Trong lĩnh vực cơ khí nói chung là phải dựa vào thuật ngữ tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Pháp, v.v… Chính vì vậy, việc khảo sát, so sánh sự tương đồng và dị biệt về đặc điểm cấu tạo thuật n
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN NGỌC ĐỨC
ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ CƠ KHÍ
TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
Ngành: Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu
Mã số: 9 22 20 24
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Hùng Việt
HÀ NỘI -2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đề tài luận án tiến sĩ “Đối chiếu thuật ngữ cơ khí trong tiếng Anh và tiếng Việt” là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu của riêng
tôi
Các số liệu được sử dụng trong luận án hoàn toàn được thu thập từ thực
tế, chính xác, đáng tin cậy, có nguồn gốc rõ ràng, được xử lý trung thực khách quan, chưa từng được ai công bố ở đâu và trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Trần Ngọc Đức
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Luận án được nghiên cứu sinh (NCS) thực hiện tại Khoa Ngôn ngữ học, Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Phạm Hùng Việt
NCS xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Phạm Hùng Việt
đã tận tình chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm trong quá trình hướng dẫn NCS hoàn thành nội dung luận án ngày hôm nay
NCS xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, các thầy cô giáo Khoa Ngôn ngữ học của Học viện Khoa học xã hội đã giúp đỡ và tạo điều kiện để NCS hoàn thành luận án
NCS xin chân thành cảm ơn các Nhà khoa học trong và ngoài Học viện
đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu giúp NCS kịp thời bổ sung, hoàn thiện nội dung luận án
NCS xin chân thành cảm ơn sự hỗ trợ, giúp đỡ nhiệt tình từ các cá nhân,
tổ chức đã tạo điều kiện giúp đỡ trong quá trình thu thập số liệu, tài liệu phục
vụ cho mục đích nghiên cứu
NCS xin chân thành cảm ơn gia đình và đồng nghiệp là những người luôn ở bên cạnh, hỗ trợ về mặt tinh thần và chia sẻ những lúc khó khăn trong quá trình học tập, nghiên cứu
Một lần nữa, nghiên cứu sinh xin trân trọng cảm ơn!
Trang 5iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 9
1.1 Tình hình nghiên cứu về thuật ngữ 9
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về thuật ngữ trên thế giới 9
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về thuật ngữ ở Việt Nam 13
1.1.3 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ cơ khí trong tiếng Anh 24
1.1.4 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ cơ khí trong tiếng Việt 25
1.2 Cơ sở lý luận về thuật ngữ 27
1.2.1 Quan niệm về “thuật ngữ” 27
1.2.2 Phân biệt thuật ngữ và một số khái niệm liên quan 29
1.2.3 Tiêu chuẩn của thuật ngữ 32
1.2.4 Đơn vị cấu tạo thuật ngữ 38
1.2.5 Khái quát về cơ khí và thuật ngữ cơ khí 40
1.3 Về nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ 45
1.4 Tiểu kết 48
CHƯƠNG 2: ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA THUẬT NGỮ CƠ KHÍ TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 51
2.1 Đặc điểm về phương thức cấu tạo thuật ngữ cơ khí tiếng Anh và tiếng Việt 52
2.1.1 Phương thức cấu tạo thuật ngữ cơ khí tiếng Anh 52
2.1.2 Phương thức cấu tạo thuật ngữ cơ khí tiếng Việt 56
2.2 Đặc điểm số lượng thành tố cấu tạo thuật ngữ cơ khí tiếng Anh và tiếng Việt 59
2.3 Đặc điểm về từ loại của thuật ngữ cơ khí tiếng Anh và tiếng Việt 60
2.3.1 Thuật ngữ cơ khí có cấu tạo một thành tố 60
2.3.2 Thuật ngữ cơ khí có cấu tạo hai thành tố 63
2.3.3 Thuật ngữ cơ khí có cấu tạo ba thành tố 69
Trang 6iv
2.3.4 Thuật ngữ cơ khí có cấu tạo bốn thành tố 75
2.3.5 Thuật ngữ cơ khí là từ viết tắt 76
2.4 Đặc điểm về mô hình cấu tạo thuật ngữ cơ khí tiếng Anh và tiếng Việt 77
2.4.1 Mô hình cấu tạo 1 77
2.4.2 Mô hình cấu tạo 2 78
2.4.3 Mô hình cấu tạo 3 79
2.4.4 Mô hình cấu tạo 4: 79
2.4.5 Mô hình cấu tạo 5 80
2.4.6 Mô hình cấu tạo 6 81
2.4.7 Mô hình cấu tạo 7 81
2.4.8 Mô hình cấu tạo 8 82
2.4.9 Mô hình cấu tạo 9 83
2.4.10 Mô hình cấu tạo 10 83
2.4.11 Mô hình cấu tạo 11 84
2.4.12 Mô hình cấu tạo 12 84
2.4.13 Mô hình cấu tạo 13 85
2.4.14 Mô hình cấu tạo 14 86
2.4.15 Mô hình cấu tạo 15 86
2.5 Tiểu kết 89
CHƯƠNG 3: ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM ĐỊNH DANH CỦA THUẬT NGỮ CƠ KHÍ TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 91
3.1 Vấn đề định danh ngôn ngữ và định danh thuật ngữ 91
3.1.1 Định danh ngôn ngữ 92
3.1.2 Đặc điểm định danh của thuật ngữ 93
3.2 Đặc điểm định danh của thuật ngữ cơ khí 94
3.2.1 Đặc điểm định danh của thuật ngữ cơ khí theo kiểu ngữ nghĩa của thuật ngữ……… 94
3.2.2 Đặc điểm định danh của thuật ngữ cơ khí theo cách thức biểu thị của thuật ngữ……… 95
3.3 Mô hình định danh thuật ngữ cơ khí 100
Trang 7v
3.3.1 Mô hình định danh thuật ngữ cơ khí chỉ cơ học 100
3.3.2 Mô hình định danh thuật ngữ cơ khí chỉ vật liệu 105
3.3.3 Mô hình định danh thuật ngữ cơ khí chỉ máy và dụng cụ 110
3.3.4 Mô hình định danh thuật ngữ cơ khí chỉ công nghệ chế tạo 114
3.3.5 Mô hình định danh thuật ngữ cơ khí chỉ chủ thể 121
3.3.6 Mô hình định danh thuật ngữ cơ khí chỉ an toàn và môi trường công nghiệp……… 127
3.4 Một số đề xuất phương hướng về việc xây dựng và chuẩn hóa thuật ngữ cơ khí tiếng Việt 132
3.5 Tiểu kết 137
KẾT LUẬN 139
TÀI LIỆU THAM KHẢO 145
PHỤ LỤC 1 156
PHỤ LỤC 2 183
PHỤ LỤC 3 211
Trang 8vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Phương thức cấu tạo TNCK tiếng Anh và tiếng Việt 58
Bảng 2.2: Thành tố cấu tạo TNCK tiếng Anh và tiếng Việt 59
Bảng 2.3: TNCK tiếng Anh có cấu tạo một thành tố 61
Bảng 2.4: TNCK tiếng Việt có cấu tạo một thành tố 63
Bảng 2.5: TNCK tiếng Anh có cấu tạo hai thành tố 67
Bảng 2.6: TNCK tiếng Việt có cấu tạo hai thành tố 68
Bảng 2.7: TNCK tiếng Anh có cấu tạo ba thành tố 70
Bảng 2.8: TNCK tiếng Việt có cấu tạo ba thành tố 74
Bảng 2.9: TNCK tiếng Anh và tiếng Việt có cấu tạo bốn thành tố 76
Bảng 2.10: Tổng hợp mô hình cấu tạo thuật ngữ cơ khí tiếng Anh và tiếng Việt 87
Bảng 3.1: Mô hình định danh TNCK chỉ cơ học trong tiếng Anh và tiếng Việt 104
Bảng 3.2: Mô hình định danh TNCK chỉ vật liệu trong tiếng Anh và tiếng Việt 109
Bảng 3.3: Mô hình định danh TNCK chỉ máy và dụng cụ trong tiếng Anh và tiếng Việt 113
Bảng 3.4: Mô hình định danh TNCK chỉ công nghệ chế tạo trong tiếng Anh và tiếng Việt 120
Bảng 3.5: Mô hình định danh TNCK chỉ chủ thể trong tiếng Anh và tiếng Việt 126
Bảng 3.6: Mô hình định danh TNCK chỉ an toàn và môi trường công nghiệp trong tiếng Anh và tiếng Việt 131
Trang 9
1
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Những năm đầu của thế kỷ XXI, nhân loại được chứng kiến nhiều biến đổi sâu rộng lớn của thế giới, nhất là sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, mà đặc trưng là các ngành công nghệ cao như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ năng lượng mới, công nghệ hàng không và vũ trụ đang tác động sâu rộng đến mọi lĩnh vực của đời sống, kinh tế, chính trị quốc tế, làm thay đổi diện mạo thế giới đương đại Trong sự phát triển vĩ đại đó, ngành công nghiệp cơ khí đóng vai trò có tính nền tảng và có sự hiện diện hầu như trong tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội của cộng đồng quốc tế
Ở nước ta, trong những năm gần đây, ngành cơ khí đã có những bước phát triển và đạt được những kết quả đáng ghi nhận Điển hình như việc đổi mới về cơ chế chính sách, nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối với hoạt động của ngành, nâng cao hiệu quả đầu tư và sản xuất kinh doanh đầu tư nâng cấp các cơ sở đào tạo, phát triển nguồn nhân lực và phát triển khoa học công nghệ Tuy nhiên, công tác nghiên cứu về thuật ngữ cơ khí (TNCK) - một lĩnh vực có tầm ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển khoa học và kỹ thuật của ngành cơ khí còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội Trên thực tế, việc xây dựng các hệ thống thuật ngữ khoa học tiếng Việt thường phải dựa vào các hệ thống thuật ngữ nước ngoài Trong lĩnh vực cơ khí nói chung là phải dựa vào thuật ngữ tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Pháp, v.v… Chính vì vậy, việc khảo sát, so sánh sự tương đồng và dị biệt về đặc điểm cấu tạo thuật ngữ, đặc điểm định danh của thuật ngữ và vấn đề chuẩn hóa TNCK nhằm giúp ích cho việc nâng cao năng lực sử dụng ngoại ngữ trong lĩnh vực chuyên ngành cơ khí, biên soạn từ điển đối dịch và từ điển giải thích chuyên ngành là một công việc cần thiết và cấp bách, cần phải được triển khai nghiên cứu
