Trong quá trình xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc quản lý về hoạt động biểu diễn nghệ thuật ở các cấp nói chung và trên từng địa bàn cụ thể nói riêng đò
Trang 1LÊ THỊ HOÀI THANH
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BIỂU DIỄN NGHỆ THUẬT
Ở TỈNH NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA
Khóa 5 (2016 - 2018)
Hà Nội, 2018
Trang 2LÊ THỊ HOÀI THANH
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BIỂU DIỄN NGHỆ THUẬT
Ở TỈNH NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Quản lý Văn hóa
Mã số: 8319042
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS Đào Mạnh Hùng
Hà Nội, 2018
Trang 3quả, trích dẫn trong luận văn là đầy đủ, chính xác và trung thực Những ý kiến khoa học được đề cập trong luận văn chưa được ai công bố ở bất kỳ nơi nào khác Nếu có điều gì trái với lời cam đoan tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Lê Thị Hoài Thanh
Trang 4BDNT Biểu diễn nghệ thuật
NTBD Nghệ thuật biểu diễn
UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và
Văn hóa của Liên hiệp quốc
VH&TT Văn hóa và Thông tin
VH,TT&DL Văn hóa, thể thao và du lịch
WTO Tổ chức Thương mại thế giới
Trang 5MỞ ĐẦU ……… ……… 1
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BIỂU DIỄN NGHỆ THUẬT VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU ……… 9
1.1 Khái quát về nghệ thuật và hoạt động BDNT………… 9
1.1.1 Khái niệm……… 9
1.1.2 Những vấn đề lý luận về quản lý hoạt động BDNT………… 14
1.2.3 Vai trò của QLNN đối với hoạt động BDNT ……… 35
Tiểu kết chương 1 37
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BIỂU DIỄN NGHỆ THUẬT Ở TỈNH NINH BÌNH ……… 39
2.1 Chủ thể quản lý ……… 39
2.1.1 Bộ máy tổ chức, chức năng nhiệm vụ ……… 39
2.1.2 Nguồn lực quản lý ……… 45
2.2 Công tác quản lý hoạt động BDNT ở tỉnh Ninh Bình ……… 47
2.2.1 Ban hành và thực thi hệ thống chính sách ……… 47
2.2.2 Đầu tư cho hoạt động biểu diễn nghệ thuật 48
2.2.3 Kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm trong hoạt động BDNT 53
2.3 Thực trạng hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại Ninh Bình …… 54
2.3.1 Hoạt động biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp ……… 54
2.3.2 Hoạt động biểu diễn nghệ thuật quần chúng 66
2.4 Đánh giá công tác quản lý hoạt động BDNT ở tỉnh Ninh Bình 72
2.4.1 Ưu điểm ……… 72
2.4.2 Hạn chế ……… 74
Tiểu kết chương 2……… 78
Trang 6BÌNH ……… 79
3.1 Kinh nghiệm quản lý trên thế giới ……… 79
3.2 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam ……… 81
3.3 Quan điểm và mục tiêu của Đảng về hoạt động BDNT ……… 84
3.4 Xu thế của hoạt động BDNT ở tỉnh Ninh Bình …… 90
3.5 Những giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động BDNT ở tỉnh Ninh Bình ……… 92
3.5.1 Nhóm giải pháp về công tác quản lý nhà nước……… 93
3.5.2 Giải pháp trong quản lý hoạt động BDNT chuyên nghiệp … 102
3.5.3 Giải pháp đối với hoạt động nghệ thuật quần chúng………… 111
Tiểu kết chương 3 ……… 113
KẾT LUẬN ……… 114
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 116
PHỤ LỤC ……… 122
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sự nghiệp đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng đã làm thay đổi diện mạo và vị thế của nước ta trên trường quốc tế Nhịp sống sôi động của kinh tế thị trường, đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa, mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế đã tạo xu hướng phát triển đầy thuận lợi nhưng cũng chứa đựng trong đó những thách thức tiềm ẩn Chính vì vậy, trong tình hình hiện nay, hơn bao giờ hết cùng với sự phát triển của kinh tế, văn hóa phải đóng vai trò điều tiết tinh thần, phải góp phần đắc lực vào việc khai thác những nhân tố tích cực, hạn chế những yếu tố tiêu cực trong đời sống xã hội
Nghệ thuật biểu diễn - một trong những thành tố quan trọng không thể thiếu của văn hóa có vị trí, vai trò hết sức to lớn đối với đời sống tinh thần của người dân, góp phần xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam Trong những năm qua, lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật đã đạt nhiều thành tựu, đáp ứng một phần quan trọng nhu cầu hưởng thụ văn hoá của các tầng lớp nhân dân, đóng góp tích cực vào sự nghiệp đổi mới, đặc biệt là góp phần củng cố “sự sâu rễ bền gốc” nơi nhân dân Xu thế đất nước vận động và hướng tới nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, chắt lọc tinh hoa văn hóa nhân loại và phát triển hơn nữa giá trị tinh túy văn hóa dân tộc Việt Nam ngàn đời lưu giữ thì hoạt động nghệ thuật cũng có lối đi riêng của mình Những giá trị văn hóa đích thực của nhân loại sẽ được tiếp thu, còn biểu hiện chưa đẹp, phản cảm sẽ bị loại ra khỏi dòng chảy phát triển
Để đạt được kết quả đó, vai trò của quản lý về hoạt động biểu diễn nghệ thuật rất quan trọng, nó góp phần định hướng cho thẩm mỹ nghệ thuật đặc biệt là của giới trẻ đi đúng hướng, xu thế của xã hội với quan điểm lấy Chân - Thiện - Mỹ làm gốc rễ của sự phát triển
Trang 8Ninh Bình là vùng đất cố đô có bề dày văn hoá - lịch sử hàng nghìn năm Văn hoá truyền thống Ninh Bình vừa có nét riêng bản địa, vừa mang sắc thái vùng miền do yếu tố hội tụ, giao thoa của nhiều nền văn minh Với nền móng lịch sử văn hóa, nghệ thuật lâu đời của dân tộc nói chung và tỉnh Ninh Bình nói riêng, hoạt động văn học nghệ thuật tỉnh đã đóng góp to lớn vào sự nghiệp xây dựng tỉnh Ninh Bình trong các cuộc kháng chiến và trong công cuộc đổi mới hiện nay, đặc biệt trong sự nghiệp xây dựng đời sống văn hoá cơ sở
Lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật có vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa, góp phần giáo dục, định hướng về thẩm mỹ, lối sống của người xem, nhất là thế hệ trẻ Đây cũng là một trong những phương tiện biểu đạt truyền thống văn hóa, hình ảnh con người Việt Nam nói chung và tỉnh Ninh Bình nói riêng, góp phần tích cực trong việc giao lưu, hợp tác quốc tế về văn hóa Trong những năm qua, hoạt động biểu diễn và tổ chức biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp tỉnh Ninh Bình đã góp phần làm cho các loại hình nghệ thuật phát triển, đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung, nhiều chương trình nghệ thuật có chất lượng, đáp ứng được nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của nhân dân
Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức hoạt động biểu diễn nghệ thuật vẫn còn xuất hiện nhiều hiện tượng tiêu cực, vi phạm như: Tổ chức biểu diễn không có giấy phép; Không đúng nội dung giấy phép; Bán vé quá số ghế quy định; Tự ý tăng giá vé; Quảng cáo sai sự thật - không đúng nội dung, thời gian chương trình biểu diễn; Mạo danh, sử dụng thiết bị thu âm trước để thể hiện thay cho biểu diễn thật; Người biểu diễn tự ý thêm bớt lời
ca, động tác biểu diễn và trang phục phản cảm, không phù hợp với thuần phong mỹ tục của dân tộc Những điều này đã làm ảnh hưởng đến phong cách thẩm mỹ của một bộ phận giới trẻ, đồng thời gây những bức xúc trong
dư luận xã hội
Trang 9Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, xây dựng một xã hội vừa có đời sống vật chất đầy đủ, vừa có đời sống tinh thần lành mạnh, phong phú là mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đề ra Bên cạnh đó, nhu cầu hưởng thụ nghệ thuật của người dân ngày càng phong phú, đa dạng Muốn cho văn học nghệ thuật nói chung và nghệ thuật biểu diễn nói riêng phục vụ xã hội một cách hiệu quả, phát huy được hết tác dụng của mình thì công tác quản lý nhà nước phải đảm bảo điều kiện cần thiết cho lĩnh vực này vừa hoạt động đúng tính chất, vừa đảm bảo nâng cao khả năng cảm thụ, thưởng thức nghệ thuật của công chúng
Trên cở sở pháp lý và thực tiễn của công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật đang đặt ra ngày càng bức xúc trong thời kỳ phát triển CNH, HĐH, hội nhập và phát triển có tính toàn cầu, cần nâng cao năng lực quản lý nhà nước ngày càng hiệu lực và hiệu quả hơn Chính
vì vậy, qua tìm hiểu nghiên cứu, tôi chọn đề tài “Quản lý hoạt động biểu
diễn nghệ thuật ở tỉnh Ninh Bình” làm đề tài luận văn thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu
Đối với nước ta, quản lý nhà nước về hoạt động biểu diễn nghệ thuật
