Ngay cả với những môn mang tính lý thuyết như Hòa âm, Phân tích tác phẩm… đòi hỏi tự học ngoài giờ lên lớp nhiều thì mới có thể hình thành kỹ năng viết hòa âm, kỹ năng phân tích tác phẩm
Trang 1ĐẶNG THỊ THU LỆ
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG TỰ HỌC PHÂN TÍCH CA KHÚC CHO SINH VIÊN
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ÂM NHẠC
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC ÂM NHẠC
Khóa 6 (2015 - 2017)
Hà Nội, 2018
Trang 2ĐẶNG THỊ THU LỆ
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG TỰ HỌC PHÂN TÍCH CA KHÚC CHO SINH VIÊN
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ÂM NHẠC
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Âm nhạc
Mã số 60140111
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Tố Mai
Hà Nội, 2018
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Số liệu, kết quả được nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa được công
bố trong bất kỳ một công trình khoa học nào
Hà Nội, ngày 26 tháng 06 năm 2018
Tác giả
Đặng Thị Thu Lệ
Trang 5Chương 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 9
1.1 Một số khái niệm 9
1.2 Vai trò của tự học môn Phân tích tác phẩm 27
1.3 Thực trạng tự học môn Phân tích tác phẩm của sinh viên Đại học Sư
phạm Âm nhạc tại Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương 30
1.4 Thực trạng dạy học môn Phân tích tác phẩm 39
Tiểu kết 44
Chương 2: BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNGTỰ HỌC PHÂN
TÍCH CA KHÚC 46
2.1 Các bước chuẩn bị phân tích ca khúc 46
2.2 Phân tích điệu thức 48
2.3 Phân tích cấu trúc 56
2.4 Phân tích lời ca 69
2.5 Một số biện pháp tự học 76
2.6 Thực nghiệm sư phạm 84
Tiểu kết 87
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC 96
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Dạy học là quá trình then chốt của giáo dục - đào tạo, dạy và học là hai hoạt động gắn bó mật thiết với nhau Người thầy dạy tốt nhưng trò không chịu khó học và không có phương pháp học đúng thì cũng không có kết quả tốt Ngược lại, trò chăm học nhưng thầy dạy không tốt thì càng không thể mang lại hiệu quả giáo dục Người thầy đóng vai trò chính của quá trình dạy, học trò đóng vai trò chính của quá trình học Như thế có thể thấy, trong giáo dục thì hoạt động dạy hay học đều rất quan trọng Việc học của trò không chỉ là lĩnh hội trên lớp, dưới sự hướng dẫn của thầy mà còn phụ thuộc rất nhiều vào vấn đề tự học ngoài giờ lên lớp, học khi không có thầy Không chỉ tiếp thu tri thức, mà còn biết chủ động lĩnh hội, biết cách học tập, rèn luyện, đó chính là năng lực tự học Tự học, tự đào tạo là con đường phát triển suốt đời của mỗi con người và cũng là con đường cơ bản
để con người đi tới thành công
Trong đào tạo ngành sư phạm Âm nhạc, tự học đóng vai trò quan trọng, người học cần đầu tư nhiều thời gian học tập sau giờ lên lớp bởi những môn học như: Thanh nhạc, Nhạc cụ, Dàn dựng, Ký xướng âm cần phải được luyện tập thường xuyên Ngay cả với những môn mang tính lý thuyết như Hòa âm, Phân tích tác phẩm… đòi hỏi tự học ngoài giờ lên lớp nhiều thì mới có thể hình thành kỹ năng viết hòa âm, kỹ năng phân tích tác phẩm âm nhạc…
Trường ĐHSP Nghệ thuật TW là cơ sở đào tạo sư phạm Âm nhạc hàng đầu trong cả nước Trong chương trình đào tạo của trường, môn Phân tích tác phẩm có vai trò quan trọng, là sự tổng hợp kiến thức của nhiều môn học khác, giúp SV nắm được cách phân tích từ nội dung tư tưởng, cấu trúc, điệu thức, giai điệu… cho đến các thủ pháp xây dựng và phát triển trong một tác phẩm Tuy nhiên, để SV có kỹ năng đạt đến có thể tự phân tích một
Trang 7tác phẩm dù nhỏ nhất là ca khúc cũng không dễ dàng, đòi hỏi SV phải được rèn luyện kỹ năng phân tích rất nhiều Trong khi đó, nội dung chương trình môn học không chỉ có ca khúc mà còn phải phân tích và nhận biết nhiều thể loại khí nhạc, thanh nhạc khác Do đó, để có kỹ năng phân tích tác phẩm thành thạo, SV phải dành nhiều thời gian tự học và biết cách tự học
Một số năm gần đây, theo yêu cầu của Bộ Giáo dục Đào tạo, Trường ĐHSP Nghệ thuật TW đã chuyển đổi mô hình đào tạo từ niên chế sang tín chỉ Quy trình đào tạo theo tín chỉ khác với đào tạo theo niên chế là dành nhiều thời gian cho SV tự học, nghiên cứu ở nhà, giảm bớt thời gian lên lớp Vì thế, vấn đề tự học, biết cách tự học, tự rèn luyện kỹ năng lại càng cần thiết hơn bao giờ hết
Là người được đào tạo ĐHSP Âm nhạc chính quy tại Trường ĐHSP Nghệ thuật TW, hiện đang theo học Cao học chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học Âm nhạc, tôi nhận thấy, không ít SV ĐHSP có ý thức học tập và nhiều SV đã thành công trong sự nghiệp sau này Ngược lại, một
số khác lại chưa thực sự yêu thích, đầu tư cho việc học của mình nên khi rời giảng đường Đại học, SV làm không đúng ngành nghề và gặp nhiều khó khăn trong quá trình công tác Bởi năng khiếu và kiến thức chưa được trang