Trang 102
Gần 20 năm công tác và giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành cơ khí tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội, chúng tôi nhận thấy việc giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành như thế nào để giúp cho người học có thể nắm bắt và sử dụng thuật ngữ chuyên ngành nói chung và thuật ngữ chuyên ngành cơ khí nói riêng một cách chính xác là rất quan trọng Vì việc sử dụng chính xác thuật ngữ chuyên ngành không chỉ giúp cho người học có thể tìm hiểu chuyên sâu hơn về lĩnh vực chuyên môn của mình thông qua đọc hiểu thêm nhiều tài liệu chuyên môn trên các website, các trang mạng xã hội, các trang mạng tìm kiếm, tạp chí bằng tiếng Anh mà còn có cơ hội tham gia các cuộc hội thảo, báo cáo khoa học, trao đổi chuyên môn quốc tế Đây là một vấn đề lớn luôn làm chúng tôi trăn trở
Trên thực tế đã có nhiều công trình nghiên cứu cả trong nước và ngoài nước đi sâu phân tích những sự tương đồng và khác biệt giữa tiếng Anh với tiếng Việt về nhiều lĩnh vực Tuy nhiên, số lượng các công trình, bài nghiên cứu liên quan đến thuật ngữ chuyên ngành vẫn còn hạn chế Đặc biệt, những công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu đối chiếu TNCK trong hai ngôn ngữ tiếng Anh và tiếng Việt chưa có Cho nên việc đối chiếu TNCK trong tiếng Anh và tiếng Việt về hai phương diện đặc điểm cấu tạo thuật ngữ và đặc điểm định danh của thuật ngữ là một việc làm hữu ích và cần thiết
Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu ”Đối chiếu thuật
ngữ cơ khí trong tiếng Anh và tiếng Việt” để thực hiện luận án
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích
Nghiên cứu của luận án nhằm làm sáng tỏ đặc trưng về mặt cấu tạo và định danh của hệ thống TNCK trong tiếng Anh và tiếng Việt Trên cơ sở đó luận án xác định được những điểm tương đồng và khác biệt giữa hệ thống TNCK ở hai ngôn ngữ cũng như tìm ra được những điểm cần lưu ý khi xây dựng TNCK tiếng Việt Kết quả nghiên cứu của luận án cũng là cơ sở cho
Trang 113
việc đề xuất chuẩn hóa TNCK tiếng Việt, góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo chuyên ngành cơ khí ở Việt Nam
2.2.Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận án cần tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Xác lập các quan điểm lý luận về thuật ngữ, về ngôn ngữ học đối chiếu
để từ đó xác lập cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu;
- Mô tả đặc điểm cấu tạo và đặc điểm định danh TNCK trong tiếng Anh
và tiếng Việt;
- Đối chiếu đặc điểm cấu tạo của TNCK trong tiếng Anh với tiếng Việt;
- Đối chiếu đặc điểm định danh của TNCK trong tiếng Anh với tiếng Việt (về các mặt: kiểu ngữ nghĩa của thuật ngữ và cách thức biểu thị biểu thị của thuật ngữ);
- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, luận án xác định, nêu phương hướng, biện pháp để có thể xây dựng và chuẩn hóa TNCK tiếng Việt, góp phần nâng cao hoạt động giảng dạy, học tập và nghiên cứu tiếng Anh chuyên ngành cơ khí nói riêng cũng như chuyên ngành cơ khí nói chung ở Việt Nam
3 Đối tƣợng, tƣ liệu và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng và tư liệu nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là 1927 TNCK tiếng Anh và 1927 TNCK tiếng Việt tương ứng được tổng hợp, thu thập dựa theo tiêu chí của
thuật ngữ từ quyển Từ điển cơ khí Anh-Việt, Nguyễn Hạnh, Nxb Từ điển
Bách khoa (2006) Các thuật ngữ biểu đạt các khái niệm được sử dụng trong
lĩnh vực cơ khí, bao gồm: cơ học, vật liệu, máy và dụng cụ, công nghệ chế
tạo, chủ thể, an toàn và môi trường công nghiệp Tên riêng của các cơ quan,
tổ chức, tên các nhân vật lịch sử liên quan đến cơ khí không nằm trong phạm
vị nghiên cứu của luận án
Trang 124
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Để chọn và thu thập được đúng các thuật ngữ thuộc đối tượng nghiên cứu của luận án, cần phân biệt chuyên ngành cơ khí với một số lĩnh vực có liên quan Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy ngoài các thuật ngữ của riêng chuyên ngành cơ khí, còn rất nhiều thuật ngữ được dùng trong nhiều ngành khoa học khác có liên quan (công nghệ thông tin, điện, điện tử, động lực, hóa học, v.v…) Bên cạnh đó, nhiều TNCK tiếng Anh khi được chuyển dịch sang thuật ngữ tiếng Việt có hình thức miêu tả, giải thích hoặc chưa rõ ràng về nghĩa Vì vậy, phạm vi nghiên cứu của luận án này chỉ là những thuật ngữ điển hình có đặc thù riêng biệt trong lĩnh vực ngành cơ khí Đối với những TNCK tiếng Anh có nhiều cách dịch sang tiếng Việt tạo thành những thuật
ngữ đồng nghĩa thì luận án chỉ chọn TNCK tiếng Việt tương đương đầu tiên
trong từ điển, vì đây là thuật ngữ tiếng Việt đã được người dịch coi là chuẩn xác hơn cả trong số các thuật ngữ đồng nghĩa Dựa theo cơ sở đó, trong tổng
số hơn 2000 thuật ngữ được thu thập, khảo sát trong cuốn từ điển Từ điển cơ
khí Anh-Việt, Nguyễn Hạnh, Nxb Từ điển Bách khoa (2006), chúng tôi lựa
chọn được 1927 TNCK tiếng Anh và 1927 TNCK tiếng Việt tương đương để phân tích, đối chiếu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là so sánh đối chiếu một chiều và tập trung nghiên cứu, đối chiếu đặc điểm cấu tạo, đặc điểm định danh của hệ TNCK trong tiếng Anh và tiếng Việt
4 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu cơ bản được áp dụng trong luận án, cụ thể:
- Phương pháp miêu tả
Để phân tích, mô tả rõ các đặc điểm cấu tạo và các đặc điểm định danh của TNCK, luận án áp dụng phương pháp quan sát, miêu tả ngôn ngữ như một hệ thống - cấu trúc ở mọi bình diện, cấp độ, thuộc tính, v.v…của các đơn
Trang 135
vị ngôn ngữ, những mối liên hệ, quan hệ, cách thức tổ chức và trật tự tôn ti, v.v…của chúng theo một quan điểm hoặc trường phái (quan điểm truyền thống, cấu trúc, cải biến tạo sinh, tầng bậc, chức năng, tri nhận, v.v…) trên nguyên tắc:
i) Phân biệt đơn vị ngôn ngữ (khách quan) và đơn vị phân tích (chủ quan
do người nghiên cứu đặt ra);
ii) Phân biệt đơn vị ngôn ngữ (chung, khái quát) và các dấu hiệu thuộc tính của nó (riêng, bộ phận hợp thành của đơn vị);
iii) Phân biệt những thủ pháp cơ bản luận giải bên trong (thuộc về nội bộ ngôn ngữ) và thủ pháp luận giải bên ngoài (ngoài cấu trúc ngôn ngữ) và luận giải kỹ thuật (dùng biện pháp kỹ thuật) được áp dụng
- Phương pháp đối chiếu
Đây là phương pháp được sử dụng chính trong luận án vì mục đích của luận án là đối chiếu hệ TNCK tiếng Anh với hệ TNCK tiếng Việt về cấu tạo, ngữ nghĩa và cách sử dụng Trên cơ sở đó tìm ra các điểm tương đồng và các điểm khác biệt giữa hai hệ thuật ngữ, làm cơ sở đưa ra các định hướng chuẩn hóa TNCK tiếng Việt cho phù hợp
- Phương pháp phân tích thành tố trực tiếp
Phương pháp này giúp xác định các yếu tố tạo nên thuật ngữ thông qua việc phân tích cấu tạo thuật ngữ theo thành tố trực tiếp Từ đó tìm ra các nguyên tắc cơ sở tạo thành TNCK trong tiếng Anh và tiếng Việt, xác định các
mô hình và các quy tắc cấu tạo
- Thủ pháp thống kê, phân loại
Thủ pháp này được sử dụng để chúng tôi tính toán tần số xuất hiện và tần số sử dụng của các thuật ngữ, từ đó có được các số liệu cụ thể làm cơ sở xác thực cho những kết luận trong quá trình nghiên cứu Kết quả thống kê được trình bày thành các bảng biểu, các con số thông qua các mô hình hay tỉ
Trang 146
lệ phần trăm Những kết quả thu được giúp xác định các đặc trưng cơ bản về cấu trúc hình thức và cấu trúc ngữ nghĩa, v.v… của TNCK tiếng Anh, tiếng Việt Kết quả số liệu thống kê được sử dụng làm cơ sở cho việc nghiên cứu, đối chiếu TNCK trong hai thứ tiếng
5 Cái mới của luận án