là vấn đề còn mới mẻ Trong quá trình xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc quản lý về hoạt động biểu diễn nghệ thuật
ở các cấp nói chung và trên từng địa bàn cụ thể nói riêng đòi hỏi cần phải được làm sáng tỏ Chính vì thế mà vấn đề này đã và đang thu hút sự quan tâm của các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu Có thể khái quát một số đề tài liên quan đến luận văn đáng chú ý:
- Lê Thị Thu Hiền (2009), Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật sân khấu truyền thống ở Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch [23] Luận văn
Thạc sĩ Tác giả trình bày những vấn đề chung và thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động biểu diễn nghệ thuật truyền thống của Bộ Văn Hóa, Thể
Trang 10Thao và Du Lịch Từ đó đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả cho hoạt động này
- Trần Thục Quyên (2006), Quản lý hoạt động Biểu diễn nghệ thuật tại Nhà hát Tuổi trẻ [36] Luận văn Thạc sĩ quản lý Văn hóa Tác giả trình
bày cơ sở lý luận hoạt động biểu diễn nghệ thuật cũng như nêu lên thực trạng quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại Nhà hát Tuổi Trẻ Qua đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại Nhà hát Tuổi trẻ
- Phạm Tuấn Anh (2013), Quản lý Nghệ thuật biểu diễn chuyên nghiệp ở Thái Bình [1] Luận văn Thạc sĩ quản lý Văn hóa Tác giả trình
bày cơ sở lý luận và thực trạng quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp ở Thái Bình Từ đó đưa ra những giải pháp cho nghệ thuật biểu diễn ở Thái Bình phát triển phù hợp với thời kỳ đổi mới hiện nay
- Nguyễn Thanh Xuân (2017), Quản lý nguồn nhân lực trong các tổ chức nghệ thuật biểu diễn công lập trên địa bàn Hà Nội [48] Luận án Tiến
sĩ Tác giả đã hệ thống các lý thuyết về tạo động lực để tạo ra đòn bẩy hiệu quả công việc, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nguồn nhân lực trong tác tổ chức NTBD hiện nay, nhận diện bảy hiệu quả trong quản lý nguồn nhân lực của các tổ chức NTBD công lập hiện nay theo hiệu quả cá nhân và hiệu quả tổ chức, nêu lên xu hướng phát triển của NTBD công lập trong những năm tới, phát triển theo chiều hướng thực hiện lộ trình tự chủ và hoạt động theo cơ chế thị trường, cạnh tranh với các loại hình giải trí khác Cuối cùng đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của các tổ chức NTBD công lập
- Bùi Thị Thúy Ngọc (2014), Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại tỉnh Phú Thọ [33] Luận văn thạc sĩ Quản lý Văn hóa trường Đại học
Văn hóa Hà Nội Tác giả trình bày cơ sở lý luận và thực trạng quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại tỉnh Phú Thọ Từ đó đưa ra những giải pháp
Trang 11quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật phù hợp với thời kỳ đổi mới hiện nay
- Đặng Thị Thanh Hoa (2013), Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật trên địa bàn Hà Nội [22] Luận văn Thạc sĩ Quản lý Văn hóa trường
Đại học Văn hóa Hà Nội Luận văn đã trình bày thực trạng quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật trên địa bàn Hà Nội và đề xuất những biện pháp nâng cao hiệu quả cho hoạt động
Nhìn chung phần lớn các đề tài trên cũng đã đề cập đến công tác quản lý về hoạt động nghệ thuật biểu diễn Tuy nhiên, cho đến thời điểm này, chưa có một công trình nghiên cứu nào trình bày một cách có hệ thống
từ lý luận đến thực trạng, giải pháp nâng cao chất lượng quản lý nhà nước
về hoạt động nghệ thuật biểu diễn trên địa bàn cấp tỉnh nói chung và tỉnh Ninh Bình nói riêng, nhất là sau khi Nghị định số 79/2012/NĐ-CP ngày 05/10/2012 của Chính phủ quy định về biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; Thi người đẹp và người mẫu; Lưu hành, kinh doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu ra đời và Nghị định số 15/2016/NĐ-CP ngày 15/3/2016 của Chính phủ quy định về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 79/2012/NĐ-CP ngày 05/10/2012 của Chính phủ quy định về biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; Thi người đẹp và người mẫu; Lưu hành, kinh doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu Luận văn của tác giả sẽ nghiên cứu về nội dung “Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật ở tỉnh Ninh Bình”
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Khảo sát đánh giá thực trạng quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật
ở tỉnh Ninh Bình và đề xuất những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới
Trang 123.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quản lý nhà nước trên lĩnh
vực biểu diễn nghệ thuật, đặc điểm, nội dung, thực trạng quản lý nhà nước
về lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật cấp tỉnh trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa của tỉnh và đất nước
- Khảo sát, đánh giá những thành tựu và hạn chế trong quản lý về biểu diễn nghệ thuật của tỉnh Ninh Bình trong những năm qua, tìm nguyên nhân tồn tại
- Đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, nâng cao hiệu quả quản lý về biểu diễn nghệ thuật trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động biểu diễn nghệ thuật của một địa phương cấp tỉnh, trong trường hợp cụ thể là tỉnh Ninh Bình bao gồm toàn bộ hoạt động biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp (nghệ thuật quần chúng) Công tác quản lý hoạt động nghệ thuật trên địa bàn tỉnh được triển khai toàn diện, không thể thiếu một trong hai hình thức trên Do vậy trong khuôn khổ đề tài này, luận văn đặt giới hạn nghiên cứu vấn đề quản lý về biểu diễn nghệ thuật, cụ thể: Biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp và biểu diễn nghệ thuật quần chúng, bao gồm các loại hình nghệ thuật truyền thống
và hiện đại
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung khảo sát thực trạng công tác quản lý lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp và nghệ thuật quần chúng có tổ chức trên địa bàn tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2013 - 2017 Tác giả chọn giai đoạn này vì từ
Trang 13tháng 01/2013, Nghị định 79/2012/NĐ-CP của Chính phủ quy định về biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; Thi người đẹp và người mẫu; Lưu hành, kinh doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu có hiệu lực thi hành, đồng thời cũng là giai đoạn tỉnh Ninh Bình có nhiều hoạt động văn hóa nghệ thuật đặc sắc
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng các phương pháp cụ thể như:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Được sử dụng nhằm lựa chọn những tài liệu, số liệu, những thông tin liên quan đến nội dung và đối tượng nghiên cứu phục vụ viết luận văn, là tiền đề giúp cho việc phân tích, đánh giá tổng hợp các nội dung và đối tượng nghiên cứu khách quan, chính xác
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Được sử dụng trong quá trình phân tích, đánh giá toàn diện nội dung, đối tượng nghiên cứu trong quá trình viết luận văn
- Phương pháp khảo sát thực tế
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp: Phỏng vấn sâu, thống kê, diễn giải, đánh giá…
6 Những đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần hệ thống hóa và khái quát hóa những vấn đề lý luận chung quản lý nhà nước lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật đối với cấp tỉnh Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật trên địa bàn tỉnh Ninh Bình Đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm giúp cho việc quản lý nhà nước về lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật ngày một tốt hơn trong thời gian tới
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu chuyên
về lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật, đây là lĩnh vực được nhiều người quan tâm nhưng nếu không có sự quản lý chặt chẽ, hiệu quả của các cơ quan quản lý
Trang 14nhà nước dễ phát sinh tiêu cực, vi phạm và gây tác động, ảnh hưởng xấu, lâu dài tới đạo đức, văn hóa của con người, đặc biệt là thế hệ trẻ
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Khái quát về quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật và địa bàn nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật ở tỉnh Ninh Bình
