1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở phường mạo khê, thị xã đông triều, tỉnh quảng ninh

149 72 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 149
Dung lượng 2,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đời sống văn hoá của nhân dân ngày càng được nâng cao, nhiều chuẩn mực văn hóa, đạo đức mới được hình thành… Tuy nhiên so với những thành tựu trên các lĩnh vực khác như kinh tế, chính tr

Trang 1

ĐÀO THỊ PHƯƠNG THẢO

PHƯỜNG MẠO KHÊ, THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU,

TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA

Khóa 5 (2016 – 2018)

Hà Nội, 2018

Trang 2

ĐÀO THỊ PHƯƠNG THẢO

PHƯỜNG MẠO KHÊ, THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU,

Trang 3

Tôi xin cam đoan đề tài luận văn thạc sĩ “Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở phường Mạo Khê, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh” là

công trình tổng hợp tư liệu và nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực Những ý kiến, nhận định, tư liệu khoa học của các tác giả được ghi chú xuất xứ đầy đủ

Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn với nghiên cứu của mình

Hà Nội, ngày 16 tháng 7 năm 2018

Tác giả luận văn

Đào Thị Phương Thảo

Trang 4

BCĐ : Ban chỉ đạo

BTXH : Bảo trợ xã hội

HĐND : Hội đồng nhân dân

LĐTBXH : Lao động Thương binh Xã hội

MTTQ : Mặt trận Tổ quốc

PCT : Phó chủ tịch

TDĐKXDĐSVH : Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa TDTT : Thể dục thể thao

TNHH MTV : Trách nhiệm hữu hạn một thành viên

TTN : Thanh thiếu niên

UBND : Ủy ban nhân dân

VHVN : Văn hóa văn nghệ

Trang 5

Bảng 2.1: Danh hiệu Gia đình văn hóa (2011 - 2017) 62 Bảng 2.2: Danh hiệu Khu phố văn hóa (2011 - 2017) 64 Bảng 2.3: Công tác xóa đói giảm nghèo của địa phương (2011 - 2017) 66

Trang 6

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN

HÓA CƠ SỞ VÀ TỔNG QUAN VỀ PHƯỜNG MẠO KHÊ 9

1.1 Lý luận chung về xây dựng đời sống văn hóa cơ sở 9

1.1.1 Các khái niệm cơ bản 9

1.1.2 Cấu trúc đời sống văn hóa cơ sở 16

1.1.3 Nội dung xây dựng đời sống văn hóa cơ sở 23

1.2 Các văn bản của Đảng, Nhà nước về xây dựng đời sống văn hóa cơ sở 27

1.2.1 Các văn bản của Đảng 27

1.2.2 Các văn bản của Nhà nước 28

1.3 Tổng quan về phường Mạo Khê 30

1.3.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 30

1.3.2 Đặc điểm dân cư phường Mạo Khê 31

1.3.3 Kinh tế, xã hội 32

1.3.4 Văn hóa 33

1.3.5 Vai trò, tầm quan trọng của xây dựng đời sống văn hóa cơ sở đối với chính trị - kinh tế - xã hội phường Mạo Khê 36

Tiểu kết 38

Chương 2: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CƠ SỞ Ở PHƯỜNG MẠO KHÊ, THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH 40

2.1 Các chủ thể xây dựng đời sống văn hóa cơ sở phường Mạo Khê 40

2.1.1 Ban chỉ đạo phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa thị xã Đông Triều 40

2.1.2 Phòng Văn hóa và Thông tin thị xã Đông Triều 41

2.1.3 Ban Văn hóa xã hội phường Mạo Khê 43

2.1.4 Ban Chỉ đạo Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa phường Mạo Khê 44

2.2 Cơ chế phối hợp xây dựng đời sống văn hóa 45

2.3 Công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở phường Mạo Khê 48

2.3.1 Công tác ban hành và triển khai các văn bản quản lý 48

2.3.2 Xây dựng văn hóa trong chính trị 49

2.3.3 Xây dựng nếp sống văn hóa 53

2.3.4 Tổ chức các phong trào văn hóa 58

Trang 7

2.3.6 Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm 75

2.3.7 Nhận xét, đánh giá về xây dựng đời sống văn hóa cơ sở phường Mạo Khê 75

Tiểu kết 79

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CƠ SỞ Ở PHƯỜNG MẠO KHÊ 81

3.1 Các yếu tố cơ bản tác động đến sự phát triển đời sống văn hóa ở phường Mạo Khê 81

3.1.1 Yếu tố tích cực 81

3.1.2 Yếu tố tiêu cực 82

3.2 Phương hướng về phát triển văn hóa, xây dựng đời sống văn hóa 84

3.2.1 Phương hướng của tỉnh Quảng Ninh 84

3.2.2 Phương hướng của thị xã Đông Triều 85

3.2.3 Phương hướng của phường Mạo Khê 87

3.3 Các giải pháp 88

3.3.1 Tuyên truyền nâng cao về nhận thức 88

3.3.2 Tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động văn hóa trên địa bàn phường Mạo Khê 89

3.3.3 Phát triển nguồn nhân lực 91

3.3.4 Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện và phát huy vai trò của các thiết chế văn hóa thể thao ở cơ sở 94

3.3.5 Đẩy mạnh phong trào xây dựng Gia đình văn hóa, Khu phố văn hóa 95

3.3.6 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát 97

3.3.7 Phát huy vai trò của cộng đồng trong công tác xây dựng đời sống văn hóa 98

3.3.8 Đẩy mạnh thi đua khen thưởng 99

Tiểu kết 102

KẾT LUẬN 104

TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

PHỤ LỤC 113

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nền văn hóa Việt Nam được xem là tổng thể giá trị vật chất tinh thần, do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo trong quá trình dựng nước và giữ nước Nhờ nền tảng và sức mạnh đó nên cho dù bị đô hộ nhiều thế kỷ, dưới ách thống trị của phong kiến phương Bắc, thực dân và đế quốc nhưng dân tộc ta vẫn giữ vững và phát huy được bản sắc riêng của mình, chẳng những không bị đồng hóa mà còn quật cường đứng lên giành độc lập cho dân tộc

Trong đời sống xã hội của con người, ngoài việc làm ra của cải vật chất để thỏa mãn cuộc sống của mỗi người thì bên cạnh đó nhu cầu thụ hưởng và sinh hoạt văn hóa để thư giãn trong lúc nhàn rỗi sau những giờ lao động mệt nhọc cũng là một việc rất quan trọng, đó là nhu cầu thiết thực trong đời sống nhân dân hiện nay

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) đã xác định: "Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội" [22, tr.3], vì vậy:

“Phải đưa văn hóa thâm nhập vào cuộc sống hàng ngày của nhân dân, đặc biệt chú trọng xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, bảo đảm mỗi nhà máy, công trường, mỗi cơ quan, trường học, bệnh viện đều có đời sống văn hóa" [22, tr.9]

Quan điểm đó được nhấn mạnh hơn ở Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, nhiệm kỳ 2005 - 2010: “Tiếp tục phát triển sâu rộng

và nâng cao chất lượng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển văn hóa gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế

- xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội” [25]

Trang 9

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 9 (khóa XI) đã đánh giá 15 năm thực hiện Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 (khóa VIII), khẳng định sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đã có bước chuyển biến tích cực và đạt kết quả quan trọng Đời sống văn hoá của nhân dân ngày càng được nâng cao, nhiều chuẩn mực văn hóa, đạo đức mới được hình thành… Tuy nhiên so với những thành tựu trên các lĩnh vực khác như kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng, đối ngoại thì những thành tựu về lĩnh vực văn hóa chưa thực sự nổi bật và tương xứng, chưa đủ để tác động có hiệu quả xây dựng con người và môi trường văn hóa văn minh lành mạnh Để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh đảm bảo sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, xây dựng đời sống văn hóa trên địa bàn dân cư, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đoàn kết, dân chủ, văn minh, đạt chuẩn thực chất về văn hóa, nâng cao chất lượng, hiệu quả cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" là một nhiệm vụ quan trọng

Phường Mạo Khê, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh là một trong những phường đông dân cư của cả nước với gần 47.000 người, được phân chia thành 24 khu phố nằm trên diện tích tự nhiên 19,06 km2 Hiện tại nền kinh tế của phường này chủ yếu là công nghiệp, dịch vụ, thương mại và chỉ còn hơn 2% nông nghiệp Nhu cầu hưởng thụ văn hóa của người dân ngày càng cao, hệ thống cơ sở hạ tầng, đặc biệt là các thiết chế văn hóa luôn được quan tâm đầu tư xây dựng, nâng cấp Công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở bước đầu đi vào nền nếp và có ý nghĩa quan trọng đối với việc phát triển đời sống văn hóa vật chất, tinh thần của người dân Công tác giáo dục, khuyến học luôn được chú trọng và đạt được những thành tích cao, các phong trào "Uống nước nước nguồn", "Đền ơn đáp nghĩa", "Tương thân,

Trang 10

tương ái" thu hút đông đảo người dân tham gia Tuy nhiên, trong công tác triển khai xây dựng đời sống văn hóa cơ sở vẫn còn những hạn chế như: Ý thức chấp hành luật pháp của người dân còn chưa cao, quản lý nhà nước về văn hóa đôi lúc còn lung túng, hệ thống cơ sở vật chất mặc dù đã được nâng cấp song vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của người dân Công tác kiểm tra, giám sát còn chung chung, chưa sâu sát Môi trường văn hóa còn nhiều diễn biến phức tạp…[19]