Có thể nói đây là luận án đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu đối chiếu TNCK tiếng Anh với tiếng Việt trên phương diện đặc điểm cấu tạo, đặc điểm định danh
Luận án chỉ ra hiện trạng của TNCK tiếng Việt nhìn từ đặc điểm cấu tạo
và đặc điểm định danh trong sự so sánh, đối chiếu với TNCK tiếng Anh; cung cấp những thành tố từ vựng để cấu tạo hệ TNCK, các mô hình điển hình để cấu tạo TNCK nhờ đó tạo nên tính hệ thống về cấu trúc của TNCK trong tiếng Anh và tiếng Việt; làm rõ những phương thức xây dựng TNCK trong hai thứ tiếng, tính có lý do của các thuật ngữ này dựa trên các đặc trưng khu biệt cơ bản lựa chọn làm cơ sở định danh trong quá trình tạo ra TNCK
Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận án có thể là cơ sở để đề xuất phương hướng, biện pháp xây dựng và chuẩn hóa TNCK tiếng Việt
6 Ý nghĩa và đóng góp của luận án
Luận án sẽ có những đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn như sau:
6.1 Về mặt lý luận
Luận án làm rõ phương thức cấu tạo và phương thức định danh TNCK trong tiếng Anh và tiếng Việt Đồng thời luận án cũng chỉ ra tính có lý do của TNCK Chúng là tên gọi trực tiếp hay gián tiếp của các khái niệm, đối tượng trong lĩnh vực cơ khí Những đặc trưng nào của khái niệm, đối tượng được lựa chọn để làm cơ sở định danh khi sáng tạo TNCK Luận án chỉ ra những đặc điểm cấu tạo và đặc điểm ngữ nghĩa của TNCK tiếng Anh trong sự đối chiếu với tiếng Việt Kết quả nghiên cứu góp phần vào việc khẳng định lý
Trang 157
thuyết chung về thuật ngữ học và lý luận về chuẩn hóa ngôn ngữ nói chung, chuẩn hóa thuật ngữ nói riêng
6.2 Về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án:
- Cho phép đề xuất được các biện pháp, phương hướng cấu tạo các TNCK trong tiếng Việt;
- Là cơ sở để biên soạn từ điển TNCK tiếng Việt phục vụ cho sự phát triển ngành cơ khí ở Việt Nam;
- Đóng góp thiết thực cho việc chỉnh lý để chuẩn hóa hệ thống TNCK hiện có của Việt Nam;
- Phục vụ thiết thực cho việc giảng dạy và biên soạn giáo trình chuyên ngành cơ khí Bên cạnh đó, luận án là tài liệu tham khảo hữu ích phục vụ cho việc nghiên cứu thuật ngữ học
7 Bố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận án gồm 03 chương được bố cục như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận
Chương này trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu về thuật ngữ nói chung, TNCK nói riêng ở trong nước và trên thế giới; Những cơ sở lý luận có liên quan để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra Một số vấn đề cơ bản về nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ cũng được đề cập trong chương này Chương 2: Đối chiếu đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ cơ khí trong tiếng Anh và tiếng Việt
Chương này trình bày các phương thức cấu tạo TNCK trong tiếng Anh
và tiếng Việt; đặc điểm của thành tố cấu tạo TNCK tiếng Anh và tiếng Việt; đối chiếu TNCK trên các bình diện: số lượng thành tố cấu tạo, đặc điểm từ loại, mô hình cấu tạo của TNCK trong tiếng Anh và tiếng Việt
Trang 168
Chương 3: Đối chiếu đặc điểm định danh của thuật ngữ cơ khí trong tiếng Anh và tiếng Việt
Chương này trình bày vấn đề nguyên lý về định danh, các phương thức
cụ thể tạo nên TNCK; đối chiếu đặc điểm định danh của TNCK trong tiếng Anh và tiếng Việt theo các tham tố: kiểu ngữ nghĩa của thuật ngữ, cách thức biểu thị của thuật ngữ; đối chiếu mô hình định danh của TNCK theo mức độ
rõ lý do và mức độ cố kết về hình thức, theo đặc trưng khu biệt làm cơ sở định danh Ngoài ra, chương này cũng đề cập khái quát cơ sở lý luận về chuyển dịch, thực trạng chuyển dịch TNCK ở Việt Nam và một số đề xuất, phương hướng trong việc xây dựng và chuẩn hóa TNCK tiếng Việt
Trang 179
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tình hình nghiên cứu về thuật ngữ
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về thuật ngữ trên thế giới
Trên thế giới, việc nghiên cứu thuật ngữ chủ yếu được tiến hành theo ba hướng: cấu tạo thuật ngữ, chuẩn hóa thuật ngữ và một số ít công trình lý luận
về thuật ngữ trong doanh nghiệp, về từ vựng và hiện tượng ngữ pháp trong văn bản chuyên môn v.v Ngay từ thế kỷ 18, nhiều công trình nghiên cứu về thuật ngữ bắt đầu được thực hiện và nghiên cứu nhưng có cùng đặc điểm chung đó là xây dựng, tạo lập và bước đầu xác định các nguyên tắc cho một
số hệ thuật ngữ đặc biệt Những tác giả được coi là những người đi tiên phong trong nghiên cứu thuật ngữ như Carl von Linné (1736), G.de Morveau, A.L Lavoisier, William Wehwell (1840), (Beckmann, 1780), M.Berthellot và A.F.de Fourcoy (1789) Tuy nhiên, mãi đến đầu thế kỷ 20 thì ý tưởng về một khoa học thuật ngữ mới hình thành Cũng trong thế kỷ này, xét về mặt đóng góp quan trọng của xã hội, công tác nghiên cứu thuật ngữ bắt đầu có định định hướng khoa học rõ ràng và được chính thức công nhận trong giới nghiên cứu Từ những năm 1930, việc nghiên cứu thuật ngữ thực sự diễn ra một cách đồng thời với những công trình nghiên cứu thuật ngữ của các học giả Liên
Xô, Cộng hòa Séc và Áo
Việc nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới đã sớm bắt đầu ngay từ thế kỷ 18 Các nghiên cứu thời kì đầu này nhìn chung đều tập trung vào việc tạo lập, xây dựng và bước đầu xác định các nguyên tắc cho một số hệ thuật ngữ cụ thể
Tuy nhiên, ý tưởng về một khoa học thuật ngữ phải đến đầu thế kỷ 20 mới hình thành Chỉ đến thế kỷ 20, việc nghiên cứu thuật ngữ mới có được định hướng khoa học và được công nhận là một hoạt động quan trọng về mặt
xã hội Việc nghiên cứu thuật ngữ ở thế kỷ 20 thực sự diễn ra từ những năm
1930 một cách đồng thời nhưng độc lập bởi các học giả người Áo, Liên Xô và
Trang 1810
Cộng hòa Séc Những công trình nghiên cứu trong thời kỳ này có thể được coi là nền tảng cơ bản cho sự phát triển lâu dài của ngành khoa học thuật ngữ trên diện rộng Toàn bộ quá trình nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới trong vòng một thế kỷ qua đã được Auger (1998) tổng kết thành ba xu hướng
nghiên cứu chính: thuật ngữ được nghiên cứu theo sự điều chỉnh phù hợp với
hệ thống ngôn ngữ; thuật ngữ được nghiên cứu theo định hướng dịch và thuật ngữ được nghiên cứu theo định hướng kế hoạch hóa ngôn ngữ (dẫn theo [101,
4]) Dưới đây, chúng tôi sẽ tập trung tìm hiểu hướng nghiên cứu thuật ngữ theo sự điều chỉnh phù hợp với hệ thống ngôn ngữ bởi vì chúng liên quan trực tiếp đến đề tài luận án
Ba trường phái nghiên cứu thuật ngữ lớn và tiêu biểu nhất trên thế giới
đó là Áo, Liên Xô và Cộng hòa Séc Đây cũng chính là cái nôi của khoa học thuật ngữ, tập trung các hướng nghiên cứu thuật ngữ nhằm có sự điều chỉnh phù hợp với hệ thống ngôn ngữ chung
Trường phái nghiên cứu thuật ngữ của Áo gắn liền với tên tuổi của E.Wuster (1898-1977) Ông chính là người đầu tiên thiết lập các phương
pháp nghiên cứu thuật ngữ và định hướng phát triển công tác nghiên cứu thuật ngữ hiện đại ở thế kỉ 20 Nhiều nhà tác giả sau này chịu ảnh hưởng và tác động lớn từ trường phái nghiên cứu của Wuster, và được thể hiện rõ đồng quan điểm trong các công trình nghiên cứu thuật ngữ của họ Các phương pháp nghiên cứu thuật ngữ của Wuster cơ bản dựa theo một số nguyên tắc và
được đề cập chủ yếu trong tác phẩm Lý luận chung về thuật ngữ năm 1931
Trong tác phẩm của mình (1931), ông đã đề cập đến những khía cạnh ngôn ngữ học của công tác nghiên cứu thuật ngữ liên quan đến hệ thống tên gọi của lĩnh vực kỹ thuật Đáng chú ý là các tranh luận của ông về việc hệ thống hóa các phương pháp nghiên cứu thuật ngữ, đưa ra một số nguyên tắc khi sử dụng thuật ngữ và chỉ ra những điểm chính của phương pháp xử lý ngữ liệu thuật ngữ Học giả Leo Weisgeber (1975) đã đánh giá công trình nghiên cứu của
Trang 19kĩ thuật và các nhà khoa học là chuẩn hóa thuật ngữ trong lĩnh vực của họ để đảm bảo sự giao tiếp hiệu quả và có thể truyền tải kiến thức trong lĩnh vực chuyên môn Những nguyên tắc về nghiên cứu thuật ngữ của họ được phản ánh trong các tài liệu về chuẩn hóa từ vựng của thuật ngữ Đa số các nước vùng Trung Âu và Bắc Âu (Áo, Đức, Na Uy, Thụy Sĩ, Đan Mạch) đều nghiên cứu thuật ngữ theo hướng này
