Lý do chọn đề tài Trong bối cảnh toàn ngành giáo dục và đào tạo đang nỗ lực đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích hợp nhiều môn học trong cùng một chủ đề của học sinh
Trang 1TRẦN ANH HOÀNG
DẠY HỌC TÍCH HỢP MÔN MỸ THUẬT LỚP 8
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ XUÂN PHÚ - PHÚC THỌ
Trang 2TRẦN ANH HOÀNG
DẠY HỌC TÍCH HỢP MÔN MỸ THUẬT LỚP 8
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ XUÂN PHÚ - PHÚC THỌ
- HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học Bộ môn Mỹ thuật
Mã số: 60140111
Người hướng dẫn khoa học: TS Quách Thị Ngọc An
Hà Nội, 2018
Trang 3Tôi xin cam đoan luận văn Thạc sĩ Lý luận và Phương pháp dạy học Bộ môn Mỹ thuật: “Dạy học tích hợp môn mỹ thuật lớp 8 ở Trường Trung học cơ sở Xuân Phú - Phúc Thọ - Hà Nội” là công trình tổng hợp tư liệu và nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực Một số thông tin liên quan, số liệu và trích dẫn đều được ghi rõ tại phần tài liệu tham khảo và phụ lục trong luận văn
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Trần Anh Hoàng
Trang 4GD-ĐT Giáo dục - đào tạo
GV Giáo viên
HS Học sinh
Nxb Nhà xuất bản SGK Sách giáo khoa THCS Trung học cơ sở
UBND Ủy ban nhân dân
Trang 5MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Những đóng góp của luận văn 6
7 Cấu trúc của luận văn 6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7
1.1 Một số vấn đề chung về dạy học tích hợp 7
1.1.1 Khái niệm dạy học tích hợp 7
1.1.2 Lí do cần thiết xây dựng chủ đề tích hợp 8
1.1.3 Quy trình xây dựng nội dung các chủ đề tích hợp 9
1.1.4 Tổ chức và đánh giá dạy học các chủ đề tích hợp 10
1.2 Vài nét về dạy học mỹ thuật ở trường Trung học cơ sở 13
1.2.1 Mục tiêu và nhiệm vụ 13
1.2.2 Nội dung chương trình mỹ thuật ở trường Trung học cơ sở 15
1.3 Khái quát về Trường Trung học cơ sở Xuân Phú, Phúc Thọ, Hà Nội 16
1.3.1 Lịch sử hình thành 16
1.3.2 Cơ cấu tổ chức của nhà trường 18
1.3.3 Thực trạng dạy học mỹ thuật ở Trường Trung học cơ sở Xuân Phú 20
Chương 2: ÁP DỤNG DẠY HỌC TÍCH HỢP THEO CHỦ ĐỀ VỚI MÔN MỸ THUẬT Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ XUÂN PHÚ,PHÚC THỌ, HÀ NỘI 26
2.1 Xây dựng các chủ đề dạy học tích hợp 26
2.1.1 Xác định nội dung dạy học tích hợp 26
2.1.2 Xây dựng các chủ đề dạy học tích hợp 27
2.1.3 Nội dung trình bày một chủ đề tích hợp 28
2.2 Tổ chức dạy học các chủ đề tích hợp 34
Trang 62.2.2 Thiết kế tiến trình dạy học 35
2.2.3 Thực nghiệm dạy học chủ đề tích hợp 40
2.3 So sánh kết quả đạt được trước và sau khi thực nghiệm 46
2.3.1 Kết quả trước thực nghiệm 46
2.3.2 Kết quả sau thực nghiệm 46
2.4 Phân tích, đánh giá kết quả thực nghiệm 48
KẾT LUẬN 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh toàn ngành giáo dục và đào tạo đang nỗ lực đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích hợp nhiều môn học trong cùng một chủ đề của học sinh trong hoạt động học tập để giúp học sinh có thể đồng thời tích lũy, bổ sung kiến thức trong một bài học thì phương pháp dạy học được xem như là cách thức hoạt động của giáo viên trong việc chỉ đạo, tổ chức các hoạt động học tập nhằm giúp học sinh chủ động đạt được các mục tiêu dạy học Việc đưa bộ môn Mỹ thuật vào chương trình của trường Trung học cơ sở đã phần nào đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu cái đẹp ngay từ giai đoạn đầu phát triển toàn diện tri thức của học sinh Học mỹ thuật giúp các em có ý thức tư duy sáng tạo, đồng thời mỹ thuật giúp các em học tập các môn học khác tốt hơn
Qua tìm hiểu thực tế tại Trường Trung học cơ sở Xuân Phú, Phúc Thọ, Hà Nội; được tiếp cận trực tiếp giờ dạy mỹ thuật, tôi nhận thấy chương trình mỹ thuật đã được nhà trường quan tâm đầu tư cơ sở vật chất,
tổ chức các hoạt động học tập, ngoại khóa giúp học sinh phát huy năng lực Tuy nhiên, khả năng sáng tạo của học sinh ở bộ môn Mỹ thuật còn kém, một phần cũng là do giáo viên chưa đầu tư, chưa thật sự vận dụng đổi mới phương pháp dạy - học để tạo hứng thú cho học sinh, còn thói quen dạy học theo kiểu truyền đạt kiến thức sách vở một chiều, học sinh tiếp thu một cách thụ động Đó là cách dạy học đơn thuần là học sinh nghe, nhìn, quan sát trên đồ dùng dạy học qua từng bước hướng dẫn của giáo viên trước khi bắt tay vào bài vẽ một cách thụ động Vì vậy, để đạt được hiệu quả cao trong giảng dạy thì người giáo viên phải sử dụng các phương pháp dạy học một cách linh hoạt, không bị gò bó, phát huy hết năng lực tự học và sáng tạo của học sinh cho giờ học sôi động hơn đồng thời có thể tổng hợp được nhiều kiến thức của các môn học trong cùng một chủ đề
Trang 8Thấy được vai trò và hiệu quả của việc tích hợp theo chủ đề với môn Mỹ thuật, bản thân tôi đã không ngừng học hỏi, nghiên cứu tài liệu Trong thời gian công tác tại trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương, tôi đã tìm hiểu, nghiên cứu các phương pháp dạy học mới Qua đó, tôi đã tiến hành thực nghiệm sử dụng phương pháp dạy học tích hợp với môn Mỹ thuật và nhận thấy giờ dạy sôi nổi hơn, các em học sinh hăng say tham gia trò chơi, đóng góp ý kiến liên quan đến chủ đề bài học và hoàn thiện bài vẽ của mình rất hiệu quả
Sau một thời gian tìm hiểu, đánh giá, thấy được vai trò và hiệu quả của việc dạy học tích hợp theo chủ đề với môn Mỹ thuật Vì vậy, tôi đã lựa
chọn đề tài cho luận văn của mình là: “Dạy học tích hợp môn Mỹ thuật lớp 8 ở Trường Trung học cơ sở Xuân Phú - Phúc Thọ - Hà Nội” góp
phần cho việc ứng dụng các phương pháp dạy học tích cực hơn, phù hợp với sự phát triển của xã hội
2 Lịch sử nghiên cứu
Nghị quyết 29 - NQ/TƯ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, sau khi Quốc hội thông qua Đề án đổi mới chương trình, SGK giáo dục phổ thông, Bộ GD-ĐT tiếp tục chỉ đạo các cơ sở giáo dục tăng
cường bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên sẵn sàng đáp ứng mục tiêu đổi mới, trong đó tăng cường năng lực dạy học theo hướng
Sách Phát triển năng lực dạy học tích hợp - phân hóa cho giáo viên các cấp học phổ thông, Nxb Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 9[26] cung cấp những kiến thức chuyên sâu về dạy học tích hợp và dạy học
phân hóa nhằm giúp các thầy, cô giáo cấp học phổ thông phát triển năng lực dạy học tích hợp và dạy học phân hóa
Sách Một số vấn đề chung về đổi mới Phương pháp dạy học ở trường phổ thông, Dự án phát triển Giáo dục phổ thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo,
Hà Nội [13] của Nguyễn Văn Cường - Bernd Meier (2007) được biên soạn nhằm làm tài liệu tham khảo cho GV ở các trường trung học phổ thông, cũng như cho các lớp bồi dưỡng GV Tài liệu trình bày một số cơ sở thực tiễn và lý luận chung, cũng như một số quan điểm, phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực có thể áp dụng trong việc đổi mới phương pháp dạy học, nhằm giúp GV có cái nhìn tổng quan về đổi mới phương pháp dạy học, trên cơ sở đó có thể tìm được những ý tưởng, gợi ý để vận dụng vào các môn học cụ thể…
Trong tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THCS của
Nguyễn Ngọc Bảo (1995), Phát triển tính tích cực, tính tự lực của học sinh trong quá trình dạy học, Nxb Giáo dục, Hà Nội [1] đã trình bày khái niệm
tính tích cực, tính tự lực một cách độc lập và mối liên hệ giữa chúng Đưa
ra một số phương pháp phát huy tính tích cực, tự lực của người học qua đó giúp người đọc thấy được các cấp bậc phẩm chất của tư duy…
Một số Hội thảo nhằm hướng tới sự đổi mới, nâng cao chất lượng dạy học môn Mỹ thuật được liên tục tổ chức, cung cấp một lượng kỷ yếu với hàm lượng khoa học cao như: Trường Cao đẳng Sư phạm Nhà trẻ -
Mẫu giáo TW2, Kỷ yếu hội thảo khoa học đổi mới công tác đào tạo giáo viên âm nhạc, mỹ thuật trong các trường cao đẳng sư phạm khu vực miền Trung, 2005 [32]; Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý cơ sở Giáo dục (2008),
Dự án Phát triển Giáo dục Trung học cơ sở II, Kỷ yếu hội thảo nâng cao
chất lượng đội ngũ giáo viên Mỹ thuật – âm nhạc trong nhà trường phổ thông (Tiểu học và Trung học cơ sở), Hà Nội [10]; Trường Đại học Sư