Chính vì vậy, tôi quyết định chọn đề tài “Xây dựng đời sống văn

hóa cơ sở ở phường Mạo Khê, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh” làm

đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành Quản lý văn hóa, mong muốn góp phần công sức nhỏ bé của mình để hạn chế những yếu kém trong công tác xây dựng đời sống văn hóa ở địa phương mình, phát triển hoạt động văn hóa, hướng nhân dân giữ bản sắc và phát huy nền văn hóa dân tộc, xóa đói giảm nghèo, giảm dần tệ nạn xã hội, nâng cao dân trí, ổn định trật tự xã hội, thực hiện tốt chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của chính quyền địa phương

2 Tình hình nghiên cứu

Xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở là một chủ trương lớn của Đảng

và Nhà nước ta, là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc Thời gian qua, công tác xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở đã và đang thu được những thành tựu khả quan, góp phần tích cực vào việc thực hiện các nhiệm

vụ chính trị của Đảng và Nhà nước Các hoạt động văn hoá ở cơ sở tập trung vào triển khai đưa Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII về “Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” vào cuộc sống Vì vậy, vấn

đề này đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học và quản lý văn hóa

Trang 11

2.1 Các cuốn sách, công trình viết về lý luận chung xây dựng đời sống văn hóa

Tác giả Hoàng Vinh trong công trình “Mấy vấn đề lý luận và thực

tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta hiện nay” (Viện Văn hóa và văn hóa thông

tin Hà Nội, 1999) đã nhấn mạnh vai trò của việc tổ chức xây dựng đời sống văn hóa cơ sở chính là bước đi ban đầu nhằm xây dựng nền văn hóa tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đưa văn hóa thâm nhập vào cuộc sống hàng ngày của nhân dân [58]

Cuốn sách Về cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống

văn hóa của tác giả Nguyễn Hữu Thức xuất bản năm 2009 Cuốn sách là

một chuyên đề tổng kết, đánh giá có tính khoa học phản ánh thực chất hoạt động của phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa và đúc rút những kinh nghiệm chỉ đạo từ thực tiễn, xây dựng những luận cứ khoa học, từ đó đề xuất những giải pháp thúc đẩy phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa đi nhanh vào cuộc sống [51]

Tác giả Đinh Xuân Dũng với cuốn Mấy vấn đề Việt Nam hiện nay-

thực tiễn và lý luận xuất bản năm 2015, là một tập hợp các tiểu luận,

chuyên đề, bài viết của tác giả được tuyển chọn từ năm 2012 đến nay, đề cập thực trạng và công tác nghiên cứu lý luận văn hóa Việt Nam Cuốn sách đã nêu được mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và đời sống văn hóa tinh thần với sự phát triển bền vững trong xã hội hiện nay, đồng thời tác giả cũng phác thảo được những định hướng cơ bản trong quá trình triển khai xây dựng hệ thống lý luận văn hóa - nghệ thuật ở Việt Nam; từ đó đề xuất những giải pháp để phát triển văn hóa trở thành sức mạnh nội sinh của dân tộc [33]

Vụ Văn hóa quần chúng - Viện Văn hóa (1991), xuất bản cuốn Mấy

vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng đời sống văn hóa ở nước ta, nhấn

Trang 12

mạnh các quan điểm của Đảng và một số vấn đề thực tiễn về xây dựng đời sống văn hóa nước ta [59]

Bộ Văn hóa - Thông tin, Cục Văn hóa cơ sở (1999), với cuốn Hỏi

đáp về xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa, nếp sống văn hóa và tổ chức lễ hội truyền thống, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội đưa ra những câu

hỏi và câu trả lời xoay quanh vấn đề xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa, nếp sống văn hóa [13]

Bên cạnh đó còn khá nhiều cuốn sách đề cập đến vấn đề xây dựng

đời sống văn hóa ở cơ sở như: Cuốn Về văn hóa và xây dựng đời sống văn

hóa của tác giả Nguyễn Hữu Thức xuất bản năm 2005 [50] Cuốn Về phát triển văn hóa và xây dựng con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

của Phạm Minh Hạc, Nguyễn Khoa Điềm năm 2001 [35]; Cuốn Hỏi và đáp

về phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa của Ban chỉ

đạo phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" Trung ương (2000) [7]

2.2 Các luận văn liên quan đến xây dựng đời sống văn hóa

Viết về đề tài xây dựng đời sống văn hóa cơ sở có rất nhiều các luận văn, khóa luận tốt nghiệp của các học viên cao học, sinh viên các trường đại học văn hóa, nghệ thuật, đặc biệt là các bài báo, tạp chí do các cơ quan quản lý về văn hóa trong cả nước đăng tải về xây dựng đời sống văn hóa ở

cơ sở tại địa phương Chẳng hạn các công trình sau:

Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành Quản lý văn hóa của tác

giả Hoàng Văn Tầm (2011), Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở phường

Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn, Trường Đại học Văn hóa, Hà Nội Các luận văn

tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành Quản lý văn hóa của trường Đại học Sư

phạm Nghệ thuật Trung ương: “Xây dựng đời sống văn hóa ở huyện Đông

Triều, tỉnh Quảng Ninh”, Hoàng Văn Vinh (2012); “Xây dựng đời sống văn

Trang 13

hóa cơ sở trên địa bàn phường Thanh Xuân Bắc, quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội”, Nguyễn Thị Thu (2012); “Công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở trên địa bàn huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ”, Nguyễn Anh

Hùng (2014); “Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở thành phố Hải Dương,

tỉnh Hải Dương”, Đinh Thị Thu Mai (2014); “Xây dựng đời sống văn hóa

cơ sở thị trấn Đại Nghĩa, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội”, Hà Thị Thu

Thùy (2014)

Những công trình trên chủ yếu đi sâu tìm hiểu công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở đối với từng địa phương và từ đó đưa ra những giải pháp cụ thể nâng cao đời sống văn hóa tại địa phương đó Đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và cụ thể về xây dựng đời sống văn hóa cơ sở trên địa bàn phường Mạo Khê, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu:

Luận văn làm rõ thực trạng công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở phường Mạo Khê, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh từ năm 2011 đến nay, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao đời sống văn hóa cơ sở phường Mạo Khê, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về xây dựng đời sống văn hóa cơ sở

- Tổng hợp, phân tích các tài liệu về xây dựng đời sống văn hóa cơ sở

Trang 14

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở phường Mạo Khê, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Luận văn tập trung khảo sát, nghiên cứu thực trạng công tác xây dựng đời sống văn hóa ở phường Mạo Khê, thị xã Đông

Triều, tỉnh Quảng Ninh

- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở phường Mạo Khê từ năm 2011 đến nay, đây là thời điểm phường Mạo Khê bắt đầu triển khai mạnh công tác “Chỉnh trang đô thị” và xây dựng “Đô thị văn minh” (chương trình xây dựng Nông thôn mới, nông thôn kiểu mẫu) và là thời gian chuyển đổi từ thị trấn lên phường

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp tra cứu tài liệu: Trên cơ sở các tài liệu, công trình nghiên cứu về xây dựng đời sống văn hóa cơ sở của các nhà khoa học đi trước, tác giả luận văn đã phân tích, tiếp thu, kế thừa kết quả nghiên cứu liên quan đến công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở để từ đó vận dụng vào vấn đề nghiên cứu ở luận văn

- Phương pháp khảo sát thực địa: qua việc quan sát, ghi hình, chụp ảnh

về đời sống văn hóa cơ sở ở phường Mạo Khê

- Phương pháp tổng hợp và phân tích: Đây là phương pháp thu thập, cập nhật tài liệu, thông tin để giúp tác giả luận văn có cái nhìn sâu sắc hơn

về thực trạng công tác xây dựng đời sống văn hóa phường Mạo Khê

- Phương pháp thăm dò ý kiến, phỏng vấn sâu: Dùng mẫu phiếu thăm

dò ý kiến đối với người dân trên địa bàn và phỏng vấn những cán bộ làm công tác văn hóa tại địa phương để nắm được thực trạng của công tác xây

Trang 15

dựng đời sống văn hóa cơ sở, những ưu điểm và hạn chế, từ đó đưa ra những giải pháp cụ thể nâng cao đời sống văn hóa cơ sở trên địa bàn

Ngoài những phương pháp chính trên, tác giả còn sử dụng phương pháp nghiên cứu tiếp cận liên ngành, văn hóa học, nhân học văn hóa…

6 Những đóng góp của luận văn

- Luận văn là công trình nghiên cứu về thực trạng công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở phường Mạo Khê

- Đưa ra quan điểm và đề xuất những nhóm giải pháp nhằm nâng cao công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở phường Mạo Khê trong thời gian tới

- Kết quả của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo bổ ích cho sinh

viên ngành quản lý văn hóa và cán bộ quản lý văn hóa tại địa phương

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm có 03 chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Lý luận chung về xây dựng đời sống văn hóa cơ sở và tổng quan về phường Mạo Khê

Chương 2: Thực trạng xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở phường Mạo Khê, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh

Chương 3: Phương hướng và các giải pháp nâng cao công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở phường Mạo Khê

Trang 16

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CƠ SỞ

VÀ TỔNG QUAN VỀ PHƯỜNG MẠO KHÊ

1.1 Lý luận chung về xây dựng đời sống văn hóa cơ sở

1.1.1 Các khái niệm cơ bản

Để tiến hành nghiên cứu về công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ

sở trước hết phải làm rõ các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài

1.1.1.1 Khái niệm đơn vị cơ sở

Đơn vị cơ sở là hình thái tổ chức cơ bản của xã hội Đó là những cộng đồng dân cư liên kết với nhau trong các sinh hoạt diễn ra trong đời sống hằng ngày Theo tinh thần văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

V (1982) thì "Đơn vị cơ sở là làng, xã, phường ấp, nhà máy, công trường, nông trường, đơn vị lực lượng vũ trang, công an nhân dân, cơ quan trường học, bệnh viện, cửa hàng và cộng đồng xã hội tương đương" [21] Như vậy khái quát là mỗi cộng đồng dân cư địa bàn sinh hoạt cố định và tổ chức hành chính, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp, đơn vị vũ trang, ổn định được coi là một đơn vị văn hóa cơ sở Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là xây dựng văn hóa ngay trong đời sống hằng ngày của nhân dân Bởi vì chính cơ

sở là nơi diễn ra mọi hoạt động kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội là nơi thể hiện sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước và quyền làm chủ của nhân dân Đây cũng là nơi để quần chúng nhân dân xây dựng đời sống văn hóa và hưởng thụ các giá trị văn hóa, sáng tạo ra những văn hóa mới

1.1.1.2 Khái niệm văn hóa

Văn hóa là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi ở khắp các quốc gia trên thế giới và ở các thời đại và hoàn cảnh khác nhau Văn hóa là sản phẩm của con người, là hệ quả của sự tiến hóa nhân loại Văn hóa có nguồn

Trang 17

gốc từ tiếng La - tinh “Cultus”, có nghĩa là vun trồng, gieo trồng, sau chuyển nghĩa thành vun trồng trí tuệ con người Sau này từ “Cultus” chữ

La tinh được ghi thành từ Culture tiếng Anh, có nghĩa là văn hóa và trở thành thuật ngữ khoa học ở phương Tây vào giữa thế kỷ XIX Khi đời sống của con người càng phát triển cùng với những bước tiến vượt bậc của văn minh, khoa học, giáo dục, văn hóa được gắn bó với lao động sáng tạo, làm cho đời sống con người ngày càng hoàn thiện hơn Do nhu cầu phản ánh các hoạt động xã hội, khái niệm văn hoá đã được mở rộng trên nhiều lĩnh vực của đời sống Trong giao dịch thường ngày và trên cả báo chí, người ta

ít thấy một khái niệm nào mà sắc thái nghĩa lại phong phú và đa dạng như

từ văn hóa Chẳng hạn người ta có thể nói: văn hóa tình cảm, văn hóa giao tiếp, văn hóa tranh luận, văn hóa phê bình… Từ văn hóa ở đây nói về phép lịch sự, sự lễ độ, khiêm nhường biết kiềm chế cá nhân trong các mối quan

hệ ứng xử xã hội Gần đây trên các phương tiện thông tin đại chúng còn nói đến văn hóa chính trị, văn hóa quản lý, văn hóa kinh doanh

Năm 1871, Nhà văn hóa học E.B Tylor đưa ra định nghĩa: “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực, thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách là một thành viên của xã hội” [34, tr.13]

Theo định nghĩa này thì văn hóa và văn minh là một, nó bao gồm tất

cả những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người, từ tri thức, tín ngưỡng đến nghệ thuật, đạo đức, pháp luật…

Theo Chủ nghĩa Mác - Lênin, văn hóa chỉ gắn liền với con người và

xã hội loài người Cội nguồn của sự tồn tại phát triển văn hóa là ở hoạt động sáng tạo của con người V.I Lênin - người kế tục sự nghiệp của C Mác và Ph Ăngghen từ quan điểm xem xét văn hóa với tư cách là sự phát

Trang 18

triển bản chất của con người đã nhấn mạnh, phân tích sâu them mặt xã hội của văn hóa với cách tiếp cận từ hình thái kinh tế Người nhấn mạnh tính nhân loại, tính giai cấp, tính kế thừa của văn hóa, đặc biệt xem cách mạng văn hóa như một bộ phận hữu cơ của cách mạng xã hội chủ nghĩa

Có thể khẳng định, văn hóa là sản phẩm, sự sáng tạo của con người, thuộc về con người Văn hóa thể hiện nhiều nét đặc trưng tiêu biểu của một

xã hội, một tộc người, trên rất nhiều các lĩnh vực như đời sống vật chất từ kinh tế đến đời sống tinh thần, tình cảm, giáo dục, tâm linh, các hoạt động sinh hoạt hàng ngày Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức coi trọng vấn đề văn hoá và tư tưởng Người quan niệm:

Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn

bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá [40, tr.431] Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn, là toàn bộ những gì do con người sáng tạo ra, ở đâu có con người, quan

hệ giữa con người với con người thì ở đó có văn hoá Văn hóa là những gì gần gũi nhất xung quanh chúng ta, nhìn thấy, sờ thấy, nghe thấy, dù là văn hoá vật chất hay văn hoá tinh thần cũng đều là sản phẩm trực tiếp hay gián tiếp của con người, do con người sáng tạo ra vì mục đích của cuộc sống

Theo tác giả Trần Ngọc Thêm trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam,

ông định nghĩa "Văn hóa là các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội" [48, tr.10]

Trang 19

Đảng ta có quan điểm cho rằng văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa là quá trình xuyên suốt toàn bộ tiến trình lãnh đạo của Đảng từ năm

1930 đến nay và khẳng định văn hóa, văn nghệ là bộ phận khăng khít và gắn bó với đời sống nhân dân

Trong cuốn Đề cương văn hóa Việt Nam do cố Tổng Bí thư Trường

Chinh khởi thảo và công bố năm 1943 đã xác định: “Văn hóa gồm tất cả tư tưởng, văn học, nghệ thuật Văn hóa là một trong ba mặt trận: kinh tế, chính trị và văn hóa Ba nguyên tắc vận động văn hóa nước Việt Nam giai đoạn hiện nay là dân tộc, khoa học, đại chúng” [20]

Sự cần thiết phải tiến hành cách mạng tư tưởng, văn hóa đồng thời với cách mạng kỹ thuật và cách mạng trong quan hệ sản xuất đã được Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9/1960) nhấn mạnh Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (1976) và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng (1982) đã tiếp tục xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng, toàn dân trong thời kỳ quá

độ lên chủ nghĩa xã hội là xây dựng nền văn hóa có nội dụng xã hội chủ nghĩa, có hình thức dân tộc, có tính Đảng và nhân dân

Tại Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998) Đảng ta đã đưa ra quan điểm “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa

là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” Với quan điểm này Đảng ta xác định vai trò to lớn của văn hóa trong tất các các lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống, văn học nghệ thuật, giáo dục đào tạo, khoa học… nhờ có văn hóa đã làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt mang tính nhân bản sâu sắc, có lý tính, đầu óc sáng tạo và phê phán và khát vọng được vươn tới những gì tốt đẹp nhất trong xã hội

Văn kiện Đại hội lần thứ IX nhấn mạnh: “Tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, giáo dục, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà

Trang 20

bản sắc dân tộc làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của nhân dân” [23]

Như vậy, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một bộ phận quan trọng của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa nước ta, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên cần nêu cao vai trò cán bộ gương mẫu của người cộng sản, vận động nhân dân cùng thực hiện thắng lợi theo Nghị quyết của Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn

1.1.1.3 Khái niệm đời sống văn hóa và đời sống văn hóa cơ sở

Con người sinh ra và trưởng thành, muốn cho đời sống cá nhân được phong phú, lành mạnh thì tất yếu người đó có quan hệ đến: đời sống vật chất, đời sống tinh thần và đời sống xã hội

Khái niệm Đời sống văn hóa được nhiều nhà nghiên cứu tiếp cận trên nhiều phương diện khác nhau Tác giả Hoàng Vinh trong công trình

nghiên cứu Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta

cho rằng: "Đời sống văn hóa là bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm các yếu tố văn hóa tĩnh tại (các sản phẩm văn hóa vật thể, các thiết chế văn hóa) cũng như các yếu tố văn hóa động thái (con người và các dạng hoạt động văn hóa của nó) Xét về một phương diện khác, đời sống văn hóa bao gồm các hình thức văn hóa hiện thực và cả các hình thức sinh hoạt văn hóa tâm linh" [58, tr.268]

Trong cuốn Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở của Viện Văn hóa

(2003) có đề cập đến: “Đời sống văn hóa nói chung là một tổng hợp những yếu tố vật thể văn hóa nằm trong những cảnh quan văn hóa, những yếu tố hoạt động văn hóa của con người, những sự tác động lẫn nhau trong đời sống xã hội để tạo ra những quan hệ có văn hóa trong cộng đồng người, trực tiếp hình thành lối sống của con người trong xã hội” [57]

Như vậy, có thể hiểu rằng đời sống văn hóa được biểu hiện trong mọi hoạt động sống của con người, thể hiện cụ thể mặt giá trị của đời sống