bị đầy đủ trong quá trình học tập Khi học trong trường, đa số SV yêu thích các môn Thanh nhạc, Nhạc cụ, Ký Xướng âm… là các môn thực hành Còn các môn lý thuyết như Hòa thanh, Lịch sử âm nhạc, Phân tích tác phẩm… thì chỉ có số ít hào hứng Đặc biệt, với môn Phân tích tác phẩm, đa số SV thấy khó và thường lúng túng trong khi làm bài Một phần nguyên nhân vì đây là môn học khó, nhiều nội dung kiến thức song nguyên nhân quan trọng là SV còn chưa có cách tự học hợp lý
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tôi chọn nghiên cứu: “Rèn luyện
kỹ năng tự học phân tích ca khúc cho sinh viên Đại học Sư phạm Âm nhạc”
làm đề tài cho luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy
học Âm nhạc
Trang 8- Tác giả Đào Ngọc Dung đã viết khá chi tiết về cách phân tích các ca
khúc Việt Nam trong hai cuốn Phân tích ca khúc và Phân tích tác phẩm âm nhạc Tuy nhiên, hai cuốn sách này chưa đi cụ thể vào việc phân tích các ca
khúc trong chương trình âm nhạc bậc THCS và cũng chưa có các phương pháp giúp SV có thể tự rèn luyện kỹ năng phân tích ca khúc Việt Nam
- Giáo trình Phân tích tác phẩm Âm nhạc của PGS.TS Phạm Lê Hòa
đã được sử dụng làm giáo trình dạy môn Phân tích tác phẩm cho SV hệ ĐHSP Âm nhạc tại Trường ĐHSP Nghệ thuật TW nhiều năm nay Công trình này cũng là tài liệu quý giá và rất cần thiết với SV bởi những lý luận chặt chẽ, chi tiết trong từng nội dung mà tác giả nghiên cứu Tuy nhiên, các
ví dụ được đưa ra trong giáo trình đa số sử dụng các trích đoạn trong các tác phẩm của các nhạc sĩ lớn trên thế giới, các ca khúc trong chương trình
âm nhạc bậc THCS cũng được sử dụng nhưng chưa nhiều
- Nguyễn Thị Nhung cũng là tác giả có nhiều công trình nghiên cứu về
môn Phân tích tác phẩm, những cuốn sách khá phổ biến như Phân tích tác phẩm âm nhạc, Hình thức âm nhạc, Thể loại âm nhạc, Hình thức và thể loại âm nhạc… được khá nhiều trường, nhiều GV, SV sử dụng trong quá
trình dạy và học Dù vậy, đa số tác giả thường dẫn chứng bằng các trích câu, trích đoạn trong các tác phẩm khí nhạc của các tác giả lớn ở trong nước cũng như thế giới Vì vậy, nhiều SV sẽ thấy khó khăn khi xem ví dụ
và khó áp dụng vào các bài tập phân tích ca khúc trong thực tế
* Nghiên cứu về tự học:
Trang 9Vấn đề tự học đã được nhiều công trình nghiên cứu trong một số bộ
môn khoa học, trong giảng dạy ở các trường sư phạm như Lý luận dạy học Đại học của Lưu Xuân Mới, Nxb giáo dục - 2000; giáo trình Giáo dục học của
ĐHSP Hà Nội, Nxb ĐHSP – 2007 của Phạm Viết Vượng… Trong các sách nêu trên, các khái niệm, đặc điểm, quá trình và nguyên tắc của tự học đã được các tác giả đề cập, là những tài liệu để luận văn của chúng tôi tham khảo
* Nghiên cứu về hoạt động tự học của SV Trường ĐHSP Nghệ thuật
TW có công trình:
- Tìm hiểu thực trạng hoạt động tự học của SV và một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tự học môn Giáo dục học cho SV trường CĐSP Nhạc – Họa TW của Lê Thị Lệ Hương, Đề tài NCKH cấp trường
năm 2002 Tuy nhiên, đề tài chỉ chú trọng nghiên cứu về hoạt động tự học cho môn Giáo dục học, không phải là môn học chuyên ngành như Phân tích tác phẩm cho SV ĐHSP Âm nhạc
* Nghiên cứu về phương pháp nhằm nâng cao chất lượng học các môn cho SV hệ Đại học Sư phạm Âm nhạc, Trường ĐHSP Nghệ thuật TW có một số đề tài:
- Đổi mới phương pháp dạy và học môn Giới thiệu nhạc cụ cho hệ Đại học SPAN Trường ĐHSP Nghệ thuật TW, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành
Lý luận và phương pháp dạy học Âm nhạc của Nguyễn Đức Linh, Trường ĐHSP Nghệ thuật TW năm 2015
- Nâng cao chất lượng giảng dạy môn Sáng tác ca khúc cho hệ Đại học Sư phạm Âm nhạc Trường ĐHSP Nghệ thuật TW, Luận văn Thạc sĩ
chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học Âm nhạc của Lại Hồng Phong, Trường ĐHSP Nghệ thuật TW năm 2015
- Nghiên cứu biên soạn tài liệu giảng dạy môn Hòa âm hệ ĐHSP Trường ĐHSP Nghệ thuật TW, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và
Trang 10phương pháp dạy học Âm nhạc của Nguyễn Khải, Trường ĐHSP Nghệ thuật TW năm 2015
Các công trình nêu trên viết về nhiều môn học khác nhau nhằm nâng cao chất lượng học tập cho SV Trường ĐHSP Nghệ thuật TW nhưng lại chưa phải
là các nghiên cứu về môn Phân tích tác phẩm cho SV ĐHSP Âm nhạc
* Nghiên cứu có liên quan đến môn Phân tích tác phẩm có các công trình:
- Nâng cao chất lượng dạy học môn Âm nhạc tại trường Đại học An Giang, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học
Âm nhạc của Ông Huỳnh Huy Hoàng, Trường ĐHSP Nghệ thuật TW năm 2014
- Dạy học môn Hình thức và thể loại âm nhạc tại trường Cao đẳng Sư phạm Nam Định, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy
học Âm nhạc của Bùi Thị Thu Hà, Trường ĐHSP Nghệ thuật TW năm 2015
- Ca khúc thiếu nhi viết về đề tài Bác Hồ trong giáo dục âm nhạc ở trường phổ thông, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và phương pháp
dạy học Âm nhạc của Trần Thị Bích Ngọc, Trường ĐHSP Nghệ thuật TW năm 2016
Tuy nhiên, những luận văn Thạc sĩ nêu trên là sản phẩm nghiên cứu cho SV các trường nghệ thuật thuộc nhiều tỉnh khác nhau trên cả nước Đặc thù SV mỗi vùng miền lại khác nhau, kiến thức học cũng không đồng nhất nên không thể vận dụng các công trình đó cho SV ĐHSP Âm nhạc Trường ĐHSP Nghệ thuật TW Vì vậy, cần có nghiên cứu cụ thể để bám sát hoạt động học tập của SV để có hiệu quả tốt nhất trong quá trình học cũng như