Trang 10phạm Nghệ thuật Trung ương, Hội thảo khoa học đổi mới phương pháp dạy học trong đào tạo giáo viên âm nhạc, mỹ thuật cho trường phổ
thông,2008 [33]; Bộ giáo dục và đào tạo, Kỷ yếu Hội thảo “Nâng cao chất
lượng đội ngũ giáo viên Âm nhạc-Mỹ thuật trong nhà trường phổ thông”(Tiểu học và Trung học cơ sở) tháng 1/2008 [2]; Bộ giáo dục và đào tạo, Hội thảo khoa học “Đổi mới phương pháp dạy học trong đào tạo giáo viên Âm nhạc-Mỹ thuật cho trường phổ thông”- Tháng 6/2008 [3]
Các cuốn sách viết về giáo dục và phương pháp dạy học trong thời kỳ đổi mới đã cung cấp một lượng kiến thức về lý luận và thực hành cho hoạt động dạy học với những phương pháp dạy học mới như: Nguyễn
Thanh Bình (2008), Giáo dục Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, Nxb Đại học
Sư phạm, Hà Nội[8]; Thái Duy Tuyên (2008), Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới, Nxb Giáo dục, Hà Nội [37]; Phạm Minh Hạc (2002), Về phát triển toàn diện con người thời kỳ CNH-HĐH, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, Hà Nội [16]; Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hướng dẫn chuẩn kiến thức,
kĩ năng môn Mỹ thuật THCS (2009), Nxb Giáo dục Việt Nam [4]; Trần Bá Hoành (2010), Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội [18]; Vũ Trọng Rỹ (1998), Một số vấn đề lý luận về phương tiện dạy học, Nxb Giáo dục, Hà Nội [25]
Các công trình trên đã nghiên cứu hoặc giới thiệu cơ bản về dạy học tích hợp nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể về dạy học tích hợp với môn Mỹ thuật trong trường THCS Trên cơ sở đó tôi xin mạnh dạn tìm hiểu về vấn đề này Tôi hy vọng đây là công trình đầu tiên đi sâu nghiên cứu và khẳng định những giá trị của dạy học tích hợp với môn Mỹ thuật ở Trường Trung học cơ sở Xuân Phú, Phúc Thọ, Hà Nội
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nâng cao chất lượng dạy học cho học sinh thông qua dạy học tích
Trang 11hợp theo chủ đề với môn Mỹ thuật ở Trường Trung học cơ sở Xuân Phú, Phúc Thọ, Hà Nội đồng thời làm tư liệu nghiên cứu và giảng dạy
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu, khai thác các tài liệu về dạy học tích hợp ở trường trung học cơ sở
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
- Tìm hiểu thực tế dạy học môn Mỹ thuật lớp 8 ở Trường Trung học
cơ sở Xuân Phú – Phúc Thọ - Hà Nội
- Lập kế hoạch bài học và áp dụng dạy học tích hợp theo chủ đề đối với môn Mỹ thuật lớp 8 ở Trường Trung học cơ sở Xuân Phú – Phúc Thọ - Hà Nội
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nội dung dạy học tích hợp
- Cách vận dụng phương pháp dạy học tích hợp môn Mỹ thuật lớp 8- bài thường thức mỹ thuật ở Trường Trung học cơ sở Xuân Phú, Phúc Thọ, Hà Nội
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng dạy - học và áp dụng dạy học tích hợp chương trình Mỹ thuật ở Trường Trung học cơ sở Xuân Phú, Phúc Thọ, Hà Nội, trên cơ sở đó nghiên cứu, đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp
- Đề tài tiến hành khảo sát và thực nghiệm với giáo viên Mỹ thuật trường sở tại và học sinh khối 8 Trường Trung học cơ sở Xuân Phú
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích: Tiến hành quan sát, dự giờ, chủ động quan sát hoạt động dạy học môn Mỹ thuật lớp 8 ở Trường Trung học cơ
Trang 12sở Xuân Phú Nghiên cứu, đánh giá thực trạng và phân tích kết quả thực nghiệm Sản phẩm hoạt động của học sinh
- Phương pháp so sánh: So sánh kết quả đạt được trước và sau khi thực nghiệm dạy học tích hợp qua chất lượng của tiết học và bài vẽ của học sinh lớp 8 Trường Trung học cơ sở Xuân Phú
- Phương pháp thực nghiệm: Thực nghiệm dạy học tích hợp môn Mỹ thuật lớp 8 ở Trường Trung học cơ sở Xuân Phú trên một số bài học
cụ thể
6 Những đóng góp của luận văn
Luận văn có thể coi như một công trình nghiên cứu mang tính thực tiễn về vận dụng phương pháp dạy học tích hợp theo chủ đề với môn Mỹ thuật ở trường THCS Nghiên cứu này nếu được áp dụng sẽ có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục Mỹ thuật cho học sinh THCS
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Áp dụng dạy học tích hợp theo chủ đề với môn Mỹ thuật
ở Trường Trung học cơ sở Xuân Phú, Phúc Thọ, Hà Nội
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Một số vấn đề chung về dạy học tích hợp
1.1.1 Khái niệm dạy học và dạy học tích hợp
Dạy học là một quá trình gồm toàn bộ các thao tác có tổ chức và có định hướng giúp người học từng bước có năng lực tư duy và năng lực hành động với mục đích chiếm lĩnh các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các kỹ năng, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được để trên cơ sở đó có khả năng giải quyết được các bài toán thực tế đặt ra trong toàn bộ cuộc sống của mỗi người học
Dạy học tích hợp theo chủ đề là hình thức tìm tòi những khái niệm,
tư tưởng, đơn vị kiến thức, nội dung bài học, chủ đề,… có sự giao thoa, tương đồng lẫn nhau, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong các môn học hoặc các phần của môn học đó (tức là con đường tích hợp những nội dung từ một số đơn vị, bài học, môn học có liên hệ với nhau) làm thành nội dung học trong một chủ đề có ý nghĩa hơn, thực tế hơn, nhờ đó học sinh có thể tự hoạt động nhiều hơn để tìm ra kiến thức và vận dụng vào thực tiễn [31].
Dạy học tích hợp là sự kết hợp giữa hình thức dạy học truyền thống và hiện đại, trong đó người giáo viên không chỉ dạy học đơn thuần bằng cách thức truyền thụ kiến thức mà cốt yếu là hướng dẫn học sinh tự lực tìm kiếm tài liệu, thông tin, áp dụng tri thức đã được tích lũy vào xử lý các
nhiệm vụ mang ý nghĩa thực tiễn
Dạy học tích hợp là định hướng dạy học trong đó giáo viên tổ chức,
chỉ dẫn để học sinh biết huy động tổng hợp tri thức, kĩ năng,… thuộc nhiều lĩnh vực (môn học/hoạt động giáo dục) khác nhau nhằm giải quyết các
nhiệm vụ học tập; qua đó sẽ hình thành các tri thức và kĩ năng mới; phát
triển được các năng lực cần thiết
Trang 14Dạy học tích hợp theo chủ đề là một mô hình mới cho hoạt động lớp học thay thế cho lớp học truyền thống (mang tính khác biệt là các bài học
ngắn, cô lập, những hoạt động lớp học mà người giáo viên giữ vai trò trung
tâm) bằng việc chú trọng những nội dung học tập có tính tổng quát, có mối
quan hệ đến nhiều kĩnh vực, với trung tâm là học trò và nội dung tích hợp
có những vấn đề, các thực hành gắn liền thực tiễn
Với mô hình mới này, học sinh có nhiều cơ hội để làm việc theo nhóm để xử lý những vấn đề chuẩn xác, có hệ thống và liên quan tới nhiều tri thức khác nhau Các em học sinh thu thập được thông tin từ nhiều nguồn tri thức
1.1.2 Lí do cần thiết xây dựng chủ đề tích hợp
Tuy có mối liên hệ với nhau nhưng chương trình các môn học hiện
hành vẫn có tính độc lập tương đối, được thể hiện theo mạch tri thức môn
học trên nguyên tắc tri thức được học trước là cơ sở của những tri thức
được học sau
Bởi vậy, một số nội dung kiến thức có quan hệ đến nhiều môn học
đều được đưa vào chương trình của các môn học đó gây ra sự chồng chéo,
quá tải Bên cạnh đó, thời điểm dạy những kiến thức đó ở những môn học
là khác nhau, đôi khi có những thuật ngữ khoa học không đồng nhất, gây
khó khăn cho học sinh Chính vì vậy, cần đưa ra những tri thức chung, để vun đắp thành các chủ đề dạy học tích hợp liên môn
Năng lực dạy học tích hợp bao gồm những chỉ số cần đạt được theo
chuẩn đầu ra cho sinh viên các khối ngành sư phạm trong đào tạo giáo viên
Trung học cơ sở:
- phân tích, đánh giá khả năng tích hợp của một chủ đề, chương của
môn học
- Lập bảng ma trận trình bày nội dung tích hợp đã chọn lọc
Trang 15- Xây dựng một số hoạt động để dạy học tích hợp của chủ đề hay chương đã được lựa chọn để dạy tích hợp
- Soạn kế hoạch dạy học tích hợp
Việc học của học sinh thực sự mang giá trị vì nó kết nối với thực tiễn và rèn luyện được các kĩ năng hoạt động và kĩ năng sống Các em học sinh
cũng được tạo điều kiện minh họa tri thức mình vừa nhận được và phân
tích, đánh giá mình đã học được bao nhiêu và giao tiếp tốt như thế nào Với
cách tiếp cận này, vai trò của người giáo viên chỉ là người chỉ dẫn, chỉ bảo
thay vì quản lý trực tiếp học trò làm việc.
