quyết của Cơ quan giải quyết tranh chấp mang tính bắt buộc thực thi đối với các bên trong
vụ tranh chấp
Trong quá trình hội nhập quốc tế, đẩy mạnh xuất nhập khẩu hàng hóa, Việt Nam dần dần cóchỗ đứng và tiếng nói trên thị trường thế giới Tuy nhiên, đi kèm với đó là những rủi ro đến từ cácbiện pháp của chính phủ hay từ các doanh nghiệp của Việt Nam có thể bị khiếu kiện do sự khôngphù hợp với quy định của WTO, từ đó bị áp đặt các khoản thuế đối kháng, khiến các doanh nghiệpViệt Nam không đạt được mục tiêu tiếp cận thị trường và đạt doanh số xuất khẩu đặt ra khi tham giacác hiệp định thương mại quốc tế Vì vậy, điều kiện cần thiết hiện nay là các doanh nghiệp và chinhphủ của Việt Nam cần phải liên tục cải thiện những tồn tại, phát huy thế mạnh, trau dồi kiến thức vềpháp luật thương mại quốc tế để có thể có chỗ đứng vững chắc, và sẵn sàng đối phó với những rủi rođến từ các quốc gia nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam
Trong bài tiểu luận này, dưới góc độ của một sinh viên, với khả năng nghiên cứu trong phạm
vi những kiến thức đã học, em lựa chọn vụ tranh chấp “Liên minh châu Âu – Biện pháp đối khángđối với mặt hàng Poliethylene Teraphtalate của Pakistan” để làm đề tài nghiên cứu cho môn họcGiải quyết tranh chấp thương mại quốc tế Bài tiểu luận này nghiên cứu dưới góc độ thủ tục áp dụng
và thẩm quyền của DSB trong tranh chấp này, để có thể có cái nhìn tổng quan về cơ chế giải quyếttranh chấp của WTO trong một vụ việc cụ thể được đưa ra giải quyết tranh chấp tại DSB và đưa ranhững nhận định chung, giải pháp cụ thể cho Việt Nam trong quá trình tham gia nền thương mạiquốc tế
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của Giảng viên TS Nguyễn Ngọc Hà trongnhững buổi học trong chương trình học tập của chúng em và cũng mong nhận được sự chỉ bảo tận
Trang 3tình từ thầy để hoàn thiện đề tài của mình, cũng như bổ sung, hoàn thiện hệ thống kiến thức của bảnthân mình
Trang 41 Tổng quan vụ việc
1.1 Các bên trong vụ tranh chấp
Nguyên đơn: Pakistan
Bị đơn: Liên minh châu Âu (European Union)
Cơ quan giải quyết tranh chấp được: Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO (DSB)
Biện pháp bị khiếu kiện: Việc áp dụng thuế chống trợ cấp của EU đối với mặt hàngpolyethulene terephtalate (PET) từ Pakistan và một số nước trung đông khác
1.2 Bối cảnh của tranh chấp
Trong giai đoạn các năm từ 2005 đến năm 2010, Pakistan và một số quốc gia Trung Đôngkhác là những quốc gia xuất khẩu polyethylene terephthalate (PET) sang châu Âu Trong giai đoạnnày, các nước châu Âu đã phát hiện rằng chính phủ Pakistan có thực hiện Kê hoạch trợ cấp sản xuất(MBS – Manufacturing Bond Scheme) và các quốc gia châu Âu cho rằng Pakistan đã vi phạm một
số điều khoản của Hiệp định trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO (SCM) và đã cho tiếnhành các cuộc điều tra về các biện pháp trợ cấp mà Pakistan đang áp dụng
Trong cuộc điều tra về thuế đối kháng, Ủy ban châu Âu (Ủy ban) đã điều tra một số đề ánliên quan đến việc cấp trợ cấp của Chính phủ Pakistan, bao gồm MBS MBS cho phép nhập khẩunguyên liệu miễn thuế với điều kiện nó được sử dụng như một đầu vào trong sản xuất hàng hóa sau
đó được xuất khẩu
Vào ngày 31 tháng 5 năm 2010, Ủy ban đã ban hành một quy định áp đặt thuế đối kháng tạmthời đối với hàng nhập khẩu PET có nguồn gốc từ Iran, Pakistan và Các Tiểu Vương quốc Ả RậpThống nhất Ủy ban cũng nhận thấy rằng việc nhập khẩu PET từ Iran, Pakistan và các Tiểu vươngquốc Ả Rập thống nhất đã gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành công nghiệp của EU Trong việc thựchiện phân tích hậu quả, Ủy ban đã kiểm tra các yếu tố khác so với hàng nhập khẩu PET được trợ cấpnhưng thấy rằng không có yếu tố nào khác góp phần gây thương tích cho ngành công nghiệp EU đếnmức họ đã phá vỡ mối quan hệ nhân quả giữa việc nhập khẩu PET được trợ cấp và thiệt hại mà EUphải gánh chịu