Trang 21

vật chất và tinh thần của con người Vì vậy, muốn xây dựng đời sống văn hóa phải xây dựng một cách toàn diện, tổng thể các mục tiêu, nhiệm vụ của đời sống xã hội Đời sống văn hóa được đánh giá tồn tại qua đời sống văn hóa cơ sở, đời sống văn hóa của từng cá nhân và cộng đồng trong xã hội

Đời sống văn hóa ở cơ sở là một yếu tố quan trọng trong công tác xây dựng đời sống văn hóa Đã từ lâu, công tác xây dựng đời sống văn hóa

ở cơ sở đã được Đảng và Nhà nước xác định trong Chiến lược phát triển văn hóa lâu dài cho cộng đồng dân cư ở cấp cơ sở Đời sống văn hóa ở cơ

sở là một khái niệm bao trùm toàn bộ các điều kiện vật chất, các sản phẩm văn hóa, hoạt động văn hóa, hoạt động của các thiết chế văn hóa… ở đơn vị

cơ sở được con người nhận thức và thực hiện một cách tự giác, có kế hoạch

cụ thể nhằm xây dựng một đời sống văn hóa lành mạnh, đáp ứng nhu cầu văn hóa vật chất và tinh thần cho các tầng lớp nhân dân

1.1.1.4 Khái niệm xây dựng, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở

Thuật ngữ xây dựng được giải thích theo nhiều nghĩa khác nhau

Nghĩa 1: "Xây dựng", theo Từ điển Bách khoa Việt Nam là làm nên công

trình kiến trúc theo một kế hoạch nhất định (xây dựng nhà cửa, công trình văn hóa ); Nghĩa 2: "Xây dựng" được hiểu là làm cho hình thành một tổ chức hay một chỉnh thể về xã hội, chính trị, kinh tế, văn hóa theo một phương hướng nhất định (xây dựng gia đình, chính quyền, đất nước); hay Nghĩa 3 "Xây dựng" còn được hiểu là tạo ra sản phẩm, tạo ra cái có ý nghĩa trừu tượng (xây dựng những ước mơ, xây dựng cốt truyện, uy tín ) [55] Thông thường hiểu "xây dựng" là làm nên cái từ không đến có, làm ra cái mới tiến bộ và có ích lợi cho sự phát triển Có khi xây dựng là tiến hành đồng thời với việc phá bỏ đi cái cũ, cái lỗi thời để hình thành nên cái mới tốt đẹp và hoàn chỉnh hơn Để vận dụng vào khảo sát thực trạng công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở phường Mạo Khê, tác giả luận văn vận

Trang 22

dụng thuật ngữ "Xây dựng" theo nghĩa 2 để nói về xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở phường Mạo Khê

Đề tài của tác giả đề cập đến: Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở Theo tác giả xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là nhằm xây dựng cơ sở phát triển bền vững, có đời sống vật chất đầy đủ, đời sống tinh thần lành mạnh, phong phú

Xây dựng đời sống văn hóa là vấn đề khó khăn, phức tạp có nội dung phong phú có ý nghĩa trước mắt và lâu dài phải tiến hành thường xuyên, liên tục, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và xã hội, cả hệ thống chính trị phải chăm lo, trong đó vai trò tham mưu, trách nhiệm chuyên môn của ngành văn hoá - thể thao rất nặng nề

Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là công tác xây dựng, tổ chức và hoạt động văn hóa phù hợp với yêu cầu của từng cơ sở địa phương Đây được coi là hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ngay trong cuộc sống hàng ngày của nhân dân ở từng cấp đơn vị, nghĩa là từ tầng cấu trúc nền tảng của xã hội, hướng tới xây dựng đời sống văn hóa mà mục tiêu là những đơn vị ở cấp cơ sở

Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở cũng chính là xây dựng văn hóa ngay trong đời sống hàng ngày của người dân Bởi vì cấp cơ sở là nơi gần dân nhất diễn ra các hoạt động kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội, là nơi

có sự quản lý của bộ máy hành pháp, thể hiện sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và đề cao quyền làm chủ của nhân dân Ở cấp cơ sở, quần chúng nhân dân cùng tham gia xây dựng đời sống văn hóa dưới sự chỉ đạo của cấp chính quyền đại diện cho Đảng, Nhà nước, đồng thời hưởng thụ các giá trị văn hóa do mình sáng tạo ra

Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước Đây là một chủ trương quan trọng, có ý nghĩa

Trang 23

chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa tiên tiến, đậm

đà bản sắc dân tộc, làm nền tảng tinh thần của xã hội, tạo động lực để đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới của đất nước

Văn kiện Đại hội lần thứ X của Đảng đã nhấn mạnh:

Tiếp tục đưa các hoạt động văn hóa thông tin về cơ sở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc, phát động phong trào Toàn dân tham gia thực hiện nếp sống văn minh, gia đình, bản, làng văn hóa; tiến tới hoàn chỉnh hệ thống thiết chế văn hóa bằng nguồn lực nhà nước và mở rộng xã hội hóa, làm cho văn hóa thấm sâu vào từng khu dân cư, từng gia đình, từng người [25] Văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định:

Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, kế thừa, phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Tiếp tục củng cố và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, đưa phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả [26]

1.1.2 Cấu trúc đời sống văn hóa cơ sở

Cấu trúc đời sống văn hóa cơ sở vô cùng phong phú và phức tạp và ta

có thể tiếp cận cấu trúc đời sống văn hóa ở nhiều phương diện khác nhau

Trong cuốn Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở

nước ta, tác giả Hoàng Vinh cho rằng:

Đời sống văn hóa cơ sở là tổng hợp của hoạt động văn hóa, sản phẩm

và con người văn hóa: "Muốn cho các sản phẩm văn hóa nảy sinh và được vận hành trong đời sống xã hội thì phải có ba yếu tố: sản phẩm văn hóa, thể chế văn hóa, các dạng hoạt động văn hóa và những con người văn hóa Ba yếu tố đó tạo thành cấu trúc của đời sống văn hóa [58, tr.266]

Trang 24

Theo nhóm tác giả thuộc Trường Cao đẳng văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng: Đời sống văn hóa là tổng thể những yếu tố văn hóa vật thể, phi vật thể và nhân cách văn hóa bao quanh con người, gây ra sự tác động lẫn nhau giữa các cá nhân trên phạm vi không gian nào đó, trực tiếp hình thành lối sống và nếp sống con người ở đó [54, tr.8-9]

Dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau về cấu trúc văn hóa nhưng giới hạn trong luận văn này, cấu trúc của đời sống văn hóa cơ sở gồm 4 thành

tố: Thứ nhất là chủ thể hoạt động văn hóa ở cơ sở; Thứ hai là hệ thống các

giá trị văn hóa, biểu hiện ở các sản phẩm văn hóa vật thể và phi vật thể ở cơ

sở; Thứ ba là các thiết chế và cảnh quan, môi trường văn hóa ở cơ sở; Thứ

tư là các hoạt động văn hóa ở cơ sở

1.1.2.1 Chủ thể hoạt động văn hóa ở cơ sở

Chủ thể hoạt động văn hóa (hay còn gọi là con người văn hóa) là yếu

tố quan trọng nhất trong các yếu tố cấu thành đời sống văn hóa, bởi văn hóa mang tính đặc hữu của con người, chỉ có con người mới có hoạt động văn hóa, chỉ có con người mới tạo nên đời sống văn hóa

Con người sáng tạo ra văn hóa, tái tạo và sử dụng chúng như một phương tiện để thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của mình, làm cho đời sống của con người không phải là những hoạt động mang tính bản năng sinh tồn đồng thời con người cũng là sản phẩm của đời sống văn hóa, là đối tượng của văn hóa, con người tham gia vào đời sống văn hóa với vai trò là chủ thể Trong đời sống thực tiễn, có văn hóa của cá nhân, văn hóa của nhóm người và của xã hội, tất cả đều tương tác nhau trong sự vận hành của hệ giá trị văn hóa

Nghiên cứu chủ thể hoạt động văn hóa là nghiên cứu đặc điểm liên quan đến cộng đồng đó là trình độ văn hóa, bao gồm các khía cạnh như: học vấn, tuổi thọ, sức khỏe, nghề nghiệp, tín ngưỡng, tôn giáo, quan niệm sống, hành vi ứng xử đối với xã hội, nhu cầu về vật chất và tinh thần…

Trang 25

1.1.2.2 Hệ thống các giá trị văn hóa

Giá trị văn hóa được xem là sự kết tinh những thành tựu của con người trong quá trình hoạt động thực tiễn, cải tạo thế giới và cải tạo chính bản thân

Trong Từ điển Tiếng Việt định nghĩa "Giá trị - cái được xác định có

ích, có hiệu quả trong cuộc sống vật chất và tinh thần" [56, tr.725] Như vậy, khi nói tới các giá trị văn hóa là nói đến những giá trị kết tinh trong sản phẩm văn hóa vật thể và phi vật thể do con người sáng tạo ra Giá trị văn hóa chính là hạt nhân của đời sống văn hóa Đời sống văn hóa giống như một biểu đồ phản ánh sự sáng tạo, truyền bá và tác động của các giá trị thông qua hoạt động sống của con người

