1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý di tích lịch sử văn hóa từ lương xâm, phường nam hải, quận hải an, thành phố hải phòng

157 194 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 157
Dung lượng 7,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Di tích lịch sử - văn hóa từ Lương Xâm, phường Nam Hải, quận Hải An là nơi thu hút đông đảo du khách trong và ngoài thành phố tham quan bởi chứa nhiều giá trị lịch sử văn hóa, thể hiện l

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƯƠNG

PHẠM THỊ THU HÀ

QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA

TỪ LƯƠNG XÂM, PHƯỜNG NAM HẢI, QUẬN HẢI AN,

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA

Khóa 5 (2016 - 2018)

Hà Nội, 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƯƠNG

PHẠM THỊ THU HÀ

QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA

TỪ LƯƠNG XÂM, PHƯỜNG NAM HẢI, QUẬN HẢI AN,

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Quản lý Văn hóa

Mã số: 8319042

Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thị Minh Lý

Hà Nội, 2018

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu tập hợp và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, các kết quả trích dẫn đều được ghi rõ nguồn gốc cũng như trong phần tài liệu tham khảo

Hà Nội, ngày 21 tháng 11 năm 2018

Tác giả luận văn

Đã ký

Phạm Thị Thu Hà

Trang 4

HĐND

LSVH

Nxb

Di tích lịch sử văn hóa Hội đồng nhân dân Lịch sử văn hóa Nhà xuất bản

Scientific and Cultural Organization

Tên tiếng Việt: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc

VHTT&DL Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trang 5

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH VÀ KHÁI QUÁT VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TỪ LƯƠNG XÂM 9

1.1 Một số khái niệm cơ bản 9

1.1.1 Di sản văn hóa 9

1.1.2 Di tích lịch sử- văn hóa 11

1.1.3 Quản lý 12

1.1.4 Quản lý văn hóa 13

1.1.5 Quản lý nhà nước về di tích lịch sử- văn hóa 15

1.2 Nội dung quản lý về di sản văn hóa 15

1.3 Văn bản pháp lý về quản lý di tích 17

1.4 Khái quát về di tích lịch sử - văn hóa từ Lương Xâm 21

1.4.1 Khái quát về quận Hải An và phường Nam Hải 21

1.4.1.2 Phường Nam Hải 23

1.4.2 Giá trị của di tích lịch sử - văn hóa từ Lương Xâm 25

1.4.3 Vai trò của di tích từ Lương Xâm trong đời sống cộng đồng 30

Tiểu kết 34

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ- VĂN HÓA TỪ LƯƠNG XÂM 36

2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý 36

2.1.1 Sở Văn hóa và Thể thao Hải Phòng 36

2.1.2 Phòng Văn hóa và Thông tin quận Hải An 37

2.1.3 Ban Văn hóa - Thông tin phường Nam Hải 39

2.1.4 Ban quản lý di tích cơ sở 39

2.1.5 Vai trò của cộng đồng dân cư đối với di tích lịch sử- văn hóa từ

Lương Xâm 45

2.2 Các hoạt động quản lý di tích lịch sử - văn hóa từ Lương Xâm 49

2.2.1 Triển khai, ban hành các văn bản thực hiện 49

2.2.2 Tổ chức tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức của nhân dân 53

2.2.3 Công tác quy hoạch và tu bổ, tôn tạo di tích 56

2.2.4 Hoạt động nghiên cứu, sưu tầm 60

Trang 6

2.2.6 Kiểm tra giám sát và bảo vệ di tích 69

2.2.7 Công tác quản lý tài chính 73

2.3 Đánh giá công tác quản lý di tích lịch sử-văn hóa từ Lương Xâm 75

2.3.1 Những thành tựu 75

2.3.2 Những hạn chế 78

Tiểu kết 80

Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ CỦA DI TÍCH LỊCH SỬ -VĂN HÓA TỪ LƯƠNG XÂM 82

3.1 So sánh công tác quản lý di tích lịch sử - văn hóa từ Lương Xâm và di tích đình Xâm Bồ, phường Nam Hải, quận Hải An, thành phố Hải Phòng 82

3.2 Những vấn đề đặt ra đối với hoạt động quản lý di tích lịch sử - văn hóa từ Lương Xâm hiện nay 88

3.3 Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa từ Lương Xâm 90

3.3.1 Hoàn thiện cơ chế chính sách, chỉ đạo điều hành 90

3.3.2 Hoàn thiện bộ máy, tăng cường nguồn nhân lực quản lý di tích (trong đó có nâng cao năng lực cho cộng đồng) 93

3.3.3 Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học và tu bổ di tích 97

3.3.4 Truyền thông giáo dục giá trị của di tích 100

3.3.5 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra xử lý các vi phạm về di sản văn hóa theo quy định của luật di sản văn hóa 102

3.3.6 Nâng cao công tác tổ chức và quản lý lễ hội từ Lương Xâm 104

3.3.7 Quản lý dịch vụ và xã hội hóa di tích 107

Tiểu kết 110

KẾT LUẬN 111

TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

PHỤ LỤC 119

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn hoá có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội, là hệ thống các giá trị, chuẩn mực, mục tiêu mà con người hướng tới; nó được bảo tồn và lưu truyền qua các thế hệ, là trụ cột phát triển bền vững của mỗi quốc gia, dân tộc và nhân loại Trong các lĩnh vực của văn hóa, di tích lịch sử- văn hóa là những thành quả lao động sáng tạo của con người được gìn giữ và lưu truyền trong quá khứ, là bằng chứng vật chất sinh động phản ánh trung thực quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Di tích lịch sử- văn hóa là những tài sản vô giá ẩn chứa những truyền thống tốt đẹp được các thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau các giá trị về lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ Những giá trị đó được các thế hệ sau đón nhận, tiếp thu, sáng tạo và lưu truyền mãi mãi

Hải An là quận ven biển của thành phố Hải Phòng được thành lập tháng 12/2002 và chính thức đi vào hoạt động từ tháng 5/2003 Đây là khu vực trọng điểm phát triển kinh tế biển của thành phố với vị trí chiến lược an ninh quốc phòng là đầu mối giao lưu phát triển kinh tế - xã hội giữa Hải Phòng với các địa phương trong vùng kinh tế động lực phía bắc và vùng duyên hải Bắc Bộ Hải An có nhiều cảnh quan môi trường thiên nhiên đẹp, giàu tiềm năng du lịch sinh thái - văn hóa Quận có 13 di tích cấp quốc gia,

11 di tích cấp thành phố trên tổng số 57 cơ sở tín ngưỡng Đặc biệt, địa bàn quận hội tụ 3 trong số “Tứ linh Từ” linh thiêng của huyện cổ An Dương gồm từ Lương Xâm - thờ Đức Vương Ngô Quyền, phủ Thượng Đoạn- thờ mẫu Liễu Hạnh, đền Phú Xá - thờ Đức thánh Trần Hưng Đạo Trong đó, từ Lương Xâm được suy tôn là “từ Cả” - tức là nơi đứng đầu về thờ Ngô Quyền, là căn cứ đại bản doanh của Ngô Quyền khi ông chỉ huy trận Bạch Đằng năm 938 Đây là một trong những di tích lịch sử- văn hóa tiêu biểu,

Trang 8

nơi hội tụ những giá trị văn hóa, lịch sử, nghệ thuật tâm linh đặc sắc đã được Bộ Văn hóa và Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia theo Quyết định số 235-VH/QĐ ngày 12/12/1986 [52]

Năm 2008 thành phố và quận đã đầu tư để tu bổ, nâng cấp, tôn tạo di tích, nâng cấp lễ hội từ Lương Xâm có quy mô cấp quận để nâng cao giá trị của di tích, xây dựng nơi đây thực sự là một trung tâm sinh hoạt văn hóa, lễ hội truyền thống và phục vụ chiến lược phát triển văn hóa - du lịch của thành phố và quận Di tích lịch sử - văn hóa từ Lương Xâm, phường Nam Hải, quận Hải An là nơi thu hút đông đảo du khách trong và ngoài thành phố tham quan bởi chứa nhiều giá trị lịch sử văn hóa, thể hiện lòng tự hào dân tộc của ông cha ta Bên cạnh những việc đã và đang làm được, công tác quản lý di tích lịch sử - văn hóa từ Lương Xâm còn nhiều mặt hạn chế, chưa được quan tâm đầu tư với giá trị và tiềm năng phát triển Vì vậy, một trong những nhiệm vụ quan trọng là nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác quản lý di tích, để di tích ngày càng phát huy được giá trị truyền thống văn hóa của dân tộc, đặc biệt với sự phát nhanh của quá trình đô thị hóa hiện nay

Là cán bộ hiện đang công tác trong ngành văn hóa của quận Hải An, trước những hạn chế trong công tác quản lý di tích từ Lương Xâm, người

viết chọn nghiên cứu đề tài “Quản lý di tích lịch sử - văn hóa từ Lương

Xâm, phường Nam Hải, quận Hải An, thành phố Hải Phòng” làm luận

văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Văn hóa với mong muốn tìm ra những giải pháp quản lý hiệu quả di tích lịch sử - văn hóa từ Lương Xâm trong giai đoạn hiện nay, góp phần vào công tác quản lý di sản của quận Hải An nói riêng và thành phố Hải Phòng nói chung