Trường phái thuật ngữ học của Cộng hòa Séc với đại diện tiêu biểu L.Drodz là một trong những người khởi xướng và phát triển từ cách tiếp cận
ngôn ngữ về mặt chức năng của trường phái ngôn ngữ học Praha Trong các công trình nghiên cứu về các ngôn ngữ chuyên ngành, trường phái này đặc biệt đặc biệt quan tâm, chú trọng đến việc miêu tả cấu trúc và chức năng của ngôn ngữ trong đó thuật ngữ đóng vai trò quan trọng Các ngôn ngữ chuyên ngành theo trường phái này được coi là mang tính văn phong nghề nghiệp tồn tại cùng những văn phong khác như văn học, kỹ thuật và hội thoại Theo đó, thuật ngữ được xem như là những đơn vị có chức năng tạo nên văn phong nghề nghiệp cụ thể Thuật ngữ được hình thành tùy thuộc vào bản chất đa ngôn ngữ trong mỗi khu vực địa lý của chính nó Chính vì quan điểm đó, trường phái thuật ngữ của Cộng hòa Séc đặc biệt quan tâm đến vấn đề vấn đề chuẩn hóa các ngôn ngữ và chuẩn hóa thuật ngữ
Trường phái nghiên cứu thuật ngữ của Nga - Xô Viết được dựa trên
các công trình nghiên cứu của Lotte, Drezen, Caplygil và các cộng sự Thời
Trang 2012
gian đầu, trường phái này chịu ảnh hưởng bởi công trình nghiên cứu về thuật ngữ của của Wuster Vì vậy giống với quan điểm của trường phái nghiên cứu thuật ngữ Áo, trường phái thuật ngữ Xô Viết gần như chỉ tập trung nghiên cứu về vấn đề chuẩn hóa các khái niệm, chuẩn hóa các thuật ngữ dựa trên cơ
sở những vấn đề liên quan đến chủ nghĩa đa ngôn ngữ của trường phái này Luận án của Wuster đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm ngay sau khi được dịch sang tiếng Nga Có thể vì lý do đó, từ những những năm 1930 trở
đi, việc nghiên cứu thuật ngữ ở Liên Xô có những bước phát triển mạnh mẽ
Tác giả Lotte (1898 – 1950), đại diện tiêu biểu của trường phái nghiên
cứu thuật ngữ Xô viết, được xem là người đứng đầu trong công tác phát triển
hệ thuật ngữ hiện đại của Nga với công trình nghiên cứu quan trọng Những
vấn đề gây bức xúc trong trường thuật ngữ khoa học và kĩ thuật Theo nhận
định của Kulebakin (1993), Lotte là một trong những nhà nghiên cứu có ảnh hưởng lớn trong công tác xây dựng và phát triển cơ sở lý thuyết về thuật ngữ hiện đại Lotte cũng là người đặt nền móng về phương pháp trong công tác nghiên cứu về thuật ngữ của Liên Xô Kulebakin (1993, tr.129) tóm tắt quan điểm của Lotte theo các ý cơ bản sau: “Hệ thuật ngữ là toàn bộ các thuật ngữ phù hợp với hệ thống khái niệm của một lĩnh vực khoa học hay kĩ thuật nào
Trang 2113
đó Hệ thống thuật ngữ thể hiện cái gọi là hệ thống khái niệm” Có thể nói, quan điểm này cũng hoàn toàn trùng hợp với quan điểm của Wuster [54, 8] Trong công tác phát triển thuật ngữ của Liên Xô, các nhà ngôn ngữ học
đã quan tâm, tham gia nghiên cứu về thuật ngữ từ rất sớm Trong đó có thể tìm thấy các công trình nghiên cứu của A.A.Reformatskij, V.V.Vinogradov, G.O.Vinokur, T.L Kandelaki, V.M Lâychich, A.X Gerd, X.V Grinev, v.v Như vậy, cả ba trường phái nói trên đều có chung quan điểm là nghiên cứu thuật ngữ dựa trên ngôn ngữ học, họ đều xem thuật ngữ như là một phương tiện để diễn đạt và giao tiếp Vì vậy, cơ sở lý thuyết về thuật ngữ và những nguyên lý mang tính phương pháp chi phối những ứng dụng của thuật ngữ đã được hình thành và phát triển dựa trên quan điểm của ba trường phái này Bên cạnh đó, quan điểm của các trường phái này chính là nền tảng cơ bản và là cơ sở phát triển các hướng nghiên cứu thuật ngữ sau này - đó là thuật ngữ được nghiên cứu theo hướng kế hoạch hóa ngôn ngữ và dịch thuật
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về thuật ngữ ở Việt Nam
Công tác xây dựng thuật ngữ khoa học là một trong những nhiệm vụ hàng đầu trong quá trình phát triển khoa học và kĩ thuật của một quốc gia, có tầm ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển nền giáo dục chung của quốc gia
đó Đó cũng là sự biểu lộ chủ quyền độc lập thực sự của một dân tộc và có tác dụng lớn đối với việc phổ cập khoa học trong quần chúng nhân dân, nâng cao lòng tin tưởng vào khả năng ngôn ngữ của nước nhà
Thực tế xây dựng thuật ngữ khoa học ở nước ta trong những năm qua đã chứng tỏ rõ rằng tiếng Việt có đủ khả năng đáp ứng mọi yêu cầu của đời sống
và khoa học ngày càng phát triển Có thể khẳng định rằng tiếng Việt có đủ chất liệu để cấu tạo nên thuật ngữ cần thiết cho mọi lĩnh vực Hiện nay, mỗi ngành khoa học đều đã có thuật ngữ dùng cho ngành mình Nhiều cuốn từ điển thuật ngữ chuyên ngành dưới hình thức giải thích và đối chiếu với một hoặc vài ngôn ngữ nước ngoài đã được xuất bản, được sử dụng rộng rãi, trở
Trang 22hệ thống thuật ngữ nói riêng và quá trình phát triển của hệ thống từ vựng của ngôn ngữ nói chung Nhưng để xây dựng cho được một hệ thống thuật ngữ bằng tiếng mẹ đẻ không phải là một công việc đơn giản, không phải chỉ đơn thuần dịch thuật ngữ nước ngoài ra tiếng nước mình, như nhiều người vẫn nghĩ, mà đây là một công việc mang tính sáng tạo Phải căn cứ vào đặc điểm của ngôn ngữ dân tộc mà đặt ra thuật ngữ, sao cho những thuật ngữ đó, một
mặt, phải bảo đảm được tính khoa học, nhưng mặt khác, phải có tính dân tộc
và tính đại chúng, làm thành một bộ phận của ngôn ngữ dân tộc, nhân dân có
thể sử dụng một cách dễ dàng và tự nhiên Về mặt khoa học, thuật ngữ phải
đạt những tiêu chuẩn: tính chính xác, tính hệ thống, tính chất ngôn ngữ dân
tộc, tính ngắn gọn và tính dễ dùng, tính quốc tế
Trang 2315
Thuật ngữ khoa học tiếng Việt xuất hiện chưa lâu, chỉ từ hơn nửa thế kỉ trở lại đây Mãi đến đầu thế kỉ XX, một số thuật ngữ tiếng Việt mới lẻ tẻ xuất hiện và cũng chỉ hạn chế trong một vài lĩnh vực rất hẹp, cũng không được phổ biến rộng rãi Đến những thập niên 30 của thế kỉ XX thuật ngữ khoa học mới
đi vào tiếng Việt cùng với phong trào cách mạng nêu cao chủ trương đúng đắn “tranh đấu vì tiếng nói, chữ viết” Những thuật ngữ này lúc đầu chủ yếu
là về khoa học xã hội và nhân văn, nhất là về chính trị và triết học, sau mới phát triển sang các ngành khoa học khác Đóng góp quan trọng cho sự hình thành hệ thống thuật ngữ tiếng Việt giai đoạn này, ngoài một số báo, một số văn kiện tổ chức Đảng tiền thân, một số văn bản ở giai đoạn 1900 – 1930, là
các từ điển, trong đó Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh có vị trí quan trọng Những thuật ngữ Hán Việt là “nét mới đặc sắc của Từ điển Hán Việt Đào Duy
Anh Lần đầu tiên có nhiều thuật ngữ thuộc nhiều môn khoa học khác nhau như vậy được nhận diện, giới thiệu trong từ điển tiếng Việt Lần đầu tiên có một số lượng, một tỉ lệ không nhỏ thuật ngữ được định nghĩa, giải thích “…, một số vần tỉ lệ lên đến 12,62% tổng mục từ điển Chúng phân bố trên 33
phân ngành khác nhau” [88, 186] Khoa học tạp chí (1931 – 1933) cũng có
những đóng góp đáng kể về mặt thuật ngữ khoa học kĩ thuật Lúc này, các thuật ngữ được tạo ra chủ yếu dưới dạng phiên âm thuật ngữ từ tiếng Pháp Việc đặt thuật ngữ khoa học tiếng Việt đã được các nhà khoa học chú ý và
phát triển trong báo Khoa học (1942 – 1943) Đáng chú ý nhất là quan điểm
của Hoàng Xuân Hãn, người đi tiên phong trong việc nghiên cứu vấn đề xây dựng thuật ngữ khoa học tiếng Việt một cách tương đối có hệ thống Chính Hoàng Xuân Hãn cũng là người đầu tiên đưa ra ba phương thức xây dựng thuật ngữ vào từ thông thường, phiên âm từ các tiếng Ấn – Âu và mượn tiếng Hán Ông cũng đề ra tám yêu cầu cốt lõi trong việc xây dựng thuật ngữ khoa học Công trình nghiên cứu đầu tiên của Việt Nam về một số ngành khoa học
tự nhiên là cuốn từ điển đối chiếu Pháp - Việt Danh từ khoa học được Hoàng
Xuân Hãn hoàn thành vào năm 1948 “Điều quan trọng trong phần này là: ông
đã phân tích mặt hay – dở, tiện dụng – không tiện dụng đối với ngôn ngữ dân
Trang 2416
tộc khi dùng các phương cách này và đi đến kết luận có tính chất chỉ dẫn rất phù hợp với lý luận và thực tế tiếng Việt” [88, 195] Tiếp sau công trình của Hoàng Xuân Hãn, một số nhà tri thức cũng đã bắt đầu biên soạn những tập thuật ngữ đối chiếu khác Tiếp theo đó, một số học giả khác cũng bắt đầu biên soạn những tập thuật ngữ đối chiếu khác Chẳng hạn như Nguyễn Hữu Quán