Tuy nhiên, giá trị không tồn tại riêng lẻ mà bao giờ cũng hợp thành một hệ thống, tạo thành hạt nhân tinh thần, là chất keo gắn kết cộng đồng, hướng tới một mục tiêu chung

Hiện nay hệ thống các giá trị được quan niệm theo nhiều cách khác nhau, nếu xem xét hoạt động sống của con người từ ba góc độ nhận thức, hành động và cảm xúc thì chúng ta thấy rằng hệ thống giá trị bao gồm ba phạm trù cơ bản đó là: chân, thiện, mỹ Chân, thiện, mỹ là ba phạm trù khác nhau, là đối tượng của nhận thức và sáng tạo khoa học, hành vi đạo đức và hoạt động thẩm mỹ - nghệ thuật Chúng thống nhất với nhau, phản ánh quan niệm của con người về những mối quan hệ ứng xử với tự nhiên và xã hội cũng như khả năng sáng tạo của con người theo quy luật của cái đẹp Như vậy có thể khẳng định rằng, đời sống văn hóa là quá trình vận động của chủ thể người và xã hội theo hướng ngày càng khẳng định giá trị của chân, thiện,

mỹ, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về vật chất và tinh thần cho con người

1.1.2.3 Hệ thống các thiết chế và môi trường văn hóa

Trong tài liệu giảng dạy bộ môn Thiết chế quản lý Văn hóa - Nghệ thuật của tác giả Nguyễn Hữu Thức tại trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật

Trang 26

Trung ương thì thiết chế có thể hiểu đó là: Thiết chế văn hóa (tiếng Anh là institution), được dịch là thể chế, thiết chế, định chế với nghĩa là hệ thống những luật lệ, quy tắc biểu hiện giá trị, chuẩn mực để mọi người trong xã hội đó chấp nhận Sau này hai từ thiết chế và thể chế có phân biệt nội dung phản ánh Thể chế giữ được nghĩa ban đầu còn thiết chế mang thêm nghĩa mới hàm ý chỉ các mô hình tổ chức xã hội có kết cấu chặt chẽ Theo nghĩa phát sinh có thể hiểu thiết chế là một tổ chức do con người lập ra, có mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ ở bên trong giữa con người với công việc thông qua các quy tắc, quy định, điều kiện bên trong giữa con người với công việc để thực hiện theo ý muốn chủ quan của con người Thiết chế văn hóa

có 03 loại, đó là thiết chế kinh tế, thiết chế văn hóa, thiết chế xã hội Thiết chế xã hội bao gồm gia đình, làng xóm, trường học, y tế… và ra đời nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu sinh tồn; bảo đảm an ninh trật tự, an toàn, hướng đến các chuẩn mực giá trị tinh thần [52, tr.1]

Khái niệm Thiết chế văn hóa được dùng rộng rãi trong ngành văn hóa Việt Nam Cuốn Từ điển Bách khoa Việt Nam đưa ra khái niệm:

Thiết chế văn hóa là chỉnh thể văn hóa hội tụ đầy đủ các yếu tố

cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, hệ thống biện pháp hoạt động và kinh phí hoạt động cho thiết chế đó Ví dụ, thiết chế nhà văn hóa bao gồm ngôi nhà, bộ máy tổ chức, nhân sự, quy chế hoạt động, nguồn kinh phí; chỉ riêng ngôi nhà hoặc công trình văn hóa chưa đủ để gọi là thiết chế văn hóa [55, tr.230]

Trong tài liệu giảng dạy bộ môn Quản lý thiết chế văn hóa - Nghệ thuật, tác giả Nguyễn Hữu Thức viết:

Thiết chế văn hóa là tổ chức xã hội ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của con người, bao gồm một số thành tố cơ bản

có liên kết với nhau chặt chẽ Muốn trở thành một thiết chế văn

Trang 27

hóa cần có 4 yếu tố, đó là bộ máy nhân sự được tổ chức chặt chẽ;

có cơ sở vật chất và phương tiện phục vụ hoạt động; có luật lệ để vận hành; có những hoạt động cụ thể, thường xuyên và công chúng tham gia sáng tạo, hưởng thụ văn hóa [52, tr.1]

Thiết chế văn hóa đang hằng ngày, hằng giờ đồng hành với đời sống nhân dân và là một phần không thể thiếu của xã hội Nó đóng vai trò quan trọng đối với đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, Thiết chế văn hóa bao gồm: sân vận động, nhà văn hóa, thư viện, bảo tàng, công viên văn hóa, rạp hát, rạp chiếu phim, các cơ quan thông tin đại chúng… Đây là nơi diễn ra các hoạt động văn hóa, là chiếc cầu nối, tăng thêm tình đoàn kết giữa người với người, là nơi truyền tải những giá trị văn hóa cộng đồng, nơi gắn kết giữa sáng tạo và thưởng thức, giữa văn hóa quá khứ và văn hóa đương thời Một xã hội muốn phát triển bền vững đòi hỏi không chỉ có kinh

tế vững mạnh mà còn phải đặc biệt quan tâm đến văn hóa và các thiết chế văn hóa đang ngày càng phát huy tác dụng đáp ứng nhu cầu của con người

về lối sống lành mạnh

Bên cạnh các thiết chế văn hóa, môi trường văn hóa cũng đóng vai trò quan trọng, nó thể hiện sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, đó là các thắng cảnh tự nhiên, kiến trúc, công trình xây dựng, đường phố, tượng đài Qua cảnh quan môi trường, các kiến trúc, công trình xây dựng… đã khái quát được đời sống văn hóa của cộng đồng và bên trong mỗi cảnh quan, kiến trúc, công trình xây dựng đó cũng chứa đựng những chuẩn mực của cộng đồng, thấm đượm sự lan tỏa các giá trị văn hóa

1.1.2.4 Các hoạt động văn hóa

Hoạt động văn hóa là những hoạt động sáng tạo, sản sinh ra các sản phẩm văn hóa Thông qua các hoạt động này, con người gắn kết với nhau,

Trang 28

gắn kết với môi trường văn hóa, hay có thể hiểu rằng, hoạt động văn hóa luôn mang tính xã hội

Ngày nay, nhu cầu của con người về đời sống vật chất và tinh thần ngày càng cao, do vậy các hoạt động văn hóa cần phải đa dạng, phong phú

để đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của người dân, được thể hiện qua đời sống văn hóa lành mạnh, phong phú và mức độ tham gia của người dân Hiện nay, hoạt động văn hóa gồm có một số hoạt động phổ biến như sau:

Hoạt động thông tin tuyên truyền, cổ động: Thông qua các hoạt động

phát thanh, truyền hình, báo chí, thông tin, cổ dộng, triển lãm… nhằm tuyên truyền đường lối phát triển văn hóa của Đảng và các chủ trương, chính sách phát triển văn hóa của Nhà nước Tuyên truyền về lối sống, nếp sống và giáo dục công dân, góp phần xây dựng con người, nền văn hóa ở địa phương, cơ quan, đơn vị Tuyên truyền, giáo dục truyền thống của dân tộc và của địa phương Tuyên truyền về các phong trào văn hóa, xã hội, phòng, chống các tệ nạn xã hội… qua đó sẽ nêu gương người tốt, việc tốt, phê phán thói hư, tật xấu, góp phần xây dựng nếp sống văn hóa ở cơ sở Các cơ quan phát thanh, truyền hình và báo chí của địa phương vừa là cơ quan ngôn luận của Đảng và Nhà nước, vừa là nơi phản ánh chân thực nguyện vọng của nhân dân

Hoạt động thể dục, thể thao, vui chơi giải trí: Trong cuộc sống bộn

bề những căng thẳng và mệt mỏi, hoạt động thể dục thể thao, vui chơi giải trí làm giảm những căng thẳng đầu óc sau một thời gian làm việc liên tục Ngoài tác dụng tăng cường thể chất, hoạt động thể dục thể thao còn rèn luyện con người ý chí bền bỉ, hoạt bát, tinh thần tập thể, đồng đội Vì vậy, ngày nay các hoạt động thể dục, thể thao, vui chơi giải trí có sức hấp dẫn đối với mọi lứa tuổi

Hoạt động câu lạc bộ: Là tổ chức xã hội tập hợp theo nguyện vọng

tự nguyện của những người có chung sở thích về những lĩnh vực khác nhau

Trang 29

như câu lạc bộ về chính trị - xã hội, câu lạc bộ về kinh tế - xã hội, khoa học

- kỹ thuật, văn học - nghệ thuật, thể dục - thể thao… Các câu lạc bộ này được tổ chức tại các cơ quan văn hóa, giáo dục như: nhà văn hóa, cung văn hóa, trung tâm truyền thông văn hóa thuộc hệ thống nhà nước hoặc tại các địa phương Tùy theo điều kiện cụ thể để thành lập những câu lạc bộ sở thích phù hợp với đặc điểm của từng địa phương

Hoạt động giáo dục truyền thống: Được diễn ra thường xuyên tại các

bảo tàng, nhà truyền thống, nhà văn hóa để tuyên truyền giáo dục truyền thống văn hóa, lịch sử cách mạng Các hoạt động thường được tổ chức đó

là "Uống nước nhớ nguồn", "Đền ơn đáp nghĩa", tổ chức các ngày hội Việc công nhận và tu sửa các di tích lịch sử văn hóa cũng nhằm giáo dục truyền thống có hiệu quả