Trang 9

2 Lịch sử nghiên cứu

Trong lĩnh vực văn hóa đã có nhiều công trình nghiên cứu về di tích lịch sử- văn hóa, mỗi công trình là một nhận diện mới về di tích hàm chứa nhiều giá trị nhân văn Trong quá trình nghiên cứu, khảo sát về di tích, tác giả tham khảo một số tài liệu về di tích lịch sử- văn hóa liên quan đến đề tài như:

Tác giả Dương Văn Sáu (2008), Di tích lịch sử- văn hóa và danh

thắng Việt Nam [35]; tác giả Trịnh Thị Hòa (2009), Bảo tồn và phát huy giá trị di tích trong bối cảnh hội nhập và phát triển [24]; tác giả Nguyễn

Quốc Hùng (2014), Vài suy nghĩ về “yếu tố gốc” cấu thành di tích [26]; tác giả Nguyễn Viết Cường (2014), Bảo tồn di tích trong bối cảnh hiện nay [18]; tác giả Nguyễn Hữu Thức (2015), Nhận thức về di sản văn hóa ở Việt

Nam qua một số văn bản của Đảng và Nhà nước [44]

Năm 2016, tác giả Ngô Đình Dũng, học viên lớp Cao học chuyên ngành Quản lý văn hóa- Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương

nghiên cứu đề tài: Quản lý di tích lịch sử Bạch Đằng, tại Thị xã Quảng

Yên, tỉnh Quảng Ninh [19] Luận văn tập trung nghiên cứu lý thuyết chung

về quản lý di tích, nghiên cứu thực tiễn thực trạng công tác quản lý di tích lịch sử Bạch Đằng để từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý di tích lịch sử Bạch Đằng trong giai đoạn hiện nay

Năm 2017, tác giả Trương Hùng Minh, nghiên cứu luận văn thạc sĩ tại Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương nghiên cứu đề tài:

Quản lý di tích lịch sử văn hóa đình Giàn, phường Xuân Đỉnh, quận Bắc

Từ Liêm, Hà Nội [31] Luận văn đi sâu vào khảo sát phân tích, đánh giá

những kết quả đạt được cũng như hạn chế trong công tác quản lý

DTLS-VH của di tích lịch sử văn hóa đình Giàn Từ đó đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa đình Giàn

Trang 10

Những tài liệu tham khảo này đề cập đến các hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, di tích nói chung và đây cũng là nguồn tư liệu quý giúp tác giả có cái nhìn tổng quan hơn về công tác quản lý di tích từ đó gợi mở một

số ý tưởng và giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác quản lý

Cho tới nay, đã có một số bài viết, công trình nghiên cứu về di tích lịch sử - văn hóa từ Lương Xâm Tuy nhiên chưa có công trình khoa học chuyên biệt nào tập trung nghiên cứu sâu về công tác quản lý Nhà nước đối với di tích từ Lương Xâm ở quận Hải An, cụ thể là:

Năm 2012, sinh viên Lê Thị Châm - Trường Đại học Dân lập Hải

Phòng nghiên cứu đề tài Di tích thờ anh hùng dân tộc Ngô Vương Quyền

trên địa bàn Hải Phòng - Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch [13]

Trong bài khóa luận người viết đề cập đến hiện trạng và tình hình khai thác một số di tích thờ Ngô Quyền, trong đó có di tích từ Lương Xâm ở quận Hải An Trong phần nghiên cứu về di tích từ Lương Xâm, tác giả bài viết

đã trình bày lịch sử hình thành, phát triển của khu di tích; nêu được một số giá trị tiêu biểu về kiến trúc và các hoạt động diễn ra trong lễ hội từ Lương Xâm từ đó đưa ra một số giải pháp cơ bản để gắn với phát triển du lịch tại

di tích từ Lương Xâm nói riêng và các di tích thờ Ngô Vương Quyền trên địa bàn thành phố Hải Phòng nói chung

Bài viết từ Lương Xâm và việc thờ tự Ngô Quyền của tác giả Trần

Quốc Tuấn đăng trên tạp chí Văn hóa dân gian - số 3 (10) năm 2010 [46] Bài viết đã giới thiệu tổng quan về lịch sử hình thành, một số giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của di tích từ Lương Xâm Tác giả trình bày

về tiểu sử và các thần tích liên quan đến Ngô Vương Quyền đồng thời giới thiệu về các hoạt động được tổ chức trong lễ hội tại khu di tích này

Năm 2013, nhân dịp kỷ niệm 10 năm ngày thành lập quận, Ủy ban

nhân dân quận Hải An chỉ đạo biên soạn và phát hành cuốn sách Di sản

Trang 11

văn hóa quận Hải An - những dấu ấn lịch sử [52] Cuốn sách để giúp nhân

dân và du khách đến tham quan hiểu biết những giá trị về lịch sử, văn hóa- nhân văn và nghệ thuật kiến trúc tại một số di tích trên địa bàn quận Tài liệu này được sự thẩm định và hiệu đính của Bảo tàng Hải Phòng, Hội Khoa học Lịch sử Hải Phòng Trong cuốn sách đã giới thiệu về nguồn gốc, lịch sử ra đời của di tích lịch sử từ Lương Xâm cũng như thân thế, sự nghiệp của Đức Vương Ngô Quyền; nêu khái quát những giá trị lịch sử - văn hóa tiêu biểu của khu di tích

Trong số các di tích và lễ hội thờ Ngô Quyền ở phường Nam Hải, quận Hải An, từ Lương Xâm là khu vực thờ chính vì vậy được nhiều tác giả

nhắc đến trong các công trình của mình Có thể kể đến một số sách như: Hải

Phòng những chặng đường lịch sử do Thành ủy, HĐND, UBND thành phố

Hải Phòng chủ biên năm 2010 [41]; Hải Phòng Thành hoàng và lễ phẩm của tác giả Ngô Đăng Lợi biên soạn năm 2010 [28]; Một số di sản văn hóa tiêu

biểu của Hải Phòng, tập 1 do tác giả Ngô Đăng Lợi viết năm 2010 [29]; Hải Phòng di tích - danh thắng xếp hạng quốc gia (Sở Văn hóa Thông tin, Bảo

tàng Hải Phòng biên soạn năm 2005) [38]; Di tích từ Lương Xâm và anh

hùng dân tộc Ngô Quyền do Ủy ban nhân dân quận Hải An chủ biên năm

2009 [49] Các cuốn sách này giới thiệu khái quát về khu di tích và lễ hội thờ

Ngô Quyền ở từ Lương Xâm, song chỉ là những nét hết sức khái lược Nhìn chung, việc quản lý di tích ở từ Lương Xâm vẫn chưa được khảo cứu một cách hệ thống và toàn diện Vì vậy, đây sẽ là mục đích nghiên cứu mà tác giả hướng tới

Ngoài ra, trên một số tạp chí Văn hóa - Du lịch của thành phố Hải Phòng; Cổng thông tin điện tử thành phố; Báo Hải Phòng; Đài Phát thanh - Truyền hình Hải Phòng cũng đăng tải một số bài viết, hình ảnh tiêu biểu về

di tích và lễ hội từ Lương Xâm Tuy nhiên, đây mới là những bài viết để tuyên truyền, quảng bá cho các hoạt động tổ chức lễ hội tại khu di tích này

Trang 12

và xúc tiến cho các hoạt động du lịch văn hóa tâm linh - tham quan di tích lịch sử- văn hóa của thành phố Hải Phòng

Mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu, bài viết về di tích lịch sử

từ Lương Xâm nhưng hầu hết các bài viết mới chỉ tập trung nghiên cứu, giới thiệu những vấn đề liên quan đến lịch sử hình thành, vai trò, giá trị văn hóa, nghệ thuật kiến trúc và công tác tổ chức lễ hội gắn với tiềm năng phát triển du lịch tại khu di tích Vấn đề đặt ra là, vẫn còn thiếu những công trình nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực quản lý Nhà nước đối với di tích này Điều đó, cần có một công trình mang tính bao quát tiếp cận hệ thống

lý luận lẫn thực tiễn dưới góc độ quản lý Nhà nước về di tích Vì đây là một trong những di tích lịch sử- văn hóa tiêu biểu nhất của quận Hải An và

là một trong những di tích thờ Đức Vương Ngô quyền tiêu biểu của thành phố Hải Phòng

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý di tích từ Lương Xâm từ đó đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả trong quản lý di tích từ Lương Xâm nói riêng và hệ thống di tích nói chung trên địa bàn quận Hải An

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý di sản nói chung và quản lý di tích lịch sử văn hóa nói riêng; các văn bản quản lý Nhà nước về di sản văn hóa, di tích lịch sử- văn hóa của Nhà nước, thành phố và quận

- Tìm hiểu đặc điểm, các giá trị văn hóa tiêu biểu của di tích từ Lương Xâm

- Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng quản lý Nhà nước đối với di tích lịch sử - văn hóa từ Lương Xâm

Trang 13

- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tại di tích từ Lương Xâm

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu các hoạt động quản lý di tích lịch sử - văn hóa từ Lương Xâm, phường Nam Hải, quận Hải An, Thành phố Hải Phòng

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: Nghiên cứu, khảo sát bảo tồn và phát huy di tích lịch sử - văn hóa từ Lương Xâm (bao gồm các yếu tố văn hóa vật thể

và phi vật thể) và công tác quản lý các hoạt động

- Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu hoạt động của di tích từ Lương Xâm cùng công tác quản lý và phát huy giá trị từ năm 2008 đến nay (vì năm 2008 là năm công tác tu bổ, mở rộng khuôn viên di tích được hoàn thành và nâng cấp lễ hội tại di tích)