Vào ngày 27 tháng 9 năm 2010, Liên minh châu Âu đã ban hành một quy định áp đặt cácbiện pháp đối kháng ngay lập tức và thu thuế với hàng nhập khẩu PET có nguồn gốc từ Iran,Pakistan và Các Tiểu Vương quốc Ả-rập Thống nhất
Ngay sau đó, Pakistan đã đưa vụ việc trên ra Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO vàthành lập một Ban Hội thẩm để giải quyết vụ việc trên Ban Hội thẩm được lập ra vào ngày
Trang 525/03/2015 để xem xét khởi kiện của Pakistan tiên quan đến các biện pháp đối kháng được ban hànhbởi EU đối với việc nhập khẩu PET từ Pakistan
Năm năm sau khi áp dụng các biện pháp thuế của Liên minh Châu âu, ngày 26 tháng 9 năm
2015, một thông báo hết hạn của các biện pháp đối kháng có liên quan đã được công bố trên Tạp chíchính thức của Liên minh châu Âu
1.3 Yêu cầu của các bên và nhận định của Ban Hội thẩm
1.3.1 Yêu cầu của Pakistan
Trước Ban Hội thẩm, Pakistan cho rằng các biện pháp đối kháng áp đặt bởi Liên minh châu
Âu không phù hợp với một số điều khoản của Hiệp định về trợ cấp và biện pháp đối kháng (Hiệpđịnh SCM) và Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại 1994 (GATT 1994) Đặc biệt, Pakistan
đã bác bỏ những điều tra của Ủy ban rằng MBS của Pakistan và Tài trợ dài hạn của các dự án địnhhướng xuất khẩu (LTF-EOP) là phần trợ cấp đối kháng tùy thuộc vào hiệu suất xuất khẩu Pakistancũng tuyên bố rằng, trong phân tích nhân quả của Ủy ban, Ủy ban đã hành động không nhất quánvới Điều 15.5 của Hiệp định SCM Ngoài ra, Pakistan tuyên bố rằng Ủy ban đã hành động khôngnhất quán với Điều 12.6 của Hiệp định SCM liên quan đến nghĩa vụ tiết lộ kết quả chuyến thăm xácminh cho nhà sản xuất xuất khẩu ở Pakistan
1.3.2 Ý kiến của Liên minh châu Âu
Vào ngày 3 tháng 3 năm 2016, Liên minh châu Âu đã đệ trình yêu cầu phán quyết sơ bộ yêucầu Ban Hội thẩm ngừng giải quyết tranh chấp này vì các biện pháp đối kháng liên quan của EU đốivới PET từ Pakistan đã hết hạn vào ngày 30 tháng 9 năm 2015 Nếu Ban Hội thẩm từ chối yêu cầungừng giải quyết tranh chấp này, thì Ban Hội thẩm phải thay vào đó đưa ra tuyên bố rằng một sốyêu cầu của Pakistan nằm ngoài các điều khoản tham chiếu của Ủy ban theo các tiêu chuẩn đượcnêu trong Điều 6.2 của DSU
1.3.3 Nhận định của Ban Hội thẩm
Vào ngày 19 tháng 5 năm 2016, Ban Hội thẩm đã gửi một thông báo tới các bên rằng BanHội thẩm từ chối yêu cầu của Liên minh châu Âu rằng Ủy ban chấm dứt tất cả công việc trong tranhchấp này Ban Hội thẩm đã đưa ra lý do cho quyết định của mình trong Báo Ban Hội thẩm cũng đềcập trong Báo cáo của Ban Hội thẩm liên quan đến yêu cầu của Liên minh Châu âu về phán quyết sơ
bộ liên quan đến các điều khoản tham chiếu của Ban Hội thẩm theo Điều 6.2 của DSU1
1 Báo cáo của Ban Hội thẩm, đoạn 7.13
Trang 6Liên minh châu Âu đã yêu cầu Ủy ban chấm dứt tất cả công việc trong tranh chấp này bởi vìbiện pháp được đề cập đã hết hạn Liên minh châu Âu đề cập đến các điều 3.4, 3.7 và 11 của DSUcủng cố khẳng định rằng vai trò của một ban hội thẩm là đưa ra các khuyến nghị hoặc phán quyếtkhi những đóng góp này đảm bảo một giải pháp tích cực cho tranh chấp Theo Liên minh Châu Âu,khi biện pháp được đề cập đã hết hạn, có thể hiểu là đã bị "rút2" theo nghĩa 3.7 của DSU, và do đómột giải pháp tích cực đã được bảo đảm.