Hoạt động xây dựng nếp sống văn hóa: Nếp sống bao gồm những

cách thức, hành động và suy nghĩ, những quy ước được lặp đi lặp lại hằng ngày thành thói quen như: Tập quán sản xuất, sinh hoạt, trong phong tục, lễ nghi, trong hành vi đạo đức, pháp luật Nói một cách khác, nếp sống là cách thức sống, sinh hoạt, ứng xử của con người, của cộng đồng, được lặp đi lặp lại nhiều lần, được chọn lọc và lắng đọng và tồn tại trong tiềm thức nhân dân

Trong cuốn Văn hóa - Tiếp cận lý luận và thực tiễn của tác giả

Nguyễn Tri Nguyên (2006) có đề cập:

Nếp sống là toàn bộ những mô thức ứng xử của con người, biểu hiện trong mối quan hệ của nó đối với thiên nhiên, với xã hội và với bản thân Những mô thức ứng xử đó được vận dụng lặp đi lặp lại nhiều lần trong cuộc sống sẽ trở thành thói quen, thành phong tục, tức chuẩn mực xã hội được cộng đồng chấp nhận và tự nguyện thực hiện Đó là nếp sống văn hóa của xã hội [43, tr 105]

Trang 30

Ngày nay, chính những thiết chế văn hóa ở cơ sở và các hoạt động của nó có tác dụng hình thành những nếp sống văn hóa, khắc phục những tiêu cực của nếp sống cũ Trong hoạt động xây dựng nếp sống văn hóa thì gia đình là một dạng đơn vị cơ sở đặc biệt được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, coi trọng Ngày 12/1/1998, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 27- CT/TW về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội là nhằm xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, đấu tranh bài trừ những hủ tục lạc hậu, tệ nạn xã hội và mê tín dị đoan

Trên đây là các yếu tố cơ bản hình thành cấu trúc của đời sống văn hóa nói chung, cũng là những mặt cơ bản hình thành nên diện mạo của đời sống văn hóa một cộng đồng, gắn với một không gian cụ thể

1.1.3 Nội dung xây dựng đời sống văn hóa cơ sở

Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là nhiệm vụ trọng tâm và lâu dài, được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, gắn liền với sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa nước ta hiện nay, nó trực tiếp tác động đến tư tưởng, đạo đức, lối sống, nếp sống của cộng đồng dân cư Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là để nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân, giữ vững ổn định xã hội, xây dựng nhân cách con người Việt Nam, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Từ khi đất nước bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội đã chuyển biến tích cực, đời sống kinh tế của người dân được nâng lên đáng kể Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa là phong trào nòng cốt nhằm xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh trên địa bàn cơ sở Trong bản Kế hoạch triển khai phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa do Ban chỉ đạo Trung ương phong trào ban hành ngày 12/4/2000 đã nêu 5 nội dung và 7 phong trào cụ thể, cũng chính là những nội dung thiết thực để xây dựng đời sống văn hóa ngay

Trang 31

trên địa bàn cơ sở Cho dù hơn 17 năm đã qua nhưng đến nay, những nội dung trong bản Kế hoạch đó vẫn nguyên giá trị hướng dẫn, chỉ đạo trong thực tiễn

5 nội dung xây dựng đời sống văn hóa gồm:

Một là, phát triển kinh tế, giúp nhau làm giàu chính đáng, xóa đói giảm nghèo: Nội dung này thể hiện rõ quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí

Minh "Văn hóa, văn nghệ không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính trị" Với quan niệm này có thể nhận thấy rằng, các nhân tố văn hóa thông qua các mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với các

tổ chức kinh tế - xã hội, giữa các hộ gia đình, các tổ chức chính trị, kinh tế -

xã hội với nhau trong sản xuất kinh doanh phải nhằm tới mục tiêu giúp nhau làm giàu chính đáng, xóa đói giảm nghèo Ngày nay với cơ chế thị trường ngày càng phát triển, nhiều hộ giàu ngày càng gia tăng, có cơ hội giúp đỡ hộ nghèo có công ăn việc làm, có kinh nghiệm tổ chức quản lý việc sản xuất, kinh doanh, từ đó vươn lên thoát nghèo, khơi dậy sự tương thân tương ái Hai việc tăng người giàu chính đáng và giảm người nghèo phải đồng thời trên mỗi chặng đường phát triển, tạo cho đời sống của người dân ngày càng được nâng cao cả về đời sống vật chất và tinh thần, đất nước ngày càng tiến lên

Hai là, xây dựng tư tưởng, chính trị lành mạnh: Trong xã hội hiện

nay, tăng trưởng kinh tế phải đảm bảo giữ vững môi trường ổn định chính trị, xã hội Văn hóa cũng góp phần vào việc giữ vững môi trường ổn định chính trị, xã hội Hoạt động văn hóa phải góp phần xây dựng nền tảng tư tưởng chính trị của Đảng cầm quyền, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Trong công cuộc tuyên truyền chính trị, văn hóa phải làm cho cán bộ, đảng viên, nhân dân thấm nhuần quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tin tưởng vào con đường

Trang 32

phát triển đất nước vì mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”

Xây dựng tư tưởng, chính trị vững mạnh là củng cổ và nâng cao tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc gắn với phong trào thi đua yêu nước; nhất trí với đường lối chính trị của Đảng, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của Nhà nước; hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao; đấu tranh chống quan điểm sai trái, có ý thức tự cường, tự tôn dân tộc, giữ gìn bí mật quốc gia

Ba là, xây dựng nếp sống văn minh, kỷ cương xã hội, sống và làm việc theo pháp luật: Văn hóa góp phần vào việc tạo ra nếp sống văn minh

trong mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng thích ứng với điều kiện sinh hoạt để thích ứng với sự phát triển của nền công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Xây dựng nếp sống văn minh, kỷ cương xã hội, sống và làm việc theo pháp luật là xây dựng tác phong công nghiệp, làm việc có kỷ luật, thực hiện tốt nội quy đơn vị, hương ước, quy ước của làng, xã, khu phố và quy định nơi công cộng, sống và làm việc theo pháp luật; thực hiện giao tiếp văn minh, lịch sự, thái độ vui vẻ, trách nhiệm với công việc; xây dựng công

sở văn minh, giảm thủ tục phiền hà, quan liêu, lãng phí; thực hiện tốt nếp sống văn minh, lành mạnh, tiết kiệm trong việc cưới, việc tang, giỗ tết, lễ hội và các sinh hoạt xã hội khác; giữ gìn và phát huy thuần phong mỹ tục

và đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc; không thực hiện các hành vi tín ngưỡng như đặt bát hương, lập bệ thờ, cúng lễ… ở bên ngoài khuôn viên nơi thờ tự đã được quy định; không hút thuốc lá trong nhà trẻ, bệnh viện, phòng họp, trong các rạp chiếu bóng, rạp hát, trên tàu xe, máy bay và những nơi tập trung đông người

Bốn là, xây dựng môi trường văn hóa sạch - đẹp - an toàn: Môi

trường văn hóa là sự hiện diện các vật thể văn hóa và nhân cách trong môi

Trang 33

trường sinh sống của con người Xây dựng môi trường văn hóa là thể hiện

sự tương tác, sự gắn bó của con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Xây dựng môi trường văn hóa sạch - đẹp - an toàn là xây dựng ý thức vệ sinh nơi ở, nơi công cộng; không gây rối và làm mất trật tự; không lấn chiếm vỉa hè, lề đường, đất công; không treo dán, viết vẽ quảng cáo, rao vặt tùy tiện nơi công cộng; ăn mặc sạch sẽ, lịch sự khi ra đường; bảo vệ môi trường, bảo vệ các di tích lịch sử - văn hóa, di tích cách mạng, các khu bảo tồn thiên nhiên; không sử dụng và lưu hành những sản phẩm văn hóa đồi trụy, không tham gia vào các hoạt động dịch vụ văn hóa trái với quy định, tích cực phòng chống các tệ nạn mại dâm, nghiện hút, cờ bạc, tham nhũng, mê tín dị đoan…

Năm là, xây dựng các thiết chế văn hóa- thể thao và nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa - thể thao ở cơ sở: Nhu cầu hưởng thụ văn

hóa của con người gắn liền với các thiết chế văn hóa, thể thao Do vậy xây dựng các thiết chế văn hóa - thể thao và nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa thể thao đã được chính quyền các địa phương và nhân dân quan tâm Trong bản Kế hoạch đã nêu một số nội dung cần phải triển khai như: Xây dựng đội ngũ cán bộ, hệ thống thiết chế, cơ sở vật chất kỹ thuật để tổ chức các hoạt động văn hóa của nhân dân; xây dựng quỹ xây dựng đời sống văn hóa, tổ chức các hoạt động giao lưu, sáng tạo, hưởng thụ văn hóa Các thiết chế văn hóa bao gồm: Nhà văn hóa, sân bãi thể thao, đài truyền thanh

- truyền hình, thư viện, điểm bưu điện văn hóa…

Để thực hiện tốt 5 nội dung trên, Ban chỉ đạo đã đưa ra 7 phong trào gồm: Phong trào ”Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; Phong trào ”Người tốt, việc tốt, các điển hình tiên tiến”; Phong trào ”Xây dựng gia đình văn hóa”; Phong trào ”Xây dựng làng văn hóa, khu phố văn hóa”; Phong trào ”Xây dựng công sở, doanh nghiệp, đơn vị lực lượng vũ trang có