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận văn, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính sau đây:

- Phương pháp tổng hợp, phân tích tư liệu, tài liệu: Thông qua các tài liệu, các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước, người viết tập hợp, sắp xếp lại làm rõ những giá trị văn hóa - lịch sử của di tích từ Lương Xâm

- Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa: Tìm hiểu thực trạng hoạt động quản lý tại di tích để đánh giá những ưu điểm, hạn chế, tồn tại trong quản lý di tích thông qua việc xuống trực tiếp di tích để điều tra thực trạng công tác quản lý và chụp ảnh minh họa

- Phương pháp thu thập ý kiến: Trên cơ sở lấy ý kiến của Ban Quản

lý di tích, cán bộ quản lý văn hóa và của người dân bằng hình thức phỏng

Trang 14

vấn trực tiếp để làm rõ hơn về công tác quản lý tại di tích hiện nay; sự tham gia và vai trò của cộng đồng trong bảo vệ di tích

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Trên cơ sở tài liệu thu thập trong công tác quản lý di tích đình Xâm Bồ, phường Nam Hải tác giả so sánh, lồng ghép rút ra bài học trong công tác quản lý di tích từ Lương Xâm

6 Những đóng góp của luận văn

- Góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận về quản lý Nhà nước đối với di tích lịch sử- văn hóa

- Đánh giá những thực trạng quản lý di tích trên địa bàn quận Hải An trong giai đoạn hiện nay

- Đề xuất những giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, bảo vệ và phát huy giá trị di tích, phục vụ nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hóa tinh thần ở quận Hải An

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho những người thực hiện quản lý nhà nước về di tích trên địa bàn quận Hải

An nói riêng và phạm vi các quận, huyện trên địa bàn thành phố Hải Phòng nói chung

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của luận văn được kết cấu thành 03 chương:

Chương 1: Một số vấn đề chung về quản lý di tích và khái quát về di

tích lịch sử - văn hóa từ Lương Xâm

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý di tích lịch sử - văn hóa từ Lương Xâm

Chương 3: Giải pháp nâng cao quản lý và phát huy các giá trị của di tích lịch sử - văn hóa từ Lương Xâm

Trang 15

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH VÀ KHÁI QUÁT

VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TỪ LƯƠNG XÂM

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Di sản văn hóa

Để tìm hiểu khái niệm di sản văn hóa, trước hết chúng ta phải tìm hiểu thế nào là văn hóa Hiện nay có rất nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau về văn hóa, đã có hơn 400 khái niệm, định nghĩa lớn nhỏ về phạm trù lĩnh vực văn hóa Đây là một khái niệm rộng lớn bao hàm nhiều giá trị, gồm cả vật chất và tinh thần, được sáng tạo trong quá trình lao động sản xuất của con người

Năm 2002, UNESCO đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau:

Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học

và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin [21, tr.20]

Theo Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị (vật chất và tinh thần, tĩnh và động, vật thể và phi vật thể…) do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [43, tr.25]

Như vậy, văn hóa là những giá trị do con người sáng tạo ra, là phương thức ứng xử của con người, đồng thời là biểu hiện trình độ tổ chức quản lý xã hội Trong đời sống xã hội, con người vừa là chủ thể, vừa là sản phẩm của văn hóa Văn hóa là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra nhằm phục vụ cho sự tồn tại và phát triển của loài người và thúc đẩy sự phát triển xã hội

Trang 16

Từ những khái niệm trên về văn hóa, chúng ta có thể hiểu di sản văn hóa cũng chính là những sản phẩm vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và tích lũy qua thời gian Di sản văn hóa mang phạm vi rộng, tính tổng quát lớn, có nhiều quan điểm, khái niệm, định nghĩa khác nhau về di sản văn hóa

Luật Di sản văn hóa (2001) được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua số: 28/2001/QH10 ngày 29 tháng 6 năm

2001 tại điều 1 có quy định: “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác” [32, tr.30]

Khái niệm về di sản văn hóa này được sử dụng chung nhất ở nước ta hiện nay, khái niệm này cũng đồng nhất với một số khái niệm về di sản văn hóa được các nước trên thế giới sử dụng trong đó có Công ước 1792 của UNESCO về việc bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên của thế giới (Đã được thông qua tại kỳ họp thứ 17 của Đại hội đồng UNESCO tại Paris ngày 16/11/1972)

Như vậy, di sản văn hóa tồn tại dưới hai dạng: di sản văn hóa vật thể

và di sản văn hóa phi vật thể Theo điều 4 chương I, Luật Di sản văn hóa được sửa đổi bổ sung năm 2009 có ghi:

Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác

Trang 17

Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia [32, tr.31]

Sự phân biệt di sản văn hóa vật thể và phi vật thể chỉ mang tính tương đối khi cần nghiên cứu những đặc tính riêng của từng di sản Trên thực tế, yếu tố vật thể và phi vật thể gắn kết chặt chẽ với nhau, cùng tồn tại

để làm nên những giá trị của một di sản Di sản văn hóa vật thể là cái biểu hiện vật chất của di sản văn hóa phi vật thể còn di sản văn hóa phi vật thể là linh hồn, cốt lõi, biểu hiện của di sản văn hóa vật thể để nó tồn tại với thời gian

1.1.2 Di tích lịch sử- văn hóa

Theo Luật Di sản văn hóa do Quốc hội nước CHXH chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm 2001 và sửa đổi, bổ sung Luật Di sản văn hóa năm

2009 quy định: “Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm

và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị

lịch sử, văn hóa, khoa học” [32, tr.31]

Như vậy, di tích là một không gian vật chất được xác định cụ thể và được giới hạn trong phạm vi địa giới hành chính bao gồm các công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc phạm vi công trình địa điểm đó được xác định có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học ghi dấu hoạt động của con người, của một giai đoạn lịch sử nhất định, nó được phân bố trong phạm vi không gian và thời gian với quy mô và sự phân bố khác nhau không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người Ngoài ra, di tích còn mang trong đó giá trị tinh thần, giá trị nhân văn thể hiện sự sáng tạo ra nó, bảo tồn, giữ gìn và phát huy giá trị của di tích, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn bản sắc văn hóa Do vậy,

di tích là tài sản của mỗi địa phương, dân tộc, đất nước

Theo điều 28 của Luật Di sản văn hóa được sửa đổi, bổ sung năm

2009, di tích lịch sử - văn hóa phải có một trong các tiêu chí như sau:

Trang 18

- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phương;

- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử;

- Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu;

- Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật [32, tr.42] Theo đầu mối quản lý và giá trị của di tích được chia thành 3 loại:

- Di tích quốc gia đặc biệt: là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia Các di tích này được địa phương lập hồ sơ xếp hạng và trên cơ sở

đề nghị của Bộ trưởng Bộ VHTT&DL, Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt và quyết định đề nghị tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc xem xét đưa di tích tiêu biểu của Việt Nam vào danh mục di sản thế giới

- Di tích quốc gia: Là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia Các di tích này được địa phương lập hồ sơ, trên cơ sở đề nghị của Chủ tịch UBND tỉnh, Bộ trưởng Bộ VHTT&DL ra quyết định xếp hạng di tích quốc gia

- Di tích cấp tỉnh: là di tích của địa phương Địa phương lập hồ sơ trên cơ sở đề nghị của Giám đốc Sở VHTT&DL, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xếp hạng di tích cấp tỉnh

1.1.3 Quản lý

Quản lý là một khái niệm rộng, mang tính bao trùm tất cả đời sống

xã hội của con người Trên thực tế tồn tại nhiều cách tiếp cận khái niệm quản lý Thông thường, quản lý đồng nhất với các hoạt động tổ chức chỉ

Trang 19

huy, điều khiển, động viên, kiểm tra, điều chỉnh… theo lý thuyết hệ thống:

“Quản lý là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý đến một hệ thống nào đó nhằm biến đổi nó từ trạng thái này sang trạng thái khác theo nguyên lý phá vỡ hệ thống cũ tạo lập hệ thống mới và điều khiển hệ thống [21]

Trên cơ sở đó, chúng ta có thể hiểu quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý trong quá trình tiến hành các hoạt động nhằm đạt tới mục tiêu kinh tế - xã hội đã đặt ra

Quản lý là quá trình tổ chức, là sự điều khiển có chiến thuật các hoạt động xã hội bằng thể chế pháp luật, chính sách, bộ máy quản lý nhà nước Quản lý có tính khoa học dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật phát triển của tự nhiên, xã hội và đối tượng khác Mặt khác, quản lý còn là một nghệ thuật, đòi hỏi nhiều kiến thức khoa học xã hội, khoa học tự nhiên

1.1.4 Quản lý văn hóa

Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các

cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội

Trong quản lý nhà nước, quản lý về văn hóa là một dạng quản lý đặc biệt quan trọng, bởi trong Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII), Đảng ta đã xác định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”

Đối tượng của quản lý văn hóa là các hoạt động văn hóa Quản lý nhà nước về văn hóa thực chất là quản lý hành chính đối với văn hóa Quản

lý nhà nước về văn hóa là quản lý một dạng hoạt động đặc biệt và mang tính đặc thù Hoạt động văn hóa là hoạt động sáng tạo, mang tính tư tưởng,

có khả năng gây “hiệu ứng” (tốt hoặc xấu) trong xã hội Chính vì tính đa

Trang 20

năng của hoạt động văn hóa nên quản lý nhà nước về văn hóa mang tính đặc thù Tính đặc thù trong lãnh đạo, quản lý không những thể hiện trong lĩnh vực cụ thể của đời sống văn hóa mà nó còn thể hiện ở công tác quản lý nhà nước về văn hóa ở các cấp