công tác sau này
Qua quá trình tìm hiểu sơ bộ các tài liệu viết về ca khúc Việt Nam trong chương trình âm nhạc phổ thông, tôi nhận thấy các đề tài nghiên cứu rất ngắn gọn, chưa đi sâu vào từng công việc khi phân tích ca khúc và chưa
Trang 11có công trình nào hướng dẫn SV nâng cao khả năng tự học môn PTTP, đặc
biệt là phân tích các ca khúc Việt Nam Vì vậy, đề tài Tự học phân tích tác phẩm qua phân tích ca khúc Việt Nam cho sinh viên Đại học Sư phạm Âm nhạc là công trình mới và chưa có sự trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Nghiên cứu các khái niệm liên quan, lý luận về tự học làm cơ sở lý luận cho đề tài
- Nghiên cứu thực trạng học và tự học môn Phân tích tác phẩm của SV
hệ ĐHSP Âm nhạc Trường ĐHSP Nghệ thuật TW làm cơ sở thực tiễn cho
đề tài
- Các biện pháp rèn luyện kỹ năng tự học phân tích ca khúc trong chương trình môn Phân tích tác phẩm hệ ĐHSP Âm nhạc Trường ĐHSP Nghệ thuật TW
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các kỹ năng và biện pháp tự học phân tích ca khúc trong chương trình môn Phân tích tác phẩm hệ ĐHSP Âm nhạc Trường ĐHSP Nghệ thuật TW
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Quy mô nghiên cứu:
Khi nghiên cứu các kỹ năng phân tích ca khúc, đề tài xin chỉ lấy các
ca khúc Việt Nam thuộc môn Âm nhạc bậc THCS làm dẫn chứng Sở dĩ
Trang 12như vậy là vì các ca khúc THCS là một phần nội dung trong môn Phân tích tác phẩm hệ ĐHSP Âm nhạc Trường ĐHSP Nghệ thuật TW Mặt khác, SV ĐHSP Nghệ thuật TW sau khi tốt nghiệp ra trường, đảm nhận công tác giảng dạy tại các trường THCS nên việc phân tích ca khúc THCS khi đang học ĐHSP là rất quan trọng và cần thiết
Trong nội dung rèn luyện kỹ năng phân tích, đề tài đi sâu vào 3 vấn đề chính là: phương pháp phân tích điệu thức, cấu trúc và lời ca mà không đi riêng vào các vấn đề phân tích giai điệu và tiết tấu vì trong khi phân tích cấu trúc đã phải đề cập tới các vấn đề này
- Khách thể và địa điểm nghiên cứu: Sinh viên ĐHSP Âm nhạc tại Trường ĐHSP Nghệ thuật TW
- Thời gian nghiên cứu: tháng 8-2015 đến tháng 8-2018
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Sử dụng phương pháp này để thu thập và nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài như: về lý luận tự học, về môn học Phân tích tác phẩm
âm nhạc, Hình thức và thể loại âm nhạc, các bài hát trong chương trình môn Âm nhạc bậc THCS…
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh:
Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp để hệ thống hóa các tài liệunghiên cứulý luậnvà tư liệuthựctế; phân tích và tổng hợp các vấn đề mang tính khoa học trong rèn luyện kỹ năng phân tích ca khúc.
Sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu những nội dung cần phân tích như các thuật ngữ, các kỹ năng, các đặc điểm, thời lượng học môn PTTP của sinh viên ĐHSP ÂN so với một số cơ sở khác để làm nổi rõ vấn đề
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Sử dụng phương pháp thực nghiệm để đánh giá tính khả thi của các biện pháp được đề xuất
Trang 137 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, bố cục luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Biện pháp rèn luyện kỹ năng tự học phân tích ca khúc
Trang 141.1.1 Dạy học
Trước khi tìm hiểu khái niệm tự học, xin được đề cập đến một số
khái niệm dạy học
Trong lịch sử xã hội, loài người tồn tại và phát triển được như ngày nay phải nói đến vai trò của giáo dục Giáo dục đã ra đời từ khi xã hội loài người mới hình thành, do nhu cầu của xã hội và trở thành một yếu tố cơ bản để làm phát triển xã hội loài người Bằng con đường giáo dục, thế hệ trước truyền dạy cho thế hệ sau những kinh nghiệm, vốn sống, thành quả của mình để thế hệ sau lĩnh hội, tiếp thu và từ đó cải biến, sáng tạo thêm Nói cách khác, thế hệ trước có nghĩa vụ phải dẫn dắt, chỉ hướng, phải truyền tải lại cho thế hệ sau tất cả những gì có thể để làm cho thế hệ sau trở nên phát triển hơn, hoàn thiện hơn
Giáo dục là một hoạt động có ý thức của con người nhằm vào mục đích phát triển con người và phát triển xã hội, là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, phương pháp, hệ thống và quá trình này được thực hiện bằng các con đường dạy học Hiểu một cách khái quát, dạy học là con đường, là phương tiện cơ bản nhằm thực hiện nhiệm vụ giáo dục
Hoạt động dạy học bao gồm hai mặt của một quá trình, đó là dạy và học luôn đi kèm biện chứng với nhau, là một quá trình tương tác giữa người dạy và người học
Dạy là gì?
Trong Tài liệu bài giảng Lý luận dạy học của tác giả Nguyễn Văn
Tuấn Trường ĐHSP Kỹ thuật TP.HCM có nêu về khái niệm dạy như sau:
Trang 15“Dạy là hoạt động của GV, không đơn thuần chỉ là một tiến trình truyền thụ những nội dung đáp ứng mục tiêu đề ra mà là hoạt động giúp đỡ chỉ đạo và hướng dẫn học sinh trong quá trình lĩnh hội [46, tr.12]
Có thể kết luận, dạy là một hoạt động trong đó chủ thể là người thầy bằng những hệ thống kiến thức đã có, sử dụng những phương pháp phù hợp trong quá trình truyền đạt giúp người học tiếp thu, lĩnh hội kiến thức
Học là gì?