Dạy học tích hợp ở bậc Trung học cơ sở là sự cố gắng tăng cường tích hợp tri thức, khiến cho kiến thức có mối liên hệ mạng lưới nhiều chiều; là sự tích hợp vào nội dung các ứng dụng kĩ thuật và đời sống thông dụng
khiến cho nội dung học có ý nghĩa hơn Nói một cách hoa mỹ; đó là việc
“thổi hơi thở” của cuộc sống vào những tri thức cổ điển, tăng chất lượng
“cuộc sống thật” trong những bài học
Theo một số quan niệm, dạy học tích hợp theo chủ đề thuộc về nội dung dạy học chứ không phải là cách thức dạy học, nhưng khi đã xây dựng
nội dung dạy học theo chủ đề, chính nó lại ảnh hưởng trở lại làm cho thay đổi nhiều tới việc lựa chọn phương pháp nào là thích hợp, hoặc cải biến những phương pháp sao cho phù hợp với nó
Vì là dạy học tích hợp theo chủ đề nên quá trình xây dựng chủ đề tạo
ra quá trình tích hợp nội dung (đơn môn hoặc liên môn) trong dạy học.
1.1.3 Quy trình xây dựng nội dung các chủ đề tích hợp
Quy trình xây dựng một chủ đề tích hợp bao gồm các bước sau: Bước một: Nghiên cứu lí luận về nội dung dạy học tích hợp
Bước hai: phân tích nội dung chương trình và sách giáo khoa để đưa
ra các nội dung dạy học gần giống nhau có mối quan hệ chặt chẽ tự nhiên với nhau trong các môn học của chương trình hiện hành; một số nội dung
Trang 16liên quan đến các vấn đề thời sự của địa phương và có thể là những vấn đề nóng đang được sự quan tâm của toàn cầu để thiết kế chủ đề/bài học tích
hợp
Bước 3: Cách xác định một chủ đề tích hợp bao gồm tên bài học và
đóng góp của những môn học có nội dung liên quan vào bài học, dự kiến
thời gian cho chủ đề tích hợp
Bước 4: Xác định mục tiêu của bài tích hợp bao gồm: kiến thức, kĩ năng, thái độ và định hướng năng lực hình thành, phát triển cho học sinh
Bước 5: xây dựng những nội dung chính trong bài học tích hợp Căn
cứ vào các yếu tố liên quan để xây dựng nội dung cho phù hợp
Bước 6: Thiết kế bộ câu hỏi định hướng và những chỉ dẫn về nguồn tài liệu hỗ trợ, những phương tiện kĩ thuật cho học sinh thực hành nội dung các chủ đề tích hợp
Bước 7: xây dựng những tiêu chí để đánh giá các chủ đề tích hợp đã xây dựng và tính hiệu quả của chúng trong việc hình thành và phát triển năng lực cho học sinh Đề xuất những cải tiến cho thích hợp với thực tế.
của học sinh
Bước 2: Xây dựng tiến trình dạy học: Bao gồm những bước để thực hiện kế hoạch dạy học
Bước 3: thực hành kế hoạch dạy học những chủ đề theo các tiến trình đã xây dựng Phân tích, đánh giá theo những tiêu chí về năng lực cần hình thành và điều chỉnh cho phù hợp đối tượng học sinh và đặc điểm vùng
miền,…
Trang 17Sau khi tiến hành tổ chức dạy học, chúng ta thực hiện so sánh để
đánh giá quá trình dạy học Mọi sự so sánh giữa bất kì mô hình hay cách thức dạy nào cũng trở nên khập khiễng bởi mỗi một mô hình hay cách thức đều có các điểm mạnh hoặc các điểm yếu riêng có
Tuy nhiên, nếu như đặt ra vấn đề cho ngành giáo dục hiện tại là: làm thế nào để nội dung tri thức trở thành hấp dẫn và có ý nghĩa trong cuộc
sống? Làm thế nào để quá trình học tập phải nhắm đến mục đích là rèn kĩ năng xử lý vấn đề, đặc biệt là các vấn đề phổ thông của thực tế? Có phải cứ
phải dạy tri thức theo từng bài thì học sinh mới hiểu và ứng dụng được kiến thức? Làm thế nào để nội dung chương trình dạy luôn được cập nhật trước
sự bùng nổ vũ bão của các thông tin để các kiến thức của việc học và dạy
học thực sự là thế giới mới cho những người học?
Việc giải đáp các câu hỏi trên đồng nghĩa với việc xác định mục tiêu
giáo dục, mô hình dạy học trong thời đại mới Bên cạnh đó, cũng sẽ chỉ ra
cho ta thấy những lợi thế nhất định của từng mô hình khi ứng dụng vào
giảng dạy
Rõ ràng, nếu căn cứ vào việc tìm câu trả lời cho những câu hỏi này thì dạy học theo chủ đề khi so sánh với dạy học theo cách tiếp cận truyền thống hiện nay, sẽ có những ưu điểm sau:
Dạy học theo cách tiếp cận
truyền thống hiện nay Dạy học theo chủ đề
1 Tiến trình giải quyết vấn đề tuân
theo chiến lược giải quyết vấn đề
trong khoa học vật lý: logic, chặt
chẽ, khoa học do giáo viên (SGK)
áp đặt (Giáo viên là trung tâm)
2 Nếu thành công có thể góp phần
1 Các nhiệm vụ học tập được giao cho học sinh, học sinh quyết định chiến lược học tập với sự chủ động hỗ trợ, hợp tác của giáo viên (Học sinh là trung tâm)
2 Hướng tới các mục tiêu: chiếm
Trang 18đạt tới mức nhiều mục tiêu của
môn học hiện nay: chiếm lĩnh kiến
thức mới thông qua hoạt động, bồi
dưỡng các phương thức tư duy
khoa học và các phương pháp nhận
thức khoa học: Phương pháp thực
nghiệm, phương pháp mô hình,
suy luận khoa học…)
3 Dạy theo từng bài riêng lẻ với
một thời lượng cố định
4 Kiến thức thu được rời rạc, hoặc chỉ
có mối liên hệ tuyến tính (một chiều
theo thiết kế chương trình học)
5 Trình độ nhận thức sau quá trình
học tập thường theo trình tự và
thường dừng lại ở trình độ biết,
hiểu và vận dụng (giải bài tập)
6 Kết thúc một chương học, học
sinh không có một tổng thể kiến
thức mới mà có kiến thức từng
phần riêng biệt hoặc có hệ thống
kiến thức liên hệ tuyến tính theo
trật tự các bài học
7 Kiến thức còn xa rời thực tiễn mà
người học đang sống do sự chậm
lĩnh nội dung kiến thức khoa học, hiểu biết tiến trình khoa học và rèn luyện các kĩ năng tiến trình khoa học như: quan sát, thu thập thông tin, dữ liệu; xử lý (so sánh, sắp xếp, phân loại, liên hệ…thông tin); suy luận, áp dụng thực tiễn
3 Dạy theo một chủ đề thống nhất được tổ chức lại theo hướng tích hợp từ một phần trong chương trình học
4 Kiến thức thu được là các khái niệm trong một mối liên hệ mạng lưới với nhau
5 Trình độ nhận thức có thể đạt được ở mức độ cao: Phân tích, tổng hợp, đánh giá
6 Kết thúc một chủ đề học sinh có một tổng thể kiến thức mới, tinh giản, chặt chẽ và khác với nội dung trong sách giáo khoa
7 Kiến thức gần gũi với thức tiễn mà học sinh đang sống hơn do yêu
Trang 19cập nhật của nội dung sách giáo
khoa
8 Kiến thức thu được sau khi học
thường là hạn hẹp trong chương
trình, nội dung học
9 Có đề ra nhưng thực tế không thể
hướng tới nhiều mục tiêu nhân văn
quan trọng như: rèn luyện các kĩ
năng sống và làm việc: giao tiếp,
hợp tác, quản lý, điều hành, ra
9 Có thể hướng tới, bồi dưỡng các
kĩ năng làm việc với thông tin, giao tiếp, ngôn ngữ, hợp tác
dân, giáo dục thẩm mỹ với chỉ tiêu là nâng cao năng lực thẩm mỹ cho mỗi
thành viên trong xã hội, góp phần quan trọng vào việc hình thành con người mới
Giáo dục mỹ thuật ở trung học cơ sở không nhằm đào tạo họa sĩ hay những người chuyên làm nghề mỹ thuật mà giáo dục thẩm mỹ cho học sinh
Trang 20là chủ yếu, tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc, làm quen, thưởng thức cái đẹp, tập tạo ra cái đẹp, vận dụng cái đẹp vào sinh hoạt học tập hàng ngày và những công việc mai sau Môn Mỹ thuật nâng cao năng lực quan sát, khả năng tư duy hình tượng sáng tạo, bồi dưỡng phương pháp làm việc khoa học, nhằm hình thành ở học sinh phẩm chất con người lao động mới, đáp ứng đòi hỏi của xã hội phát triển ngày càng cao [36, tr9]
Xuất phát từ những mục tiêu trên môn Mỹ thuật ở trường phổ thông
- Học sinh nhận thức sâu sắc hơn về vẻ đẹp và giá trị của nền mỹ thuật dân tộc
- Giúp học sinh tiếp thu có hiệu quả hơn tri thức ở các môn học khác
vì các môn học có liên quan, móc nối với nhau, hơn nữa mỹ thuật tạo điều kiện cho học sinh suy nghĩ, sáng tạo để có nhiều cách thể hiện khác nhau cho bài tập sẽ giúp các em học tốt hơn các môn khác