và Lê Văn Can với tác phẩm Danh từ thực vật (Tủ sách nông học Việt Nam, Thuận Hóa 1945); Đào Văn Tiến với tác phẩm Danh từ vạn vật học (do tổng
hội sinh viên cứu quốc xuất bản sau cách mạng tháng 8, Hà Nội, 1945); hay
các tác phẩm khác: Danh từ y học của Lê Khắc Thiên và Phạm Khắc Quảng
v.v Sau khi nước nhà thống nhất, công tác xây dựng thuật ngữ tiếp tục được đẩy mạnh và phát triển trong phạm vi cả nước Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được, công tác nghiên cứu và xây dựng thuật ngữ ở nước ta không khỏi còn có những điểm phải hoàn thiện và thống nhất thêm Như vậy, giai đoạn 1930 – 1945, hệ thống thuật ngữ tiếng Việt đã hình thành Cách mạng tháng Tám đã trả lại cho tiếng Việt vị trí xứng đáng của nó
Từ chỗ là ngôn ngữ của một dân tộc mất nước, tiếng Việt đã trở thành ngôn ngữ chính thức của một nước độc lập, có chủ quyền Tiếng Việt được sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội, kinh tế, văn hoá, nghệ thuật, quân
sự, ngoại giao, v.v Đặc biệt, tiếng Việt được dùng làm ngôn ngữ duy nhất ở tất cả các cấp học Đây là chủ trương có ý nghĩa vô cùng to lớn trong đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) Chủ trương dùng tiếng Việt để giảng dạy ở tất cả các trường, các cấp học đã thúc đẩy giới trí thức góp phần vào việc xây dựng tiếng nói dân tộc nói chung, xây dựng hệ thống thuật ngữ tiếng Việt nói riêng Trong hoàn cảnh đó, thuật ngữ khoa học có điều kiện phát triển một cách mạnh mẽ Với chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy địa cầu năm 1954, hoà bình được lập lại ở miền Bắc Miền Bắc tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội Công cuộc xây dựng đó đã tạo ra một bước phát triển mới cho thuật ngữ khoa học tiếng Việt Thấy rõ tầm quan trọng của công tác xây dựng hệ thống thuật ngữ tiếng Việt,
Trang 2517
nhằm đẩy mạnh công tác nghiên cứu và xây dựng thuật ngữ khoa học, dần dần tiêu chuẩn hoá và thống nhất thuật ngữ trong các ngành chuyên môn, cuối tháng 12 – 1964, Uỷ ban Khoa học Nhà nước đã triệu tập Hội nghị bàn về vấn
đề xây dựng thuật ngữ khoa học đã làm việc trong hai ngày 28 và 29 – 12 –
1964 với sự tham gia của một trăm cán bộ gồm các nhà nghiên cứu khoa học, các giáo sư, giảng viên các trường đại học, các bác sĩ, kĩ sư và các nhà hoạt động văn hoá thuộc các ngành chuyên môn khác nhau đã tới dự Trong Hội nghị, Tổ thuật ngữ - từ điển khoa học thuộc Uỷ ban Khoa học Nhà nước đã
trình bày báo cáo Về vấn đề xây dựng thuật ngữ khoa học Bản báo cáo đã đề
cập đến nguyên tắc xây dựng thuật ngữ khoa học, nêu ra những tiêu chuẩn có quan hệ khăng khít chặt chẽ của thuật ngữ khoa học, trình bày cách vận dụng
biện chứng những tiêu chuẩn đó và đưa ra một đề án mới về Quy tắc phiên
âm thuật ngữ Ấn - Âu ra tiếng Việt Đã có 21 bản tham luận của đại biểu các
tiểu ban thuật ngữ các ngành và những người làm công tác khoa học thuộc các chuyên môn khác nhau trong khoa học tự nhiên và khoa học xã hội tham gia bàn luận xoay xung quanh vấn đề xây dựng thuật ngữ khoa học từng ngành Nói chung, Hội nghị đã tán thành những luận điểm cơ bản và nguyên tắc chính nêu ra trong bản báo cáo Về một số vấn đề cụ thể trong quy tắc phiên âm thuật ngữ nước ngoài ra tiếng Việt chưa được hoàn toàn nhất trí, Hội nghị đã cử ra một ban để tiếp tục nghiên cứu Ban này gồm các vị: Tạ Quang Bửu, Nguyễn Thạc Cát, Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Văn Chiển, Lê Khả
Kế, Nguỵ Như Kontum (trưởng ban), Lưu Vân Lăng, Trương Công Quyền Căn cứ vào đề án của ban báo cáo và những góp ý ở các tham luận, Ban
này đã làm việc, bàn bạc tập thể và hoàn thành dự thảo đề án về Quy tắc
phiên thuật ngữ khoa học nước ngoài (gốc Ấn - Âu) ra tiếng Việt Đến tháng 5
– 1965 Uỷ ban Khoa học Nhà nước lại triệu tập một Hội nghị gồm khoảng một trăm cán bộ khoa học thuộc các ngành khoa học khác nhau để Ban nghiên cứu trình bày dự thảo đề án và trưng cầu thêm ý kiến Sau khi tham khảo ý kiến của các tham luận phát biểu trong Hội nghị ngày 14 và 21 – 5 –
Trang 2618
1965, Ban nghiên cứu tiếp tục làm việc Một bản đề án mới đã ra đời và được trình bày trước Hội đồng thuật ngữ - từ điển khoa học, gồm nhiều nhà khoa học thuộc nhiều ngành khác nhau, để Hội đồng góp ý kiến Bản đề án này đã được Hội đồng thông qua trong phiên họp ngày 15 – 10 – 1965 Tháng 11-
1965 toàn Ban nghiên cứu đã nhất trí đề nghị lên Uỷ ban Khoa học Nhà nước xét duyệt bản quy tắc mới Căn cứ vào đó, tháng 6 – 1966 Viện Khoa học Xã hội Việt Nam đã ra công bố đề nghị tạm thời áp dụng bản Quy tắc đó trong tất
cả các ngành Đây là tiền đồ tốt giúp cho công tác nghiên cứu thuật ngữ ở nước ta có những tiến bộ đáng kể Được sự giúp đỡ của Uỷ ban Khoa học Nhà nước, của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, các Viện nghiên cứu khoa học, các cán bộ làm công tác khoa học và giảng dạy ở các trường đại học cùng với các bộ nghiên cứu khoa học ở các cơ quan khác nhau, trong thời gian tương đối ngắn đã “soạn được 15 bộ thuật ngữ bao gồm 25 vạn từ, có đầy đủ các tiêu chuẩn: chính xác, gần với ngôn ngữ nhân dân và thuận tiện cho việc trao đổi quốc tế” [63, 47] Rõ ràng là bản Quy tắc này đã góp phần đưa công tác thuật ngữ lên một bước tiến mới và tiếp theo là một loạt gần 40 tập thuật ngữ đối chiếu đã ra đời
Trong việc xây dựng thuật ngữ khoa học tiếng Việt ở miền Nam phải kể đến Lê Văn Thới, “một nhà khoa học có nhiều nhiệt tình với công tác này”
Lê Văn Thới đã phát huy ảnh hưởng của mình trong “Uỷ ban soạn thảo danh
từ khoa học” (thành lập ngày 6 – 7 – 1960) cũng như trong “Uỷ ban quốc gia soạn thảo danh từ chuyên môn” (thành lập ngày 18 – 5 – 1967) do ông làm
chủ tịch Bản nguyên tắc do Lê Văn Thới soạn thảo đã được Uỷ ban quốc gia soạn thảo danh từ chuyên môn công nhận làm tài liệu hướng dẫn chính thức cho công việc xây dựng thuật ngữ khoa học ở miền Nam “Qua hơn mười năm áp dụng bản nguyên tắc đó, các nhà thuật ngữ học miền Nam đã hoàn thành được một khối lượng công việc đáng kể Hơn 50 cuốn thuật ngữ đối chiếu đã được biên soạn Trong hoàn cảnh chính trị lúc bấy giờ, rõ ràng là phải nhiệt tình lắm mới có thể làm được những việc như thế” [68, 28] Sau
Trang 2719
khi nước nhà thống nhất, công tác xây dựng thuật ngữ tiếp tục được đẩy mạnh
và phát triển trong phạm vi cả nước Mặc dù có những thành tựu như vậy, công tác nghiên cứu và xây dựng thuật ngữ ở Việt Nam vẫn còn nhiều những mặt hạn chế cần phải khắc phục, hoàn thiện và thống nhất chung
Như vậy, công tác thuật ngữ ở nước ta đã trải qua một quá trình xây dựng liên tục ngay từ khi Cách mạng tháng Tám thành công Cùng với sự phát triển của đất nước, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta, với sự
nỗ lực của các nhà khoa học, hơn 50 năm qua, hệ thống thuật ngữ khoa học tiếng Việt, cả khoa học tự nhiên lẫn khoa học xã hội, đã phong phú thêm gấp bội Theo thống kê chưa đầy đủ, ở thời kì đầu sau Cách mạng tháng Tám, số lượng thuật ngữ khoa học, kĩ thuật có vào khoảng 40.000 đơn vị Số lượng đó không dừng lại kể từ sau 20 đến 25 năm và đã lên tới 900.000 đơn vị [48] Từ
đó đến nay, đặc biệt giai đoạn từ 1986 đến nay, khi đất nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước hội nhập vào không gian kinh tế của khu vực và quốc tế, cùng với sự phát triển vũ bão của khoa học kĩ thuật, đặc biệt là ngành công nghệ thông tin, ngành tài chính – ngân hàng, ngành kinh tế… số lượng thuật ngữ khoa học trong tiếng Việt tăng lên rất nhiều
Bên cạnh những mặt tích cực và hiệu quả đã đạt được trong thời gian qua, vẫn còn rất nhiều ý kiến của các nhà khoa học về vấn đề này đã được
phát biểu và đăng tải trên tạp chí “Ngôn ngữ” Các ý kiến đều tập trung vào
những vấn đề chủ yếu sau: Những yêu cầu của thuật ngữ; Về phương thức đặt thuật ngữ; Vấn đề vay mượn thuật ngữ nước ngoài; Có nên chấp nhận một số
ít yếu tố mới hay không để cho thuật ngữ phiên gần với diện mạo quốc tế mà không quá xa lạ với tiếng Việt