Chương 3: Quan điểm, mục tiêu, giải pháp nâng cao hiệu quả quản
lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật ở tỉnh Ninh Bình
Trang 15Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BIỂU DIỄN NGHỆ THUẬT VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1 Khái quát về hoạt động biểu diễn nghệ thuật
1.1.1 Khái niệm
1.1.1.1 Quản lý
Hoạt động quản lý đã xuất hiện từ lâu, nhưng thuật ngữ “quản lý” cho đến nay vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau Tùy từng mục tiêu và dưới các góc độ nghiên cứu, người ta có thể đưa ra các quan niệm khác nhau về quản lý Có quan điểm coi quản lý là quá trình bao gồm các khâu lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra những nỗ lực của các thành viên trong
tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác nhau của tổ chức để đạt được mục tiêu đã định trước Cũng có quan điểm cho rằng quản lý là sự tác động định hướng bất kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa nó và hướng
nó phát triển phù hợp với những quy định nhất định
Mặc dù có nhiều quan niệm, song thuật ngữ quản lý được thống nhất
ở hai nội dung chủ yếu là:
Thứ nhất, quản lý là sự tác động mang tính tổ chức, tính mục đích
của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý
Thứ hai, mục tiêu của quản lý là làm cho đối tượng quản lý hoạt
động phù hợp với ý chí của chủ thể quản lý đã định ra từ trước
Nói đến quản lý trước hết là sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý Sự tác động này không mang tính đơn lẻ, tự phát mà nó mang tính tổ chức, tính mục đích rõ ràng Mục đích
mà chủ thể quản lý đặt ra là hướng đối tượng quản lý hoạt động phù hợp với ý chí của mình
Từ hai nội dung nêu trên có thể đưa ra khái niệm về quản lý: Quản lý
là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã được đặt ra từ trước
Trang 161.1.1.2 Quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa
Quản lý nhà nước luôn mang tính quyền lực, tính tổ chức chặt chẽ; đặc điểm pháp lý của quan hệ quản lý là sự không bình đẳng giữa các bên trong quan hệ quản lý, chính vì vậy trong quản lý nhà nước mọi mệnh lệnh, quyết định quản lý luôn mang tính đơn phương một chiều, bắt buộc thực hiện và khi cần các chủ thể quản lý có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành Mọi mệnh lệnh, quyết định quản lý phải được chấp hành nghiêm túc, triệt để, xác định rõ trách nhiệm pháp lý và xử lý nghiêm mọi sự vi phạm, chấp hành không nghiêm túc
Quản lý nhà nước là hoạt động có mục tiêu rõ ràng, có chiến lược và
kế hoạch để thực hiện mục tiêu: đặc điểm này đòi hỏi các cơ quan nhà nước phải xác định rõ mục tiêu, xây dựng chiến lược và kế hoạch hoạt động của cấp trên và đường lối chính sách của Đảng Quản lý nhà nước là hoạt động dựa trên những quy định chặt chẽ của pháp luật, đồng thời là hoạt động có tính chủ động, sáng tạo và linh hoạt trong thực tiễn điều hành, quản lý Trên cơ sở những quy định của pháp luật và mục tiêu, định hướng, kế hoạch của cấp trên và đường lối chính sách của Đảng
Quản lý nhà nước phải đảm bảo nguyên tắc công khai, dân chủ trong hoạt động thể hiện tinh thần tôn trọng nhân dân, biết lắng nghe, tiếp thu ý kiến nhân dân Quản lý theo đúng luật sẽ góp phần tích cực vào việc lập lại trật tự kỷ cương trong tình hình văn hóa – xã hội hiện đang có nhiều lộn xộn Đặc biệt, trong quá trình tăng cường hội nhập quốc tế, trong bối cảnh
Trang 17nền kinh tế toàn cầu, ứng dụng rộng rãi những thành tựu của công nghệ thông tin, làm phong phú những ảnh hưởng qua lại giữa các nền văn hóa
1.1.1.3 Nghệ thuật
Nghệ thuật gắn liền với tư duy tình cảm của con người Nghệ thuật là sản phẩm hoạt động sáng tạo của con người, bằng những phương tiện biểu hiện đặc thù riêng của mình, nghệ thuật phản ánh thế giới và cải tạo thế giới Nghệ thuật giúp con người nhận thức những giá trị Chân - Thiện -
Mỹ, là phương tiện tác động vào thế giới nội tâm của con người, làm cho con người gắn bó với cộng đồng Theo quan điểm mỹ học Mác và Ăng ghen cho rằng: “Hơn bất cứ lĩnh vực nào trong quan hệ thẩm mỹ giữa con người và hiện thực, nghệ thuật mang ý nghĩa xã hội sâu sắc Nó không chỉ phản ánh các điều kiện sinh hoạt thông thường của xã hội mà còn phản ánh chiều sâu của tâm lý” [26, tr.318]
Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa đã có các công trình nghiên cứu về văn học nghệ thuật nói chung và biểu diễn nghệ thuật nói riêng Theo đó, các loại hình nghệ thuật như: ca, múa, nhạc, xiếc, múa rối… là những loại hình mà sự truyền đạt tới người thưởng thức mang tính tập thể, có tính hành động cao Chính tính tập thể đã đem lại hiệu quả lan truyền và tăng cường độ lên rất cao, mà sự thưởng thức riêng lẻ không thể nào so sánh được Còn tính hành động chính là cơ sở, là phương tiện cho người nghệ sĩ sáng tạo nghệ thuật, mọi hiện tượng đều được diễn tả qua hành động sân khấu Nghệ thuật biểu diễn còn mang tính tổng hợp bởi trong đó chứa đựng nhiều yếu tố nghệ thuật kết hợp với nhau để tạo thành tác phẩm nghệ thuật
Ví dụ: Nghệ thuật sân khấu là một nghệ thuật tổng hợp với sự kết hợp của văn học, hội họa, âm nhạc, vũ đạo, nhiếp ảnh, điêu khắc và nghệ thuật biểu diễn của người diễn viên là trung tâm
Trang 181.1.1.4 Biểu diễn nghệ thuật
Theo tác giả Trần Trí Trắc: “Nghệ thuật biểu diễn là sự thể hiện sáng tạo của nghệ sĩ trước khán giả, là tiếng nói từ trái tim đến với trái tim, từ tình cảm đến với tình cảm và trở thành bảo tàng sống của dân tộc” [11, tr.265] Như vậy, có thể thấy vai trò của người nghệ sĩ là rất quan trọng, họ
là người sáng tạo nghệ thuật, tạo ra những tác phẩm nghệ thuật giúp khán giả nhận thức sâu sắc hơn về hiện thực đời sống xã hội
Theo Nghị định số 79/2012/NĐ-CP ngày 05/10/2012 của Chính phủ quy định về biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; Thi người đẹp và người mẫu; Lưu hành, kinh doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu: “Biểu diễn nghệ thuật là trình diễn chương trình, tiết mục, vở diễn trực tiếp trước công chúng của người biểu diễn Loại hình nghệ thuật biểu diễn bao gồm: Tuồng, chèo, cải lương, xiếc, múa rối, bài chòi, kịch nói, kịch dân ca, kịch câm, nhạc kịch, giao hưởng, ca, múa, nhạc, ngâm thơ, tấu hài, tạp kỹ và các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác”
Nghệ thuật biểu diễn Việt Nam được hình thành và phát triển cùng tiến trình lịch sử của đất nước Trải qua nhiều giai đoạn phát triển, nghệ thuật biểu diễn đã phản ánh sinh động nhiều phương diện của đời sống xã hội, luôn bám sát cuộc sống, phục vụ nhiệm vụ chính trị Đặc biệt trong công cuộc đổi mới đất nước, thông qua các loại hình của nghệ thuật biểu diễn để đấu tranh những mặt tiêu cực của xã hội, những tư tưởng thù địch đồng thời ca ngợi sự nghiệp xây dựng đất nước và hướng con người tới những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp
1.1.1.5 Quản lý nhà nước về hoạt động biểu diễn nghệ thuật
Quản lý nhà nước về hoạt động biểu diễn nghệ thuật là sự tác động của chủ thể quản lý đối với tập thể và cá nhân chịu trách nhiệm thực hiện
Trang 19các nhiệm vụ về hoạt động nghệ thuật biểu diễn để đạt được mục tiêu, kế hoạch đặt ra
Quản lý nhà nước về hoạt động BDNT là một bộ phận hữu cơ trong toàn bộ hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa Nhà nước giữ vai trò quan trọng trong việc quản lý các hoạt động BDNT phục vụ nhu cầu đời sống tinh thần của nhân dân Nhà nước là người đại diện cho nhân dân đảm bảo các quyền có trong Hiến pháp của công dân về văn hóa, điều tiết sự hài hòa của cơ cấu văn hóa, lợi ích văn hóa và yêu cầu phát triển, thỏa mãn nhu cầu văn hóa của xã hội
Hiện nay trong cơ chế thị trường, quản lý hoạt động BDNT là vấn đề cần được nghiên cứu chu đáo Bởi lẽ quản lý nhà nước về hoạt động BDNT là thể hiện quyền lực Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa Quyền lực đó bao gồm: định hướng hoạt động, xây dựng hành lang pháp lý, quản lý, cơ chế chính sách điều hành các cơ quan tổ chức hoạt động theo kế hoạch, chương trình, mục tiêu, tổ chức bộ máy, đầu tư tài chính, giám sát, thanh tra kiểm tra…