Trang 34

nếp sống văn hóa”; Phong trào ”Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác

Hồ vĩ đại”; Phong trào ”Đẩy mạnh phong trào học tập, lao động sáng tạo”

Trên đây là nội dung xây dựng đời sống văn hóa do Ban chỉ đạo phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa của Trung ương chỉ đạo, hướng dẫn, ở luận văn này, tác giả xác định vận dụng xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở phường Mạo Khê gồm 6 mặt hoạt động, đó là:

- Ban hành và triển khai các văn bản quản lý

- Xây dựng văn hóa trong chính trị

- Xây dựng nếp sống văn hóa

- Tổ chức các phong trào văn hóa

- Xây dựng và tổ chức hoạt động văn hóa - thể thao ở các thiết chế văn hóa

- Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát

1.2 Các văn bản của Đảng, Nhà nước về xây dựng đời sống văn hóa cơ sở

Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là một trong những chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước đặt ra từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (1982) Đây là một công việc quan trọng, có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng văn hóa, lối sống, con người Việt Nam Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở chính là thực hiện nhiệm vụ đưa văn hóa thâm nhập vào cuộc sống, làm cho văn hóa ngày càng trở thành yếu tố khăng khít của đời sống

xã hội Để cụ thể hóa và đưa phong trào xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ngày càng phát triển, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành những văn bản chỉ đạo như:

1.2.1 Các văn bản của Đảng

- Năm 1998, Đảng ta ban hành Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII)

về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đưa ra các nhiệm vụ cụ thể trong đó có đề cập đến xây dựng đời sống văn hóa

Trang 35

- Chỉ thị số 27- CT/TW, ngày 12/1/1998 của Bộ Chính trị về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội

- Năm 2014, Đảng ta ban hành Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước

1.2.2 Các văn bản của Nhà nước

- Năm 2011, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư số 06/2011/TT-BVHTTDL ngày 8/3/2011 quy định mẫu về tổ chức hoạt động

và tiêu chí của Nhà văn hóa - khu thể thao thôn

- Năm 2011, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư số 12/2011/TT-BVHTTDL ngày 10/10/2011 Quy định chi tiết về tiêu chuân, trình tự, thủ tục, hồ sơ công nhận Danh hiệu “Gia đình văn hóa”; “Thôn văn hóa”; “Làng văn hóa”; “Ấp văn hóa”; “Bản văn hóa”; “Tổ dân phố văn hóa” và tương đương

- Năm 2011, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số TTg ngày 12/10/2011 phê duyệt Đề án xây dựng đời sống văn hóa công nhân ở các khu công nghiệp đến năm 2015, định hướng đến năm 2020

1780/QĐ Năm 2011, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1610/QĐ-TTg ngày 16/9/2011 Phê duyệt Chương trình thực hiện Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” giai đoạn 2011 -

2015, định hướng đến năm 2020

- Năm 2012, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư số 02/2013/TT-BVHTTDL ngày 24/01/2013 Quy định chi tiết tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục xét và công nhận “Phường đạt chuẩn văn minh đô thị”;

“Thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị”

- Năm 2012, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số TTg ngày 26/6/2012 về việc thành lập Ban chỉ đạo Trung ương Phong trào

Trang 36

794/QĐ-“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” trên cơ sở hợp nhất Ban Chỉ đạo Trung ương Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và Ban vận động Trung ương Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”

- Năm 2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số TTg ngày 15/01/2013 ban hành Quy chế Tổ chức và hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”

159/QĐ Năm 2013, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định số 604/QĐ-BVHTTDL về việc thành lập Văn phòng Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”

- Năm 2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2164/QĐ-TTg ngày 11/11/2013 về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở giai đoạn 2013 - 2020, định hướng 2030

- Năm 2014, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư số 05/TT-BVHTDL ngày 30/5/2014 về sửa đổi, bổ sung điều 6, của Thông tư

số 12/2010/TT-BVHTTDL quy định mẫu về tổ chức hoạt động và tiêu chí của Trung tâm Văn hóa - Thể thao xã và Thông tư số 06/2011/TT-BVHTTDL ngày 8/3/2011 quy định mẫu về tổ chức hoạt động và tiêu chí của Nhà văn hóa - Khu thể thao thôn

- Năm 2014, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư số 08/2014/TT-BVHTTDL ngày 24/9/2014 Quy định chi tiết tiêu chuẩn, trình

tự, thủ tục xét và công nhận “Cơ quan đạt chuẩn văn hóa”; “Đơn vị đạt chuẩn văn hóa”; “Doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa”

- Thông tư liên tịch số 144/2014/TTLT-BTC-BVHTTDL ngày 30/9/2014 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc Hướng dẫn quản lý

và sử dụng kinh phí hoạt động Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”

Trang 37

Các văn bản trên cho thấy Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, đặc biệt chú trọng xây dựng thiết chế văn hóa, thúc đẩy các phong trào xây dựng nếp sống văn minh, các danh hiệu văn hóa (gia đình, làng, bản, tổ dân phố văn hóa )

1.3 Tổng quan về phường Mạo Khê

1.3.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Phường Mạo Khê là một phường trực thuộc thị xã Đông Triều, có tọa độ 106 độ 36’10” kinh đông và 21 độ 03’58’’ vĩ bắc, cách trung tâm thị

xã Đông Triều 9 km về phía tây, cách thành phố Hạ Long trên 60 km về phía đông; phía bắc giáp xã Tràng Lương và xã Bình Khê; phía tây giáp phường Kim Sơn, phía mam giáp sông Đá Bạc và Nhà máy xi măng Hoàng Thạch; phía đông giáp thôn Xuân Quang và thôn Yên Hợp xã Yên Thọ

Mạo Khê là một phường có giao thông thủy, bộ rất thuận tiện Con đường quốc lộ 18 A chạy giữa phường từ tây sang đông với chiều dài gần 4km Cách đường 18 A từ 700 đến 1000 m về phía bắc, con đường sắt quốc gia có nhà ga Mạo Khê cũng chạy song song với đường quốc lộ 18 A và được xây dựng từ năm 1967 đến năm 1972 đưa vào sử dụng Đây là con đường nối liền từ ga Yên Viên – Hà Nội với khu công nghiệp cảng Cái Lân – Quảng Ninh, đồng thời còn có nhiệm vụ vận chuyển cung ứng than cho công ty xi măng Hoàng Thạch và nhà máy nhiệt điện Phả Lại

Về phía nam phường có sông Đá Bạc – một con sông gắn liền với chiến thắng quân Nguyên trên sông Bạch Đằng của nhà Trần Con sông này cũng chạy song song với đường quốc lộ 18A và cho phép tàu có trọng tải 1400 tấn có thể chạy lên vùng thượng lưu sông Lục Đầu Giang (Bắc Ninh, Bắc Giang) Bên bờ sông phía Mạo Khê có 2 cảng lớn là cảng Mạo Khê và cảng Bến Cân và rất nhiều cảng nhỏ khác, có thể bốc rót mỗi ngày hàng vạn tấn xi măng, than, đất sét và các vật liệu khác

Trang 38

Mạo Khê là một phường thuộc dạng “trung du – miền núi”, có diện tích tự nhiên là 19,06 km2 bằng 1906,46 ha Địa hình không đồng nhất, dốc dần về phía Nam Phía bắc phường là dãy núi Đông Sơn có các ngọn núi

Mi Hương, Bảo Quan, Bắc Cua, Cao Bằng và Nấm Chương… với độ cao

từ 300 đến 500 m so với mực nước biển, tại đây đã hình thành nên khoảng

500 ha đất lâm nghiệp Tiếp theo là những dải đồi xoai xoải, liên tiếp, có độ cao từ 100 đến 200 m, chứa đựng trong lòng nó khoảng 1,6 tỷ tấn than đá [29, tr.59] tạo nên vùng đồi núi trọc rộng khoảng 343 ha, nằm trong khu vực khai thác than

Phía nam phường là những cánh đồng bằng phẳng xen lẫn những hồ, đầm nối tiếp nhau chạy dọc theo bờ đê sông Đá Bạc Do quá trình trước đây và sau này thường xuyên lấy đất để tôn tạo, áp trúc cho hệ thống đê

“Đỉnh Nhĩ” đã được hình thành từ những năm 1526” [1, tr.37-38]

Khí hậu Mạo Khê tương đối ôn hòa, nhiệt độ trung bình trong năm là 23,4 độ C… Đây là khí hậu tốt cho sức khỏe và có lợi cho sản xuất, kinh

doanh, dịch vụ

1.3.2 Đặc điểm dân cư phường Mạo Khê

Mạo Khê là đô thị loại IV, có diện tích tự nhiên gần 20 km2, dân số gần 5 vạn người, được chia thành 24 khu hành chính Đảng bộ hiện nay có 1.485 đảng viên, sinh hoạt tại 41 chi bộ trực thuộc, trong đó có 24 chi bộ khu phố, 13 chi bộ trường học gồm các bậc mầm non, tiểu học và THCS,

có 01 chi bộ HTX dịch vụ nông nghiệp, 01 chi bộ công an, 01 chi bộ cơ quan và 01 chi bộ thủ công Mạo Khê gồm có 4 dân tộc đang sinh sống là Kinh, Tày, Sán Dìu và Hoa trong đó dân tộc Kinh chiếm 98% dân số Mật