Khi bàn về quá trình hình và phát triển của tiếng Việt hiện đại, Hà Quang Năng đề cập đến bốn dấu mốc quan trọng đó là: Sự xuất hiện của người Pháp và sự ra đời của chữ quốc ngữ; Sau cách mạng tháng 8; Những năm 60 của thế kỉ 20 và sau năm 1985 Đồng thời, đây là bốn cột mốc chính
Trang 2820
đánh dấu sự phát triển của thuật ngữ tiếng Việt “Trải qua hơn nửa thế kỉ, thuật ngữ tiếng Việt đã có những bước phát triển nhanh chóng về số lượng Đáng chú ý hơn, bên cạnh mặt số lượng, thuật ngữ tiếng Việt đã thay đổi cả
về chất” [62, 121] Tuy vẫn còn những có những ý kiến khác nhau trong vấn
đề bàn về các tiêu chuẩn của thuật ngữ: khoa học, dân tộc, đại chúng nhưng
về cơ bản, ý kiến của các nhà nghiên cứu đều thống nhất với những nguyên
tắc trong đề án Quy tắc phiên thuật ngữ khoa học nước ngoài ra tiếng Việt do
Ủy ban Khoa học xã hội công bố Chính điều này đã góp phần đẩy mạnh việc thống nhất và tiêu chuẩn hóa thuật ngữ Do đó, trong giai đoạn này, công tác biên soạn từ điển thuật ngữ và xây dựng các hệ thống thuật ngữ có những bước phát triển vượt bậc Trong thời gian ngắn (từ năm 1978 đến 1979), vấn
đề chuẩn mực hóa chính tả và thuật ngữ là nội dung chính được trình bày và thảo luận tại bốn hội nghị khoa học lớn với sự tham dự của các nhà ngôn ngữ học, các nhà khoa học và chuyên gia có uy tín của nhiều lĩnh vực chuyên ngành khác nhau Các chủ đề quan trọng được tập trung trao đổi liên quan đến
xác định khái niệm thuật ngữ, tiêu chuẩn của thuật ngữ, phương thức xây dựng thuật ngữ, vấn đề vay mượn thuật ngữ nước ngoài Rất nhiều ý kiến đã
được tổng hợp trong các công trình và báo cáo khoa học đăng trên các tạp chí
chuyên ngành, như tạp chí Ngôn ngữ (Lê Khả Kế, Hoàng Văn Hành, Lê Văn
Thới, Lưu Vân Lăng, Võ Xuân Trang, Nguyễn Như Ý, Nguyễn Thạc Cát,
v.v ) Đáng lưu ý, vào năm 1984, Hội đồng Chuẩn hóa Chính tả và Hội đồng
chuẩn hóa thuật ngữ đã được thành lập và có vai trò xây dựng đường hướng
thống nhất trong việc giải quyết các vấn đề có liên quan đến công tác phiên chuyển thuật ngữ, điển hình là “chọn biện pháp phiên chuyển theo chữ là chính” Tuy nhiên, công tác phiên chuyển thuật ngữ gặp nhiều khó khăn do sự xuất hiện của các thuật ngữ nước ngoài, cụ thể trong việc xử lý thuật ngữ nước ngoài nói chung vẫn chưa được thống nhất
Như vậy, có thể thấy rằng các vấn đề thuật ngữ học được nghiên cứu ở Việt Nam chủ yếu là từ góc độ thực tiễn: xây dựng các thuật ngữ khoa học kĩ
Trang 2921
thuật Kết quả là nhiều cuốn từ điển thuật ngữ đối chiếu tiếng Việt và các ngôn ngữ nước ngoài đã được xuất bản Các công trình khảo cứu riêng về hệ thống thuật ngữ của một chuyên ngành khoa học nhất định chưa nhiều Có thể
kể đến những công trình như luận án phó tiến sĩ của Lưu Vân Lăng “Về vấn
đề xây dựng thuật ngữ khoa học” (1987); luận án phó tiến sĩ của Vũ Quang
Hào “Hệ thuật ngữ quân sự tiếng Việt – Đặc điểm và cấu tạo thuật ngữ” (1991) và luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Bích Hà “So sánh cấu tạo thuật ngữ
kinh tế thương mại trong tiếng Nhật và tiếng Việt hiện đại” (2000); luận án
“Khảo sát hệ thuật ngữ tin học viễn thông tiếng Việt” của Nguyễn Thị Kim Thanh (2005); luận án “Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa thuật ngữ sở hữu trí
tuệ tiếng Việt” của Mai Thị Loan (2012); luận án của Vũ Thị Thu Huyền " Nghiên cứu thuật ngữ kĩ thuật xây dựng tiếng Việt" (2013) Mới đây đã có
một số luận án tiến sĩ nghiên cứu thuật ngữ đã được bảo vệ thành công Đó là
luận án của Ngô Phi Hùng "Nghiên cứu các phương thức cấu tạo hệ thống
thuật ngữ khoa học tự nhiên (trên tư liệu thuật ngữ Toán - Cơ - Tin học, Vật lý)" bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án Trường Đại học Vinh năm 2014; luận
án của Nguyễn Thị Bích Hường "Cách dịch thuật ngữ Anh - Việt chuyên
ngành cảnh sát" bảo vệ năm 2014 tại Trường Đại học KHXH&NV - Đại học
Quốc gia TP Hồ Chí Minh; luận án "Đối chiếu thuật ngữ du lịch Anh - Việt" của Lê Thị Thúy Hà (2014); luận án của Quách Thị Gấm "Nghiên cứu thuật
ngữ báo chí tiếng Việt" bảo vệ năm 2015 tại Học viện Khoa học xã hội và
luận án của Nguyễn Quang Hùng "Nghiên cứu đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa
của thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt" (2016) Khổng Minh Hoàng Việt
(2017), Thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt và tương đương dịch thuật của
chúng trong tiếng Anh; Phí Thị Việt Hà (2017), Đối chiếu thuật ngữ phụ sản
trong tiếng Anh và tiếng Việt; Nguyễn Thanh Dung (2017), Đối chiếu thuật ngữ âm nhạc Việt - Anh; Đỗ Thị Thu Nga (2018), Khảo sát đối chiếu chuyển dịch thuật ngữ tài chính Anh - Việt (trên văn bản chuyên ngành tài chính); Nguyễn Thị Hoài (2018), Nghiên cứu thuật ngữ chỉ bệnh trong tiếng
Anh và cách chuyển dịch sang tiếng Việt; Dương Thị Thùy Mai (2018), Đối
Trang 3022
chiếu thuật ngữ kỹ thuật điện trong tiếng Anh và tiếng Việt, v.v… Hầu hết các
luận án kể trên đều tập trung phân tích đặc điểm cấu tạo và đặc điểm định danh của một hệ thuật ngữ cụ thể, hoặc đối chiếu mô hình cấu tạo, mô hình định danh của một hệ thuật ngữ giữa hai ngôn ngữ dựa trên một ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ đích từ đó đưa ra những phương hướng, đề xuất cho việc chuẩn hóa, chuyển dịch hệ thuật ngữ cụ thể đã được khảo sát
Bước sang thế kỉ thứ XXI, trong xu thế phát triển mạnh mẽ của khoa học
kĩ thuật và công nghệ, vấn đề thuật ngữ lại bắt đầu được quan tâm, chú ý nghiên cứu Bên cạnh các công trình nghiên cứu về phương diện lý thuyết của thuật ngữ, nhiều luận văn, luận án tiến sĩ đã được nghiên cứu và bảo vệ thành công trong thời gian này
Tháng 11 năm 2008 Hội Ngôn ngữ học Việt Nam đã tổ chức một hội
thảo “Thuật ngữ tiếng Việt trong đổi mới và hộp nhập” Đã có 10 báo cáo
khoa học, tham luận được trình bày trong hội thảo
Trong công trình nghiên cứu do Hà Quang Năng làm chủ biên “Sự phát
triển của từ vựng nửa sau thế kỉ XX” (Hà Quang Năng chủ biên, Nxb Khoa
học xã hội, 2009), chương nghiên cứu về thuật ngữ tiếng Việt đã đề cập sâu
về những chặng đường phát triển của tiếng Việt và thuật ngữ tiếng Việt Đồng thời công trình cũng chỉ rõ những con đường hình thành thuật ngữ tiếng Việt cũng như những giải pháp cụ thể trong việc tiếp nhận thuật ngữ nước ngoài vào tiếng Việt
Đề tài cấp Bộ “Những vấn đề thời sự của chuẩn hóa tiếng Việt” (do
PGS.TS Vũ Kim Bảng và GS.TS Nguyễn Đức Tồn làm chủ nhiệm đề tài) đã được Viện Ngôn ngữ học nghiệm thu vào tháng 3 năm 2011 Toàn bộ nội dung chương 4 của đề tài này tập trung đề cập về việc nghiên cứu, xây dựng
và chuẩn hóa thuật ngữ tiếng Việt trong thời kì hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay Ngoài ra, những vấn đề lý luận truyền thống về thuật ngữ như vấn đề định danh ngôn ngữ và vấn đề xây dựng thuật ngữ, vấn đề áp dụng lý thuyết
Trang 31“Một số vấn đề cơ bản về cơ sở lý luận và phương pháp luận biên soạn các
loại gồm từ điển và bách khoa thư Việt Nam” (do PGS.TS Phạm Hùng Việt
làm chủ nhiệm; chương trình có bảy đề tài nhánh) Trong chương trình này có
đề tài nhánh nghiên cứu “Một số vấn đề lý luận và phương pháp luận biên
soạn từ điển chuyên ngành và thuật ngữ” (do PGS.TS Hà Quang Năng làm
chủ nhiệm) Sau khi nghiệm thu, kết quả nghiên cứu của nhánh đề tài này đã
được xuất bản với tên gọi “Thuật ngữ học – những vấn đề lý luận và thực
tiễn” (Hà Quang Năng chủ biên, Nxb Từ điển Bách Khoa, 2013)
Đề tài "Nghiên cứu hệ thuật ngữ tiếng Việt hiện đại nhằm góp phần xây
dựng nền văn hóa tri thức Việt Nam" mã số VII2.9-2011.07, thời gian thực
hiện: từ tháng 5- 2012 đến tháng 5 -2014 (gia hạn đến hết tháng 6 - 2015) do GS.TS Lê Quang Thiêm làm chủ nhiệm đề tài (Quỹ Phát triển Khoa học & Công nghệ Quốc gia) Quá trình hình thành và phát triển hệ thuật ngữ tiếng Việt quốc ngữ Latinh hóa theo định hướng văn hóa từ 1907 đến 2005 đã được khảo sát, tổng hợp đánh giá và miêu tả cụ thể trong công trình nghiên cứu này Ngoài ra, kết quả của đề tài cũng làm rõ quá trình phát triển của tiếng Việt, đặc biệt là cấp độ từ vựng - ngữ nghĩa, bình diện nghĩa mà cụ thể là hệ
thuật ngữ tiếng Việt hiện đại Sản phẩm chính của đề tài là chuyên khảo "Sự