Pakistan yêu cầu Ban Hội thẩm từ chối yêu cầu của Liên minh châu Âu Dựa trên các báocáo của Cơ quan phúc thẩm trong quá khứ, Pakistan khẳng định rằng việc hết hạn của một biện phápkhông giới hạn thẩm quyền của Ban Hội thẩm để đưa ra các phát hiện liên quan đến biện pháp đó,
và một Ủy ban không thể từ chối điều chỉnh toàn bộ các tuyên bố mà nó có thẩm quyền Đặc biệt,Pakistan thông báo cho Ban Hội thẩm rằng MBS là đối tượng của các cuộc điều tra thuế đối khángkhác của các Thành viên WTO khác, bao gồm Hoa Kỳ và các Thành viên khác đã dựa vào quyếtđịnh của Liên minh Châu Âu cũng giống như một trong những lý do cho việc bắt đầu điều tra thuếđối kháng của họ
Ban Hội thẩm đã ghi nhận rằng biện pháp được đưa ra đã hết hạn vào ngày 30 tháng 9 năm
2015, tại thời điểm đó khoản thuế đối kháng đối với PET từ Pakistan đã bị loại bỏ Do đó, Ban Hộithẩm cho rằng biện pháp được đề cập đã chấm dứt hiệu lực pháp lý Đối với Ban Hội thẩm, điều này
có nghĩa là Liên minh Châu Âu không thể “rút” biện pháp được đề cập theo Điều 3.7 của DSU Ghichú của WTO và Cơ quan Phúc thẩm cho rằng các Ban Hội thẩm có quyết định trong quyết địnhliệu có nên đưa ra những ý kiện về các biện pháp đã hết hạn hay không, Ban Hội thẩm chỉ ra rằng họkhông xác định bất kỳ lý do gì để loại trừ vấn đề này
Khi quyết định cách thực hiện theo quyền tùy nghi, Ban Hội thẩm đầu tiên lưu ý rằng biệnpháp hết hạn sau khi Ủy ban đã được thành lập Thứ hai, Ban Hội thẩm đã xem xét thực tế làPakistan tiếp tục yêu cầu Ban Hội thẩm đưa ra các ý kiến liên quan đến biện pháp đã hết hạn Thứ
ba, Ban Hội thẩm coi đây là một khả năng hợp lý mà Liên minh châu Âu có thể áp dụng các biệnpháp đối kháng đối với hàng hóa Pakistan theo cách có thể dẫn đến một số mâu thuẫn WTO tiềm ẩngiống như, hoặc về mặt vật chất tương tự như những người bị cáo buộc trong vụ tranh chấp này Đặcbiệt, Ban Hội thẩm đã lưu ý khẳng định của Pakistan rằng một loạt các mặt hàng xuất khẩu củaPakistan được hưởng lợi từ MBS, và thực tế là các bên tranh chấp, ở cấp độ cơ bản, các cơ quanđiều tra nên xác định mức độ MBS có thể cấu thành các khoản trợ cấp đối ứng theo nghĩa của Hiệpđịnh SCM
2 Yêu cầu của Liên minh Châu âu, đoạn 34
Trang 7Ban Hội thẩm đã gửi Báo cáo cho các thành viên của WTO vào ngày 6/7/2017 Căn cứ vàocác Quy trình làm việc bổ sung của Ban Hội thẩm về Thông tin Bí mật Doanh nghiệp, Ủy ban đãbiên soạn lại một số thông tin nhất định từ Báo cáo của mình Trong đó, về thẩm quyền của Ban Hộithẩm báo cáo có nêu:
i. đối với yêu cầu của Liên minh châu Âu về phán quyết sơ bộ liên quan đến các điềukhoản tham chiếu của Ban Hội thẩm theo Điều 6.2 của DSU3;
ii. Ban Hội thẩm đã phát hiện rằng tuyên bố của Pakistan rằng Ủy ban đã hành động khôngnhất quán với Phụ lục II (II) (1) và / hoặc Phụ lục III (II) (2) đối với Hiệp định SCM "vìkhông kiểm tra được 'thực tiễn thương mại được chấp nhận chung' hiện hành ở Pakistankhi kiểm tra hệ thống xác minh và thủ tục theo MBS "nằm ngoài các điều khoản thamchiếu của Ban Hội thẩm vì Pakistan đã không trình bày rõ ràng vấn đề trong yêu cầuthành lập một ban hội thẩm4;
iii. Ban Hội thẩm đã bác bỏ sự phản đối của Liên minh châu Âu đối với tuyên bố củaPakistan theo Điều 1.1 (a) (1) (ii) của Hiệp định SCM, và do đó thấy rằng tuyên bố nàynằm trong các điều khoản tham chiếu của Ban Hội thẩm5;