Theo quan niệm của ngành văn hóa, Quản lý nhà nước về hoạt động BDNT là sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích của Nhà nước bằng
hệ thống pháp luật và bộ máy của mình, nhằm phát triển văn hóa, điều chỉnh hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực hoạt động BDNT và liên quan, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
1.1.1.6 Biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp
Biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp được thực hiện bởi các Đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp Đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp được đầu tư từ ngân sách nhà nước, các diễn viên, nghệ sĩ của các Đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp nằm trong biên chế của Nhà nước, được hưởng lương và mọi chế độ theo quy định của Nhà nước Hoạt động biểu diễn nghệ thuật chuyên
Trang 20nghiệp là hoạt động có doanh thu với các chương trình biểu diễn được Nhà nước đầu tư xây dựng và quản lý về nội dung và chất lượng nghệ thuật
1.1.1.7 Biểu diễn nghệ thuật quần chúng
Nghệ thuật biểu diễn quần chúng là hoạt động nghệ thuật không chuyên nghiệp, được tổ chức và thực hiện bởi các nhóm nghệ sĩ được tập trung theo mùa vụ từ các cơ quan đơn vị khác nhau, không được đầu tư từ ngân sách Nhà nước, các diễn viên là những người không chuyên nghiệp, không trong biên chế của Đoàn nghệ thuật Nhà nước Hoạt động nghệ thuật biểu diễn không chuyên là hoạt động nghệ thuật phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương, không có doanh thu, với quy mô nhỏ, đơn giản, gọn nhẹ
1.1.2 Những vấn đề lý luận về quản lý hoạt động BDNT
1.1.2.1 Đặc điểm của hoạt động BDNT
Hoạt động của biểu diễn nghệ thuật chủ yếu thuộc loại hoạt động sáng tạo, trên lĩnh vực tinh thần, tác động đến trí tuệ, tâm hồn con người
Nó là kết quả của lao động trí tuệ, cơ bắp, tạo dựng những tác phẩm nghệ thuật từ các chất liệu ngôn ngữ khác nhau, như chữ viết, âm thanh, màu sắc, ánh sáng, hình khối, hành động, tiếng nói…Thông qua các chất liệu và hình thức nghệ thuật riêng biệt hoặc tổng hợp, người nghệ sỹ với tài năng sáng tạo độc đáo sẽ tạo nên những thế giới nghệ thuật mang các đặc trưng hình tượng thẩm mỹ vô cùng đa dạng, phong phú cho nhu cầu đời sống văn hóa tinh thần của con người Đồng thời, giống như các loại hình nghệ thuật khác thuộc lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, biểu diễn nghệ thuật cũng là một
bộ phận quan trọng trong nền văn hóa, do vậy, BDNT với tư cách là sản phẩm bao gồm những đặc điểm sau:
BDNT cũng mang đầy đủ những đặc tính sản phẩm, lao động cụ thể
và lao động trừu tượng tạo nên giá trị của sản phẩm Tuy nhiên sản phẩm này còn có những nét đặc trưng riêng so với các sản phẩm thông thường khác ở chỗ:
Trang 21- Các nguyên vật liệu để sản xuất ra sản phẩm này không chỉ ở dạng vật thể mà còn ở dạng phi vật thể (như kiến thức, quan điểm, tư tưởng, đạo đức, thẩm mỹ, kinh nghiệm, năng khiếu…)
- Các nguyên vật liệu ở dạng phi vật thể này thường chiếm một tỉ trọng khá lớn so với nguyên vật liệu ở dạng vật thể để cấu thành sản phẩm Việc tiêu hao các nguyên vật liệu phi vật thể này có liên quan tới hoạt động sáng tạo của người sản xuất ra sản phẩm C.Mác coi đó thuộc phạm trù lao động trừu tượng
Đặc điểm này đòi hỏi khi tính toán chi phí không thể chỉ tính việc bù đắp phần “khấu hao” cả hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình, mà còn cả việc đổi mới, nâng cao trình độ của người sản xuất nữa Kinh nghiệm quốc
tế và thực tiễn nước ta cho thấy rằng, thị trường ít quan tâm và tác động trực tiếp tới bộ phận này, mà thường Nhà nước vì lợi ích chung, phải quan tâm và trực tiếp hỗ trợ cho việc tính toán này thông qua các công cụ quản
lý kinh tế vĩ mô của mình như thuế, trợ giá…
Bên cạnh đó, giống như các sản phẩm thông thường khác, sản phẩm của NTBD cũng có giá trị, giá trị sử dụng, giá trị trao đổi, song sản phẩm của NTBD còn có thêm các giá trị khác như: Giá trị đạo đức, giá trị thẩm
mỹ, giá trị văn hóa… nói cách khác, là những giá trị chính trị - xã hội
Trong phân loại của tổ chức Văn hóa, khoa học và giáo dục của Liên hiệp quốc (UNESCO), người ta phân biệt văn hóa vật thể với văn hóa phi vật thể Văn hóa vật thể bao hàm các động sản, bất động sản mang một giá trị, ý nghĩa đặc biệt về mặt lịch sử, truyền thống… (liên quan đến các di tích, công trình lịch sử, đền đài, cung điện…) Còn sản phẩm văn hóa phi vật thể là toàn bộ những sáng tạo dựa trên cơ sở truyền thống của một cộng đồng văn hóa, đã xây dựng và hình thành nên một hệ thống giá trị và chuẩn mực mà dựa vào đó từng cộng đồng tự khẳng định bản sắc văn hóa và xã hội riêng của mình Do đó, không phải ngẫu nhiên có những sản phẩm văn
Trang 22hóa cả vật thể và phi vật thể cùng với thời gian, giá trị của nó càng được tăng lên [28, tr.36] Điều đó chứng tỏ, các sản phẩm của BDNT là một loại hàng hóa đặc biệt, không thể chỉ tính toán, hoạch toán lỗ lãi theo cách thường làm với các sản phẩm hàng hóa thuần túy thông thường khác Bởi
lẽ, nếu giá trị của hàng hóa thể hiện thông qua giá cả, thì đối với sản phẩm của BDNT, giá cả thường không thu được phí sử dụng như đối với một cây cầu, hay một đoạn đường Kết quả hoạt động BDNT không chỉ thể hiện ở dạng giá trị bằng tiền (doanh thu, lỗ, lãi đơn thuần) mà một phần quan trọng ở dạng khó quy ra giá trị bằng tiền (như truyền thống, đạo đức, thẩm mỹ…) Nếu chỉ tính toán, hoạch toán theo cách thông thường như vậy thì một mặt sẽ không phản ánh đầy đủ các chi phí làm ra sản phẩm, mặt khác
sẽ rất khó có những sản phẩm tầm cỡ, có chất lượng Trong lợi ích, BDNT không chỉ tác động trực tiếp tới người hưởng thụ mà còn lan tỏa ra xung quanh, cho cả những người không mua hoặc không muốn mua Thực tế trong những năm gần đây, hoạt động BDNT sản xuất khá nhiều các sản phẩm phục vụ cho nhu cầu xã hội, nhưng trong đó còn hiếm những sản phẩm đáp ứng tốt yêu cầu bồi dưỡng, giáo dục và phát huy phẩm chất văn hóa tốt đẹp của con người Việt Nam
Đồng thời, cũng chính vì tính đặc biệt này của sản phẩm BDNT khiến
nó thuộc loại hàng hóa công cộng, hàng hóa khuyến dụng Điều này nghĩa
là, hàng hóa đó một khi đã được cung ứng cho một người này thì có thể được cung cấp cho những người khác và xã hội nghĩ rằng mọi người dân nên tiêu dùng hoặc tiếp nhận, cho dù thu nhập của họ ở mức nào đi nữa
Là lĩnh vực hoạt động sản xuất tinh thần, các sản phẩm văn hóa nói chung và BDNT nói riêng luôn mang trong nó các mặt tri thức, tư tưởng, tình cảm, tâm hồn, đạo đức… biểu hiện sức sống, sức sáng tạo của một dân tộc Chính giá trị văn hóa ẩn giấu bên trong các sản phẩm cụ thể mà nhiều sản phẩm văn hóa trong đó có BDNT cùng với thời gian ngày càng trở nên
Trang 23có giá trị Sự tồn tại giá trị văn hóa trong sản phẩm và tính chất công cộng của sản phẩm văn hóa mà tất yếu cần nhìn nhận, xem xét, đánh giá chúng trước hết trên khía cạnh văn hóa, tác dụng, hiệu quả của chúng đối với xã hội về mặt văn hóa Cũng như vậy, BDNT cần lấy nhiệm vụ phục vụ chính trị, tư tưởng là mục đích hoạt động
Trên thực tế, khi sử dụng sản phẩm của BDNT (thưởng thức một chương trình nghệ thuật) người tiêu dùng (khán giả) không chỉ được thỏa mãn tức thời, mà những giá trị nội dung tiếp nhận được còn tích lũy lâu dài, trở thành nhận thức trong con người Ngoài ra, người tiêu dùng đó còn truyền cho người khác bằng việc kể lại nội dung và thông qua hàng trăm, hàng nghìn người tiêu dùng, con số người biết nhân lên gấp bội Mặt khác, khi người tiêu dùng (khán giả) hài lòng tiếp thu những giá trị của BDNT thì cái mà người tiêu dùng tiếp nhận sẽ giúp
họ có những quyết định đúng đắn trong cuộc sống, đưa họ tới những hoạt động không chỉ ở dạng tinh thần mà còn tạo ra các sản phẩm vật chất, các giá trị mới Sự phát triển ngày nay cho thấy, khi đánh giá con người là nhân tố quan trọng nhất của lực lượng sản xuất thì văn hóa trở thành lực lượng thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển của sức sản xuất Chính điều này đã giải thích cho sự cần thiết phải tài trợ cho văn hóa nói chung và BDNT nói riêng dù dưới danh nghĩa Nhà nước hay các tổ chức kinh tế - xã hội [28, tr.37]