- Định hướng cho một bộ phận nhỏ học sinh học tiếp ngành mỹ thuật, hay tạo điều kiện cho một số học sinh thi vào các trường chuyên nghiệp có liên quan đến mỹ thuật[36, tr11 - 12]
Dạy mỹ thuật ở trường phổ thông nói chung, ở trường trung học cơ
sở nói riêng là góp phần xây dựng thẩm mỹ cho xã hội, mọi người đều hướng đến cái đẹp, tạo ra cái đẹp, thưởng thức cái đẹp theo ý mình sẽ làm cho cuộc sống ngày càng trở nên tốt đẹp, phong phú và hài hoà hơn
Trang 211.2.2 Nội dung chương trình mỹ thuật ở trường Trung học cơ sở
Nội dung chương trình môn Mỹ thuật ở trường THCS được thiết kế theo nguyên tắc đồng tâm “xoáy trôn ốc” Chương trình gồm có 4 phân môn: Vẽ theo mẫu, vẽ trang trí, vẽ tranh và thường thức Mỹ thuật Các phân môn này được sắp xếp theo trình tự từ dễ đến khó, đan xen, liên kết chặt chẽ với nhau, có thể bổ sung, hỗ trợ cho nhau, giúp học sinh cảm thụ cái đẹp hiệu quả hơn và nắm vững kiến thức chắc hơn
- Vẽ theo mẫu: Rèn luyện óc quan sát, khả năng phân tích, nhận xét để vẽ hình, vẽ màu, vẽ đậm nhạt, tạo cơ sở thuận lợi cho vẽ trang trí, vẽ tranh
- Vẽ trang trí: Bồi dưỡng năng lực thẩm mỹ, sáng tạo qua bố cục, hình vẽ, màu sắc
- Vẽ tranh: Phát triển khả năng tư duy hình tượng, giải quyết tương quan về bố cục (to nhỏ, chính phụ, đậm nhạt, trên dưới, màu sắc…)
- Thường thức mỹ thuật: Nâng cao năng lực phân tích tác phẩm thông qua biểu hiện của ngôn ngữ tạo hình, tạo điều kiện bổ sung cho nhận thức và thể hiện ở bài vẽ (Vẽ theo mẫu, vẽ trang trí, vẽ tranh), nâng cao hiệu quả cảm nhận vẻ đẹp ở các bài thực hành
Như chúng ta đã biết, dạy các môn khoa học tự nhiên đã khó, trừu tượng như mỹ thuật lại càng khó hơn vì nó không có một kết quả chính xác mà kết quả là do sự cảm nhận riêng của từng cá nhân dựa trên những nguyên tắc chung cơ bản, cho nên cách thức truyền đạt của người giáo viên mỹ thuật là cả một nghệ thuật
Là một giáo viên mỹ thuật phải nắm vững nguyên tắc đổi mới phương pháp dạy học, phương thức hướng dẫn học sinh lựa chọn bí quyết học tập, coi trọng tự học và biết thiết kế các tài liệu chuyên môn phục vụ đổi mới phương pháp dạy học, biết cách tiếp thu thông tin phản hồi từ sự
nhận xét của học sinh và cách thức dạy học của mình, kiên trì phát huy mặt
đúng, khắc phục mặt yếu, tự tin, ko tự ti hoặc chủ quan mãn nguyện, chỉ
Trang 22dẫn học sinh về cách học tập và biết phương pháp tự học, tiếp thụ tri thức và rèn luyện kỹ năng, tự Phân tích kết quả học tập để học mỹ thuật với hiệu quả và đạt được những lợi ích từ việc học mỹ thuật đem lại Bản thân người thầy giáo cần phải có một sự đầu tư bài bản về chương trình và quan trọng là nội dung giảng dạy thích hợp với sự phát triển của từng lứa tuổi cách
thức học không những dựa trên nguyên tắc giáo dục mỹ thuật cơ bản mà
còn khai thác tối đa yếu tố thông minh và sự phát triển cá nhân, những em được học từ các bài đơn giản nhất, rồi nâng cao dần cấp độ theo khả năng,
nhận thức của từng học sinh như vậy, khả năng và trình độ của học sinh sẽ được nâng dần đồng thời về nhận thức, về vẻ đẹp muôn màu của cuộc sống
cũng phát triển theo Các quá trình học tập giúp các em nâng cao các kỹ
năng như Quan sát, phân tích, tính biểu cảm và sự khéo léo của đôi tay, về
phần người giáo viên củng cố và tăng chuyên môn nghiệp vụ, thường xuyên thay đổi những cách thức dạy học mỗi giờ lên lớp theo hướng tích
cực Thế kỷ 21 là thế kỷ có nhiều sự biến đổi về các nền khoa học như công
nghệ thông tin tăng trưởng mạnh, kinh tế xã hội có nhiều sự thay đổi đòi hỏi giáo dục cần thay đổi để phục vụ xã hội cần tạo ra con người lao động
mới biết làm chủ bản thân, làm chủ đất nước
1.3 Khái quát về Trường Trung học cơ sở Xuân Phú, Phúc Thọ, Hà Nội
1.3.1 Lịch sử hình thành
Trường Trung học cơ sở Xuân Phú thuộc xã Xuân Phú, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội Xuân Phú là một xã thuộc vùng Bãi, diện tích tự nhiên là 494,43ha, dân số 5.415 người Xuân Phú là quê hương có truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường Trong phong trào đấu tranh chống Pháp, nổi danh gương anh hùng dân tộc Đốc Ngữ (Nguyễn Xuân Ngữ) Phong trào đấu tranh cách mạng dâng cao khi có Đảng cộng sản Việt Nam
ra đời và lãnh đạo
Trang 23Trường được thành lập vào tháng 7 năm 1966 do ủy ban hành chính tỉnh Sơn Tây ra quyết định với tên gọi đầu tiên là Trường cấp 2 Xuân Phú
Ngôi trường tọa lạc ở vị trí trung tâm xã, bên hữu ngạn sông Hồng, vùng châu thổ sông Hồng nên có hệ thống đất phù sa màu mỡ, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp Phía trước ngôi trường trải rộng cánh đồng bao
la, gợi cảm giác ấm áp bình yên Bốn hướng có những con đường dẫn về trường rất thuận lợi cho các em học sinh trong xã tụ về học tập Ngôi trường là địa chỉ tin cậy để phụ huynh gửi gắm con em từ khi thành lập đến nay
Lịch sử hình thành của Trường Trung học cơ sở Xuân Phú luôn đồng hành với lịch sử phát triển của quê hương đất nước Năm học đầu tiên nhà trường chỉ có 3 lớp trong đó có 2 lớp 5, 1 lớp 6 với 6 thầy cô và 115 học sinh Nhưng chẳng được bao lâu giặc Mỹ bắn phá, lớp học phải học nhờ vào trong xóm (gần nghĩa trang thôn Đoài) Những ngày giặc Mỹ bắn phá, hình ảnh thầy trò mũ rơm, túi sách, lá ngụy trang, đèn dầu học ngày học đêm Kỷ niệm đó chan chứa kỷ niệm mãi mãi không phai [34]
Hơn 50 năm qua, quy mô giáo dục ngày càng được mở rộng, từ 03 lớp học phát triển lên 08 lớp Những năm gần đây vẫn duy trì ổn định số lớp, số học sinh với 31 cán bộ giáo viên, nhân viên và 219 học sinh
Bộ máy tổ chức hành chính nhà trường hoạt động đúng với Luật giáo dục và điều lệ trường Phổ thông Chi bộ có 15 đ/c đảng viên, chi đoàn có
15 đ/c đoàn viên, Liên đội có ban chỉ huy và 219 đội viên; công đoàn có 31 công đoàn viên, ban đại diện cha mẹ học sinh có 08 ông bà Trường có 02
tổ chuyên môn và 01 tổ văn phòng
Được sự quan tâm của huyện ủy, UBND huyện, phòng GD&ĐT Phúc Thọ; Đảng ủy, chính quyền và nhân dân địa phương, nhà trường đã được quân tâm đầu tư, xây dựng một cách toàn diện Diện tích đất trường 5.105,5m2 Hiện nay, trường có đủ các điều kiện về đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên, cơ sở vật chất phòng học, trang thiết bị dạy học, các phòng
Trang 24chức năng, các công trình phụ trợ… đạt chuẩn quốc gia mức độ I, đáp ứng tốt cho công tác dạy và học
Từ ngày thành lập đến nay, trường có 09 thầy cô giữ chức vụ Hiệu trưởng Các thế hệ cán bộ quản lý có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn giỏi, luôn gương mẫu, năng động, sáng tạo trong mọi hoạt động giáo dục của nhà trường Các tổ chức chính trị xã hội, đoàn thể, ban đại diện cha mẹ học sinh, tập thể cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường luôn giữ vững khối đoàn kết nhất trí cao, hoạt động thường xuyên, khoa học sáng tạo, phát huy tinh thần làm chủ, tự giác, giúp đỡ nhau hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ
Chi bộ, nhà trường, các tổ chức đoàn thể giành được nhiều thành tích vượt trội đáng tự hào được các cấp ghi nhận và khen thưởng nhiều danh hiệu: Chi bộ đạt trong sạch vững mạnh liên tục nhiều năm liền và đạt chi bộ xuất sắc tiêu biểu; được Huyện ủy Phúc Thọ khen thưởng đạt thành tích xuất sắc làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; trường đạt được nhiều Bằng khen và giấy khen các cấp