Quản lý nhà nước về văn hóa ở nước ta, xét về phương diện thao tác thực hành, thường phân biệt làm hai dạng quản lý khác nhau, đó là quản lý nhà nước và quản lý sự nghiệp đối với các hoạt động văn hóa

Quản lý nhà nước thuộc chức trách của các đơn vị nhà nước (Chính phủ, Ủy ban nhân dân, Bộ, Sở, Phòng) thông qua hệ thống về pháp luật, thể chế, chính sách, kế hoạch nhà nước Quản lý sự nghiệp văn hóa là quản lý

về phương diện chuyên môn theo từng lĩnh vực hoạt động văn hóa Phương diện này thuộc chức trách của từng hệ thống thiết chế văn hóa chuyên ngành, mà đứng đầu là hệ thống các thiết chế văn hóa nhà nước theo hệ thống hành chính quốc gia Qua việc xây dựng các thiết chế văn hóa chuyên ngành, nhà nước có nhiệm vụ quản lý toàn bộ sự nghiệp hoạt động của các thiết chế văn hóa thuộc hệ thống quản lý của mình và trên từng lãnh thổ

Tóm lại, quản lý văn hóa là sự quản lý của nhà nước đối với toàn bộ hoạt động văn hóa của quốc gia bằng quyền lực của nhà nước thông qua hiến pháp, pháp luật và cơ chế chính sách nhằm bảo đảm sự phát triển của nền văn hóa dân tộc Văn hóa là một mặt trận, xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng Đầu tư cho văn hóa là tạo “đòn bẩy” để phát triển kinh

tế, xã hội theo cái đúng, cái tốt và cái đẹp Quản lý văn hóa tốt sẽ góp phần quan trọng để khắc phục những khiếm khuyết, yếu kém vốn có của sự mất cân bằng kinh tế - xã hội

Trang 21

1.1.5 Quản lý nhà nước về di tích lịch sử- văn hóa

Tác giả Dương Văn Sáu đưa ra khái niệm quản lý di sản văn hóa

trong Giáo trình Quản lý Di sản văn hóa với phát triển du lịch như sau:

Quản lý di sản văn hóa là quá trình theo dõi, định hướng và điều tiết quá trình tồn tại và phát triển của các di sản văn hóa trên một địa bàn cụ thể nhằm bảo tồn và phát huy tốt nhất giá trị của chúng; đem lại lợi ích to lớn, nhiều mặt, lâu dài cho cộng đồng dân cư chủ nhân của các di sản văn hóa đó [30, tr.56]

Như vậy, về bản chất công tác quản lý di sản văn hóa ở Việt Nam nhằm hai mục đích cơ bản:

- Bảo tồn sự phát triển bền vững của kho tàng di sản văn hóa dân tộc trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước

- Khai thác ngày càng hiệu quả những giá trị của di sản văn hóa, nâng di sản văn hóa dân tộc lên những tầm cao mới

“Quản lý di tích lịch sử- văn hóa là sự định hướng, tạo điều kiện tổ chức điều hành việc bảo vệ, giữ gìn các di tích lịch sử - văn hóa, làm cho các giá trị di tích được phát huy theo chiều hướng tích cực” [35, tr.12]

Quản lý di tích là quá trình tác động của chủ thể mà chủ thể ở đây được hiểu là Nhà nước, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các ngành, cơ quan chính quyền các cấp, tác động lên đối tượng bị quản lý là các di tích, các tổ chức, cá nhân đang trực tiếp quản lý khai thác các công trình di tích bằng hoạch định cơ chế, chính sách, pháp luật, tổ chức lãnh đạo, kiểm tra nhằm mục đích bảo tồn và phát huy giá trị của di tích

1.2 Nội dung quản lý về di sản văn hóa

Nội dung quản lý nhà nước và cơ quan quản lý nhà nước về DSVH được quy định tại điều 54 và 55 của Luật Di sản văn hóa năm 2001 được sửa đổi bổ sung năm 2009 cụ thể như sau:

Trang 22

Điều 54: Nội dung quản lý nhà nước về DSVH bao gồm:

1 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị

4 Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hóa

5 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa

6 Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa

7 Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa

8 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại

tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di sản văn hóa [32, tr.61- 62] Điều 55:

1 Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về di sản văn hóa

2 Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về di sản văn hóa

3 Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm quản lý nhà nước về di sản văn hóa theo phân công của Chính phủ Chính phủ quy định cụ thể trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong việc phối hợp với

Trang 23

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về di sản văn hóa;

4 Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý nhà nước về di sản văn hóa ở địa phương theo phân cấp của Chính phủ [32, tr.62]

Qua những nghiên cứu, phân tích cho thấy quản lý nhà nước về di sản văn hóa là sử dụng cơ chế, chính sách thông qua bộ máy quản lý tác động có tính chất định hướng tới cộng đồng xã hội nhằm đạt được mục tiêu

đề ra mà không làm thay và đặc biệt không “khoán trắng” cho dân Vai trò của các cơ quan quản lý các cấp từ trung ương đến cơ sở đóng vai trò quan trọng đối với việc quản lý và phát huy các giá trị di sản văn hóa Ngoài ra, vai trò của cộng đồng dân cư địa phương nơi có di sản văn hóa cũng góp phần không nhỏ trong quá trình quản lý và bảo tồn các giá trị của di sản văn hóa Kinh nghiệm trong nước và quốc tế đều chỉ rõ, muốn nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về di sản văn hóa, cần thiết lập được những điều kiện cần và đủ cho tất cả các mặt hoạt động

1.3 Văn bản pháp lý về quản lý di tích

Di tích lịch sử- văn hóa là tài sản vô cùng quý báu của mỗi quốc gia nói chung Việt Nam là một quốc gia có nền văn hóa từ lâu đời, theo chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, ông cha ta đã xây dựng và sáng tạo nên nền văn hóa vô cùng quý giá, mang nhiều giá trị, qua thời gian được tích lũy nên những di tích lịch sử- văn hóa nổi bật Tuy nhiên, hiện nay chúng ta đang đứng trước nhiều khó khăn và thách thức trong quá trình bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa Xác định vai trò và tầm quan trọng của mỗi di sản văn hóa trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, vấn

đề bảo tồn di tích lịch sử- văn hóa luôn đòi hỏi phải khoa học và mang tính

Trang 24

pháp lý Vì vậy, việc xây dựng văn bản pháp luật làm cơ sở để quản lý các

di sản văn hóa là yêu cầu đầu tiên của trong việc bảo tồn di tích Nhà nước

đã ban hành những văn bản pháp lý làm cơ sở cho hoạt động công tác bảo tồn, quản lý các di tích lịch sử- văn hóa

* Luật Di sản văn hóa năm 2001

Tại kỳ họp thứ IX năm 2001, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã thông qua Luật Di sản văn hóa và chính thức được Chủ tịch nước ký lệnh ban hành có hiệu lực 01/01/2002 Luật Di sản văn hóa gồm có 7 chương,

74 điều đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho sự nghiệp bảo tồn và phát huy

di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của quốc gia Luật còn quy định cụ thể tiêu chí, quyền và thủ tục xếp hạng di tích lịch sử- văn hóa, du lịch tại chỗ

và bảo tàng Luật di sản văn hóa đã kế thừa các văn bản pháp quy trước đó

và có sự điều chỉnh để phù hợp với thời kỳ hội nhập

Để cụ thể hóa Luật Di sản văn hóa, các văn bản dưới luật đã được Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành:

* Nghị định số 92/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật Di sản văn hóa

* Quyết định số 1706 ban hành ngày 24/7/2001 của Bộ trưởng Văn hóa Thông tin (nay là Bộ VHTT & DL) phê duyệt quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh đến năm 2020

* Quyết định số 05/2003/QĐ-BVHTT ban hành ngày 06/02/2003 của

Bộ trưởng Văn hóa Thông tin về việc ban hành Quy chế bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh

Các văn bản trên đã tạo hành lang pháp lý đồng bộ để các cấp, các ngành triển khai, thực hiện công tác quản lý, bảo tồn và phát huy các giá trị

di sản văn hóa dân tộc và từng địa phương Tuy nhiên, trong quá trình thực

Trang 25

hiện triển khai quản lý di tích vẫn còn nhiều hạn chế, bộc lộ nhiều điểm bất cập như:

Khi triển khai vào thực tiễn từ các Bộ, ban ngành trung ương đến địa phương, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh, thành phố đã có sự phối hợp trong công tác tuyên truyền, phổ biến về nội dung của bộ Luật DSVH, nhưng chủ yếu công tác tuyên truyền phổ biến chỉ dừng lại ở các cán bộ, công chức, viên chức chưa đến được đối tượng khác, Luật chưa thực sự đi vào đời sống của người dân

Sự phối hợp giữa các cấp, các ngành chưa mang tính thống nhất, chặt chẽ, nhiều cấp chính quyền chưa thực sự coi trọng đến vấn đề bảo vệ

di sản văn hóa, coi đó là nhiệm vụ chuyên môn riêng của ngành văn hóa, chính điều này đã dẫn đến sự xuống cấp của nhiều di tích, nạn mất cắp cổ vật, bảo vật quốc gia, buôn bán trái phép các đồ cổ trong đó có nhiều di vật, hiện vật, đồ vật, bảo vật quý…