1.1.2.2 Chức năng của hoạt động BDNT
Nghệ thuật biểu diễn là một loại hình tổng hợp của lĩnh vực văn hóa nghệ thuật Ở đó có cả văn học, âm nhạc, hội họa, điêu khắc, múa và nghệ thuật biểu diễn của diễn viên, cùng sự tham gia trực tiếp của khán giả BDNT mang trong mình những nội dung phong phú, đa dạng về cuộc sống, từ triết học, mỹ học, sử học, dân tộc học, xã hội học đến chính trị, đạo đức, tôn giáo… với bao niềm vui, nỗi buồn, thương, yêu, hờn, giận, khát vọng, mơ ước và hy vọng của con
Trang 24người, đã khẳng định rõ chức năng của mình trong sự phát triển của đời sống xã hội [42, tr.11]
- Chức năng nhận thức:
Nhận thức là đặc tính phân biệt con người với các sinh vật khác BDNT trang bị cho con người những tri thức cần thiết để làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội và bản thân BDNT chính là tấm gương phản ánh cuộc sống Thông qua BDNT con người có thể tự chiêm ngưỡng về mình: mình đã sinh ra, tồn tại, vận động, phát triển qua những thời kỳ nào, đang sống và khát vọng tới đâu Vì cuộc sống ở trong BDNT là hiện thực ở cuộc đời, được bắt nguồn từ cuộc đời, phụ thuộc vào quy luật của cuộc đời và được nghệ sỹ khái quát sáng tạo để nói về cuộc đời Chức năng nhận thức của BDNT không đơn thuần là phản ánh những tri thức của con người mà còn hướng tới mục đích cao đẹp thể hiện tính nhân văn là bản chất của BDNT Nâng cao trình độ nhận thức của con người bằng BDNT là việc phát huy những tiềm năng sáng tạo của con người Tạo tiền đề quan trọng
để hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội
- Chức năng giáo dục:
BDNT không chỉ là tấm gương phản chiếu cuộc đời, mà còn là cuốn sách giáo khoa vĩ đại giảng giải cuộc đời về cái đẹp, cái xấu; cái thiện, cái ác; cái thực, cái giả, cái tiên tiến, cái lạc hậu, cái mới, cái cũ, cái vui, cái buồn… và giúp con người có sức mạnh, niềm tin để vươn lên cái cao cả, hoàn thiện cuộc đời Thông qua các tác phẩm, các hình tượng nghệ thuật, BDNT đã tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất con người, làm cho con người dần dần có những phẩm chất và năng lực theo chuẩn mực xã hội đề ra BDNT làm cho con người đã biết lại biết được nhiều hơn, đã hiểu lại hiểu được sâu hơn, đã tin lại càng tin hơn và làm cho con người được lớn hơn cái bản thân họ vốn có BDNT thực hiện việc giáo
Trang 25dục bằng cách tác động vào lý trí và tình cảm của con người, đánh thức, nuôi dưỡng những cảm xúc nhân tính hướng con người tới cái đẹp, cái thiện Nhờ vậy, BDNT đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách con người Với chức năng giáo dục, BDNT tạo nên sự phát triển liên tục của lịch
sử mỗi dân tộc cũng như lịch sử nhân loại, gắn các thế hệ với mục tiêu hướng đến Chân - Thiện - Mỹ
- Chức năng thẩm mỹ:
Sống theo yêu cầu của cái đẹp và vì cái đẹp là nhu cầu của con người BDNT thông qua các hoạt động, sản phẩm của mình nhằm đáp ứng nhu cầu đó của con người Nói cách khác, BDNT là biểu hiện tập trung nhát quá trình sáng tạo của con người theo quy luật của cái đẹp Với BDNT con người có thể tự thanh lọc mình theo hướng vươn tới cái đẹp và phê phán những thói hư tật xấu của mỗi con người Với chức năng thẩm mỹ, BDNT nhấn mạnh sự cần thiết phải có lối ứng xử xã hội thích hợp, ngăn ngừa những thói xấu, phi xã hội, phi nhân tính bằng cách biểu hiện thái độ khinh bỉ tức giận và chê cười những gì xa rời với các chuẩn mực đã được nhân dân thừa nhận đồng thời ca ngợi những ứng xử phù hợp với chuẩn mực được số đông thừa nhận và phù hợp với tiến bộ xã hội
- Chức năng giải trí:
Trong cuộc sống, ngoài lao động và sáng tạo, con người có nhu cầu giải trí Nhu cầu giải trí được xác định là nhu cầu sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm văn hóa Để tái tạo sức lao động, con người phải được nghỉ ngơi
và nghỉ ngơi phải được đáp ứng và tổ chức tốt Do đó, văn hóa giải trí phải trở thành một nhu cầu căn bản của xã hội Là một bộ phận của văn hóa, BDNT đem đến cho mọi người niềm khoái cảm, giải trí Khi nghe một bản nhạc, xem một vở kịch, người hưởng thụ không chỉ tiếp nhận nội dung tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm mà còn có được những phút thư giãn tâm
Trang 26hồn, trí óc bằng những tiếng cười vui nhộn hoặc những nét đẹp nhẹ nhàng, sảng khoái Khoái cảm, giải trí của nghệ thuật biểu diễn bao giờ cũng mang tính thẩm mỹ và tính giáo dục Tính giáo dục càng cao, tính thẩm mỹ càng lớn thì khoái cảm và giải trí nghệ thuật biểu diễn càng mạnh, càng thỏa mãn, thu hút người xem Với đặc điểm đó, hoạt động giải trí bằng BDNT là
bổ ích, cần thiết góp phần giúp con người phát triển toàn diện hơn, lao động sáng tạo hiệu quả hơn
- Chức năng dự báo:
Các tác phẩm nghệ thuật được xây dựng từ chất liệu của cuộc sống
để nhằm mục đích phục vụ cuộc sống Trong ý đồ xây dựng tác phẩm của mình, các nghệ sĩ đều muốn gửi gắm vào tác phẩm của mình những dự báo cho tương lai thông qua nội dung và hình tượng nghệ thuật, tính dự báo góp phần làm tăng giá trị của tác phẩm, những “bức thông điệp” mà người nghệ
sĩ muốn gửi đến người xem thông qua tác phẩm nghệ thuật
- Chức năng kinh tế:
Biểu diễn nghệ thuật là loại lao động đặc thù, đó là sự sáng tạo ra những giá trị văn hóa tinh thần Đây là một quá trình sản xuất tinh thần đặc biệt Giá trị của những sản phẩm do lao động sáng tạo của các nghệ sĩ, nghệ nhân (có thể do tập thể hoặc cá nhân) không thể lượng hóa được nhưng lại có tác động rất mạnh đến tinh thần của toàn xã hội Đồng thời, hiệu quả của nó là vô cùng lớn, không những về mặt tinh thần, mà còn mang về mặt vật chất cho xã hội Ngày nay, trong thời kỳ kinh tế thị trường, giao lưu và hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động biểu diễn cũng không nằm ngoài quy luật Các chương trình nghệ thuật được tổ chức để đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của công chúng Nhiều chương trình nghệ thuật chất lượng cao đã mang lại lợi nhuận kinh tế rất lớn cho đơn vị tổ chức và nghệ sĩ biểu
Trang 27diễn Đời sống của các nghệ sĩ, nghệ nhân được đảm bảo, giúp họ có thêm động lực để không ngừng trau dồi, nâng cao, rèn luyện và đem tài năng của mình cống hiến cho khán giả
1.1.2.3 Yêu cầu Quản lý nhà nước về hoạt động biểu diễn nghệ thuật
Để quản lý văn hóa trong đó có hoạt động BDNT hiệu quả, Nhà nước chú trọng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Kinh nghiệm lịch sử và thời đại cho thấy, để quản lý những hoạt động văn hóa trong đó
có hoạt động BDNT thì Nhà nước phải ban hành các đạo luật để điều chỉnh, kiểm soát Về nguyên tắc, các văn bản pháp luật phải đồng bộ và nhất quán, ít thay đổi tạo ra một hành lang pháp lý cho hoạt động BDNT trong nền kinh tế thị trường
Trên bình diện quốc gia, nước nào cũng có những điều luật về văn hóa hoặc ghi trong các bộ luật khác, hoặc trong bộ luật chuyên về văn hóa Hiến pháp có một số điều, khoản đối với văn hóa Do vậy, đây không phải chỉ là vấn đề quan trọng trong quản lý hoạt động BDNT, mà còn là việc thực hiện đúng theo Hiến pháp 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp
và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ” (Điều 8 - Hiến pháp 2013) và “Nhà nước, xã hội chăm lo xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; Nhà nước, xã hội phát triển văn học, nghệ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần đa dạng và lành mạnh của Nhân dân” (Điều 60 - Hiến pháp 2013)
Với đặc trưng của lao động sáng tạo nói chung, đặc biệt là lao động sáng tạo làm ra các tác phẩm văn hóa nghệ thuật thì nhu cầu về tự do sáng tạo, bình đẳng trong công bố và phổ biến tác phẩm là một đòi hỏi khách quan Nhưng tự do và bình đẳng trong sáng tạo phải vì lợi ích xã hội và cộng đồng, không thể có một thứ tự do vô tổ chức, vô Chính phủ Vì vậy,
Trang 28tự do và bình đẳng trong hoạt động sáng tạo, công bố và phổ biến là tự do trong khuôn khổ của pháp luật Ở đó, các chủ thể tham gia hoạt động sẽ được làm những gì pháp luật cho phép, pháp luật cũng ấn định những gì được phép làm đối với các cơ quan quản lý Nhà nước nhằm ngăn chặn các hành vi lạm dụng, xâm hại đến các quyền tự do, bình đẳng