1.3.2 Cơ cấu tổ chức của nhà trường
Toàn bộ khuôn viên Trường Trung học cơ sở Xuân Phú với diện tích đất hơn 5 nghìn mét vuông là một khu riêng biệt với quy hoạch đầy đủ các công trình chức năng phục vụ dạy học Khu hành chính gồm các phòng Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, phòng Hội đồng phục vụ các cuộc hội họp, giao ban hàng tuần của nhà trường, phòng y tế, phòng thường trực, phòng thiết bị dùng chung Khu phòng học và phòng bộ môn gồm có 13 phòng gồm: 08 phòng học chính và 05 phòng học bộ môn (phòng thực hành Vật lý, Phòng thực hành Hóa - Sinh, phòng Mỹ thuật, phòng Âm nhạc, phòng Tin học) Ngoài ra, trường còn có đầy đủ các phòng truyền thống, phòng thư viện, phòng công đoàn, phòng Đoàn đội, phòng tổ Khoa học Xã hội và Khoa học Tự nhiên, phòng kế toán, phòng thiết bị, nhà xe phục vụ hoạt
Trang 25động dạy và học Các phòng học đảm bảo đủ 04 quạt mát và đèn chiếu sáng phục vụ nhu cầu dạy - học của giáo viên và học sinh
Về giáo viên: Trường có 32 cán bộ, giáo viên và nhân viên trong
đó có: cán bộ quản lý 02 đ/c, giáo viên 22 đ/c, nhân viên 08 đ/c Các đồng chí trong Ban giám hiệu đều có năng lực trong công tác quản lý và chuyên môn Đội ngũ cán bộ giáo viên nhà trường 100% đạt chuẩn làm việc với tinh thần nhiệt tình, trách nhiệm, thực hiện tốt cuộc vận động “Dân chủ - Kỷ cương - Tình thương - Trách nhiệm”, xây dựng nhà trường theo tiêu chí
“Nhà trường văn hóa - Nhà giáo mẫu mực - Học sinh thanh lịch” Nhiều cán bộ giáo viên dược công nhận danh hiệu Chiến sĩ thi đua, Lao động giỏi cấp cơ sở, giáo viên dạy giỏi cấp thành phố và cấp huyện
Về học sinh: Trường có tổng số 228 học sinh được chia thành 04
khối và 08 lớp, trong đó có 108 học sinh nữ và 120 học sinh nam Bình quân 28,5 học sinh/lớp Học sinh chủ yếu là gia đình thuần nông và là người của các thôn trong địa phương quanh nhà trường Các em ngoan ngoãn, lễ phép với thầy cô, hòa nhã với bạn bè, chấp hành kỷ luật tốt
* Kết quả chất lượng đào tạo: (Kỳ II năm học 2016 - 2017)
- Văn hoá:
+ Loại giỏi: 27.85 % Kế hoạch đầu năm: 28.18 % + Loại khá: 49.77% Kế hoạch đầu năm: 38.17% + Loại TB: 21% Kế hoạch đầu năm: 31.35% + Loại yếu: 1.37% Kế hoạch đầu năm: 2.3% + Loại kém: 0% Kế hoạch đầu năm: 0 %
- Đạo đức:
+ Loại tốt: 92.7%; Kế hoạch đầu năm: 90% + Loại khá: 7.3% ; Kế hoạch đầu năm: 10% + Loại TB: 0%; Kế hoạch đầu năm: 0%
Trang 261.3.3 Thực trạng dạy học Mỹ thuật ở Trường Trung học cơ sở Xuân Phú
1.3.3.1 Chương trình dạy học Mỹ thuật
Chương trình dạy học Mỹ thuật gồm 04 khối lớp: 6, 7, 8, 9
Khối 6: cả năm gồm 35 tiết/35 tuần
- Học kỳ I gồm 18 tiết/ 18 tuần và chia thành 11 chủ đề
- Học kỳ II gồm 17 tiết/ 17 tuần và chia thành 06 chủ đề
Khối 7: cả năm gồm 35 tiết/35 tuần
- Học kỳ I gồm 18 tiết/ 18 tuần và chia thành 05 chủ đề
- Học kỳ II gồm 17 tiết/ 17 tuần và chia thành 11 chủ đề
Khối 8: cả năm gồm 35 tiết/35 tuần
- Học kỳ I gồm 18 tiết/ 18 tuần và chia thành 06 chủ đề
- Học kỳ II gồm 17 tiết/ 17 tuần và chia thành 10 chủ đề
Khối 9: dạy trong học kỳ II gồm 18 tiết/ 18 tuần và chia thành 07 chủ
đề
Mỗi chủ đề trong phân bổ của môn Mỹ thuật là sử dụng gộp các tiết
có nội dung như nhau để tạo thành một chủ đề, mỗi chủ đề sẽ có 01 tiết là dạy lý thuyết tổng hợp, các bài trong chủ đề còn lại là cho học sinh thực hành
Mỗi chủ đề gồm từ 3-4 tiết được gộp lại với nhau thành chủ đề tích hợp với các môn học khác có cùng chủ đề để dạy cho phù hợp và vận dụng các phương pháp vấn đáp, gợi mở giúp học sinh hiểu hơn về bài học, vận dụng theo tình hình của học sinh cụ thể để có hướng giúp đỡ và chỉ bảo
* Ưu điểm:
Nội dung cơ bản của 4 phân môn trên được sắp xếp xuyên suốt từ lớp
6 đến lớp 9 Cấu trúc chương trình và nội dung kiến thức được sắp xếp khoa học, chặt chẽ, đảm bảo hướng đồng tâm, tính kế thừa, phát triển và nâng cao dần theo từng lớp, từng cấp Điều đó tạo thuận lợi cho việc tiếp thu kiến
Trang 27thức của học sinh Ngôn ngữ trong sáng, lành mạnh, gần gũi, phù hợp đặc điểm tâm lí lứa tuổi của học sinh Việt Nam
* Hạn chế:
Bên cạnh những ưu điểm thì chương trình môn Mỹ thuật ở phổ thông còn nhiều hạn chế Chương trình hiện nay được thiết kế dựa vào kết cấu đặc thù của các môn học trong chương trình mỹ thuật chuyên nghiệp; thậm chí các môn được xem là cơ bản của đào tạo mỹ thuật để vận dụng vào phân quỹ thời gian cho các phân môn và bài học cụ thể ở phổ thông Chương trình mỹ thuật hiện nay chưa đáp ứng được mục tiêu giáo dục thẩm mỹ, nó gần giống như chương trình của một trường năng khiếu, trường đào tạo mỹ thuật chuyên nghiệp thể hiện ở nội dung chương trình yêu cầu nặng về dạy
kĩ năng thực hành, chưa chú trọng đến giáo dục thẩm mỹ để từ đó hình thành phát triển kĩ năng sống cho học sinh Trong khi đó, về cơ bản giáo dục mỹ thuật phổ thông phải hướng nhiều hơn đến học cảm thụ chứ không phải là học kĩ năng thực hành, thậm chí trong nhiều trường hợp thực hành mỹ thuật chỉ là cầu nối cho nhận thức về cái đẹp, không nhất thiết phải hướng đến sự thành thục kĩ năng tạo hình Tuy nhiên, cả hai mục đích đó cần được cân bằng trong giáo dục
Cấu trúc chương trình theo mô hình đồng tâm bên cạnh những thuận lợi cũng có những hạn chế như: việc lặp đi lặp lại quá nhiều về kiến thức, kĩ năng và cả hình ảnh minh họa trong sách giáo khoa giữa các bài ở các phân môn (nhất là phân môn Vẽ theo mẫu) ở mỗi lớp, mỗi cấp tạo nên sự nhàm chán, khô cứng và đôi khi chồng chéo về kiến thức, kĩ năng Số tiết học dành cho nội dung Vẽ tranh, Vẽ trang trí, Vẽ theo mẫu nhiều hơn so với nội dung liên quan đến điêu khắc và tạo hình không gian
Thời gian thực hiện tiết học được quy định cụ thể đối với cấp THCS Tuy nhiên, với sĩ số lớp học đông, giáo viên mất nhiều thời gian cho tổ chức sắp xếp lớp học phù hợp yêu cầu của bài học nên thường “cháy” giáo án Để
Trang 28tránh điều này, họ thường rút ngắn thời gian thực hành của học sinh Trong tiết học, việc yêu cầu trật tự và kỉ luật của lớp học đã tạo cho học sinh thế bị động và khuôn phép; học sinh chưa cảm thấy thực sự thoải mái trong môi trường học tập, nên kết quả là sự hứng thú, say mê với môn học bị hạn chế nhiều Điều đó hoàn toàn trái ngược với xu hướng dạy học mỹ thuật ở các nước trên thế giới hiện nay, đó là phát triển tối đa năng lực sáng tạo cá nhân học sinh; học sinh không bị gò bó vào bất kì các kĩ năng hay các bước tiến hành bài vẽ như chúng ta Thực tế cho thấy, hoạt động vẽ của học sinh hầu như không theo các bước vẽ như giáo viên hướng dẫn Cụ thể như bài vẽ theo mẫu, dù học sinh không hề quan sát được một số bộ phận của mẫu, nhưng khi vẽ, các em vẫn vẽ đầy đủ các chi tiết và bộ phận của mẫu Như vậy, học sinh thường vẽ theo sự cảm nhận về mẫu như đang hiện diện trong đời sống các em đã trải nghiệm, không tuân theo các bước vẽ (mà thực tế chính là phương pháp dựng hình ở môn Hình họa trong các trường chuyên nghiệp)
Hay với phân môn Vẽ tranh, thực tế học sinh thường không thực hiện theo từng bước, mà các em vẽ luôn nhân vật và hoạt động chủ yếu ở phía trước và ở phần giữa tranh ngay sau khi được hướng dẫn về đề tài bài vẽ… Học sinh thường sắp xếp theo bản năng, ngẫu hứng, nghĩa là hình vẽ thường ngẫu nhiên, không có ý thức về bố cục; cái đẹp trong tranh của học sinh là