Từ điển tiếng Việt (do Hoàng Phê chủ biên) có viết: “Học là thu nhận
kiến thức, luyện tập kỹ năng do người khác truyền lại” [40, tr.437]
Tác giả Nguyễn Văn Tuấn cũng nêu khái niệm học trong cuốn Tài liệu bài giảng Lý luận dạy học như sau: “Học là hoạt động nhận thức độc
đáo của người học, thông qua đó người học chủ yếu thay đổi chính bản thân mình và ngày càng có năng lực hơn trong hoạt động tích cực nhận thức và cải biến hiện thực khách quan” [50, tr.12]
Vậy, học là một hoạt động mà chủ thể là người học trực tiếp thu nhận những kiến thức từ phía người dạy hoặc trực tiếp phát hiện vấn đề và tìm cách giải quyết vấn đề bằng khả năng của bản thân Từ đó có những phản hồi lại kiến thức bằng cách luyện tập, thực hành các bài tập để hình thành vốn kiến thức, kỹ năng của riêng mình
Dạy học là gì?
Tác giả Hoàng Phê có lý giải khái niệm này trong Từ điển tiếng Việt
như sau: “Dạy học để nâng cao trình độ văn hóa và phẩm chất đạo đức, theo chương trình nhất định” [40, tr.236] Khái niệm này mới chỉ nêu được những ý cốt lõi nhưng chưa cho thấy rõ bản chất của hoạt động dạy học
Theo tác giả Phạm Viết Vượng trong cuốn Giáo dục học thì “Dạy học
là hoạt động trí tuệ của thầy và trò, một quá trình vận động và phát triển liên tục trong trí tuệ và nhân cách” [52, tr.97] Ông cho rằng, dạy học là
“con đường quan trọng nhất để thực hiện mục đích giáo dục toàn diện cho
Trang 16thế hệ trẻ, đồng thời là phương thức để đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội”
[52, tr.29] Ở định nghĩa này, ta thấy rõ hơn hai chủ thể của hoạt động dạy học là thầy và trò Tuy vậy, chưa thấy rõ vai trò cũng như nhiệm vụ của từng chủ thể (thầy và trò)
Qua việc phân tích các ý kiến của một số học giả và rút ra các khái niệm về dạy, học và dạy học, chúng tôi cho rằng: Dạy học là một hình thức
tổ chức dưới sự điều khiển có mục đích, định hướng của người dạy, giúp cho người học có được hệ thống tri thức kĩ năng, kĩ xảo để phát triển năng lực tư duy, năng lực hành động và phẩm chất cá nhân Một cách kỹ lưỡng hơn thì: Dạy học là một quá trình gồm toàn bộ các thao tác có tổ chức và có định hướng giúp người học từng bước có năng lực tư duy và năng lực hành động với mục đích chiếm lĩnh các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các kỹ năng, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được để trên cơ sở đó có khả năng giải quyết được các bài toán thực tế đặt ra trong toàn bộ cuộc sống của mỗi người học
1.1.2 Tự học
Qua phần phân tích khái niệm dạy học cho thấy quá trình này gồm hai yếu tố: dạy và học Cả hai yếu tố đều quan trọng Người thầy tồi sẽ đào tạo ra một lớp/một thế hệ học sinh kém Bên cạnh đó, thầy có giỏi đến mấy
mà trò không có phương pháp học, thụ động chỉ chờ sự hướng dẫn của thầy
và đặc biệt không chịu tự học thì cũng không thể trở thành người giỏi
Học cũng được diễn ra trong một quá trình, bao gồm học trên lớp, học ở nhà, học trong một khóa học, cấp học… và học suốt đời Trong đó, việc học ở nhà và học suốt đời liên quan đến vấn đề tự học Người học không chỉ học ở trên lớp, không chỉ có sự hướng dẫn của người thầy mà phải không ngừng tự học thì mới hoàn thành được nhiệm vụ của việc học Trong thời đại ngày nay, hoạt động học tập của người học ngày càng được
Trang 17cải tiến theo hướng tự học, khơi dậy và phát huy tính tích cực, năng động, sáng tạo của người học; biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo và
đó chính là mục tiêu cơ bản của ngành giáo dục
Vậy tự học là gì?
Bàn đến tự học, không ít nhà nghiên cứu đã đưa ra khái niệm về vấn
đề này Tự là “từ dùng để chỉ bản thân chủ thể nhằm biểu thị việc nói đến là
do chính chủ thể nhằm biểu thị việc nói đến là do chính chủ thể làm hoặc gây ra, chỉ bằng sức lực, khả năng của riêng mình” [40, tr.1038]
Vậy theo khái niệm về tự như trên thì có thể hiểu một cách nôm na
tự học là một hoạt động mà chủ thể (người học) dùng khả năng, sức lực của
mình để tự thu nhận kiến thức Tuy vậy, cách hiểu này chưa thật đầy đủ về
tự học
Theo Từ điển Giáo dục học: Tự học là một bộ phận không thể tách
rời của quá trình giáo dục, là quá trình mà người học tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kỹ năng thực hành mà không có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên và sự quản lý trực tiếp của cơ sở giáo dục, đào tạo” [15, tr.458] Khái niệm này đã nêu được bản chất và vai trò của việc tự học, chỉ ra được nhiệm vụ cụ thể của người dạy và người học
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về tự học Bàn về tự học, Người cho rằng: “Tự học là cách học tự động” và “phải biết tự động học tập” [34, tr.360]
Như vậy, ý kiến về tự học của Người là tự học một cách hoàn toàn tự giác, tự chủ, không đợi ai nhắc nhở, không chờ ai giao nhiệm vụ mà tự mình chủ động vạch kế hoạch học tập cho mình, rồi tự mình triển khai, thực hiện kế hoạch đó một cách tự giác, tự mình làm chủ thời gian để học