Nhà nước quy định rõ những vùng cấm trong hoạt động văn hóa, để
từ đó có những định hướng cụ thể cho hoạt động như:
- Nghiêm cấm các hoạt động phản động về chính trị
- Nghiêm cấm các hoạt động làm băng hoại đạo đức, phá hoại nhân phẩm
- Nghiêm cấm các hoạt động làm tiết lộ bí mật quốc gia
- Nghiêm cấm các hoạt động xâm phạm quyền tác giả
- Nghiêm cấm các hoạt động làm thất thoát di sản quốc gia [28, tr.43] Như vậy, thông qua pháp luật, Nhà nước tạo ra mội trường thuận lợi, tin cậy và chính thức cho nhân dân tự do sáng tạo, bình đẳng trong hoạt động biểu diễn
Là một bộ phận quan trọng của lĩnh vực văn hóa, các đơn vị biểu diễn nghệ thuật được quản lý trên cơ sở các đạo luật và các văn bản pháp quy Xét về hình thức thể hiện, có nhiều dạng văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động BDNT dưới nhiều góc độ khác nhau: Theo thẩm quyền ban hành, có các văn bản dưới Luật do Chính phủ và các cơ quan hành chính nhà nước ban hành; theo lĩnh vực hoạt động có các văn bản pháp luật chuyên đề cập riêng đến lĩnh vực văn hóa, các Nghị định, Nghị quyết của Chính phủ; theo nội dung đặc biệt khác, có kế hoạch Nhà nước, quy hoạch xây dựng và phát triển lĩnh vực BDNT do Nhà nước phụ trách
Trong quá trình tăng cường hội nhập quốc tế, trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu, ứng dụng rộng rãi những thành tựu của công nghệ thông tin làm phong phú những ảnh hưởng qua lại giữa các nền văn hóa thì cũng tiềm tàng đe dọa tính sáng tạo trong văn hóa, sự tước đoạt sở hữu trí tuệ
Trang 29cũng trở nên dễ dàng Vì vậy, cần chú trọng các văn bản pháp quy về văn hóa đã được ban hành Xây dựng các cơ chế nhằm giúp các nghệ sỹ, diễn viên trong việc quản lý các hoạt động và cũng cố các quyền lợi của họ trên thị trường trong nước và quốc tế [28, tr.46]
1.1.2.4 Nguyên tắc quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật
Công cuộc đổi mới đất nước trong 20 năm trở lại đây đã thu được những thành tựu đáng kể và có ý nghĩa quan trọng Đó là mở rộng giao lưu quốc tế, thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa và đặc biệt nền kinh tế được vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Các mặt hoạt động giáo dục, văn hóa, xã hội phát triển tiến bộ Trình độ dân trí
và mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân được nâng lên Trước những đổi thay như vậy, hoạt động biểu diễn nghệ thuật với đặc thù riêng của mình cũng cần có những nguyên tắc quản lý nhà nước để đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của công chúng cũng như phát triển nghệ thuật biểu diễn ngang tầm với thế giới:
- Nguyên tắc Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ:
+ Nguyên tắc cơ bản mà mọi lĩnh vực quản lý cần phải tuân thủ đó là nguyên tắc tỉnh Đảng Trong quản lý hoạt động nghệ thuật biểu diễn cần nắm vững định hướng chính trị của Đảng Đặc biệt hơn nữa chức năng của nghệ thuật là giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức, lối sống, nâng cao dân trí, thẩm mỹ cho nhân dân thì việc nắm vững đường lối chỉ đạo của Đảng
để đưa vào tác phẩm là rất cần thiết Bên cạnh đó, nắm vững quan điểm chỉ đạo của Đảng để quản lý và phát triển nghệ thuật biểu diễn theo đúng định hướng cũng là vấn đề quan trọng Định hướng chỉ đạo về phát triển văn hóa nói chung và văn học nghệ thuật nói riêng luôn được Đảng quan tâm, thường được trình bày trong các văn kiện Đại hội Đảng và được cụ thể hóa trong các Nghị quyết chuyên về văn hóa Tại Đại hội Đảng lần thứ VI, đây
là thời kỳ đất nước ta bắt đầu thời kỳ đổi mới, xóa bỏ cơ chế tập trung quan
Trang 30liêu bao cấp, Đảng đã ban hành Nghị quyết số 05-NQ/TW về việc đổi mới
và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật và văn hóa, phát huy khả năng sáng tạo đưa văn học nghệ thuật và văn hóa phát triển lên một bước mới Nghị quyết số 04-NQ/HNTW ngày 14/01/1993 cũng đưa ra định hướng cụ thể cho một số nhiệm vụ văn hóa, văn nghệ những năm trước mắt Trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc cũng nêu rõ: “Phấn đấu sáng tạo nhiều tác phẩm văn học - nghệ thuật
có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, thấm nhuần tinh thần nhân văn, dân chủ, có tác dụng sâu sắc xây dựng con người”; “Không ngừng nâng cao thị hiếu thẩm mỹ và trình độ thưởng thức nghệ thuật của công chúng, đặc biệt quan tâm tầng lớp thanh niên, thiếu niên, nhi đồng Tạo điều kiện để nhân dân tham gia tích cực sáng tạo và phê bình, được hưởng thụ ngày càng nhiều tác phẩm văn nghệ có giá trị trong nước và ngoài nước”
Để thực hiện được nguyên tắc này rất cần thiết phải định hướng chính trị của Đảng về đường lối văn hóa, học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa cho các cán bộ quản lý, những người trực tiếp tham gia sáng tạo các giá trị nghệ thuật sau đó là tuyên truyền giáo dục cho quần chúng nhân dân
+ Trong quản lý nhà nước nói chung và trong quản lý nhà nước về hoạt động nghệ thuật biểu diễn nói riêng, vai trò quản lý của nhà nước kết hợp với quyền làm chủ của Nhân dân là một yếu tố quan trọng
Bản chất của tính Nhà nước được xác định với tư cách là chủ thể quản lý Đó là sự tất yếu để đảm bảo lãnh đạo có kế hoạch tập trung, tránh tình trạng tự phát, vô trách nhiệm trong các hoạt động của đời sống xã hội, phát huy được khả năng sáng tạo và tham gia vào các hoạt động quản lý của nhân dân Trách nhiệm quản lý của Nhà nước đối với hoạt động nghệ thuật biểu diễn được thể hiện cụ thể trên nhiều phương diện như: ban hành
Trang 31các thể chế pháp luật, chính sách, chế độ… để đảm bảo cho hoạt động biểu diễn nghệ thuật đạt hiệu quả Theo định hướng chỉ đạo của Đảng, Nhà nước cần xây dựng kế hoạch, đảm bảo nguồn nhân lực, vật lực, tài chính cho sự phát triển nghệ thuật biểu diễn đáp ứng nhu cầu của nhân dân
Trên cơ sở những quan điểm chỉ đạo của Đảng về phát triển văn hóa nghệ thuật, với thực tế và đặc thù của ngành Nghệ thuật biểu diễn, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã đưa ra những định hướng cho hoạt động biểu diễn nghệ thuật như sau:
+ Phát triển ngành nghệ thuật biểu diễn nhằm góp phần “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc”
+ Bảo tồn và phát huy giá trị các loại hình nghệ thuật truyền thống, đồng thời xây dựng và phát triển các loại hình nghệ thuật hiện đại mang tính bác học
+ Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động nghệ thuật biểu diễn, nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước Huy động tối đa các nguồn lực trong và ngoài nước, nâng cao nhận thức và sự tham gia đóng góp của toàn xã hội trong việc xây dựng và phát triển nghệ thuật biểu diễn Việt Nam
- Nguyên tắc tập trung dân chủ:
Đây là nguyên tắc chỉ đạo mọi hoạt động của bộ máy nhà nước Yêu cầu của nguyên tắc này là: Nhà nước XHCN là nhà nước của dân, do dân
và vì dân, thực hiện quyền dân chủ XHCN Nhà nước phải nắm quyền thống nhất quản lý những vấn đề cơ bản đồng thời giao quyền và trách nhiệm địa phương Tập trung và dân chủ là một thể thống nhất không đối lập nhau, không hạn chế nhau Thường xuyên khắc phục tình trạng quan liêu, tham nhũng, phân tán, cục bộ, tùy tiện trong quản lý
- Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và theo địa phương và vùng lãnh thổ:
Nhà nước là một thể thống nhất, bộ máy nhà nước hoạt động theo các cấp hành chính Nhà nước và thực hiện theo quy định: cấp dưới phục
Trang 32tùng cấp trên, địa phương phục tùng Trung ương Hoạt động Nghệ thuật biểu diễn vừa chịu sự quản lý của ngành Nghệ thuật biểu diễn, vừa chịu sự quản lý về địa phương Hệ thống hành chính được chia làm 04 cấp: Trung ương - tỉnh, thành phố - quận, huyện - xã, phường Nguyên tắc này đòi hỏi quản lý theo ngành, theo lãnh thổ gắn bó với nhau, có trách nhiệm chung trong việc thực hiện nghĩa vụ, quyền lợi của từng bên và hai bên theo pháp luật quy định
- Nguyên tắc công khai dân chủ:
Nguyên tắc này đòi hỏi cơ quan quản lý của Nhà nước phải công khai cho nhân dân biết về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý; kết quả, tiến độ thực hiện kế hoạch, nhiệm vụ và các chế độ, chính sách đối với nhân dân để nhân dân tham gia