iv. Ban Hội thẩm đã bác bỏ sự phản đối của Liên minh châu Âu đối với yêu cầu bồithường của Pakistan theo Điều 12.6 của Hiệp định SCM, và do đó thấy rằng tuyên bốnày nằm trong các thẩm quyền của Ban Hội thẩm6
Ban Hội thẩm giải thích rằng, do các biện pháp được đề cập trong tranh chấp này đã hết hạn,nên sẽ không đưa ra đề xuất nào cho Cơ quan Giải quyết Tranh chấp (DSB) theo Điều 19.1 củaDSU
Vào ngày 30 tháng 8 năm 2017, Liên minh châu Âu đã thông báo cho Cơ quan Giải quyếtTranh chấp, theo Điều 16.4 và 17 của DSU, về việc kháng nghị một số vấn đề nhất định được trìnhbày trong Báo cáo Ủy ban và một số giải thích pháp lý được Ủy ban soạn thảo và nộp Thông báoKháng cáo nộp đơn kháng cáo theo Quy tắc 20 và Quy tắc 21 của Quy trình làm việc đối với đánhgiá phúc thẩm
Vào ngày 4 tháng 9 năm 2017, Pakistan đã thông báo cho Cơ quan Giải quyết Tranh chấp, về
ý định kháng cáo của họ về một số vấn đề nhất định được trình bày trong Báo cáo Ủy ban và một số
3 Báo cáo của Ban Hội thẩm, đoạn 8.1.d.i
4 Báo cáo của Ban Hội thẩm, đoạn 8.1.d.ii
5 Báo cáo của Ban Hội thẩm, đoạn 8.1.d.iii
6 Báo cáo của Ban Hội thẩm, đoạn 8.1.d.iv
Trang 8giải thích pháp lý được Ủy ban soạn thảo và đệ trình Thông báo Kháng cáo khác và đệ trình củangười kháng cáo khác theo Quy tắc 23 của Thủ tục Làm việc.
Phiên điều trần trong kháng cáo được tổ chức vào ngày 8 và 9 tháng 2 năm 2018 Nguyênđơn, Bị đơn và bên có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã đưa ra những lời tuyên bố của họ và trả lờicác câu hỏi do Ủy ban đặt ra
2 Yêu cầu EU trước Cơ quan Phúc thẩm về vấn đề thẩm quyền của Ban Hội thẩm
Lập luận của Liên minh châu Âu như dưới đây:
Liên minh châu Âu bảo vệ quan điểm biện pháp được đề cập đến trong tranh chấp này đã hếthạn, vì vậy, biện pháp này không phải là đối tượng được đề cập hay xem xét đến trong tranh chấpnày Để củng cố cho lập luận của mình, Liên minh châu Âu đã đưa ra những nhận định như sau:
Liên minh châu Âu đệ trình rằng biện pháp được đề cập đã hết hạn và đã chấm dứt hiệu lựcpháp lý sau khi Ủy ban bắt đầu công việc của mình, từ đó đưa ra quyết định thực hiện giải quyếttranh chấp trước Ủy ban Liên minh châu Âu cho rằng Ban Hội thẩm đã bỏ qua các nghĩa vụ cơ bảncủa mình theo Điều 11 của DSU, theo thông báo của Điều 3 DSU, bằng cách quyết định đưa ranhững phát hiện về tuyên bố của Pakistan mặc dù đã hết hạn Do đó, Liên minh châu Âu yêu cầu Cơquan Phúc thẩm bác bỏ toàn bộ Báo cáo của Ban Hội thẩm và tuyên bố nhận định của Ban Hội thẩmkhông có hiệu lực pháp lý cùng các ý kiến và diễn trong đó7
Tuyên bố của Liên minh châu Âu căn cứ theo Điều 11 của DSU nêu lên các vấn đề liên quanđến quyền tài phán của Ban Hội thẩm trong việc giải quyết các tranh chấp và, cụ thể là các giới hạncủa Ban Hội thẩm trong việc thực thi thẩm quyền đó Đặc biệt, Liên minh châu Âu nêu bật các điều3.3, 3.4, 3.7, 3.8 và 3.9 như nhấn mạnh tuyên bố của mình theo Điều 11 của DSU Liên minh Châu
âu khẳng định rằng Điều 11 của DSU quy định việc thực hiện theo quyết định của một Ban Hộithẩm Liên minh châu Âu còn lập luận rằng Điều 3.3 của DSU, cho thấy rằng "việc giải quyết nhanhchóng các tình huống là rất cần thiết cho việc hoạt động hiệu quả của WTO", cho thấy việc giảiquyết các tranh chấp về các biện pháp sau khi hết thời hạn áp dụng, không còn bất kỳ ảnh hưởngnào làm mất đi bất kỳ lợi ích nào ", cả hai đều không cần thiết và trái với mục tiêu của hệ thống giảiquyết tranh chấp WTO"