và tự mình kiểm tra đánh giá việc học của mình
Tương tự như ý kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 7/1998 của tác giả Nguyễn Kỳ có nêu:
Trang 18Tự học là người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử
lý các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp… Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học [22, tr.12] Những khái niệm về tự học nêu trên tuy có khác nhau về cách diễn giải nhưng đều đưa ra bản chất của vấn đề tự học Có thể nhận thấy rằng,
khái niệm tự học luôn đi cùng, gắn bó chặt chẽ với khái niệm tự thân Tri
thức, kinh nghiệm, kĩ năng của mỗi cá nhân chỉ được hình thành bền vững
và phát huy hiệu quả thông qua các hoạt động tự thân ấy Để có thể đạt tới
sự hoàn thiện thì mỗi người học không chỉ học qua sự hướng dẫn của người khác mà còn phải tự tiếp nhận tri thức từ nhiều nguồn, tự rèn luyện kĩ năng, bồi dưỡng kiến thức
Qua những khái niệm, nhận định nêu trên, chúng tôi rút ra khái niệm:
Tự học là quá trình tự giác, tích cực độc lập chiếm lĩnh tri thức, hình thành
kỹ năng, kỹ xảo của chính bản thân người học Quá trình đó, người học thực sự là chủ thể của nhận thức, nỗ lực huy động các chức năng tâm lý tiến hành hoạt động nhận thức nhằm đạt được mục đích đã định Năng lực
tự học cũng có sẵn trong mỗi người, để đánh thức được kho báu tiềm ẩn đó, người học phải có năng lực tự nghiên cứu, nhà trường không chỉ chú trọng đến cách dạy mà còn phải chú trọng dạy cách học, trong đó có cả dạy cách
tự học
1.1.3 Kỹ năng và rèn luyện kỹ năng
1.1.3.1 Kỹ năng
Trong cuốn Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm, Nxb Đại học
quốc gia Hà Nội (2012) do Lê Văn Hồng (chủ biên) có nêu kỹ năng là “khả năng vận dụng kiến thức (khái niệm, cách thức, phương pháp ) để giải quyết một nhiệm vụ mới” [16, tr.80] Cũng trong tài liệu này, các tác giả
Trang 19cho rằng kỹ năng là “khả năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy cho dù
đó là hành động cụ thể, hay hành động trí tuệ” [16, tr.166] Hai khái niệm trên cho thấy kỹ năng có quan hệ mật thiết với kiến thức, dựa vào kiến thức
để điều khiển hoạt động
Từ điển Triết học, bản dịch tiếng Việt (1986), Nxb Tiến bộ
Mát-xcơ-va khái niệm: “Kỹ năng - những động tác đã trở thành máy móc do được lặp lại sau một thời gian dài Kỹ năng không những là kết quả mà còn là điều kiện hoạt động sáng tạo của con người” [48, tr.296]
Các khái niệm trên mặc dù có cách diễn đạt khác nhau nhưng đều mang bản chất chung là: kỹ năng luôn gắn liền với kiến thức, được hình thành từ quá trình tư duy vận dụng kiến thức để thực hiện một hành động/động tác trong chuỗi các hành động nhằm đạt một mục tiêu nhất định Như vậy, kỹ năng là những động tác được thực hiện trên cơ sở vận dụng những kiến thức đã tiếp thu, được hình thành qua quá trình rèn luyện và còn chịu sự kiểm soát của các giác quan Như vậy, kỹ năng hoạt động âm nhạc là khả năng vận dụng kiến thức (khái niệm, phương pháp ) vào các hoạt động đàn, hát, nghe nhạc, xướng âm Nói cách khác, kỹ năng hoạt động âm nhạc là một chuỗi các thao tác/động tác được hình thành từ ba cấp độ: nhận biết - thông hiểu - vận dụng/thực hành
1.1.3.2 Rèn luyện
Trong Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên có nêu khái niệm về
rèn luyện như sau: “Rèn luyện là luyện tập nhiều trong thực tế để đạt đến những phẩm chất hay trình độ vững vàng thông thạo”[40, tr.798]
Tham khảo trên trang web tudien.com truy cập ngày 25.3.2016, chúng tôi thấy có viết: “Rèn luyện là luyện tập một cách thường xuyên để đạt tới những phẩm chất hay trình độ ở một mức nào đó” [59]
Trang 20Qua ý kiến trên của các tài liệu trên cộng với nghiên cứu của bản thân, chúng tôi rút ra khái niệm về rèn luyện như sau: Rèn luyện là quá trình luyện tập để đạt tới phẩm chất hay trình độ vững vàng, thông thạo cho một hoạt động nào đó
1.1.3.3 Rèn luyện kỹ năng
Từ khái niệm về kỹ năng, rèn luyện, chúng ta có thể hiểu rèn luyện kỹ năng là sự lặp đi lặp lại một thao tác/động tác trong một thời gian dài theo trình tự phương pháp cụ thể Rèn luyện kỹ năng hoạt động âm nhạc là quá trình tập luyện chuỗi các thao tác/hoạt động trong một thời gian dài để có khả năng nhận biết và thực hành (đàn, hát, nghe nhạc ) một cách vững vàng Mỗi môn học (âm nhạc) đều có những kỹ năng đặc trưng riêng Ví dụ: người học nhạc cụ cần kỹ năng luyện ngón, người học thanh nhạc cần luyện kỹ năng hát (tư thế, khẩu hình, hơi thở, các kỹ thuật liên quan ) Với học phân tích tác phẩm, người học cần có các kỹ năng phân tích các phương tiện diễn tả âm nhạc như cấu trúc, giai điệu, tiết tấu, hòa thanh, điệu thức
1.1.4 Ca khúc
Từ những buổi bình minh của loài người, con người đã biết sử dụng ngữ điệu, âm điệu một cách sinh động để truyền đạt thông tin, biểu đạt cảm xúc Sự ra đời của thể loại thanh nhạc (nhạc hát) chính là biểu hiện nỗ lực của con người nhằm chuyển tải những tư tưởng, tình cảm của họ trong quá trình tương tác với xã hội bên ngoài Cùng với sự phát triển của xã hội, nghệ thuật âm nhạc cũng thay đổi, phát triển phong phú và phức tạp hơn Lĩnh vực thanh nhạc cũng hình thành nhiều thể loại khác nhau Trong đó,