do yếu tố ngẫu nhiên, ngộ nghĩnh mang lại Điều đó nói lên, việc dạy và học đôi khi không đi đôi với nhau
1.3.3.2 Quan điểm của các cấp lãnh đạo về môn Mỹ thuật
Trước kia bộ môn Mỹ thuật được coi là bộ môn phụ, nên chưa được đầu tư, không được quan tâm Nhưng đến nay, đa số các trường THCS đã
có giáo viên về mỹ thuật giảng dạy, bởi vì đặc thù của môn học đã được nhận thức so với trước đây Tất cả mọi người đều hiểu được rằng, đây là môn học góp phần vào giáo dục toàn diện cho học sinh Xuất phát từ nhận
Trang 29thức đó, cũng như được sự quan tâm từ nhiều phía, Ban Giám hiệu nhà trường hàng năm đều lên kế hoạch trang bị đồ dùng cho môn học mỹ thuật như: tranh, ảnh, sách tham khảo cho học sinh Ngoài ra, tổ chuyên môn, Ban Giám hiệu cũng thường xuyên dự giờ, thăm lớp, xây dựng và góp ý cho giáo viên, động viên kịp thời cả giáo viên và học sinh vào những dịp thi đua đã đạt thành tích cao Bên cạnh đó, để phát huy khả năng, ý tưởng sáng tạo, tìm tòi của học sinh, nhà trường còn tổ chức các cuộc thi vẽ tranh theo chủ đề như: Môi trường xanh - sạch - đẹp, an toàn giao thông, ý tưởng trẻ thơ… Qua các cuộc thi này, các em có cơ hội để thể hiện năng khiếu của mình, bộc lộ những ý tưởng sáng tạo của mình về cuộc sống xung quanh Từ đây, giáo viên cũng phát hiện ra các em có năng khiếu vẽ và lập
kế hoạch bồi dưỡng nâng cao, tạo cơ hội cho các em phát triển hơn nữa
Chính vì được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo nhà trường nên việc giảng dạy bộ môn Mỹ thuật có nhiều thuận lợi Giúp các em thấy được mỹ thuật là một môn học bổ ích, lý thú, từ đó các em nhận thức, cảm nhận được vẻ đẹp xung quanh mình
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi đó thì quan điểm, nhận thức vai trò của môn mỹ thuật cũng còn nhiều hạn chế Mặc dù môn mỹ thuật là một trong chín bộ môn đã đạt được mục tiêu giáo dục, song môn học mỹ thuật trên thực tế, trong quan niệm của nhiều người, vẫn chưa thực sự được coi trọng như những môn học khác, kết quả đánh giá môn học của giáo viên chưa thực sự được coi trọng Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến việc dạy và học của giáo viên, học sinh
1.3.3.3 Về phía Phụ huynh và học sinh
* Phụ huynh:
Trên thực tế, trước đây đa phần phụ huynh học sinh vẫn coi mỹ thuật là một môn học phụ nên chưa coi trọng kết quả của giáo viên chuyên môn, chưa có sự đầu tư quan tâm mua sắm trang thiết bị, đồ dùng học tập cho
Trang 30học sinh… Điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng học tập của giáo viên và học sinh gây cho học sinh cảm giác chán nản, không tự tin làm bài Cho đến nay, nhờ được sự đầu tư của nhà trường, môn Mỹ thuật đã được đầu tư phòng học chức năng đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh Giáo viên được đào tạo chuẩn chuyên ngành Sư phạm Mỹ thuật đã tạo phong trào học tập mỹ thuật ngày càng sôi nổi Phụ huynh học sinh cũng đã luôn coi trọng, đầu tư cho môn học, tạo điều kiện cho các em học sinh tích cực tham gia các cuộc thi vẽ tranh của nhà trường và Đoàn thanh niên phát động Qua đó, các em thấy rằng mỹ thuật là môn học bổ ích, lý thú và tươi vui, có tính giáo dục đạo đức, thẩm mỹ cao và là môn học bổ trợ cho các môn học khác
* Học sinh:
Qua thực tế giảng dạy, tôi thấy các em có một số rất yêu thích môn Mỹ thuật, các em được vẽ, được tiếp xúc, làm quen với một số tác phẩm hội họa nổi tiếng trong nước và quốc tế Qua vẽ tranh, các em thể hiện được những ước mơ, hoài bão của mình và những suy nghĩ, tình cảm của mình với gia đình, bạn bè và xã hội
Đến nay, phong trào học tập mỹ thuật ngày càng sôi nổi, bởi vì mọi người đều hiểu được sự đóng góp không nhỏ của môn học vào việc phát triển nhân cách cho học sinh Vì vậy, mà số đông học sinh và phụ huynh đã quan tâm, đầu tư không nhỏ cho môn học, từ ý thức cho đến việc chuẩn bị
đồ dùng học tập cho môn học này
Tiểu kết chương 1
Dạy học tích hợp là một trong những xu hướng dạy học tất yếu và phù hợp với định hướng đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục theo hướng phát triển năng lực người học Việc xây dựng các chuyên đề tích hợp liên môn để tổ chức các hoạt động dạy học không chỉ tối ưu hóa hoạt động học tập của học sinh mà còn là cơ sở để rèn luyện, phát triển những năng lực
Trang 31của học sinh thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ gắn liền với thực tiễn trong các kế hoạch dạy học các chuyên đề tích hợp liên môn
Trong đổi mới phương pháp dạy học tích hợp nội dung của nhiều môn học theo cùng một chủ đề nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh, giúp các em học sinh có khả năng phân tích, tổng hợp đánh giá các nội dung có cùng chủ đề để tích hợp vào bài học Đó là cách tiếp cận mới
về hoạt động dạy và học, tập trung vào người học; dạy học căn cứ vào người học; dạy học hướng vào người học Áp dụng dạy học tích hợp theo chủ đề không có nghĩa là gạt bỏ các phương pháp dạy học truyền thống mà cần khai thác các kết quả, kinh nghiệm; cần kế thừa và phát triển những mặt tích cực, phù hợp vào hoàn cảnh thực tiễn Điều đó càng cần thiết đối với giáo viên dạy mỹ thuật, môn học của thẩm mỹ, của sáng tạo với cách nhìn, cách cảm của mỗi học sinh
Nắm bắt được đặc điểm, tâm lý lứa tuổi học sinh trong quá trình phát triển ngôn ngữ tạo hình cũng như xác định đúng mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung dạy môn Mỹ thuật ở trường THCS là nền tảng giúp cho việc sử dụng các biện pháp dạy học tích cực, tổ chức các hoạt động giáo dục nhằm phát huy cao tính chủ động, sáng tạo học tập của học sinh với môn Mỹ thuật ở Trường Trung học cơ sở Xuân Phú, Phúc Thọ, Hà Nội ngày càng đạt được kết quả cao hơn; đáp ứng yêu cầu giáo dục toàn diện đối với học sinh
Trang 32Chương 2
ÁP DỤNG DẠY HỌC TÍCH HỢP THEO CHỦ ĐỀ VỚI MÔN
MỸ THUẬT Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ XUÂN PHÚ,
PHÚC THỌ, HÀ NỘI
2.1 Xây dựng các chủ đề dạy học tích cực
2.1.1 Xác định nội dung dạy học tích hợp
Chương trình các môn học trong chương trình giáo dục Trung học cơ
sở hiện nay tuy có mối liên hệ với nhau nhưng vẫn sở hữu tính độc lập
tương đối, được thể hiện theo mạch tri thức của môn học trên nguyên tắc
những tri thức được học trước chính là cơ sở của các kiến thức được học sau Bởi vậy, một số nội dung tri thức có liên quan đến nhiều môn học đều
được đưa vào chương trình của những môn học ấy gây ra sự chồng chéo
Chẳng những thế, thời gian dạy học những tri thức đó ở các môn học khác nhau là khác nhau, gây khó khăn cho học sinh trong việc tiếp cận kiến thức
Để khắc phục những khó khăn đó, trong khi chưa đưa ra được
chương trình mới, cần phải rà soát chương trình các môn học với nhau
trong chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, tìm ra những tri thức
chung để thiết kế thành những chủ đề dạy học tích hợp liên môn
Dạy học theo chủ đề tích hợp liên môn nói tới nội dung dạy học, đến hình thức tổ chức và cách thức dạy học, tới nội dung và cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập Chương trình giáo dục nào cũng còn đó những nội dung tri thức liên môn Do vậy, việc dạy học tích hợp liên môn cần phải
thực hiện ngay trong chương trình hiện hành Việc chọn lọc nội dung dạy
học để xây dựng các chủ đề tích hợp liên môn phù hợp nhằm giải quyết những khó khăn đó.