Điều 3.3 DSU quy định “Việc giải quyết nhanh chóng tình huống, khi có một Thành viêncho rằng các lợi ích trực tiếp hay gián tiếp của mình có được theo những hiệp định có liên quan đang
7 Bản yêu cầu phúc thẩm của Liên minh châu Âu, đoạn 75
Trang 9bị xâm hại do những biện pháp của một Thành viên khác thực hiện, là vấn đề có ý nghĩa thiết yếuđối với việc thực hiện có hiệu quả chức năng của WTO và duy trì sự cân bằng thích hợp giữa cácquyền và nghĩa vụ của các Thành viên”
Liên minh châu Âu cũng nhấn mạnh rằng, theo điều 3.4 của DSU, một “sự giải quyết thỏađáng một vấn đề” đã đạt được trong tranh chấp này khi mà EU đã hủy bỏ biện pháp phòng vệ được
đề cập tới trong tranh chấp này Tương tự như vậy, khi dẫn chiếu đến điều 3.7 của DSU, EU chorằng trong tranh chấp này, việc hết hạn của biện pháp phòng vệ do EU đề ra trước đó được xem như
“một giải pháp tích cực cho tranh chấp8”, và “đã đạt được mục tiêu cho cuộc tranh chấp và đạt đượcmục tiêu đầu tiêu, hàng đầu của cơ chế giải quyết tranh chấp9”
EU còn lập luận rằng trên thực thế, việc hết hạn các biện pháp đối kháng ít nhất đã hìnhthành “suy đoán mặc định10” rằng các biện pháp này tiếp tục gây ra những “ảnh hưởng bất lợi11”theo cách hiểu của Điều 3.8 DSU Trong trường hợp này, EU tiếp tục đưa ra quan điểm rằng việctiếp tục tiến hành giải quyết tranh chấp này sẽ rất vô nghĩa, bởi lẽ không và sẽ không có sự “vô hiệuhay suy giảm12” nào trong hoạt động thương mại (theo GATT 1994)
EU cũng đưa ra quan điểm rằng quy trình giải quyết tranh chấp của WTO nhằm mục đích đểđưa ra một giải pháp tích cực cho tranh chấp và không nên được thực hiện như là một phương điện
để có được “ý kiến tư vấn về một vấn đề pháp lý13” Dựa vào điều 3.9 của DSU (Những quy địnhcủa Thỏa thuận này không làm phương hại đến các quyền của các Thành viên muốn được giải thíchtheo thẩm quyền các điều khoản của hiệp định có liên quan thông qua việc ra quyết định theo Hiệpđịnh WTO hoặc một hiệp định có liên quan là một Hiệp định Thương mại tuỳ nghi của một sốThành viên), EU cho rằng những thủ tục khác cho phép Các thành viên có được sự giải thích mộtcách hợp lý về các điều khoản của một hiệp định được WTO điều chỉnh mà không nên làm phươnghại đến các quyền và nghĩa vụ của WTO
EU bác bỏ sự xem xét của Ban Hội thẩm về “khả năng hợp lý” rằng EU có thể áp dụng biệnpháp đối kháng với hàng hóa của Pakistan theo cách đã làm nổi lên tranh chấp tương tự hoặc trùng
8 Bản yêu cầu phúc thẩm của Liên minh châu Âu, đoạn 38
9 Bản yêu cầu phúc thẩm của Liên minh châu Âu, đoạn 38
10 Báo cáo của Ban Hội thẩm, đoạn 7.13
11 Báo cáo của Ban Hội thẩm, đoạn 7.13
12 Báo cáo của Ban Hội thẩm, đoạn 7.13
13 Bản yêu cầu phúc thẩm của Liên minh châu Âu, đoạn 46 và 51-52
Trang 10khớp với mâu thuẫn bị cáo buộc trong tranh chấp này EU cho rằng, trong thập kỉ vừa qua, biện phápđối kháng duy nhất mà EU áp dụng đối với hàng hóa của Pakistan là những biện pháp được đề cậptới trong tranh chấp này Theo EU, Ban Hội thẩm đã có sai sót trong việc kiểm tra các biên bản, ghinhận về các điều tra về các biện pháp đối kháng của EU đối với Pakistan và giả định rằng đó là một
“nguy cơ” của việc áp đặt lại các biện pháp đã hết hạn Tuy nhiên EU khẳng định rằng không có mộtnguy cơ nào như vậy đối với PET hay bất kì sản phẩn nào của Pakistan Đối với EU, Ban Hội thẩm
đã làm rõ những điều khoản hiện có của SCM ngoài bối cảnh giải quyết một vấn đề cụ thể trongtranh chấp