ca khúc là thể loại quen thuộc, gần gũi và mang tính phổ thông nhất với mọi đối tượng thưởng thức nghệ thuật âm nhạc
Có nhiều cách khái niệm khác nhau về danh từ ca khúc Các tác giả
V Va-xi-na và Grô-xman của cuốn Các thể loại âm nhạc, Nxb Văn Hóa,
Trang 21do Lan Hương dịch (1981), đã xếp ca khúc vào thể loại thanh nhạc với khái niệm về thanh nhạc là “âm nhạc có lời ca” [51, tr.10] Như vậy, đặc điểm trước tiên chúng ta có thể nhận thấy ở ca khúc là “có lời ca” Tuy nhiên, trong bài viết “ca khúc”, các tác giả trên lại đưa ra khái niệm với nội hàm rộng hơn: “Ca khúc là loại giai điệu du dương, hoàn chỉnh và độc lập Khi biểu diễn không có lời ca và nhạc đệm, giai điệu ca khúc cũng vẫn diễn cảm và đặc sắc” [51, tr.14] Với cách hiểu này, yếu tố diễn cảm trong giai điệu của ca khúc được đề cao
Trong Hình thức và thể loại âm nhạc, Nxb ĐHSP, năm 2005, tác giả
Nguyễn Thị Nhung xem xét ca khúc dưới góc độ nguồn gốc tác phẩm: “Ca khúc là danh từ dùng để gọi những tác phẩm thanh nhạc khác nhau: ca khúc dân ca và ca khúc của các nhạc sĩ chuyên nghiệp với vai trò thể hiện chủ yếu là giai điệu” [38, tr.119] Khái niệm trên được tác giả đưa ra sau khi đã xác định thể loại thanh nhạc “là những tác phẩm được biểu diễn bằng giọng người” [38, tr.118]
Với cách tiếp cận về qui mô cấu trúc, trong Thuật ngữ và ký hiệu âm nhạc thường dùng, các tác giả Đào Trọng Từ - Đỗ Mạnh Thường - Đức
Bằng giải thích “ca khúc là bài hát ngắn có bố cục mạch lạc” [47, tr.81] Chúng tôi thấy khái niệm này chưa chuẩn xác lắm bởi chưa nêu rõ thế nào
là bài hát; sự “dài”, “ngắn” của bố cục cũng chưa cụ thể, chưa có hệ quy chiếu để đánh giá, có nhiều ca khúc có cấu trúc ở hình thức khá lớn như trường ca hay ca khúc viết ở hình thức nhiều đoạn không phải là bài hát ngắn… Tuy nhiên, ở khái niệm trên, tác giả cho thấy ca khúc là một trong những thể loại có hình thức nhỏ nhất trong các thể loại thanh nhạc (trong thanh nhạc, những thể loại có hình thức lớn hoặc phức tạp hơn ca khúc có thể kể tới hợp xướng, đại hợp xướng, thanh xướng kịch, nhạc kịch…)
Các khái niệm trên hoàn toàn không giống nhau do cách tiếp cận và tiêu chí phân loại khác nhau Tuy nhiên, những đặc điểm cơ bản của ca
Trang 22khúc đã được xác định khá cụ thể Đó là: yếu tố giai điệu có tính độc lập, hoàn chỉnh; có lời ca và có cấu trúc nhỏ
Chúng tôi cho rằng yếu tố giai điệu hoàn chỉnh có thể bắt gặp ở trong bất kì một cấu trúc nhỏ khác như câu nhạc, đoạn nhạc Vì vậy, khái niệm ca khúc chỉ gắn với hai yếu tố còn lại là lời ca và quy mô cấu trúc Qua các ý
kiến trên, có thể khái niệm: ca khúc còn gọi là bài hát, là một tác phẩm âm
nhạc có lời ca, được thể hiện bởi giọng hát con người, có hình thức nhỏ nhất trong các thể loại thanh nhạc
Ca khúc gồm phần âm nhạc và ca từ, có thể được trình diễn không đệm nhưng thường được đệm bởi một hoặc nhiều nhạc cụ nhằm hỗ trợ thêm cho giọng hát, tạo cảm hứng cho người trình diễn và người nghe Ca
từ của ca khúc thường mang tính thi ca Các nhạc sĩ có thể phổ thơ hoặc tự đặt lời cho ca khúc Ca khúc có lời ca lấy từ thơ hoặc hình tượng đẹp như thơ thường hấp dẫn người nghe Mỗi ca khúc có thể có một, hai hoặc nhiều lời, tùy theo ý tưởng, chủ đề mà nhạc sĩ muốn thể hiện
Do được thể hiện bằng giọng người mà giới hạn âm vực trong ca khúc có khi bị hạn chế hơn tác phẩm viết cho nhạc cụ Nhạc cụ có tầm âm thường rộng hơn giọng hát con người, điển hình nhạc cụ có tầm âm rộng nhất trong âm nhạc là piano với 7 quãng 8 đầy đủ và thêm 2 quãng 8 không đầy đủ là quãng thứ năm chỉ có một nốt đô và quãng 8 cực trầm chỉ gồm 2 nốt La và Si Với giọng người, đa số có âm vực giới hạn trong 2 quãng 8
Vì thế, thông thường ca khúc viết cho người lớn có âm vực khoảng quãng
12, với những giọng hát chuyên nghiệp âm vực có thể rộng hơn, cá biệt, một số bài có tầm cữ rộng tới 2 quãng tám Ca khúc viết cho thiếu nhi: với lứa tuổi Mẫu giáo thường có âm vực không quá một quãng 8; Theo tác giả
Lê Anh Tuấn trong sách Phương pháp dạy học Âm nhạc ở trường Tiểu học
và THCS (Nxb Đại học sư phạm, năm 2010), tầm cữ giọng thông thường
của lứa tuổi Tiểu học có thể trong khoảng quãng 9, quãng 10 và lứa tuổi
Trang 23THCS có thể đến quãng 11 hoặc 12 Tuy vậy, đây là tầm cữ giọng hát tự nhiên của đại đa số HS, còn ngoại trừ những HS biết cách học hát chuyển giọng thì tầm cữ sẽ mở rộng hơn Điều này được minh chứng rất rõ ở trẻ
em hát trong các dàn hợp xướng chuyên nghiệp thế giới và cả ở một số trẻ
em tham gia các chương trình ca nhạc trên truyền hình vài năm gần đây của nước ta Hát chuyển giọng để âm vực được rộng hơn với trẻ em hiện đang hình thành xu hướng được một số nước và cả ở nước ta áp dụng và đây sẽ
là điều kiện để có những ca khúc viết ở tầm cữ rộng hơn hiện nay cho những giọng trẻ em có thể thể hiện được