Đối với Mỹ thuật, dạy học theo chủ đề phần nào khắc phục được những nhược điểm của phương thức dạy học theo bài/ phân môn/ tiết của chương trình hiện hành Tuy không còn tên gọi các phân môn cụ thể, rạch
Trang 33ròi, song về cơ bản, mạch nội dung kiến thức cốt lõi, cần thiết của các phân môn được khai thác; lược bỏ đi tính hàn lâm, lý thuyết để chọn lọc, sắp xếp lại cho phù hợp và phát huy hơn với đặc thù môn học Chủ đề học tập có thể xây dựng trong nội hàm môn Mỹ thuật, song cũng có thể khai thác, tích hợp với nội dung tương ứng của các môn khác trong chương trình giáo dục phổ thông Mỗi chủ đề học tập đều có thời gian học tập dài hơn, nội dung tích hợp cô đọng, phong phú hơn đã tạo thêm thuận lợi cho quá trình trải nghiệm, luyện tập và vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn; thuận lợi cho đánh giá năng lực, bởi năng lục hình thành cần có thời gian trải nghiệm Từ trải nghiệm sẽ dẫn đến sáng tạo và ham muốn học tập, ham muốn thể hiện của học sinh Đó cũng là cơ hội để học sinh phát triển năng lực tạo hình và nâng cao nhận thức thẩm mỹ
2.1.2 Xây dựng nội dung các chủ đề dạy học tích hợp
Bộ Giáo dục và đào tạo (GDĐT) đã giao quyền tự chủ thiết kế và
thực hành kế hoạch giáo dục, phát huy vai trò của nhà trường và người giáo viên; chỉ đạo những cơ sở giáo dục trung học, tổ chuyên môn và người giáo
viên chủ động trong việc thiết kế kế hoạch giáo dục định hướng nâng cao
năng lực học sinh phù hợp với điều kiện thực tiễn của nhà trường, địa phương và khả năng của học sinh Bắt đầu từ năm học 2013-2014, những trường phổ thông trung học được giao quyền tự chủ trong việc và triển khai
kế hoạch giáo dục dựa vào tiêu chí giáo dục quy định trong chương trình góp phần tăng cao chất lượng giáo dục, phù hợp với điều kiện cụ thể của nhà trường theo các văn bản chỉ đạo của Bộ GDĐT: Công văn số
3535/BGDĐT-5GDTrH ngày 27 tháng 5 năm 2013 về việc hướng dẫn triển khai thực hiện phương pháp “Bàn tay nặn bột” và các cách thức dạy học
tích cực khác; Công văn số791/HD-BGDĐT ngày 25 tháng 6 năm 2013 về
việc chỉ dẫn thí nghiệm phát triển chương trình giáo dục nhà trường phổ
thông; Công văn số 5555/BGDĐT-GDTrH ngày 08 tháng 10 năm 2014 về
Trang 34việc hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, Tìm hiểu; tổ chức và quản lí những hoạt động chuyên môn của trường trung học/trọng tâm giáo dục thường xuyên qua mạng; những công
văn chỉ dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học hằng năm Theo đó,
thay cho việc dạy học đang được thực hiện theo từng bài/tiết trong sách giáo khoa như hiện nay, các tổ/nhóm chuyên môn căn cứ vào chương trình
và sách giáo khoa hiện hành, lựa chọn nội dung để xây dựng các chủ đề dạy học trong mỗi môn học và các chủ đề tích hợp liên môn thích hợp trong
việc sử dụng phương pháp dạy học tích cực trong điều kiện thực tế của nhà trường Trên cơ sở rà soát chuẩn tri thức, kĩ năng, thái độ theo chương trình
hiện hành và những hoạt động học dự kiến sẽ tổ chức cho học sinh theo cách
thức dạy học tích cực, xác định những năng lực và phẩm chất sẽ được hình
thành cho học sinh trong mỗi chuyên đề đã thiết kế những kiến thức liên môn nằm ở chương trình của các lớp khác nhau và đều có thể được lựa chọn
để thiết kế thành các chủ đề dạy học tích hợp liên môn
Tùy vào điều kiện cụ thể, nhà trường có thể thiết kế các chủ đề tích hợp liên môn phù hợp Trong thời kì đầu, để tránh sự xáo trộn nhiều gây
khó khăn cho việc thực hiện kế hoạch giáo dục chung, nhà trường có thể chọn những nội dung tri thức liên môn nằm trong chương trình của một lớp
để thiết kế chủ đề dạy học tích hợp liên, đảm bảo hoàn thành chương trình môn học của khối đó trong năm học Trong các năm tiếp theo, trên cơ sở những chủ đề tích hợp đã được xây dựng và thực hiện, nhà trường tiếp tục
mở rộng xây dựng những chủ đề tích hợp liên môn trong kế hoạch giáo dục
Trang 35tích hợp liên môn
Xây dựng các chủ đề học tập dựa trên cơ sở chương trình SGK hiện tại của bộ môn Mỹ thuật đã được triển khai thực hiện trong một số năm gần đây Được cụ thể hóa trong việc biên soạn tài liệu dạy học môn Mỹ thuật (trong môn “Hoạt động giáo dục”) của “Mô hình Trường học mới Việt Nam” Với các bài học thiết kế trong SGK theo kết cấu đồng tâm, xoắn ốc
có phát triển trong các phân môn Vẽ theo mẫu, Vẽ trang trí, Vẽ tranh và Thường thức mỹ thuật đã được tổ chức lại theo các chủ đề (chủ đề là các bài có nội dung kiến thức gần gũi nhau; có thể khai thác, hỗ trợ nhau và đáp ứng mục tiêu tương tác, phát triển)
Xây dựng các chủ đề học tập dựa trên cơ sở chương trình, SGK hiện tại Các chủ đề được lựa chọn từ các bài/phân môn riêng lẻ, có nội dung gần gũi nhau Ví dụ: trong chương trình Mỹ thuật lớp 8 chúng ta có thể xây dựng một số chủ đề:
- Chủ đề: Mỹ thuật Việt Nam thời Lê gồm các bài học: Bài 2: Thường thức mỹ thuật Sơ lược Mỹ thuật thời Lê và bài 5: Thường thức Mỹ thuật Một số công trình tiêu biểu của Mỹ thuật thời Lê
- Chủ đề: Thế giới cổ tích gồm các bài học: Bài 11: Vẽ trang trí: Trang trí bìa sách và bài 28: Minh họa truyện cổ tích
- Chủ đề: Mỹ thuật Việt Nam trong giai đoạn 1954 – 1975 gồm các bài học: Bài 10: Thường thức mỹ thuật sơ lược về mỹ thuật Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975 và bài 14: Thường thức mỹ thuật về một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu của mỹ thuật Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975
- Chủ đề: Hội hoa xuân gồm các bài học: Bài 4: Vẽ trang trí tạo dáng và trang trí chậu cảnh, bài 30: Vẽ theo mẫu lọ hoa và quả và bài 31: Vẽ theo mẫu xé dán giấy lọ hoa và quả
- Chủ đề: Tỷ lệ cơ thể người gồm các bài học: Bài 26: Vẽ theo mẫu giới thiệu tỷ lệ cơ thể người và bài 27: Vẽ theo mẫu tập vẽ dáng người
Trang 36- Chủ đề: Tỷ lệ mặt người gồm các bài học: Bài 15: Vẽ trang trí tạo dáng và trang trí mặt nạ, bài 18: Vẽ theo mẫu vẽ chân dung và bài 19: Vẽ theo mẫu vẽ chân dung bạn
- Chủ đề: Mỹ thuật Phương Tây thế kỷ 19 – 20 gồm các bài học: Bài 20: Thường thức mỹ thuật sơ lược mỹ thuật hiện đại phương Tây từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 và bài 29: Thường thức mỹ thuật Một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu của trường phái hội họa Ấn tượng
Về cơ bản chủ đề đảm bảo chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình; phát huy năng lực sáng tạo, phân tích, đánh giá và năng lực diễn đạt những suy nghĩ của bản thân
Việc gộp các bài học vào một chủ đề tạo cho học sinh chuỗi hoạt động liên tục, từ khám phá, trải nghiệm đến sáng tạo và trình bày ý tưởng Giáo viên cũng có thể lựa chọn các hình thức hoạt động linh hoạt phù hợp (như hoạt động cả lớp, hoạt động nhóm, hoạt động cá nhân trong lớp và ngoài giờ học…) Mối quan hệ tương hỗ của các bài trong chủ đề cũng tương đối rõ; từ xem tranh để cảm nhận, ghi nhớ; để nhận xét và trao đổi đến tưởng tượng và trải nghiệm để tiến hành vẽ mô phỏng lại một bác tranh của họa sĩ theo ý thích của bản thân Hoạt động nhóm sẽ giúp học sinh tự tin trao đổi, bàn bạc theo hiểu biết của mình Ngoài ra, giáo viên cũng có thể gợi ý để học sinh cảm nhận được vẻ đẹp trong tranh của các họa sĩ trong giai đoạn này
2.1.3.2 Nội dung trong chương trình các môn học được tích hợp theo chủ đề