3 Phân tích nhận định của Cơ quan Phúc thẩm
3.1 Nhận định của Cơ quan Phúc thẩm về lập luận của Liên minh châu Âu
Điều 6.1 của DSU quy định rằng DSB có quyền thành lập Ban Hội thẩm theo yêu cầu củaThành viên khiếu nại Điều 6.2 của DSU quy định các yêu cầu áp dụng cho yêu cầu của Thành viênkhiếu nại về việc thành lập một Ban Hội thẩm Một yêu cầu thành lập Ban Hội thẩm phải đáp haiyêu cầu riêng biệt: (i) xác định các biện pháp cụ thể đang được đề cập14; và (ii) cung cấp một bảntóm tắt ngắn gọn về cơ sở pháp lý của khiếu nại (hoặc các khiếu nại)15 Cùng với nhau, hai yếu tốđược đề cập trong Điều 6.2 của DSU - các biện pháp cụ thể và các yêu cầu - bao gồm "vấn đề được
đề cập đến DSB", tạo cơ sở cho các điều khoản tham chiếu của Ban Hội thẩm theo Điều 7.1 củaDSU khiến cho Ban Hội thẩm được thiết lập bởi DSB Vì vậy, bằng cách thành lập Ban Hội Thẩm,DSB cũng thiết lập thẩm quyền đối với Ban Hội thẩm đó để xem xét "vấn đề" trước đó, như đượcquy định bởi các điều khoản tham chiếu của Ban Hội thẩm
Khi thẩm quyền của Ban Hội thẩm được thiết lập, những thẩm quyền này phải được yêu cầunhấn mạnh những “vấn đề” trước nó căn cứ theo điều 11 của DSU: “Chức năng của ban hội thẩm làgiúp DSB làm tròn trách nhiệm theo Thỏa thuận này và các hiệp định có liên quan Do đó, ban hộithẩm cần phải phải đánh giá một cách khách quan về các vấn đề đặt ra cho mình, gồm cả việc đánhgiá khách quan các tình tiết của vụ việc và khả năng áp dụng và sự phù hợp với các hiệp định có liênquan, và đưa ra những nhận xét, kết luận khác có thể giúp DSB trong việc đưa ra các khuyến nghịhoặc các phán quyết được quy định trong các hiệp định có liên quan Ban hội thẩm cần phải đều đặntham vấn với các bên tranh chấp và tạo cho họ những cơ hội thích hợp để đưa ra một giải pháp thỏađáng đối với cả hai bên”
14 Báo cáo của Ban Hội thẩm, đoạn 8.1.a.i
15 Báo cáo của Ban Hội thẩm, đoạn 8.1.a.ii
Trang 11Ban Hội thẩm của WTO có các quyền hạn nhất định vốn có trong chức năng xem xét vụ việccủa họ theo Điều 11 của DSU Ví dụ, Ban Hội thẩm có quyền xác định liệu họ có thẩm quyền trongmột trường hợp cụ thể và để xác định phạm vi và giới hạn của quyền hạn đó, như được định nghĩabởi các điều khoản tham chiếu Ban Hội thẩm cũng có “một phạm vi cụ thể để giải quyết trên cơ sởtuân theo đúng quy trình, với các tình huống cụ thể có thể phát sinh trong một trường hợp cụ thể màkhông được quy định rõ ràng.16”.
Vì vậy, Ban Hội thẩm có phạm vi quyết định trong việc thực hiện quyền hạn xét xử vốn cócủa nó Tuy nhiên, theo báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm trong vụ Mexico – Taxes on Soft Drinks, nókhông nhất thiết phải tuân theo sự tồn tại của các quyền xét xử vốn có này, khi quyền tài phán đãđược thiết lập hợp lệ, một Ban Hội thẩm của WTO có quyền từ chối thực thi quyền tài phán Cơquan Phúc thẩm lưu ý, trong trường hợp đó, quyết định của một Ban Hội thẩm từ chối thực hiệnquyền tài phán được thiết lập hợp lệ sẽ có vẻ "làm giảm" quyền của Thành viên khiếu nại để "tìmcách giải quyết vi phạm nghĩa vụ17 "theo nghĩa 23 của DSU Pakistan đề cập đến những tuyên bốcủa Cơ quan phúc thẩm ở vụ việc Mexico – Taxes on Soft Drinks để ủng hộ lập luận của họ rằng"nếu Ban Hội thẩm không có đủ các biện pháp cần thiết được đặt ra trước đó, nó tương đương vớiviệc sai phạm trong từ chối một một khiếu nại liên quan đến quyền của thành viên trong WTO của.”