Các cơ quan giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp phải chú ý tới dư luận xã hội để kịp thời điều chỉnh các quyết định về quản lý cho phù hợp với yêu cầu phát triển xã hội
Trong công tác quản lý nhà nước về hoạt động biểu diễn nghệ thuật rất cần thiết phải trân trọng những nét đặc thù của loại hình hoạt động này Nghệ thuật biểu diễn là một trong những loại hình có đặc thù riêng, đó là
sự sáng tạo ra những giá trị văn hóa tinh thần Đây là một quá trình lao động sáng tạo trên lĩnh vực tinh thần đặc biệt nên không thể tuân thủ máy móc theo một quy trình sản xuất những sản phẩm vật chất Những sản phẩm do các nghệ sĩ, nghệ nhân… (có thể do tập thể hoặc cá nhân) sáng tạo
ra có hiệu quả tác động đến tinh thần của toàn xã hội Những giá trị này không thể lượng giá được nhưng đồng thời hiệu quả của nó cũng mang cả hiệu quả vật chất cho xã hội Không nên áp đặt những chính sách, cơ chế không phù hợp với hoạt động biểu diễn nghệ thuật sẽ dấn tới hạn chế tính năng động, sáng tạo của nghệ sĩ cũng như nhu cầu hưởng thụ của quảng đại quần chúng Chính vì đặc thù riêng biệt như vậy đã đặt ra nhiều yêu cầu cho công tác quản lý nhà nước về hoạt động nghệ thuật biểu diễn
Trang 331.1.2.5 Nội dung quản lý nhà nước về hoạt động biểu diễn nghệ thuật
Hoạt động biểu diễn nghệ thuật là một dạng hoạt động trong các hoạt động văn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của con người trong đời sống xã hội Muốn cho văn học nghệ thuật nói chung và biểu diễn nghệ thuật nói riêng phục vụ được xã hội một cách hiệu quả thì cần phải làm cho
nó được hoạt động một cách đúng tính chất, nâng cao dân trí về khả năng cảm thụ nghệ thuật, để văn học nghệ thuật nói chung cũng như nghệ thuật biểu diễn nói riêng phát huy được hết tác dụng của mình Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, xây dựng một xã hội vừa có đời sống vật chất đầy đủ, vừa có đời sống tinh thần lành mạnh, phóng phú là mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đề ra Muốn được như vậy rất cần thiết có một cơ chế quản lý phù hợp với hoạt động biểu diễn nghệ thuật Quản lý trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội là tác động có định hướng, có mục đích đến các hoạt động văn hóa, phù hợp với quy luật khách quan của sự phát triển văn hóa tinh thần, ở đó Nhà nước là chủ thể duy nhất có nghĩa vụ định hướng, chỉ đạo, điều khiển mọi hoạt động văn hóa theo một con đường đã định
Mục tiêu của quản lý nhà nước các hoạt động biểu diễn nghệ thuật là phải xuất phát từ khát vọng tinh thần tối đa của con người cụ thể là các khán thính giả Từ đó thỏa mãn nhu cầu tinh thần cũng như hình thành nhu cầu tinh thần của khán giả Nếu nhận thức được mục tiêu này các nhà quản
lý sẽ phát triển được đời sống tinh thần với chất lượng cao về nhận thức sáng tạo, định hướng giá trị thẩm mỹ và giao lưu của con người từ đó dẫn tới hoàn thiện các hoạt động sản xuất, các quan hệ xã hội và toàn bộ lối sống của xã hội và con người Cũng như hoạt động văn hóa nói chung, hoạt động biểu diễn nghệ thuật cũng nằm trong sự quản lý chung của Nhà nước Xuất phát từ mục tiêu đáp ứng nhu cầu giải trí tinh thần của quần chúng cần có sự chỉ đạo của Nhà nước theo hệ thống quốc gia những quy chế hoạt động và những biện pháp tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn phương pháp chuyên
Trang 34môn cho sự phát triển của nghệ thuật biểu diễn Quản lý hoạt động nghệ thuật là lập kế hoạch, điều hành, kiểm tra mọi hoạt động theo một quy trình thống nhất nhằm đạt mục tiêu phát triển nghệ thuật biểu diễn Phát huy mọi nguồn lực, tạo điều kiện và thúc đẩy năng lực sáng tạo của nghệ sĩ Tạo nên mối quan hệ giữa nghệ sĩ và công chúng không những nhằm mục đích giới thiệu nghệ thuật đến công chúng mà còn là cơ hội phát triển nghệ thuật Nâng cao thẩm mỹ nghệ thuật của công chúng qua các hoạt động biểu diễn nghệ thuật và khuyến khích, giúp đỡ họ được tham gia sáng tạo nghệ thuật nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ
- Ban hành và thực thi hệ thống chính sách:
NTBD là sản phẩm của con người xã hội Các nghệ sỹ là con người
xã hội, luôn là sản phẩm của cộng đồng dân tộc, một thời đại nhất định Nó luôn chịu sự quy định về nhiều mặt từ vật chất đến tinh thần của chính cộng đồng và thời đại mà nó sinh ra và hoạt động Xuất phát từ đặc điểm này của lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật mà các chính sách văn hóa trong hoạt động quản lý chính là thể hiện sự vun trồng, quan tâm của Nhà nước tới phát triển NTBD
Chính sách văn hóa nói riêng, chính sách xã hội nói chung có ý nghĩa rất to lớn trong điều kiện nền kinh tế thị trường nhằm điều chỉnh những bất bình đẳng trong văn hóa do thị trường tạo ra, khích lệ, hỗ trợ cho những xu hướng hoạt động có nhiều triển vọng, cho định hướng nhu cầu văn hóa, thưởng thức của xã hội
Các chính sách văn hóa là sự thể chế hóa các quan điểm và phương hướng phát triển văn hóa trong đó có BDNT, nhằm tác động lên các nhóm cộng đồng để giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan tới các nhóm cộng đồng:
- Cộng đồng văn hóa: các nghệ sỹ, nghệ nhân, các tác giả, các nhà hoạt động văn hóa…
Trang 35- Cộng đồng công chúng: công dân và tập thể, công chúng hiện thực, công chúng tiềm năng
- Cộng đồng chính trị: các cơ quan Đảng, cơ quan chính quyền từ
trung ương đến địa phương
Mục tiêu của chính sách luôn thể hiện đường lối, chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa nghệ thuật, luật pháp của Nhà nước Hầu hết các chính sách của Nhà nước đều thể hiện dưới hình thức các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan luật pháp và Nhà nước (các Nghị định, Thông
tư, Quyết định của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, Quyết định, Thông
tư của Bộ trưởng Bộ VHTTDL)
Việc phân loại chính sách có thể được thực hiện theo đối tượng tác động, theo phạm vi tác động, theo lĩnh vực tác động, theo thời gian (dài hạn
và ngắn hạn), theo nguồn kinh phí (Nhà nước cấp, huy động từ cộng đồng, tài trợ quốc tế…) Các chính sách đối với văn hóa đòi hỏi phải đáp ứng được mối quan tâm của cả 3 nhóm cộng đồng, phân định rõ mục tiêu và điều chỉnh các hướng ưu tiên; Chính sách văn hóa cần quan tâm tới sự tăng cường hợp tác với các cơ quan công quyền ở mọi cấp, đặc biệt là với cơ quan địa phương, các tổ chức tư nhân và xã hội để vạch kế hoạch hành động thực hiện các chương trình, dự án văn hóa…
Ở cấp độ thực thi chính sách, Nhà nước cần quan tâm đến những loại mục tiêu định hướng mà chính sách văn hóa thường đề cập tới, đó là:
- Mục tiêu về phát triển hoạt động sáng tạo văn hóa nghệ thuật nhằm sáng tạo được nhiều giá trị và sản phẩm văn hóa nghệ thuật có chất lượng cao;
- Mục tiêu về sự phát triển văn hóa ở cơ sở dân cư nhằm đảm bảo thu hút đông đảo quần chúng tham gia sáng tạo và hưởng thụ văn hóa, nghệ thuật, đảm bảo sự công bằng, dân chủ trên lĩnh vực này;
- Mục tiêu phát triển về sự xuất nhập những giá trị và sản phẩm văn hóa, nghệ thuật nhằm tăng cường hợp tác giao lưu văn hóa quốc tế, làm
Trang 36giàu cho văn hóa dân tộc và giới thiệu văn hóa dân tộc mình vào cộng đồng thế giới;
- Mục tiêu về sự phát triển hệ thống các cơ quan sản xuất, bảo quản, phân phối những giá trị văn hóa, thông tin, nghệ thuật một cách hợp lý, ngày càng hiện đại và có hiệu quả cao;
- Mục tiêu về sự phát triển và đào tạo đội ngũ tri thức nghệ sỹ, cán
bộ văn hóa một cách đồng bộ, có trình độ cao;
- Mục tiêu về sự đảm bảo ngân sách, điều kiện vật chất và điều kiện pháp lý cho sự phát triển văn hóa, nghệ thuật;
- Mục tiêu về sự tự quản và phân cấp quản lý văn hóa [26, tr.48 – 50]
- Đầu tư hoạt động BDNT:
Văn hóa là nền tảng tinh thần, đầu tư cho văn hóa sẽ tạo ra sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia Xuất phát từ quan điểm này, ở nước ta, việc đầu tư cho hoạt động biểu diễn nghệ thuật rất rõ ràng Theo Thông tư liên tịch Bộ Văn hóa – Bộ Tài chính số 1042/TTLB-VH-TC ngày 22/7/1989 thì đối với các đơn vị BDNT, sự đầu tư, tài trợ ngân sách Nhà nước là cần thiết nhằm tạo điều kiện cho BDNT phát triển theo phương hướng đúng đắn, giữ vững chất lượng, phát huy tính chủ động, sáng tạo, tài năng, trí tuệ của đội ngũ văn nghệ sỹ Ngân sách nhà nước bảo đảm tài trợ tối thiểu, cần thiết cho các loại hình hoạt động BDNT Trong đó, bảo đảm tiền lương theo chế độ hiện hành, chi phí xây dựng tiết mục theo yêu cầu chính trị, đồng thời khuyến khích biểu diễn có chất lượng để các đơn vị nghệ thuật có doanh thu cao, bảo đảm hiệu quả xã hội và đời sống của diễn viên Từng bước bổ sung cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết cho các đơn vị nghệ thuật bằng nhiều nguồn để nâng cao chất lượng và hiệu quả biểu diễn
Thông qua quá trình phân tích mối quan hệ thị trường và văn hóa, giữa thị trường và BDNT, Nhà nước sẽ xác định những thể loại nào có thể hoạt động trên cơ sở thương mại, loại nào không tự thích ứng được hoặc
Trang 37chỉ một phần Mức độ không thích ứng này chính là một trong những căn
cứ cần thiết có sự đầu tư, hỗ trợ tài chính của Nhà nước
Đầu tư cho hoạt động văn hóa trong đó có hoạt động BDNT cần được triển khai theo hai hướng: tạo nguồn đầu tư từ phía Nhà nước, từ các
tổ chức kinh tế - xã hội và tư nhân
Tóm lại, đầu tư cho hoạt động NTBD cần tận dụng cơ chế thị trường cho bản thân sự phát triển văn hóa đúng hướng Quan điểm bao cấp toàn
bộ, cũng như quan điểm thả nổi cho hoạt động văn hóa nói chung, hoạt động NTBD nói riêng cho thị trường đều có hại cho sự nghiệp văn hóa Đầu tư cho hoạt động văn hóa với tư cách là một khu vực sản xuất cũng tính toán đến hiệu quả đầu tư Cấp ngân sách cho văn hóa, cho hoạt động NTBD cũng kèm theo những quy tắc như bất kỳ loại hoạt động tài chính nào khác Đảm bảo yêu cầu đặt ra là phải đạt tới mục tiêu quốc gia mà Đảng và Nhà nước đã đề ra [28, tr.53 - 58]
- Kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm trong hoạt động BDNT:
Tăng cường kiểm tra, giám sát của Nhà nước đối với hoạt động BDNT là nhiệm vụ quan trọng của quản lý nhà nước, đặc biệt là hoạt động của cơ quan kiểm duyệt, thanh tra do văn hóa nói chung và BDNT nói riêng có mối quan hệ trực tiếp tới chính trị, tác động trực tiếp sự hình thành
và phát triển nhân cách; do xu hướng xã hội hóa hoạt động văn hóa ngày càng mở rộng Tình trạng các văn hóa phẩm độc hại lan tràn, tệ nạn xã hội phát triển mạnh Do vậy, trong những năm qua, phương châm chỉ đạo đối với việc kiểm tra, giám sát là phòng ngừa, ngăn chặn hơn là việc để xảy ra
rồi mới xử lý
1.1.2.6 Phương pháp quản lý nhà nước về hoạt động biểu diễn nghệ thuật
Đây là tổng thể các cách thức, phương pháp nhằm tác động có chủ đích và có thể có được của Nhà nước, nhằm tổ chức điều hành các hoạt động nghệ thuật biểu diễn hướng tới những mục tiêu nhất định Quá trình
Trang 38quản lý nhà nước về hoạt động biểu diễn nghệ thuật là quá trình thực hiện chức năng quản lý theo đúng những nguyên tắc nhất định Những nguyên tắc đó được vận dụng thể hiện theo những phương pháp nhất định Phương pháp quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật là biểu hiện cụ thể mối quan
hệ qua lại giữa Nhà nước với đối tượng và khách thể quản lý
Vì vậy, phương pháp quản lý cũng sinh động và đa dạng, trong quá trình quản lý cần phải căn cứ vào mục tiêu để lựa chọn phương pháp và điều chỉnh phối hợp các phương pháp khác nhau để đạt hiệu quả cao
- Phương pháp hành chính
Là phương pháp tác động trực tiếp bằng các quy định dứt khoát mang tính quyền lực bắt buộc của Nhà nước lên khách thể Đặc điểm cơ bản của phương pháp hành chính trong quản lý hoạt động BDNT là tính nguyên tắc và tính quyền lực Nó đòi hỏi đối tượng quản lý phải chấp hành nghiêm chỉnh các quy định hành chính, nếu vi phạm sẽ bị xử lý kịp thời Tính quyền lực đòi hỏi các cơ quan QLNN phải sử dụng đúng và đầy đủ quyền lực của mình trong các tác động hành chính gắn với thẩm quyền của mình Thực chất của phương pháp này là sử dụng quyền lực quản lý Nhà nước để tạo ra sự phục tùng của cá nhân và tổ chức Vai trò của hành chính tạo ra các kỷ cương của Nhà nước và cộng đồng, trong quản lý hoạt động BDNT thì các văn bản quản lý phải chính xác, khoa học, gắn với thẩm quyền của các cấp quy định
Trang 39Để thực hiện mở rộng, áp dụng các phương pháp kinh tế vào quản lý hoạt động BDNT, Nhà nước cần phải hoàn thiện các đòn bẩy kinh tế nâng cao năng lực vận dụng các quan hệ thị trường, phải phân cấp quản lý theo hướng mở rộng quyền hạn cho cấp dưới, sử dụng phương pháp kinh tế trong quản lý văn hóa, đòi hỏi cán bộ quản lý phải có năng lực, trình độ kiến thức trên nhiều mặt văn hóa, kinh tế, xã hội, pháp luật… cũng như đạo đức nghề nghiệp
- Phương pháp tuyên truyền, giáo dục
Là cách thức tác động bằng tình cảm, nhận thức của con người nhằm nâng cao tính tự giác và tính tích cực của công dân trong việc thực hiện nhiệm vụ chung Phương pháp giáo dục dựa trên cơ sở vận dụng quy luật tâm lý Đặc trưng của phương pháp này là tính thuyết phục làm cho con người nhận thức được phải, trái, đúng, sai… từ đó nâng cao tính tích cực của bản thân
Để thực hiện chức năng quản lý BDNT, các chủ thể phải vận dụng tổng hợp các phương pháp và căn cứ vào điều kiện cụ thể để nhấn mạnh phương pháp này hay phương pháp khác
1.2 Khái quát về hoạt động biểu diễn nghệ thuật tỉnh Ninh Bình
1.2.1 Vị trí địa lý, sơ lược tình hình kinh tế - xã hội
Ninh Bình là tỉnh nằm ở cực Nam Đồng bằng Sông Hồng, cách thủ đô
Hà Nội 90km về phía Nam, có diện tích tự nhiên là 1.400 km2; Địa hình chia làm 3 vùng rõ rệt: Vùng đồi núi phía Tây, vùng đồng bằng ở trung tâm và vùng ven biển phía Ðông với hơn 16,5km bờ biển Tỉnh có 8 đơn vị hành chính gồm: 6 huyện, 2 thành phố; dân số trên 90 vạn người Từ một tỉnh nghèo, kinh tế - xã hội hết sức khó khăn khi tái lập tỉnh năm 1992, qua hơn
2 thập kỷ phát triển, Đảng bộ, chính quyền, quân và dân Ninh Bình đã vươn lên giành nhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội Đến năm 2012, tỷ trọng công nghiệp - xây dựng đạt 46,35%, du lịch, dịch vụ đạt 38,34%, Nông, Lâm nghiệp, thuỷ sản còn 15,31%
Trang 401.2.2 Đặc điểm hoạt động biểu diễn nghệ thuật tỉnh Ninh Bình
Ninh Bình là mảnh đất địa linh nhân kiệt, nơi phát tích của 3 triều đại: Đinh, tiền Lê, Lý và là kinh đô đầu tiên của Nhà nước phong kiến Trung ương tập quyền ở Việt Nam từ thế kỷ thứ X Đây cũng là cái nôi sản sinh và phát triển các loại hình văn hóa dân gian độc đáo mang bản sắc của vùng Cố
đô Hoa Lư ngàn năm văn hiến Là tỉnh ven biển cực nam của châu thổ sông Hồng, được ví như hình ảnh về một nước Việt Nam thu nhỏ có đủ cả rừng, biển, trung du, miền núi và đồng bằng Nơi đây vừa là gạch nối, vừa là ngã
ba của ba nền văn hóa lớn sông Hồng - sông Mã - Hòa Bình Chính vì vậy, văn hoá truyền thống Ninh Bình vừa có nét riêng bản địa, vừa mang sắc thái vùng miền do yếu tố hội tụ, giao thoa của nhiều nền văn minh, văn hóa tích hợp Tỉnh Ninh Bình có bề dày lịch sử và văn hóa, đặc biệt là văn hóa dân gian Đây là vùng địa lịch sử, địa văn hóa, đã một thời là vùng đất thiêng - địa chính trị của quốc gia Đại Cồ Việt Di sản văn hóa Ninh Bình, trong đó có văn hóa dân gian, hình thành rất sớm, đồng hành và trải dài suốt tiến trình lịch sử dân tộc, từ thời đá cũ đến thời kỳ Bắc thuộc cho tới ngày nay Di sản văn hóa dân gian ở Ninh Bình tập trung khá đậm đặc ở các huyện Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư, Tam Điệp, Yên Mô, là những vùng đất cổ Văn học dân gian Ninh Bình khá đa dạng, phong phú cả về đề tài, thể loại và số lượng Song, phong phú và đa dạng hơn cả là ca dao, tục ngữ, thành ngữ, truyền thuyết, cổ tích và giai thoại Đặc biệt là những truyện kể dân gian khá nhiều Ninh Bình có gần 92 vạn dân, trong đó có tới hơn 200 ngàn người Mường Vì vậy, văn hóa Mường cũng là một bộ phận đáng kể trong di sản văn hóa Ninh Bình Những huyền thoại, huyền tích ở đây lý giải sự ra đời của người Mường, các bản làng, các tộc Mường, cùng những phong tục tập quán, sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của họ
Ninh Bình còn là vùng quê có vốn ca nhạc cổ truyền nằm trong những sinh hoạt ca nhạc cổ của vùng đồng bằng Bắc Bộ Nhiều thể loại ca hát -