* Do đó, đến năm 2009, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã thông qua, sửa đổi một số điều, khoản của Luật Di sản văn hóa năm 2001,

đã kế thừa các văn bản pháp quy trước đó và có sự điều chỉnh để phù hợp với thời kỳ hội nhập Nội dung của Luật DSVH năm 2009 đã cụ thể hóa các quy định, thắt chặt hơn tính pháp lý, tạo động lực giúp cho sự nghiệp bảo tồn và phát huy DSVH dân tộc có những bước phát triển theo hướng bảo tồn và tôn vinh những DSVH tiêu biểu nhất, đồng thời mở rộng quảng

bá các di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch, thu hút nhiều nguồn lực kinh tế, làm nguồn lực tái đầu tư cho công tác bảo quản, trùng tu, phục hồi di tích

Sau khi Luật DSVH sửa đổi năm 2009 được ban hành, Chính Phủ

và Bộ VHTT&DL ban hành một số Nghị định, Chỉ thị, Thông tư hướng dẫn về thực hiện công tác quản lý di tích cụ thể:

Trang 26

* Nghị định số 70/2012/NĐ-CP ngày 18/09/2012 của Chính phủ

Quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử- văn hóa, danh lam thắng cảnh

Nghị định nhằm hướng dẫn cụ thể hóa Luật Di sản văn hóa năm

2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm

2009 và các vấn đề về quy hoạch bảo tồn và khôi phục di tích lịch sử, thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi DTLSVH và danh lam thắng cảnh

* Chỉ thị số 73/CT-BVHTTDL ngày 19/5/2009 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc tăng cường các biện pháp quản lý và các hoạt động bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích

Qua đó quy định rõ nhiệm vụ đối với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, đối với các cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để tăng cường công tác quản lý và nâng cao chất lượng các hoạt động bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích

* Chỉ thị số 16/CT-BVHTTDL ngày 03/02/2010 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc tăng cường công tác chỉ đạo quản lý hoạt động văn hóa, tín ngưỡng tại di tích

* Thông tư 09/2011/TT-BVHTTDL ngày 14/7/2011 của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch về việc Quy định nội dung hồ sơ khoa học để xếp hạng

di tích lịch sử- văn hóa và danh lam thắng cảnh

Thông tư hướng dẫn về nội dung hồ sơ khoa học để xếp hạng DTLSVH và danh lam thắng cảnh cấp tỉnh, di tích quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt Với đối tượng lập hồ sơ khoa học là công trình xây dựng, địa điểm, cảnh quan thiên nhiên, khu vực thiên nhiên thuộc danh mục kiểm kê

di tích của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo quy định tại khoản

14, Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa có

Trang 27

đủ tiêu chí quy định tại Điều 28 Luật Di sản văn hóa được sửa đổi, bổ sung tại khoản 9 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa

* Thông tư 18/2012/TT-BVHTTDL ngày 28/12/2012 về việc Quy định chi tiết một số quy định về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích

Thông tư này quy định về điều kiện năng lực và điều kiện hành nghề của tổ chức, cá nhân tham qua lập quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích, báo cáo kinh tế, kỹ thuật bảo quản, tu bổ phục hồi di tích, thiết kế bản vẽ thi công bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích và thi công bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích; nội dung hồ sơ thiết kế tu bổ di tích, thầm quyển thẩm định hồ sơ thiết kế tu bổ di tích; thi công tu bổ di tích

* Thông tư số 17/2013/TT-BVHTTDL ngày 30/12/2013 hướng dẫn xác định chi phí lập quy hoạch, dự án, báo cáo kinh tế-kỹ thuật bảo quản,

tu bổ, phục hồi di tích

Thông tư này hướng dẫn việc xác định chi phí lập quy hoạch, dự án, báo cáo kinh tế kỹ thuật bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh sử dụng 30% vốn nhà nước trở lên

Đây là những văn bản pháp lý quan trọng trong lĩnh vực quản lý di sản do Nhà nước ban hành làm cơ sở để các địa phương, Ban quản lý các di tích thực hiện công tác quản lý DTLS-VH góp phần gìn giữ những giá trị truyền thống văn hóa do ông cha ta để lại

1.4 Khái quát về di tích lịch sử - văn hóa từ Lương Xâm

1.4.1 Khái quát về quận Hải An và phường Nam Hải

1.4.1.1 Quận Hải An

Quận Hải An được thành lập theo Nghị định 106/2002/NĐ-CP ngày 20/12/2002 của Chính phủ và chính thức đi vào hoạt động từ tháng 5/2003 trên cơ sở điều chỉnh địa giới hành chính huyện An Hải (cũ) và quận Ngô

Trang 28

Quyền, với diện tích 104,1km2, dân số hơn 118.000 người và 8 đơn vị hành chính cấp phường Đây là một trong những quận lớn với nhiều tiềm năng, lợi thế của thành phố Hải Phòng [51]

Hải An là quận ven biển, được hình thành do quá trình bồi lắng của phù sa và quá trình biển tiến tạo nên vị trí thuận lợi về nhiều mặt Nằm ở phía đông nam thành phố Hải Phòng, tiếp giáp với biển Đông, phía tây tiếp giáp với quận Ngô Quyền là một trong những quận lớn thuộc khu vực trung tâm thành phố, nằm trong khu vực khu đô thị và trục đường Lê Hồng Phong, thuận lợi giao lưu, phát triển kinh tế - xã hội của quận, thành phố Phía nam qua sông Lạch Tray, tiếp giáp với khu du lịch quốc tế Hòn Dấu, khu du lịch

Đồ Sơn tạo điều kiện thuận lợi cho Hải An đầu tư phát triển du lịch trên địa bàn quận cùng với du lịch của thành phố Phía bắc qua sông Cấm, tiếp giáp với huyện Thủy Nguyên - khu đô thị Bắc sông Cấm của thành phố đang trên

đà xây dựng và phát triển [51]

Với địa hình trải dài theo bờ biển, vùng đất Hải An nay đã ghi dấu nhiều chiến công của các anh hùng dân tộc gắn liền với dòng sông Bạch Đằng lịch sử và những dấu ấn còn lưu giữ trên các ngôi đình, đền, chùa, rêu phong cổ kính - nơi chứa đựng, lưu giữ các nét giá trị lịch sử, văn hóa kiến trúc nghệ thuật của các thời đại được thể hiện trên từng nét trang trí kiến trúc, kết cấu và nhân vật thờ tự tại các di tích

Trên địa bàn quận Hải An hiện có 57 di tích tín ngưỡng, trong đó có

24 di tích lịch sử- văn hóa được nhà nước xếp hạng cấp quốc gia và thành phố; 31 di tích tổ chức lễ dâng hương và lễ hội truyền thống hàng năm tạo nên một kho tàng di sản văn hóa vật thể và phi vật thể quý giá trên địa bàn quận, một tài nguyên du lịch văn hóa - tín ngưỡng độc đáo của quận - nơi hội tụ đầy đủ các giá trị ý nghĩa của việc thờ tự trong tín ngưỡng của người

Trang 29

dân Việt Người dân nhiều đời theo truyền thống tín ngưỡng thờ cúng các

vị công thần trở thành một nề nếp tâm linh, văn hóa cùng với hình thành các dòng họ lâu đời với các nghi lễ cúng tổ tạo ra như các phong tục góp phần vào trật tự xã hội và nề nếp gia phong, gia tộc, nghi lễ địa phương Điều đó là những yếu tố tích cực tiềm ẩn để vận động, thực hiện việc giữ gìn di tích, tổ chức lễ hội trong nhân dân

Điểm đến nổi bật ở Hải An là di tích từ Lương Xâm thuộc phường Nam Hải, là căn cứ đại bản doanh của Ngô Quyền năm 938 Từ Lương Xâm được xây dựng nguy nga từ thời Hậu Lê và được trùng tu tôn tạo vào thời Nguyễn Trong từ còn có chứng tích lịch sử cọc Bạch Đằng năm 938 càng góp phần làm tăng thêm giá trị của di tích Để tưởng nhớ công ơn của Đức Vương Ngô Quyền, hàng năm nhân dân địa phương tổ chức lễ hội truyền thống tại di tích trong 3 ngày từ ngày 16-18 tháng Giêng đúng vào dịp kỷ niệm ngày mất của Ngài là một sự kiện đặc biệt

1.4.1.2 Phường Nam Hải

Phường Nam Hải là 1 trong 8 phường của quận Hải An, phía Đông giáp bán đảo Đình Vũ, phía Tây giáp phường Đằng Hải, phía Nam giáp phường Tràng Cát và Cát Bi và phía Bắc giáp phường Đông Hải 2

Phường Nam Hải nằm ở phía Đông Nam quận Hải An, cách trung tâm thành phố 12km Phường nằm trên địa bàn quận Hải An, là nơi có các đầu mối giao thông quan trọng của thành phố Hải Phòng, bao gồm các tuyến đường bộ, đường thuỷ (cả đường sông và đường biển), đường sắt và

cả đường hàng không

Theo các tài liệu địa chí, địa bàn phường Nam Hải hiện nay cũng như những khu vực khác thuộc tổng Lương Xâm trước đây là vùng đất nằm cạnh vùng cửa sông Bạch Đằng Trước thế kỉ thứ X, vùng đất này vẫn còn dày đặc những hồ đầm, lạch triều và thường xuyên chịu ảnh hưởng của biển, thủy triều Do vậy, địa hình của vùng này xưa kia khá hiểm trở, có cả những