Cơ quan Phúc thẩm trong vụ việc này xem xét lại vụ việc Mexico – Taxes on Soft Drinks liên quanđến yêu cầu của Mexico rằng Ban Hội thẩm trong cuộc tranh chấp đó đã từ chối thực thi quyền tàiphán của mình về để vấn đề có thể được xem xét, trong bối cảnh "tranh chấp rộng hơn", bởi một Ủyban được thành lập theo Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA) Việc từ chối yêu cầu đó
đã bị kháng cáo bởi Mexico Trong tranh chấp đó, Cơ quan Phúc thẩm nhấn mạnh rằng "lưu ý đếnvấn đề mà Mexio kháng cáo18", và bày tỏ "quan điểm liệu có thể có những hoàn cảnh khác mà trong
đó các trở ngại pháp lý có thể tồn tại mà sẽ ngăn cản Ban Hội thẩm khỏi phán quyết về giá trị củacác tuyên bố trước đó19"
Trong vụ việc này, Cơ quan Phúc thẩm nhận thấy rằng có những trường hợp, được quy định
rõ ràng trong DSU, trong đó Ban Hội thẩm có thẩm quyền đã được thiết lập hợp lệ bởi DSB bị loạitrừ khỏi phán quyết về giá trị của các tuyên bố trước đó Ví dụ, khi các bên tranh chấp dẫn đến mộtgiải pháp thỏa đáng lẫn nhau, Điều 12.7 của DSU quy định rằng "Khi các bên tranh chấp không tìm
16 Báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm, đoạn 5.23
17 Báo cáo của Ban Hội thẩm trong tranh châp Mexico – Taxes on Soft Drinks, đoạn 5.45
18 Báo cáo của Ban Hội thẩm trong tranh châp Mexico – Taxes on Soft Drinks, đoạn 5.45
19 Báo cáo của Ban Hội thẩm trong tranh châp Mexico – Taxes on Soft Drinks, đoạn 5.45
Trang 12ra được một giải pháp thỏa đáng cho cả hai bên, thì ban hội thẩm phải đệ trình bản ý kiến của mìnhdưới dạng báo cáo bằng văn bản lên DSB Trong trường hợp như vậy, bản báo cáo của ban hội thẩmphải đưa ra các ý kiến về các tình tiết, về khả năng áp dụng các điều khoản liên quan và lý lẽ đằngsau bất cứ kết luận và khuyến nghị nào được đưa ra Nếu có sự hoà giải giải quyết vấn đề giữa cácbên tranh chấp, thì bản báo cáo của ban hội thẩm phải được hạn chế ở mức mô tả ngắn gọn về vụviệc này và báo cáo rằng đã đạt được một giải pháp" Tương tự, theo Điều 12.12 của DSU, Ban hộithẩm có thể tạm ngừng công việc bất cứ lúc nào theo yêu cầu của bên nguyên đơn trong một thờihạn không quá 12 tháng Trong trường hợp tạm ngừng như vậy, các thời hạn được nêu tại khoản 8
và 9 của Điều này, khoản 1 của Điều 20, và khoản 4 của Điều 21 phải được kéo dài một khoảng thờigian bằng thời gian công việc đó bị tạm ngừng Nếu công việc của ban hội thẩm bị tạm ngừng hơn
12 tháng, thì thẩm quyền thành lập ban hội thẩm phải hết thời hiệu
Hơn nữa, đối với tranh chấp này, Cơ quan Phúc thẩm ghi nhận rằng Liên minh châu Âu rằngkhông có vướng mắc gì rằng Ban Hội thẩm trong tranh chấp này có thẩm quyền để quy định vấn đềnày Thay vào đó, Liên minh châu Âu lập luận rằng Ban Hội thẩm, trong việc thực thi quyền tàiphán của mình, "đã thực hiện sai quyền hạn của mình khi vi phạm Điều 11 của DSU khi đưa ra kếtluận trong tranh chấp này", mặc dù các biện pháp do Liên minh Châu âu đưa ra đã hết thời hạn ápdụng Cơ quan Phúc thẩm cho rằng Ban Hội thẩm có quyền quyết định trong việc thực hiện quyềntài phán vốn có của mình theo Điều 11 của DSU Trong phạm vi quyền hạn này, Ban Hội thẩm sẽquyết định cách tính đến các sửa đổi tiếp theo, hoặc hết hạn hoặc bãi bỏ, biện pháp được đề cập Cơquan Phúc thẩm cho rằng, các biện pháp đã hết thời hạn áp dụng trước đó không bác bỏ thẩm quyềncủa Ban Hội thẩm về biện pháp này Do đó, Cơ quan Phúc thẩm có cơ sở để phân biệt giữa một tìnhhuống trong đó một Ủy ban WTO từ chối thực thi quyền tài phán của mình ngay từ đầu của một tiếntrình ủng hộ một diễn đàn xét xử khác và một tình huống trong đó thực hiện thẩm quyền của mìnhđánh giá liệu "vấn đề" trước đó, theo mục đích của Điều 7.1 và Điều 11 của DSU, đã được giảiquyết hoàn toàn hay vẫn cần phải được kiểm tra sau khi đã hết thời hạn áp dụng20
Thực tế, các lập luận của Liên minh châu Âu ủng hộ tuyên bố của mình theo Điều 11 liênquan đến kháng cáo chủ yếu dựa vào các điều khoản của Điều 3 của DSU Đặc biệt, Liên minh châu
Âu nêu bật các điều 3.3, 3.4, 3.7, 3.8 và 3.9 như nhấn mạnh tuyên bố của mình theo Điều 11 củaDSU Liên minh Châu âu khẳng định rằng Điều 11 của DSU quy định việc thực hiện theo quyếtđịnh của một Ban Hội thẩm Đối với Liên minh Châu Âu, trong việc thực hiện theo quyết định củamình, một Ban Hội thẩm phải tính đến mục đích mà cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO phục vụ,
20 Báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm, đoạn 5.33
Trang 13như được quy định tại Điều 3 của DSU Liên minh châu Âu không tranh cãi theo Điều 11 của DSUđộc lập với các lập luận của nó theo Điều 3 Theo đó, Cơ quan Phúc thẩm xem xét các quy định cụthể của Điều 3 được Liên minh châu Âu nhắc đến để xem xét về việc thực hiện chức năng của BanHội thẩm theo Điều 11 của DSU.