- Miêu tả về nội dung kiến thức thuộc chương trình các môn học
được dạy học tích hợp trong chủ đề; nêu rõ các yêu cầu cần đạt được; tên bài (tiết), thời lượng phân phối chương trình hiện hành và thời gian dạy học theo chương trình hiện hành
- Phương án/kế hoạch dạy học môn học sau khi đã tách riêng phần
nội dung kiến thức được dạy học theo chủ đề đã xây dựng;
Trang 37- Diễn đạt nội dung dạy học trong chủ đề; phân tích về thời lượng và thời gian thực hành chủ đề trong mối liên hệ phù hợp với chương trình dạy
học những môn học có mối liên quan;
- Thể hiện ý tưởng/nghi vấn của chủ đề nhằm giải quyết một vấn đề
để thông qua đó các em học sinh học được nội dung tri thức liên môn và
những kĩ năng tương ứng đã được tách ra từ chương trình những môn học
kể trên, có thể là vấn đề theo nội dung dạy học hoặc vấn đề cần khắc phục trong thực tại;
- Ý nghĩa của việc thực hiện chủ đề trong dạy học các môn học liên
quan/hoạt động trải nghiệm sáng tạo đối với việc hình thành tri thức, kĩ năng, thái độ và nâng cao năng lực, phẩm chất của người học sinh
Với Chủ đề: Mỹ thuật Việt Nam trong giai đoạn 1954 – 1975 gồm các bài học: Bài 10: Thường thức mỹ thuật sơ lược về mỹ thuật Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975 và bài 14: Thường thức mỹ thuật về một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu của mỹ thuật Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975
Từ các bài học trên đây, kết hợp với một số bài học của các môn học khác như:
- Âm nhạc Lớp 7: Tiết 10 - Âm nhạc thường thức - Nhạc sĩ Đỗ Nhuận với bài hát “Hành quân xa"
- Âm nhạc Lớp 8: Tiết 21 - Âm nhạc thường thức - Nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn và bài hát "Biết ơn chị Võ Thị Sáu"
- Lịch sử lớp 9: Bài 28 - Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh chống đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam 1954 - 1965
- Lịch sử lớp 9: Bài 29 - Cả nước trực tiếp chiến đấu chống Mỹ cứu nước 1965-1973
- Lịch sử lớp 9: Bài 30 - Hoàn thành giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước 1973-1975
Trang 38- Ngữ văn lớp 7: Bài 10 - Luyện nói văn biểu cảm về sự vật, con người
Ta có thể xây dựng thành một chủ đề tích hợp từ các bài nên trên với
tên gọi là “Mỹ thuật Việt Nam trong giai đoạn 1954 - 1975” (3 tiết) gồm
các nội dung học tập như:
- Tìm hiểu sơ lược mỹ thuật Việt Nan giai đoạn 1954 - 1975
- Mô phỏng lại tác phẩm yêu thích của mỹ thuật Việt Nan giai đoạn
1954 - 1975
- HS trưng bày, giới thiệu và chia sẻ sản phẩm
Với các bài Bài 2: Thường thức mỹ thuật Sơ lược Mỹ thuật thời Lê và bài 5: Thường thức Mỹ thuật Một số công trình tiêu biểu của Mỹ thuật thời Lê Kết hợp với một số bài của các môn học khác như:
- Lịch sử lớp 7 - Bài 19: Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418 - 1427)
- Lịch sử lớp 7 - Bài 20: Nước Đại Việt thời Lê Sơ (1428 - 1527)
- Ngữ văn lớp 7 - Bài 6: Bài ca Côn Sơn - Nguyễn Trãi
Và một số bài của các môn học khác ta có thể xây dựng thành một
chủ đề tích hợp với tên gọi “Mỹ thuật Việt Nam thời Lê” (2 tiết) gồm các
nội dung học tập sau:
- Tìm hiểu Mỹ thuật thời Lê (từ thế kỷ 15 đến đầu thế kỷ 18)
- Thể hiện bài thu hoạch bằng sơ đồ tư duy
Hay với chủ đề “Tỷ lệ cơ thể người” gồm có các bài học: Bài 26: Vẽ
theo mẫu giới thiệu tỷ lệ cơ thể người và bài 27: Vẽ theo mẫu tập vẽ dáng người, kết hợp với các bài học của môn sinh học lớp 8 như: Bài 2: Cấu tạo
cơ thể người, bài 8: Cấu tạo và tính chất của xương và bài 9: Cấu tạo và tính chất của cơ
2.1.3.3 Mục tiêu của chủ đề
a) Về kiến thức: nêu lên những nội dung kiến thức mà học sinh sẽ
học được sau khi học chủ đề
Trang 39b) Về kĩ năng: Nêu lên những kĩ năng của người học sẽ được hình thành sau khi thực hành các hoạt động học theo chủ đề Dùng động từ hành
động để ghi các kĩ năng và năng lực mà người học tiếp thu được qua thực hành chủ đề
c) Về thái độ: Nêu lên những ảnh hưởng của việc thực hành những hoạt động học theo chủ đề đối với nhận thức, định hướng hành vi cho các
em học sinh
d) những năng lực chính hướng được tới: học sinh được học thông
qua các hình thức thực hành, thể hiện và tạo ra các sản phẩm học tập có ý
nghĩa cho bản thân; có thể xây dựng, thiết kế ra một sản phẩm hoặc thực hành một việc nào đó các năng lực đọc, viết, toán học, được phát triển trong việc tạo ra sản phẩm học tập
Với chủ đề “Mỹ thuật Việt Nam trong giai đoạn 1954 - 1975”người
giáo viên cần phải đặt ra các mục tiêu cần đạt cho học sinh Về kiến thức học sinh hiểu biết sơ lược về các thành tựu Mỹ thuật Việt Nam giai đoạn 1954-1975 thông qua các tác giả, tác phẩm tiêu biểu Về kỹ năng học sinh cần phải rèn kĩ năng cảm thụ các tác phẩm nghệ thuật, mô phỏng được một tác phẩm theo cảm nhận riêng, biết vận dụng được kiến thức liên môn để giải quyết nội dung bài học và rèn kĩ năng quan sát, tư duy phân tích tổng hợp, so sánh, vẽ tranh và thuyết trình trước đám đông, hợp tác nhóm Về thái độ học sinh có ý thức giữ gìn, học tập và trân trọng giá trị nghệ thuật, biết liên hệ kiến thức bài học để hiểu rõ hơn về nền Mỹ thuật Việt Nam
Ở Chủ đề “Thế giới cổ tích” học sinh cần đạt được các mục tiêu của
bài học như: về kiến thức Hiểu được nội dung và biết cách khai thác những hình ảnh tiêu biểu của câu chuyện để vẽ minh họa, về kiến thức biết chọn lọc hình ảnh, kết hợp với kiểu chữ để trình bày được bìa truyện, về thái độ học sinh giới thiệu, nhận xét nêu được cảm nhận về sản phẩm
Trang 40Hay với chủ đề “Hội hoa xuân” người giáo viên đưa ra các mục tiêu
bài học về kiến thức: vẽ được tranh tĩnh vật lọ hoa và quả, vận dụng những kiến thức đã học tạo hình và trang trí được sản phẩm chậu cảnh hoặc lọ hoa; về kỹ năng: tạo hình được cây cảnh hoặc hoa lá cân đối với chậu cảnh/lọ hoa đã làm, giới thiệu, nhận xét và nêu được cảm nhận với sản phẩm; về thái độ: yêu thích tìm tòi, sáng tạo và biết vận dụng những kiến thức đã được học vào trong cuộc sống
2.1.3.4 Sản phẩm cuối cùng của chủ đề
Miêu tả rõ yêu cầu sản phẩm mà người học sinh phải hoàn tất về nội
dung và hình thức (bài báo báo, bài trình chiếu, tập tranh ảnh, các mô hình,
bài vẽ ); nêu rõ tên và yêu cầu của sản phẩm cùng với các chỉ tiêu đánh
giá sản phẩm
Ở mỗi một chủ đề cụ thể người giáo viên sẽ đưa ra các yêu cầu cụ thể về sản phẩm của chủ đề mà học sinh cần hoàn thành Như ở chủ đề
“Hội hoa xuân” học sinh cần hoàn thành tạo dáng và trang trí một chậu
cảnh/lọ hoa Đối với chủ đề “Mỹ thuật Việt Nam thời Lê” học sinh biết cách thể hiện nội dung bài học bằng sơ đồ tư duy và giới thiệu được sơ đồ
mà học sinh/nhóm đã tạo ra Chủ đề “Thế giới cổ tích” học sinh vẽ được
bìa sách và minh họa một câu truyện cổ tích trong kho tàng truyện cổ tích
Việt Nam Ở chủ đề “Mỹ thuật Việt Nam trong giai đoạn 1954 - 1975” học
sinh có thể mô phỏng được một bức tranh của các họa sĩ trong giai đoạn này…
2.2 Tổ chức dạy học các chủ đề tích hợp
2.2.1 Xây dựng kế hoạch bài học
Trong chương trình dạy học hiện nay, những nội dung tri thức được nhắc đến ở hai hay nhiều môn học được điều chỉnh dạy học theo hai hướng: một là chỉ dạy kiến thức đấy trong một môn học và bổ sung thêm những tri thức có mối quan hệ tới những môn còn lại đối với những kiến thức liên