Trang 30

gò đất lớn nằm xen kẽ với các hồ đầm (thành Vành Kiệu ở Lương Xâm do Ngô Quyền xây dựng trên những gò đất này) Đồng thời theo trí nhớ của các

cụ cao niên ở phường thì trước đây, ngay phía trước từ Lương Xâm là biển, chính những người dân chài lưới qua đây đã lên bờ và lập nên ngôi miếu thờ đầu tiên, ban đầu rất nhỏ bé và đơn giản, sau này mới được xây dựng lại và trùng tu nhiều lần trở thành ngôi từ có quy mô kiến trúc đồ sộ như hiện nay

Hiện phường Nam Hải có tổng diện tích tự nhiên là 571,2 ha, trong

đó khoảng 200 ha là đất thổ cư, 157 ha là đất bãi bồi, đầm khoanh vùng nuôi trồng thủy sản, số còn lại là đất nông nghiệp Tuy nhiên gần đây, dưới tác động của quá trình đô thị hóa thì gần 2/3 diện tích đất nông nghiệp đã bị thu hồi làm đất dự án của thành phố [48, tr.6]

Nam Hải vốn là vùng đất ven biển được bồi đắp mà thành Về lịch sử hình thành của phường hiện nay không có tài liệu nào ghi chép cụ thể Song theo những ghi chép lịch sử về trận Bạch Đằng năm 938 thì Ngô Quyền đã chọn vùng đất Lương Xâm làm đại bản doanh, và nhân dân trong vùng đã hưởng ứng và theo ông đánh giặc rất đông Điều này chứng tỏ vào khoảng thế kỷ X, ở đây đã có con người đến sinh sống và lập nên làng xã của mình Điều này cũng phù hợp với nghiên cứu của các nhà địa chất học:

“vào giai đoạn khoảng 2500 - 2300 năm cho đến khoảng 700 - 500 năm trước đây là giai đoạn biển rút Cùng với quá trình biển rút là quá trình hình thành đồng bằng Hải Phòng hiện đại” [40, tr.30]

Trước kia, cư dân phường Nam Hải cư trú theo 2 làng: Lương Xâm

và Xâm Bồ Sau đó, khi dân cư đến đây đông đúc thì thành lập thêm một làng nữa là Xâm Đông Trong đó, làng Lương Xâm có đông dân cư hơn cả

và đóng vai trò là làng trung tâm của Nam Hải Hiện nay, theo sự thay đổi

cơ cấu hành chính cấp phường, phường Nam Hải chia thành 15 tổ dân phố, nhưng về cơ bản vẫn có sự phân biệt thành 3 khu Lương Xâm, Xâm Bồ và

Trang 31

Xâm Đông tương ứng với ranh giới các làng thời kỳ trước đó Thời gian qua các tổ dân phố đã tích cực thực hiện công tác tự quản, đoàn kết, giữ gìn trật tự an ninh chính trị, an toàn xã hội, vệ sinh môi trường, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, trong phát triển kinh tế gia đình, góp phần quan trọng vào

sự phát triển kinh tế - xã hội chung của phường

Trên địa bàn phường Nam Hải có 4 di tích thờ phụng Ngô Quyền đó là: từ Lương Xâm, miếu Xâm Bồ, đình Lương Xâm và đình Xâm Bồ Các

di tích này đều được công nhận là di tích cấp quốc gia với những giá trị lớn

về mặt lịch sử, nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc Trong đó, từ Lương Xâm được xem là “từ cả” trong hệ thống các di tích thờ Ngô Quyền ở Hải Phòng

1.4.2 Giá trị của di tích lịch sử - văn hóa từ Lương Xâm

Từ Lương Xâm là một trong “tứ linh từ” của huyện cổ An Dương, nay là một trong 3 “linh từ” của quận Hải An (từ Lương Xâm, phủ Thượng Đoạn, đền Phú Xá) Đây là di tích chứa nhiều giá trị lịch sử, kiến trúc- nghệ thuật và văn hóa tâm linh của thành phố Hải Phòng được nhân dân lưu giữ cho đến ngày nay

1.4.2.1 Giá trị lịch sử

Từ Lương Xâm tọa lạc trên một khu đất rộng, cao ráo, ở phía Đông Bắc của phường Nam Hải Mặt chính của từ nhìn về phía Đông trông ra cửa biển Bạch Đằng - nơi đã từng diễn ra trận Bạch Đằng lịch sử năm 938

Từ Lương Xâm gắn với tên tuổi người anh hùng dân tộc Ngô Vương Quyền, nơi đây đã từng là đại bản doanh của Ngô Quyền năm 938, với trận thắng trên sông Bạch Đằng đã đi vào huyền thoại Tương truyền để chuẩn

bị cho trận Bạch Đằng năm 938, Ngô Quyền đã chọn nơi đây làm nơi chứa lương thảo, nơi đóng đại bản doanh để quan sát và chỉ huy trận Bạch Đằng lịch sử Nơi đây vẫn còn vết tích của đường vành Kiệu thuở ấy Đó là một thành đất đắp trên gò cao cách cửa biển Bạch Đằng không đầy 3 km

Trang 32

Thành có hình giống như vành kiệu nên nhân dân quen gọi là thành Vành Kiệu Thành Vành Kiệu có chu vi khoảng 1.700m Trải qua thời gian, mưa nắng và biến động của thiên nhiên vùng biển, thành đã bị phá hủy nhiều đoạn, có đoạn không để lại dấu tích gì, có đoạn dài đến gần 400m trong thời nhà Mạc thế kỷ 16 đã được san ra làm đường nhà Mạc Riêng phần còn lại, dấu vết rõ rệt có hình giống như vành kiệu dài gần 1.300m, bề rộng trung bình 1m, có chỗ rộng đến 7m, cao khoảng 0,8m, chỗ cao nhất 1,6m Giữa thành có đền thờ Ngô Quyền, nhân dân gọi là “từ Cả”

Theo thần tích đình Gia Viên soạn năm 1572: Từ Lương Xâm nằm ở

gò đất cao - trung tâm của thành Vành Kiệu Thành do Ngô Quyền xây dựng trong chiến dịch Bạch Đằng lịch sử Thành Vành Kiệu là thành đất xây dựng trên cơ sở ở đây, Ngô Quyền đã chọn một vị trí thuận lợi để trực tiếp chỉ huy việc xây dựng bãi cọc, bố trí lực lượng, tổ chức trận địa mai phục sẵn sàng tiêu diệt quân xâm lược Nam Hán [49, tr.27]

Hiện nay, phía nhà Giải vũ bên trái của từ Lương Xâm còn lưu giữ

03 chiếc cọc là chứng tích của trận địa cọc Bạch Đằng Trong trận này, Ngô Quyền đã dùng kế sách cắm cọc nhọn đầu bịt sắt ở cửa biển, lợi dụng con nước thủy triều tạo nên một trận địa cọc tiêu diệt quân Nam Hán làm nên chiến thắng lưu danh sử sách Năm 2008, Bảo tàng Hải Phòng đã tiến hành giám định và kết luận 3 chiếc cọc tại nhà Giải vũ ở từ Lương Xâm có niên đại từ thế kỷ X Cọc thứ nhất dài 220cm, chu vi 50cm, cọc 2 dài 147cm, chu vi 39cm, cọc 3 dài 206cm, chu vi 55cm, đầu cọc nhọn Nhà Giải Vũ bên phải có một chiếc thuyền rồng, biểu tượng cho trận thuỷ chiến trên sông Bạch Đằng năm 938 [49, tr.28]

Qua đó, chúng ta thấy di tích từ Lương Xâm là một chứng tích lịch

sử còn lưu giữ lại về mộ trận Bạch Đằng giang “vang dội đến nghìn thu” với nhiều giá trị lịch sử lớn lao để lại cho hậu thế ngày nay

Trang 33

1.4.2.2 Giá trị kiến trúc nghệ thuật

Nhìn vào kiến trúc của ngôi từ hiện nay thì được xây vào thời Hậu

Lê và được trùng tu vào thời Nguyễn Toàn bộ kiến trúc từ hiện nay mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn, chỉ có một số cấu kiện kiến trúc như đầu dư là mang phong cách nghệ thuật thời Lê

Nhìn toàn cảnh, ngôi từ bố cục theo kiểu “nội công, ngoại quốc”, liên hoàn khép kín Từ ngoài cổng đi vào là 2 giếng nhỏ ở 2 bên, được gọi

là “giếng mắt rồng” có nước ngọt quanh năm Tương truyền khi Ngô Quyền đóng quân ở đây đã sai quân lính đào hai giếng này để lấy nước sinh hoạt Phía sau, ở hai bên hậu cung cũng có hai giếng nhỏ và nông hơn, nhưng không bao giờ có nước Trước kia, xung quanh từ được bao bọc bởi những hàng rào duối và có nhiều cây cổ thụ như cây đa, cây gạo có niên đại hàng trăm năm tuổi tạo bóng mát và tạo nên sự linh thiêng, cổ kính cho từ [49, tr.29]