Mỗi thể loại âm nhạc có một thế mạnh biểu đạt riêng, thể loại ca khúc cũng vậy Giọng hát con người có nhiều sức biểu cảm, rung động rõ ràng, dễ dàng chạm đến sự cảm nhận và trái tim của người nghe thông qua lời ca mà nhạc cụ không thể làm được “Giọng hát của con người được coi như một “nhạc khí sống” quý báu, không nhạc khí nào sánh bằng bởi vì ngoài khả năng phát ra những âm thanh cao - thấp, dài - ngắn, mạnh - nhẹ… giống như một nhạc cụ thì giọng người còn có khả năng phát ra lời
ca, ra ý nghĩa của ngôn từ mà nhạc cụ không thể làm được” [28, tr.3] Chính bởi vậy, ca khúc mang tính quần chúng, tính phổ cập rộng rãi, hầu như ai cũng có thể thưởng thức được ca khúc, có thể hát được, hiểu được ý nghĩa nội dung mà ca khúc muốn chuyển tải trong khi không phải ai cũng
có thể chơi được đàn và hiểu được tác phẩm nhạc đàn
Hình thức cổ xưa nhất của thể loại ca khúc là những bài hát ru, những bài hát dân ca gắn liền với sinh hoạt của con người mà dân tộc nào cũng có Nhờ có cấu trúc ngắn gọn, thường là một đoạn, hai đoạn hoặc ba đoạn mà ca khúc dễ đến với người thưởng thức, dễ cảm nhận, thường được lưu hành rộng rãi trong đời sống xã hội của quần chúng
Có nhiều cách trình diễn ca khúc như đơn ca, song ca, tam ca, tốp ca…; hình thức trình diễn lớn hơn như đồng ca, hợp xướng, khác với
Trang 24tên gọi các cách trình diễn của nhạc cụ: độc tấu, song tấu, tam tấu, tứ tấu, hòa tấu…
Ca khúc Việt Nam là thành quả của các nhạc sĩ Việt Nam dựa trên phương pháp tiếp thu từ phương Tây Trong đó, có nhiều bài vẫn mang đặc trưng, âm hưởng của âm nhạc dân gian… Ca khúc phản ánh được nhiều đề tài phong phú, gắn liền với cuộc sống hàng ngày, sinh hoạt, lao động của nhân dân Trải qua năm tháng, đến nay, ca khúc luôn giữ một vị trí quan trọng trong đời sống con người
1.1.5 Một số thuật ngữ liên quan đến phân tích tác phẩm
1.1.5.1 Cấu trúc
Theo Đại từ điển tiếng Việt, Nguyễn Như Ý chủ biên, Nxb Văn hóa - Thông tin, 1998, cấu trúc là “tổng hòa các mối quan hệ bên trong của một chỉnh thể, một hệ thống” [53, tr.288] Tác giả Nguyễn Thị Nhung đề cập
đến khái niệm cấu trúc trong âm nhạc thông qua việc giải thích cụm từ hình thức âm nhạc: “ giáo trình này sẽ sử dụng thuật ngữ hình thức âm nhạc
theo nghĩa hẹp để phân biệt các cấu trúc khác nhau trong tác phẩm âm nhạc” [35, tr.15] Đồng thời, khái niệm “Hình thức âm nhạc theo nghĩa hẹp” được tác giả hiểu là “một quá trình chứa đựng các phần, các chủ đề của một tác phẩm” [35, tr.14]
Đề cập đến các thành phần cấu trúc trong một tác phẩm âm nhạc, PGS TS Phạm Lê Hòa viết:
Cấu trúc một tác phẩm âm nhạc gồm: Motip (Motif), Tiết nhạc, Câu nhạc
Khi một tác phẩm âm nhạc vang lên, chúng ta vẫn thấy ở đó những phần nhỏ có thể dừng nghỉ/ngắt được gọi là các kết cấu Những kết cấu này thường được chia từ nhỏ nhất là motip (motif), tiết nhạc, câu nhạc v.v… [13, tr.29]
Các khái niệm và định nghĩa trên cho thấy: cấu trúc là mối quan hệ,
Trang 25sự liên kết của các yếu tố, các thành phần tạo nên sự vật, hiện tượng cụ thể Như vậy, khi nói đến cấu trúc của tác phẩm âm nhạc là nói đến các yếu tố bên trong và đặc điểm, phương thức liên kết của chúng Cấu trúc tác phẩm
âm nhạc là sự liên hệ giữa các kết cấu cụ thể Tùy theo đặc điểm, quy mô
và mức độ hoàn chỉnh của kết cấu mà người ta phân chia thành các đơn vị cấu trúc như: motif, tiết nhạc, câu nhạc, đoạn nhạc Chẳng hạn, khi chúng
ta nói: ca khúc có hình thức ba đoạn đơn, có nghĩa là tác phẩm có cấu trúc
ba phần, mỗi phần được biểu hiện ở hình thức một đoạn đơn, các phần này
có sự liên quan chặt chẽ, gắn kết với nhau bằng các phương tiện ngôn ngữ
âm nhạc để tạo nên tác phẩm hoàn chỉnh
Ngắt là điểm tách biệt có tính tạm thời giữa các đơn vị cấu trúc,
“phân chia hình thức thành từng bộ phận” [35, tr.33] Dấu hiệu nhận biết
sự phân chia ấy thường được thể hiện bởi các dấu lặng, sự ngưng lại ở
âm tương đối dài hơn so với các âm khác; ngắt bằng sự thay đổi âm vực, lực độ, âm sắc; ngắt bằng sự nhắc lại; ngắt bằng hòa thanh hay một cấu trúc tiết tấu…
Motif “là một tổ âm bao quanh một phách mạnh”[35, tr.34] Motif
chứa đựng nét điển hình về âm điệu, tiết tấu hay hòa âm, có tính độc lập
tương đối Motif là nhân tố cơ bản cấu thành chủ đề âm nhạc [13, tr.30]
Âm điệu và nhịp điệu là hai yếu tố quan trọng nhất để định hình motif Những dấu hiệu để xác định motif là mối quan hệ về quãng, sức hút về các âm ổn định hay phách mạnh, phần mạnh của phách tạo nên sự liên kết các âm trong chuyển động của giai điệu hướng đến những âm có trường độ dài hơn
Tiết nhạc là một kết cấu âm nhạc có tính độc lập và hoàn thiện Tiết
nhạc thường gồm một số motif (ít nhất 2 motif), nhưng cũng có những trường hợp tiết nhạc không thể phân chia ra thành các motif được
Câu nhạc là kết cấu âm nhạc có khuôn khổ lớn hơn tiết nhạc Một
Trang 26câu nhạc có ít nhất hai tiết nhạc, có cấu trúc độc lập và hoàn chỉnh Câu nhạc có thể chuyển tải trọn vẹn một nội dung, hình tượng âm nhạc cụ thể