phát triển hệ thuật ngữ tiếng Việt theo định hướng văn hóa (từ 1907 - 2005)"
gồm 3 chương:
- Chương 1: Thuật ngữ tiếng Việt thời kì hình thành
- Chương 2: Thuật ngữ tiếng Việt thời kì 1945 - 1975
- Chương 3: Thuật ngữ tiếng Việt thời kì 1975 - 2005
Trang 3224
Ngoài chuyên khảo, kết quả nghiên cứu của đề tài còn được thể hiện ở một loạt bài báo nghiên cứu các vấn đề cụ thể của thuật ngữ đã được công bố trên các tạp chí chuyên ngành Cụ thể là:
- Lê Quang Thiêm, Đặc trưng nghĩa của thuật ngữ (Tạp chí Từ điển học
và Bách khoa thư, số 1, 1 - 2015, tr 4 - 7);
- Lê Quang Thiêm, Về các cấp hệ phân tích nghĩa từ vựng (bao hàm
tầng nghĩa trí tuệ - nghĩa của thuật ngữ) (Tạp chí Ngôn ngữ & đời sống, số 2
- 2014, tr.1 - 9);
- Lê Quang Thiêm, Khắc phục tình trạng đa nghĩa của thuật ngữ trong
từ điển tiếng Việt (Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư, số 3, 5 - 2014, tr 37
- 40);
- Lê Quang Thiêm, Thuật ngữ đồng âm thuộc các ngành khoa học khác
nhau trong tiếng Việt (Tạp chí Ngôn ngữ & đời sống, số 2 - 2015, tr.1 - 5);
- Lê Quang Thiêm, Thuật ngữ tiếng Việt trong nền giáo dục khoa học
nước ta (Tạp chí Ngôn ngữ & đời sống, số 5 - 2015, tr.1 - 6);
- Lê Thị Lan Anh, Thuật ngữ hóa từ ngữ thông thường: một trong các
con đường tạo thành thuật ngữ tiếng Việt (Tạp chí Ngôn ngữ & đời sống, số 5
- 2015, tr.19 - 23);
Như vậy, có thể thấy công tác nghiên cứu thuật ngữ ở Việt Nam ngày càng được quan tâm, chú trọng cả về lý thuyết và ứng dụng Các công trình nghiên cứu đó đã mang lại ý nghĩa to lớn, góp phần không nhỏ vào sự phát triển công tác nghiên cứu thuật ngữ nói riêng và ngành ngôn ngữ học nói chung ở Việt Nam
1.1.3 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ cơ khí trong tiếng Anh
Qua thực tế khảo sát cho thấy, việc quan tâm nghiên cứu về TNCK trong tiếng Anh chỉ thiên về hướng ứng dụng Điều chúng tôi muốn đề cập ở đây là chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về TNCK từ hướng tiếp cận lý thuyết
Trang 33kỳ Có thể kể đến các cuốn từ điển Anh-Anh được xuất bản như: Dictionary
of mechanical engineering; A Dictionary of Mechanical Engineering, v.v…;
Và rất nhiều sản phẩm từ điển trực tuyến, các phần mềm từ điển TNCK
Anh-Anh Trong số đó có thể kể đến cuốn từ điển Dictionary of Engineering, v.v…
1.1.4 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ cơ khí trong tiếng Việt
Với trình độ dân trí ngày càng cao và tốc độ phát triển kinh tế, văn hoá,
xã hội như vũ bão hiện nay thì nhu cầu sử dụng thuật ngữ chuyên ngành kỹ thuật ngày càng lớn Nhiều công trình nghiên cứu khoa học về thuật ngữ trong tiếng Việt đã được thực hiện trong các lĩnh vực như thuật ngữ quân sự, thuật ngữ khoa học hình sự, thuật ngữ kinh tế thương mại, thuật ngữ y học, thuật ngữ tin học – viễn thông, thuật ngữ luật sở hữu trí tuệ, thuật ngữ khoa học kỹ
Trang 3426
thuật xây dựng, thuật ngữ khoa học tự nhiên, thuật ngữ báo chí tiếng Việt, v.v Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu sâu về TNCK trong tiếng Việt Thay vào đó, mới chỉ có luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị
Ngọc Liên (2015), Đối chiếu hệ thống thuật ngữ cơ khí trong tiếng Anh và
tiếng Việt Nguyễn Thị Ngọc Liên mới chỉ đề cập và đưa ra các vấn đề về
thuật ngữ ở góc độ hẹp về đặc điểm cấu tạo và đặc điểm ngữ nghĩa của hệ thống TNCK, chưa đi sâu vào tìm hiểu những cơ sở lý luận, những tiêu chí nhất định trong việc đối chiếu TNCK Bên cạnh đó, một số bài viết trên các tạp chí, bài báo, báo cáo khoa học cũng chỉ xoay quanh giải quyết những vấn
đề trong quá trình biên soạn từ điển
Theo số liệu thống kê của Nguyễn Thị Thanh Nga [64], số từ điển được thống kê gần đây nhất từng có ở Việt Nam cho đến cuối thế kỷ 20 là gần 1000 đầu sách các loại, khoảng 30% trong đó là từ điển thuật ngữ Từ đầu thế kỷ 21 đến nay chưa có sự thống kê đầy đủ nào về số đầu sách từ điển, nhưng chúng
ta có thể thấy các chủng loại từ điển xuất hiện ngày càng nhiều, cả hình thức thể hiện và nội dung đều rất phong phú Các cuốn từ điển kỹ thuật tổng hợp nói chung cũng như từ điển TNCK nói riêng cũng được biên soạn và in ấn
nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội như Từ điển kỹ thuật cơ khí Anh-Việt (Nguyễn Hạnh, Nxb Từ điển Bách khoa, H., 2006); Từ điển kỹ thuật cơ khí Anh-Việt (Phan Văn Đáo, Nxb Giao thông Vận tải, H., 2003); Từ điển kỹ thuật tổng
hợp Anh-Việt (Nguyễn Hạnh, Nguyễn Hải Linh, Nxb Lao động-Xã hội, H.,
2005); Từ điển kỹ thuật công nghệ Việt-Anh (Phạm Văn Khôi, Nxb Giáo dục Việt Nam, H., 2009); Từ điển kỹ thuật tổng hợp Anh-Việt (Nxb Khoa học và
Kỹ thuật, H., 1991); Từ điển công nghệ luyện kim cơ khí Anh-Việt (Lê Văn Ninh, Lê Chí Cương, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, H., 2015); Từ điển kỹ thuật
cơ khí thông dụng Anh-Việt (Minh Hùng, Nxb Thanh Niên, H., 2000); Từ điển kỹ thuật cơ khí Anh-Việt (Cung Kim Tiến, Nxb Thanh Niên, H., 2003); Tiếng Anh cơ khí ô tô (Quang Hùng, Phạm Đường, Nxb Giao thông Vận tải,
H., 2005)
Trang 351.2 Cơ sở lý luận về thuật ngữ
1.2.1 Quan niệm về “thuật ngữ”
Khái niệm thuật ngữ, xuất phát từ các góc nhìn khác nhau, được nghiên cứu, xem xét và lý giải theo quan điểm của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Việc lấy nội dung của thuật ngữ biểu thị là khái niệm được đa số các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học đồng tình Một số ít nhà nghiên cứu khác lấy chức năng của thuật ngữ tạo nét khu biệt hình thành khái niệm của nó Và không thể không nhắc đến công trình “Nghiên cứu khảo sát thuật ngữ tiếng Việt phục vụ cho việc xây dựng Luật ngôn ngữ ở Việt Nam” - đề nghị xác định khái niệm thuật ngữ trong sự phân biệt với các từ “phi thuật ngữ”
1.2.1.1 Thuật ngữ được định nghĩa gắn với khái niệm
Quan điểm thứ nhất đưa ra định nghĩa gắn với khái niệm, theo đó V.P Đanilencô (1977) cho rằng: “Thuật ngữ dù là từ (ghép hoặc đơn) hay cụm từ đều là một kí hiệu mà một khái niệm tương ứng với nó” “Bản chất của thuật ngữ với tư cách là một khái niệm hoàn toàn không trùng với từ thông thường của ngôn ngữ toàn dân” Erhart Oeser và Gerhart Budin cũng cho rằng:
“Thuật ngữ là một tập hợp các khái niệm, trong mỗi lĩnh vực chuyên ngành đều có các mô hình cấu trúc đại diện cho tập hợp các khái niệm Kiến thức khoa học được sắp xếp thành các cấu trúc khái niệm, các phương tiện biểu đạt ngôn ngữ và kí hiệu tương ứng được sử dụng trong văn phong khoa học để thông tin với người khác về kết quả khoa học và bình luận các ngôn bản khác” (dẫn theo [55, 11]) Tại Việt Nam, một số nhà nghiên cứu như: Nguyễn
Trang 3628
Văn Tu [89, 114], Lưu Vân Lăng, Nguyễn Như Ý [46, 44], Đỗ Hữu Châu [10, 241], Hoàng Văn Hành [28, 26], Đái Xuân Ninh, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Quang, Vương Toàn [69, 641], Nguyễn Thiện Giáp [19, 270], v.v cũng có cùng quan điểm với việc định nghĩa thuật ngữ gắn với khái niệm
Dựa trên những quan niệm trên, chúng tôi có quan điểm thuật ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ, nó bao gồm những từ và cụm từ cố định là tên gọi chính xác của các loại khái niệm và các đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn của con người
1.2.1.2 Thuật ngữ được định nghĩa gắn với chức năng
Bên cạnh những quan niệm định nghĩa thuật ngữ gắn khái niệm, có thể thấy nhiều nhà nghiên cứu khi định nghĩa thuật ngữ lại chú ý đến chức năng
mà thuật ngữ đảm nhiệm, mà tiêu biểu là Vinokur, G.O, V.K.Nikiforov, V.V.Vinôgrađóp, L.A.Kapatnadze, X.M.Burdin, AG Acnexôp, N.A
Baxkacóp, V.A.Zovéginxep, v.v Theo Vinokur, G.O, "Thuật ngữ - đó không
phải là một từ đặc biệt mà chỉ là từ có chức năng đặc biệt”, “Chức năng đặc biệt mà từ với tư cách là thuật ngữ đảm nhiệm đó là chức năng gọi tên" [90]
Quan điểm này được đa số các nhà nghiên cứu tán đồng, trong đó, V K
Nikiforov còn nhấn mạnh rằng: “Chức năng định danh ở thuật ngữ được thừa
nhận là chức năng cơ bản và duy nhất” [65]
1.2.1.3 Thuật ngữ được định nghĩa trong sự phân biệt với từ ngữ phi thuật ngữ
Khi nghiên cứu về thuật ngữ, việc đưa ra định nghĩa về thuật ngữ trong