Từ cổng chính đi vào qua một sân gạch rộng chừng 200m2 là tới nhà Tiền đường Nhà Tiền đường với bộ mái đao cong lợp ngói mũi hài của kiến trúc cổ Việt Nam đã tạo nên nét cổ kính cho di tích Nóc mái từ được trang trí, đắp vẽ các đề tài như lưỡng long chầu nhật, kìm, nghê tạo cảnh rồng chầu, phượng mớm, kỳ lân túc trực đôi bờ dải tạo nên vẻ trang nghiêm Nhà Tiền đường dựng thời Nguyễn, gồm có 5 gian Trước đây, 3 gian giữa đều lát ván gỗ cao chừng 60 cm Các đầu dư và đòn bẩy đều được chạm khắc hình hoa lá, long, ly, quy, phượng theo phong cách nghệ thuật thời Nguyễn Bên trong nhà Tiền đường, ở chính giữa là ban Công đồng, hai bên bài trí các đồ thờ tự quý như: long đình, bát bửu, chấp kích, câu đối

và các đồ thờ tự khác chạm khắc đề tài tứ quý, tứ linh [49, tr.30]

Nối nhà Tiền đường với Hậu cung là nhà Thiêu hương, đặt cỗ kiệu bát cống Nhà Thiêu hương có kết cấu đơn giản, phía trên 2 mặt Bắc và

Trang 34

Nam có những chấn song gỗ được gọi là sơ; hai mặt Đông, Tây có gỗ bưng kín gọi là mật, trên mặt gỗ có chạm khắc hình rồng và hoa lá

Tiếp theo nhà Thiêu hương tới nhà Hậu cung Hai bên gian ngoài Hậu cung là ban Tiên công và ban Tiên phối Ngoài ra, hai bên còn có ban thờ vọng Ngô Quyền trên có treo ảnh đền, lăng Ngô Quyền ở Đường Lâm (Sơn Tây, Hà Nội) và ban thờ áo, mũ của Ngài Ở gian giữa nhà Hậu cung đặt 02 pho tượng quan hầu mặc xiêm y triều phục, tay trái cầm gươm, tay phải đặt trước ngực, tượng đứng trong tư thế phụng hầu Tương truyền đó chính là Đào Nhuận và Nguyễn Tất Tố - 2 vị tướng trẻ người làng Gia Viên

có công giúp Ngô Quyền đánh thắng giặc Nam Hán [49, tr.30]

Trong cùng gian Hậu cung là cung cấm, là nơi thâm nghiêm đặt tượng Đức Vương Ngô Quyền Trước cửa cung cấm có một bức đại tự với

dòng chữ Hán: “Thánh cung vạn tuế” Thần tượng Đức Vương Ngô Quyền

ngồi trên long ngai, đặt trong long khám sơn son thếp vàng trong tư thế thiết triều, đầu đội vương miện, thân khoác áo long bào đỏ thêu rồng phượng

Phía bên trái khuôn viên mở rộng của Từ Lương Xâm là tượng đài Đức Vương Ngô Quyền được dựng vào năm 2010 Kích thước tượng là 9,27m x 5,64m x 3,92m Chiều cao bệ tượng: 2,1m Chiều cao tượng + bệ: 11,37m Chất liệu xây dựng bằng đá đúc Granit phủ đồng điện phân Tượng nhìn về phía Đông, phía cửa sông Bạch Đằng - nơi diễn ra trận Bạch Đằng lịch sử năm 938 Tượng đứng trong tư thế như đang chỉ huy trận chiến, tay phải chỉ thẳng về phía cửa sông Bạch Đằng như đang điều hành trận đánh, tay trái đặt lên chuôi gươm [49, tr.31] Công trình xây dựng tượng đài Đức Vương Ngô Quyền có ý nghĩa lớn đối với nhân dân phường Nam Hải nói riêng và nhân dân Hải Phòng nói chung, đó là biểu tượng về lòng yêu nước, tinh thần đại đoàn kết và tự hào dân tộc

Trong từ còn lưu giữ được nhiều đồ thờ tự, tế khí quý được xếp vào loại cổ vật, di vật Trong đó có những cổ vật có giá trị lớn như nhang án,

Trang 35

kiệu bát cống và đặc biệt tại đây còn lưu giữ được 25 đạo sắc phong gốc và hơn 20 sắc phong được sao lại, có niên đại từ năm 1522 đến năm 1924, của các triều đại Lê sơ, Mạc, Tê Trung hưng, Tây sơn, Nguyễn Trong các sắc phong đó, nhiều triều đại suy tôn Đức Vương Ngô Quyền là “Thượng đẳng tối linh đại vương”, là “Ngô Vương Thiên tử” và nhiều mỹ tự Năm 1986,

từ Lương Xâm đã được Bộ Văn hoá Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia [49, tr.6-7]

1.4.2.3 Giá trị văn hóa tâm linh

Hàng năm, tại từ Lương Xâm diễn ra nhiều hoạt động tế lễ nhằm tưởng nhớ công ơn của Đức Vương Ngô Quyền như ngày Sóc, Vọng hàng tháng, ngày 16 đến 18 tháng Giêng (ÂL) tưởng nhớ ngày mất của Ngô Quyền, ngày 12 tháng 3 (ÂL) kỷ niệm ngày sinh của Ngô Quyền và ngày 14 tháng 8 (ÂL) là ngày kỷ niệm chiến thắng Bạch Đằng Trong đó, lễ hội chính diễn ra vào ngày 16 đến 18 tháng Giêng được tổ chức trọng thể với sự tham gia của nhiều nơi thờ Ngô Quyền khác trên địa bàn quận và thành phố

Hiện nay, trên địa bàn quận Hải An có 22 di tích và lễ hội thờ Ngô Vương Quyền, những lễ hội tưởng nhớ Ngài được tổ chức vào cùng một thời gian là từ 16-18 tháng Giêng Âm lịch nhằm tưởng niệm ngày mất của Ngô Quyền Ở mỗi di tích đều diễn ra các nghi lễ và hoạt động riêng, nhưng cùng tiến hành rước kiệu về từ Lương Xâm và làm lễ dâng hương tại đây Theo lệ, từ Lương Xâm được coi là “từ cả” trong hệ thống các di tích thờ Ngô Quyền ở Hải Phòng nên bao giờ ở đây cũng mở hội trước từ ngày

16 tháng Giêng, sau đó từ ngày 17 tháng Giêng trở đi, các làng xã khác mới được mở hội

Lễ hội từ Lương Xâm là lễ hội thờ Ngô Quyền có quy mô lớn nhất trên địa bàn thành phố Hải Phòng Từ năm 2008, lễ hội tưởng nhớ Ngô Quyền được nâng lên thành lễ hội có quy mô cấp quận Trong lễ hội, ngoài

Trang 36

đoàn rước của 2 làng Lương Xâm và Xâm Bồ của phường Nam Hải, còn có các đoàn rước của các di tích thờ Ngô Quyền khác trên địa bàn quận Hải

An được tổ chức theo từng phường đến từ Lương Xâm Nhân dân tại các làng xã khác cùng thờ phụng Ngô Quyền cũng như các nhánh tộc họ Ngô trong và ngoài địa bàn thành phố cũng cử các đoàn đại biểu về dâng hương

và dự hội Ngoài ra, nhiều nơi thờ Ngô Quyền ở Hải Phòng khác tuy không tham gia rước xách nhưng cũng đến từ Lương Xâm để thắp nhang, tỏ lòng thành kính trước vị thần mà họ tôn thờ Từ đó có thể thấy không gian của lễ hội từ Lương Xâm không chỉ diễn ra trong phạm vi phường Nam Hải, mà còn lan tỏa rộng rãi trên phạm vi quận Hải An và cả thành phố Hải Phòng

Lễ hội từ Lương Xâm là nơi tổ chức các hoạt động văn hóa truyền thống, ngoài việc nhằm mục đích tuyên truyền, giáo dục, noi gương công đức của “Ngô Vương Thiên tử’ còn đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa-tâm linh của nhân dân trong vùng Bên cạnh phần lễ, nhân dân còn tổ chức đa dạng các hoạt động, trò chơi truyền thống góp phần gìn giữ những nét đẹp văn hóa, phát huy lễ hội truyền thống từ Lương Xâm để di tích thành điểm đến, điểm hội tụ của nhân dân trong và ngoài địa phương

1.4.3 Vai trò của di tích từ Lương Xâm trong đời sống cộng đồng

Di tích lịch sử - văn hóa từ Lương Xâm từ bao đời nay nằm trong tiềm thức, giữ vai trò quan trọng trong đời sống cộng đồng và sự phát triển văn hóa của người dân phường Nam Hải Nơi đây đã trở thành nơi sinh hoạt văn hóa tâm linh của nhân dân trong vùng, đặc biệt được thể hiện rõ nhất chính là lễ hội từ Lương Xâm - nơi đóng vai trò cố kết cộng đồng trong và ngoài vùng với nhau Trong những năm Pháp thuộc, những năm kinh tế - xã hội khó khăn thập niên 60 - 70 vẫn duy trì cơ bản các nghi lễ của địa phương dựa vào sự tự nguyện tổ chức của các vị cao niên, dòng tộc…

Trải qua thời gian, thiên nhiên khắc nghiệt, chiến tranh loạn lạc nhưng nhân dân Hải An nói chung và đặc biệt là nhân dân làng Lương Xâm

Trang 37

và phường Nam Hải vẫn luôn dành thời gian và đóng góp công sức, tiền của cho việc tu sửa, gìn giữ di tích từ Lương Xâm, tổ chức lễ hội, lễ dâng hương hàng năm tại di tích với lòng tự hào, biết ơn sâu sắc