Những ý kiến của EU phản ánh đề xuất của EU cho rằng tranh chấp này không nên được đưa
ra sau khi các biện pháp phòng vệ của EU không còn tồn tại Tuy nhiên, “Cơ quan Phúc thẩm đã bác
bỏ quan điểm của EU rằng việc bãi bỏ các biện pháp phòng vệ là ‘sự giải quyết thỏa đáng’ theo cáchhiểu của điều 3.4, hay là ‘một giải pháp tích cực cho tranh chấp’ theo cách hiểu của điều 3.7”21.Thực tế, việc biện pháp phòng vệ của EU hết hiệu lực không loại bỏ được câu hỏi liệu rằng Ban Hộithẩm có thể giải quyết các khiếu nại liên quan đến biện pháp đó hay không
Liên quan đến vấn đề này, Cơ quan Phúc thẩm nhắc lại về “vấn đề” được đưa ra trước BanHội thẩm theo quy định tại Điều 11 của DSU là “một vấn đề được đưa ra trước DSB” theo lời yêucầu của một Thành viên theo cách hiểu của điều 7.1 DSU Như đã được đề cập ở trên, “vấn đề” nàybao gồm những biện pháp cụ thể trong yêu cầu của Pakistan Thật vậy, theo quy định tại Điều 11DSU, Ban Hội thẩm có nghĩa vụ “ đánh giá một cách khách quan về các vấn đề đặt ra cho mình,gồm cả việc đánh giá khách quan các tình tiết của vụ việc và khả năng áp dụng và sự phù hợp vớicác hiệp định có liên quan, và đưa ra những nhận xét, kết luận khác có thể giúp DSB trong việc đưa
ra các khuyến nghị hoặc các phán quyết được quy định trong các hiệp định có liên quan” Vì vậy,việc biện pháp đối kháng mà EU đưa ra đã hết hạn không làm tách biệt với “vấn đề” mà Ban Hộithẩm phải xem xét Theo điều 7.2 DSU thì “Ban hội thẩm phải xử lý các điều khoản liên quan trongbất kỳ hiệp định có liên quan nào hoặc các hiệp định được các bên tranh chấp dẫn chiếu tới22” Vìvậy, dưới quan điểm của Cơ quan Phúc thẩm, họ cho rằng việc các biện pháp đối kháng hết hạn saukhi Ban Hội thẩm được thành lập không cấu thành việc Ban Hội thẩm thực hiện nhiệm vụ của BanHội thẩm theo Điều 11 DSU một cách không cần thiết
Cơ quan Phúc thẩm cho rằng, bằng việc nhấn mạnh về vấn đề “vô hiệu hoặc suy giảm” trongthương mại, EU đã hiểu điều 3.8 DSU theo một nghĩa khác Bởi vì “sự vi phạm những nghĩa vụ đãcam kết trong thỏa thuận” thiết lập suy đoán mặc định về (một sự suy đoán dựa trên những hành vi,biểu hiện, chứng cứ… ban đầu mà sẽ trở thành một tình tiết của vụ việc trừ phi có bên phản đối vàđưa ra được minh chứng cho sự phản đối này) “sự vô hiệu hay suy giảm”, việc đưa ra sự vô hiệu haysuy giảm không phải là điều kiện tiên quyết để vụ việc được đưa ra giải quyết tranh chấp dưới các
21 Báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm, đoạn 5.26
22 Báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm, đoạn 5.28