sự phân biệt với các “từ ngữ phi thuật ngữ” là rất cần thiết Nguyễn Đức Tồn
và nhóm tác giả (2012), trong công trình “Nghiên cứu, khảo sát thuật ngữ
tiếng Việt phục vụ cho việc xây dựng luật ngôn ngữ ở Việt Nam”, nhấn mạnh
quá trình xác định và định nghĩa thuật ngữ phải làm rõ được những đặc trưng điển hình nhất thuộc bản thể của nó, tạo sự khác biệt của thuật ngữ với các từ ngữ không phải là thuật ngữ (như từ tiếng lóng, từ nghề nghiệp, thông thường, v.v ) Nhóm tác giả cũng khẳng định, không được đưa vào nội dung định
Trang 3729
nghĩa của thuật ngữ với những phẩm chất không thuộc về bản thể của thuật ngữ hoặc những phẩm chất thứ yếu không đủ để khu biệt thuật ngữ với các đơn vị phi thuật ngữ mà do người sử dụng áp đặt cho thuật ngữ hay do sự
nhận thức chủ quan Chính vì vậy, nhóm tác giả đã đưa ra định nghĩa: “Thuật
ngữ là từ ngữ biểu hiện khái niệm hoặc biểu thị đối tượng trong phạm vi một lĩnh vực khoa học, công nghệ hoặc chuyên môn” [87]
Như vậy, có nhiều cách tiếp cận khái niệm thuật ngữ nhưng dù từ hướng tiếp cận nào các tác giả trên đều đề cập tới hai vấn đề:
Trên cơ sở các quan điểm về thuật ngữ nêu trên, chúng tôi nhận thấy quan điểm của Nguyễn Thiện Giáp (1978, 1985, 1998) về khái niệm thuật
ngữ đã phản ánh một cách khái quát và đầy đủ về thuật ngữ: “Thuật ngữ là bộ
phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ Nó bao gồm những từ và cụm từ cố định
là tên gọi chính xác của các khái niệm và các đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn của con người” [19, 270] Chúng tôi đồng quan điểm với định
nghĩa trên của Nguyễn Thiện Giáp và lấy đó làm cơ sở để xây dựng lý luận cơ bản phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu nghiên cứu của luận án
1.2.2 Phân biệt thuật ngữ và một số khái niệm liên quan
Khi đã nhận diện được thuật ngữ cả về bản chất khái niệm, chức năng, nội dung tiêu chuẩn, v.v Chúng ta phải phân biệt rõ thuật ngữ với các khái niệm có quan hệ gần gũi trong hệ thống từ vựng như từ nghề nghiệp, danh pháp, v.v
Trang 3830
1.2.2.1 Thuật ngữ với danh pháp khoa học
Thuật ngữ gắn với hệ thống khái niệm của một ngành khoa học cụ thể, gồm những từ, cụm từ biểu thị chính xác các loại khái niệm và các đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn của con người
Vinokur, G.O cho rằng cần phải phân biệt rõ thuật ngữ là tên gọi đối tượng của tư duy với tên riêng và tín hiệu danh pháp, tránh sự nhầm lẫn giữa hai hiện tượng này [19] Ông đã định nghĩa danh pháp: “là một hệ thống các phù hiệu hoàn toàn trừu tượng và ước lệ, mà mục đích duy nhất là ở chỗ cấp cho ta cái phương tiện thuận lợi nhất về mặt thực tiễn để gọi tên các đồ vật, các đối tượng không quan hệ trực tiếp với những đòi hỏi của tư duy lý luận hoạt động với những sự vật này” (dẫn theo [19, 271]) Theo quan điểm này, danh pháp là toàn bộ tên gọi được dùng trong một ngành chuyên môn nào đó Danh pháp chỉ dùng để gọi tên các sự vật trong ngành chứ không gắn với hệ thống khái niệm của ngành chuyên môn đó Ví dụ, các từ trong ngành cơ khí
như tiện, phay, bào, mài, hàn, gang, thép, v.v là thuật ngữ, còn các từ chỉ tên các loại thép như: thép Thái Nguyên, thép Hòa Phát, thép Việt Nhật, thép
Việt Úc, thép Pomina, v.v… là danh pháp
Tính khái niệm là đặc trưng quan trọng nhất của thuật ngữ, trong khi đó danh pháp, mặc dù có gắn với khái niệm, nhưng nó hướng đến sự vật nhiều hơn Điều quan trọng đối với danh pháp chính là tính đối tượng của nó, phụ thuộc vào đặc trưng của đối tượng được gọi tên
Như vậy, thuật ngữ được nhấn mạnh về chức năng định nghĩa còn danh pháp thì chủ yếu mang chức năng gọi tên Nội dung của thuật ngữ tương ứng với các từ tạo nên chúng còn danh pháp có thể được quan niệm là một chuỗi
kế tiếp nhau của các chữ cái, là một chuỗi các con số hay bất kỳ cách gọi tên
võ đoán nào [19, 270]
1.2.2.2 Thuật ngữ và từ nghề nghiệp
Trong hệ thống từ vựng, từ nghề nghiệp là lớp từ ngữ được dùng rất hạn chế cả về số lượng và phạm vi sử dụng Việc nghiên cứu về từ nghề nghiệp
Trang 3931
cũng chưa được thống nhất rõ ràng khi xác định khái niệm này Ví dụ như, từ nghề nghiệp được định nghĩa trong cuốn từ điển giải thích thuật ngữ ngôn
ngữ học “Các từ ngữ đặc trưng cho ngôn ngữ của các nhóm người thuộc
cùng một nghề nghiệp hoặc cùng một lĩnh vực hoạt động nào đó” [92]
Nguyễn Văn Khang cho rằng “Từ nghề nghiệp có thể coi đây là một “hệ mã”
ghi nhận thành quả tri thức và thành quả thực tế của con người trong một lĩnh vực nhất định” [42] Quan điểm của Đỗ Hữu Châu cho rằng “Từ vựng nghề nghiệp bao gồm những đơn vị từ vựng được sử dụng để phục vụ các hoạt động sản xuất và hành nghề của các ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và các ngành lao động trí óc, nghề thuốc, văn thư, v.v
[10, 53] Bên cạnh những điểm về sự khác biệt và tương đồng giữa từ nghề nghiệp và thuật ngữ, vẫn tồn tại sự xâm nhập, chuyển hóa lẫn nhau
Bên cạnh những quan niệm tiêu biểu nêu trên, còn có nhiều quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu về từ nghề nghiệp nhưng các tác giả đều có chung nhận định: từ nghề nghiệp là các đơn vị từ vựng được sử dụng hạn chế
về mặt xã hội (chỉ hoạt động trong khu vực của những nhóm người thuộc cùng một ngành nghề cụ thể tại một làng, một vùng cư dân nào đó, và đó là
các nghề thủ công như nghề gốm sứ, nghề dệt, nghề mộc, nghề giấy, v.v …) Theo chúng tôi, từ nghề nghiệp là khái niệm chỉ dùng để gọi tên những
từ ngữ được sử dụng trong phạm vi một ngành nghề thủ công truyền thống ở một địa phương cụ thể, mang đặc trưng của địa phương đó
1.2.2.3 Thuật ngữ và từ thông thường
Khi đề cập đến mối quan hệ giữa thuật ngữ và từ thông thường, đa số các nhà ngôn ngữ học đều cho rằng trong ngôn ngữ về bản chất khái niệm và về mặt sử dụng của hai đơn vị này rất khác nhau
Về bản chất khái niệm, khác với từ thông thường, thuật ngữ có ngoại
diên hẹp hơn nhưng nội hàm sâu hơn và được biểu thị một cách logic chặt chẽ hơn Nói cách khác, nghĩa biểu vật của thuật ngữ hoàn toàn trùng với sự vật,
Trang 4032
hiện tượng có thực trong thực tiễn của ngành kỹ thuật tương ứng Và ý nghĩa biểu niệm của thuật ngữ cũng chính là những khái niệm về các sự vật hiện tượng đó đúng như chúng tồn tại trong tư duy Như vậy, mặc dù cả hai đơn vị này đều cùng có chức năng định danh, nhưng định danh ở từ thông thường là gọi tên sự vật, còn định danh ở thuật ngữ là gọi tên khái niệm Thuật ngữ không mang tính biểu cảm, biểu thị sự đánh giá chủ quan của con người như
từ thông thường do ý nghĩa của thuật ngữ là định nghĩa một cách logic khái niệm, chứa đựng nội dung thuần lý trí, nên
Về mặt sử dụng, Teresa Cabré [135, 136] cho rằng những người sử dụng
từ thông thường đều là những người nói ngôn ngữ, còn những người sử dụng thuật ngữ là những nhà chuyên môn trong một lĩnh vực cụ thể Thuật ngữ thuộc một lĩnh vực chuyên ngành chỉ được sử dụng giới hạn trong lĩnh vực chuyên ngành đó trong khi từ thông thường lại được sử dụng trong những tình huống khác nhau Thuật ngữ thường được sử dụng để nhắc đến những chủ đề chuyên môn, còn từ thông thường được sử dụng để nhắc đến về bất kỳ chủ đề
nào trong cuộc sống hàng ngày, để diễn đạt cảm xúc, v.v …
Tuy nhiên, trong một số trường hợp thuật ngữ có thể trở thành từ thông thường và từ thông thường có thể được thuật ngữ hóa Trong lĩnh vực cơ khí, chúng tôi nhận thấy một số từ thông thường đã đi vào hệ thống TNCK như
arm (cánh tay đòn), key (then chốt), nose (mũi dao), pillow (ổ lót trục), v.v…Ngược lại cũng có những TNCK đã đi vào ngôn ngữ toàn dân và ngày
càng trở nên quen thuộc với đời sống hàng ngày như: copper (đồng), metal (kim loại), carbon (các-bon), lead (chì), v.v…
1.2.3 Tiêu chuẩn của thuật ngữ
Việc xác định thuật ngữ không chỉ giới hạn ở việc đưa ra khái niệm, chỉ
ra bản chất, chức năng, nội dung ngữ nghĩa mà còn phải chỉ ra các tiêu chuẩn của nó Có thể thấy, khi nghiên cứu về thuật ngữ, các nhà nghiên cứu trong nước và ngoài nước đưa ra khá nhiều tiêu chuẩn khác nhau cho thuật ngữ,
chẳng hạn như: tính chính xác, tính khoa học, tính hệ thống, tính ngắn gọn,