độ dân số trung bình là 105 người/km2, tỷ lệ tăng dân số hàng năm là 0,85% Số người trong độ tuổi lao động là trên 20.183 người với số dân đông và cơ cấu số dân như trên đã tạo điều kiện thuận lợi song cũng tạo ra không ít khó khăn cho phát triển kinh tế xã hội của địa bàn [19]

Trang 39

1.3.3 Kinh tế, xã hội

Mạo Khê là một phường có nhiều khoáng sản có giá trị kinh tế cao Trước hết là than đá Mỏ than Mạo Khê (nay là Công ty than Mạo Khê) là một trong những địa danh sớm nhất phát hiện ra các vỉa than thuộc bể than Quảng Ninh, cũng là một địa danh sớm nhất sản sinh ra giai cấp công nhân Việt Nam; một địa danh sớm nhất tại vùng Đông Bắc Bắc Bộ hình thành các tổ chức chính trị cách mạng ở đầu thế kỷ XIX Mỏ than Mạo Khê từ khi được khôi phục đến nay (1954-2004) đã sản xuất và cung cấp một lượng lớn than nguyên khai cho nền kinh tế quốc dân, mang lại công ăn việc làm cho một lượng lớn người dân, tăng thu nhập, nâng cuộc sống của người dân Mạo Khê ngày càng cao

Mạo Khê là một trung tâm thương mại của một khu vực dân cư rộng lớn Phường Mạo Khê có một “trung tâm thương mại” là chợ Mạo Khê Chợ được đặt ở một điểm nút giao thông gần trung tâm phường (ngã tư Hoàng Hoa Thám) Chợ được xây dựng từ năm 1976 và đã quan một số lần được cải tạo, nâng cấp, nay chợ rất sầm uất

Do tính chất đặc thù của Mạo Khê là đô thị công nghiệp, nên ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ (3%), nhịp độ tăng trưởng không cao nhưng vẫn duy trì được vai trò trong cơ cấu phát triển kinh tế của phường,

vì vậy công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, xây dựng phát triển các mô hình mới trong sản xuất nông nghiệp luôn được quan tâm đầu tư Đến nay tổng diện tích canh tác nông nghiệp có

208 ha, hệ số quay vòng sử dụng đất là 2,4 lần Tổng giá trị sản xuất đạt khoảng 12,5 tỷ đồng/ năm Tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 4%/ năm, góp phần làm tăng giá trị sản xuất và tạo việc làm ổn định cho một bộ phận lao động trên địa bàn

Mạo Khê là một trong hai địa phương có hệ thống thông tin liên lạc sớm nhất và lớn nhất thị xã Đông Triều Mạng điện thoại phường có tốc độ

Trang 40

phát triển đột biến; mạng lưới Internet, truyền hình cáp, truyền hình kỹ thuật số đã phát triển đến tất cả các khu, có khả năng đáp ứng nhu cầu sử dụng và phục vụ tốt các yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội [19]

Hệ thống giáo dục đào tạo trên địa bàn phường Mạo Khê phát triển khá nhanh, phân bổ hợp lý Cụ thể: có 5 trường mầm non, 5 trường tiểu học, 3 trường trung học cơ sở, 2 trường trung học phổ thông, 1 trung tâm GDTX Cơ sở vật chất cũng như đội ngũ giáo viên trong các trường học ngày càng được đầu tư theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá nhờ thực hiện phương thức xã hội hoá, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục

Hệ thống y tế trên địa bàn thị trấn bao gồm các cở sở y tế nhà nước, bệnh viện và phòng khám tư nhân đã và đang được hình thành ngày càng nhiều, tạo thành mạng lưới rộng khắp Các cơ sở y tế ngày càng được hiện đại hoá về trang thiết bị, nâng cao trình độ của đội ngũ y tế

Tính đến nay, đã có 100% các hộ dân được sử dụng điện trực tiếp của ngành điện Tỷ lệ đường phố chính được chiếu sáng là trên 95% và tỷ

lệ ngõ hẻm được chiếu sáng là trên 70% vào ban đêm đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc đi lại của nhân dân Trên 60 % hộ dân được sử dụng nước của xí nghiệp nước Mạo Khê, số hộ còn lại sử dụng bằng nguồn nước giếng khoan

1.3.4 Văn hóa

Mạo Khê là một vùng đất của nhiều dòng họ, một vùng phong phú

về văn hóa tâm linh với cụm di tích lịch sử cách mạng khu mỏ Mạo Khê Chùa Non Đông là một điểm nằm trong cụm di tích đó, nơi đây là nơi sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng mang tính tâm linh của người dân Mạo Khê và cũng từng là cơ sở bí mật của tổ chức lãnh đạo phong trào công nhân Mỏ

Mạo Khê

Chùa Non Đông còn có tên là Tường Quang Tự (ngôi chùa mang lại ánh sáng may mắn), được xây dựng từ thời nhà Trần vào khoảng cuối thế

Ngày đăng: 15/12/2018, 09:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Đông Triều (2010), Lịch sử Đảng bộ huyện Đông Triều, tập I, Nxb Chính trị Quốc Gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Đông Triều
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ huyện Đông Triều
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia
Năm: 2010
2. Ban Chấp hành Đảng bộ thị trấn Mạo Khê (2008), Lịch sử Đảng bộ và nhân dân thị trấn Mạo Khê (1929 – 2005), Nxb Lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ và nhân dân thị trấn Mạo Khê (1929 – 2005)
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ thị trấn Mạo Khê
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2008
3. Ban chỉ đạo phong trào TDĐKXDĐSVH phường Mạo Khê (2015), Báo cáo tổng kết 15 năm thực hiện phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, Mạo Khê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết 15 năm thực hiện phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa
Tác giả: Ban chỉ đạo phong trào TDĐKXDĐSVH phường Mạo Khê
Năm: 2015
5. Ban chỉ đạo phong trào TDĐKXDĐSVH thị xã Đông Triều (2015), Báo cáo kết quả 15 năm thực hiện phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn, Đông Triều Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả 15 năm thực hiện phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn
Tác giả: Ban chỉ đạo phong trào TDĐKXDĐSVH thị xã Đông Triều
Năm: 2015
6. Ban chỉ đạo phong trào TDĐKXDĐSVH tỉnh Quảng Ninh (2015), Báo cáo kết quả 15 năm thực hiện phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, Quảng Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả 15 năm thực hiện phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa
Tác giả: Ban chỉ đạo phong trào TDĐKXDĐSVH tỉnh Quảng Ninh
Năm: 2015
8. Ban chỉ đạo Trung ương phong trào TDĐKXDĐSVH (2015), Các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn phong trào TDĐKXDĐSVH, Nxb Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn phong trào TDĐKXDĐSVH
Tác giả: Ban chỉ đạo Trung ương phong trào TDĐKXDĐSVH
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2015
9. Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (2006), Thông tri về nâng cao chất lượng cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư", Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư
Tác giả: Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Năm: 2006
11. Bộ Chính trị (1998), Chỉ thị số 27-CT/TW ngày 12/01/1998 của Bộ Chính trị về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 27-CT/TW ngày 12/01/1998 của Bộ Chính trị về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 1998
12. Bộ Văn hóa – Thông tin (1999), Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc – thực tiễn và giải pháp, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc – thực tiễn và giải pháp
Tác giả: Bộ Văn hóa – Thông tin
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1999
13. Bộ Văn hóa - Thông tin, Cục Văn hóa cơ sở (1999), Hỏi đáp về xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa, nếp sống văn hóa và tổ chức lễ hội truyền thống, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa, nếp sống văn hóa và tổ chức lễ hội truyền thống
Tác giả: Bộ Văn hóa - Thông tin, Cục Văn hóa cơ sở
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1999
14. Bộ Văn hóa Thông tin, Cục Văn hóa Thông tin cơ sở (1999), Hỏi đáp về xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa, nếp sống văn hóa và tổ chức lễ hội truyền thống, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa, nếp sống văn hóa và tổ chức lễ hội truyền thống
Tác giả: Bộ Văn hóa Thông tin, Cục Văn hóa Thông tin cơ sở
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1999
15. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2008), Văn bản của Đảng, Nhà nước về công tác Văn hóa – Thông tin về nếp sống văn hóa, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản của Đảng, Nhà nước về công tác Văn hóa – Thông tin về nếp sống văn hóa
Tác giả: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2008
16. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2009), Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020
Tác giả: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2009
18. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2014), Các văn bản của Đảng và nhà nước về nếp sống văn hóa, Nxb Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: văn bản của Đảng và nhà nước về nếp sống văn hóa
Tác giả: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2014
19. Đảng bộ phường Mạo Khê (2017), Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2017, phương hướng, nhiệm vụ năm 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2017
Tác giả: Đảng bộ phường Mạo Khê
Năm: 2017
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1943), Đề cương văn hóa Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề cương văn hóa Việt Nam
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1943
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (1982), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1982
22. Đảng Cộng Sản Việt Nam (1998), Văn kiện hội nghị lần thứ 5 ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ 5 ban chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
23. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2001) Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
24. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w