Công việc chuẩn bị cho lễ hội là việc quan trọng, có ý nghĩa to lớn quyết định sự thành công của lễ hội Người dân nơi đây vẫn quan niệm rằng, nếu có một lễ hội diễn ra suôn sẻ, tốt đẹp thì cả năm đó dân làng sẽ được thần phù hộ cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt và mang lại cho họ nhiều điều may mắn Vì vậy, để có được một lễ hội thành công, người dân mỗi làng xã phải lên kế hoạch và thực hiện công tác chuẩn bị rất chu đáo, cẩn thận Công việc chuẩn bị không chỉ là công việc của ban tổ chức lễ hội, mà còn là sự đóng góp sức người, sức của của toàn thể nhân dân trong quận

Mỗi đoàn rước gồm khoảng 100 người, trong đó phân công thành từng đội hình: ban nhạc công, đội múa, đội hình cầm cờ Tổ quốc, cầm cờ hội, chấp kích, bát bửu thường do đại diện của Hội cựu chiến binh và Hội phụ nữ các phường đảm nhận, việc rước long đình, kiệu bát cống, lọng và các đồ lễ vật khác do Đoàn thanh niên đảm nhận Những người được chọn vào đội hình rước, đặc biệt là rước kiệu thánh phải là những người có tư cách đạo đức tốt Ngoài ra, trong đội rước còn có sự tham gia đông đảo của nhân dân các phường

Ngày hội chính diễn ra từ ngày 16 đến 18 tháng Giêng Âm lịch, song nhân dân và các cụ trong BQL các di tích đã quan tâm chuẩn bị chu đáo từ nhiều ngày trước Trước ngày lễ hội, nhân dân đã đến di tích để giúp BQL làm vệ sinh và lau dọn nhà cửa và các đồ thờ tự Đến ngày 13, 14 tháng Giêng, các lễ vật, hương hoa cũng phải bày biện xong; nhang án và đồ tế khí được đưa ra ngoài sân chính để làm lễ tế và để nhân dân đến thắp hương

Ngày 16 tháng Giêng được coi là chính hội Hoạt động chính trong ngày này là lễ rước truyền thống, lễ khai mạc và lễ dâng hương Tham gia

Trang 38

vào lễ rước là các đoàn rước của làng Lương Xâm, Xâm Bồ của phường Nam Hải và đoàn rước của các phường cùng thờ Ngô Quyền thuộc quận Hải An như Đằng Lâm, Đằng Hải, Đông Hải 1, Đông Hải 2, Tràng Cát Đây là hoạt động mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và là một phần không thể thiếu trong lễ hội, thể hiện tấm lòng tri ân của người dân Nam Hải nói riêng và nhân dân trong vùng nói chung đối với vị thánh họ tôn thờ là Đức Vương Ngô Quyền Lễ rước cũng góp phần tạo nên không khí sôi động cho

lễ hội

Từ sáng sớm, các đoàn rước đã tiến hành rước từ các đền, miếu, đình đến tập trung tại khu vực bãi trống trên đoạn đường 100m gần Từ Lương Xâm Đúng 8 giờ, các đoàn rước lần lượt tiến vào khu vực từ Lương Xâm

Đi đầu là đoàn múa lân rồng của câu lạc bộ Vovinam thành phố Đoàn rước đầu tiên là đoàn rước của làng Lương Xâm, sau đó là các đoàn rước khác

Đi đầu mỗi đoàn rước có một người cầm biển hiệu của đơn vị, sau đó đến người cầm cờ Tổ quốc Phía sau của các đoàn rước là đầy đủ các nghi lễ của lễ rước truyền thống như: cờ ngũ sắc, cờ hiệu tượng trưng cho uy thế của Đức Ngô Vương Quyền Tiếp theo là đội chiêng, trống, phường bát âm, người mang bát bửu, chấp kích, đồ tế khí, đoàn múa xênh, đoàn khiêng long đình, trên có hương hoa, ngũ quả, lễ vật; đoàn khiêng kiệu bát cống

Có đoàn còn rước cả những cây cọc nhọn đầu, thuyền rồng, ngựa bằng nhựa, tre, giấy gợi lại thế trận Bạch Đằng năm 938 Đi sau cùng là các bô lão, nhân dân trong phường và du khách thập phương Mọi người tham gia trong đoàn rước đều phải mặc trang phục trang trọng, lịch sự Riêng các đoàn rước cờ, kiệu, đồ tế khí phải mặc những trang phục lễ hội truyền thống

Điểm nổi bật trong lễ rước là đoàn người khiêng kiệu bát cống khi đi đến trước tượng đài Ngô Quyền, họ sẽ dừng lại xoay kiệu một vòng, lúc đó, người dân sẽ dắt trẻ em chui qua kiệu và bỏ tiền lẻ vào các túi đã treo sẵn

Trang 39

dưới kiệu cho đoàn khiêng kiệu Việc chui qua các kiệu bát cống trong đoàn rước được người dân nơi đây quan niệm rằng trẻ em sẽ được thần ban phúc, cho khỏe mạnh, ngoan ngoãn, học giỏi Sau khi xoay kiệu, đoàn rước

sẽ chạy thật nhanh, đưa kiệu lên cao và hô thật to, mô phỏng lại hình ảnh kiệu bay Theo truyền thuyết nhân dân trong vùng kể lại thì trong một lần

lễ hội từ xưa, khi khiêng kiệu đến gần từ thì kiệu tự bay vào trong đền Dân làng xem đó là điềm may mắn, báo trước sự phù hộ của Đức Vương cho cuộc sống bình an, no ấm Hình ảnh kiệu bay cũng thể hiện khí thế hào hùng của đại quân Ngô Quyền trong trận đánh Bạch Đằng năm 938 Vì vậy, màn biểu diễn kiệu bay đã làm cho không khí lễ hội thêm náo nhiệt

Lần lượt các đoàn rước sẽ đem cờ kiệu và các đồ tế khí đặt ở hai bên sân của từ Lương Xâm theo vị trí đã quy định, sau đó đem lễ vật vào trong

từ dâng lên thần rồi đi ra khu vực sân khấu phía trước mặt của từ để tham

dự lễ khai mạc

Trong mỗi một lễ hội, một phần không thể thiếu bên cạnh phần lễ là phần hội, chính là các sinh hoạt văn hóa và các trò chơi dân gian Theo hồi tưởng lại của những người cao tuổi, đã từng được tham dự lễ hội thời xưa hoặc được nghe ông cha kể lại, trong lễ hội trước đây diễn ra rất nhiều các trò chơi dân gian sôi nổi như: đấu vật, cờ người, tổ tôm điếm, tam cúc điếm, đu tiên, cầu tùm, kéo co, chọi gà, đập niêu và văn nghệ thường có hát chèo, hát chầu văn Hiện nay, tuy phần hội đã có sự biến đổi: một số trò chơi dân gian không còn được duy trì, thay vào đó là những hình thức sinh hoạt thể thao, văn nghệ hiện đại, nhưng nhìn chung phần hội trong lễ hội từ Lương Xâm vẫn được tổ chức đa dạng và hấp dẫn

Lễ hội từ Lương Xâm thực sự là dịp để nhân dân trong vùng hướng

về cội nguồn, hướng về những truyền thống quý báu của dân tộc Là dịp thể hiện lòng thành kính biết ơn người anh hùng dân tộc - Đức Vương Ngô

Trang 40

Quyền Thông qua lễ hội từ Lương Xâm nhân dân muốn thể hiện lòng thành kính và biết ơn đối với Ngài Đó là truyền thống hướng về cội nguồn lịch sử, ăn quả nhớ kẻ trồng cây, tôn vinh những người anh hùng dân tộc Truyền thống cần được phát huy không chỉ trong hiện tại mà cả trong tương lai Giá trị của di tích từ Lương Xâm còn được thể hiện qua văn hóa vật chất tinh thần ngày càng phát huy hiệu quả trong công tác giáo dục truyền thống lịch sử- văn hóa, hướng đến các thế hệ trẻ, biết rằng nơi đây chính là cội nguồn tạo nên một sự đoàn kết, hướng con người đến những điều thiện, tiếp thêm sức mạnh và niềm tin cho cộng đồng hăng say lao động sản xuất

Từ những giá trị của di tích từ Lương Xâm người dân trong vùng ý thức được trách nhiệm trong công cuộc bảo vệ di tích, đi đôi với phát triển kinh tế du lịch tạo điều kiện cho một bộ phận nhỏ cộng đồng cư dân nơi đây Các hộ dân cư sống quanh khu di tích đã tận dụng nguồn thu kinh tế nhờ vào di tích, nhiều dịch vụ được mở ra như trông xe, bán vàng mã, đồ lễ cho khách tham quan du lịch Những ngày rằm mùng một và đặc biệt là dịp

lễ hội, lễ tết truyền thống, các tour du lịch văn hóa tâm linh của thành phố trong đó có di tích từ Lương Xâm là một điểm dừng chân không thể thiếu của du khách tham quan chiêm bái

Tiểu kết

Trong chương 1, tác giả đã hệ thống hóa những khái niệm và thuật ngữ liên quan đến di tích, quản lý di tích từ Lương Xâm dựa trên Luật Di sản văn hóa và các văn bản pháp luật của Việt Nam đã ban hành Phân tích làm rõ những vấn đề liên quan đến lý thuyết quản lý di tích, cơ chế, chính sách của Nhà nước, của địa phương để quản lý di tích Trong đó, trọng tâm liên quan đến luận văn nghiên cứu là quản lý di tích lịch sử- văn hóa từ Lương Xâm Bên cạnh đó, chương 1 tác giả giới thiệu đã những nét tổng quan về quận Hải An và phường Nam Hải, nơi hình thành và phát triển

Ngày đăng: 15/12/2018, 09:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w