Khái niệm Đoạn nhạc dùng để chỉ “một hình thức trần thuật của tư
duy âm nhạc hoàn thiện và phát triển, là một hình thức âm nhạc nhỏ nhất Chứa đựng mức độ cao của tính thống nhất chủ đề và điệu tính, cao trào chung và tính tập trung lớn của sự phát triển” [35, tr.85]
Hiểu một cách đơn giản hơn, đoạn nhạc là một hình thức âm nhạc
nhỏ nhất, nó chứa đựng đầy đủ các yếu tố từ motif, tiết nhạc, câu nhạc và các thành tố ngôn ngữ biểu hiện của tác phẩm âm nhạc (giai điệu, tiết tấu, hòa thanh, nhịp độ, âm sắc, âm vực…) Đoạn nhạc có thể hiện sự xuất hiện của chủ đề, rõ hơn về điệu tính và việc liên kết các đoạn nhạc sẽ giúp tác phẩm phát triển thành các hình thức âm nhạc lớn hơn, thể hiện các cao trào
rõ hơn
Khi so sánh quy mô các đơn vị cấu trúc trong tác phẩm, người ta còn dùng các thuật ngữ: cấu trúc cân phương, vuông vắn hay cấu trúc không cân phương, không vuông vắn Cấu trúc cân phương, vuông vắn thường gặp trong các ca khúc có nội dung âm nhạc đơn giản, khúc triết, rõ ràng Ta hay gặp dạng này trong các ca khúc thiếu nhi, ca khúc tập thể, ca khúc hành khúc… Các ca khúc trữ tình thường được sáng tác theo nguồn tâm tư, tình cảm của nhạc sĩ, mạch cảm xúc đôi khi được ngẫu hứng không theo quy luật, bởi vậy nên dạng ca khúc này thường được viết theo cấu trúc không cân phương, không vuông vắn
1.1.5.2 Hình thức âm nhạc
Trong tất cả các loại hình nghệ thuật, nội dung và hình thức là hai yếu tố rất quan trọng Với mỗi tác phẩm âm nhạc, khi phân tích nhiệm vụ của người học cần chỉ ra được cách nhận biết hình thức trong từng tác phẩm (hình thức một đoạn, hai đoạn, ba đoạn,…) để hiểu rõ hơn cách cấu tạo và đặc điểm âm nhạc có liên quan
Trang 27Theo tác giả Nguyễn Thị Nhung trong cuốn Hình thức và thể loại âm
nhạc, hình thức âm nhạc được hiểu theo hai cách: “Hình thức âm nhạc theo
tư duy rộng là sự vang lên toàn bộ một tác phẩm từ âm thanh đầu tới âm thanh cuối cùng với tất cả các yếu tố của nó là giai điệu, hòa âm, tiết tấu, nhịp độ, âm sắc, cường độ ”; “Khái niệm hình thức âm nhạc theo tư duy hẹp là một quá trình chứa đựng các phần, các chủ đề của một tác phẩm”
Hai khái niệm nêu trên đều chỉ ra một cách chung nhất về hình thức
âm nhạc Dù vậy, tác giả Đào Trọng Minh giải thích có phần chi tiết và dễ hiểu hơn Tuy nhiên, hiểu một cách ngắn gọn hơn, chúng tôi đồng tình về
khái niệm Hình thức âm nhạc trong giáo trình Phân tích tác phẩm cho hệ
ĐHSP Âm nhạc như sau:
- Hình thức âm nhạc là một dạng của sáng tác được xác định qua một
kế hoạch sáng tác/sáng tạo của một tác phẩm âm nhạc
- Sự phản ánh nội dung âm nhạc thông qua các thành tố/tổ chức âm nhạc như các motiv, hòa thanh, âm sắc v.v… [13, tr.4]
Chúng tôi cho rằng, hình thức âm nhạc là tổng hợp các đơn vị cấu trúc từ nhỏ đến lớn như motif, tiết nhạc, câu nhạc… Nó chứa đựng đầy đủ các phương tiện, thành tố ngôn ngữ biểu hiện của nghệ thuật âm nhạc như giai điệu, tiết tấu, hòa thanh, nhịp độ, âm sắc, âm vực thông qua các nguyên
Trang 28tắc xây dựng âm nhạc nhất định (chủ đề âm nhạc, các thủ pháp/nguyên tắc phát triển – thủ pháp nhắc lại, thủ pháp mô phỏng…) Có nhiều hình thức
âm nhạc, mỗi tác phẩm được viết ở một hình thức khác nhau tùy thuộc vào
ý đồ sáng tác của người nhạc sĩ như hình thức một đoạn (một đoạn đơn, một đoạn phát triển); hình thức hai đoạn (hai đoạn đơn, hai đoạn phức); hình thức ba đoạn (ba đoạn đơn, ba đoạn phức); hình thức rondo; hình thức biến tấu; hình thức sonata… Trong sáng tác ca khúc, các nhạc sĩ thường viết ở hình thức một đoạn, hai đoạn hoặc ba đoạn Các hình thức lớn hơn như Rondo, Biến tấu, Sonata thường được viết cho các nhạc cụ diễn tấu
1.1.5.3 Giai điệu
Giai điệu là một trong những phương tiện diễn tả cơ bản của ngôn ngữ nghệ thuật âm nhạc Trong ca khúc, giai điệu là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất để tạo nên hình tượng âm nhạc
Có nhiều công trình nghiên cứu đã đưa ra khái niệm về giai điệu
Theo tác giả Đào Ngọc Dung: Giai điệu là sự liên kết các âm bằng cao độ, trường độ, sắc thái, mạnh nhẹ khác nhau Nó diễn đạt nội dung chủ yếu của
âm nhạc bằng một bè giai điệu.[6, tr.29]
PGS.TS Nguyễn Thị Nhung giải thích:
Trong toàn bộ phương pháp diễn tả, giai điệu giữ vai trò trung tâm, đặc biệt quan trọng Những khía cạnh quan trọng nhất của giai điệu là mối tương quan về độ cao – thấp; độ dài – ngắn của
âm thanh và cả mối quan hệ về hòa âm, điệu tính Trong một số trường hợp giai điệu còn chứa đựng cả những đường nét biểu hiện
về thể loại [37, tr.16]
Có thể nói, giai điệu là bộ phận quan trọng nhất cấu thành nên tác
phẩm âm nhạc hoàn chỉnh Nó được tạo nên bởi bảy bậc âm cơ bản và các
âm bị hóa (thăng hoặc giáng) Giai điệu liên kết với nhau tùy từng cách mà tạo nên những tính chất âm nhạc khác nhau, khi thì êm đềm, nhẹ nhàng, sâu
Trang 29lắng; khi lại mạnh mẽ, sôi nổi Các đường nét giai điệu khi thì tuần tự đi lên, đi xuống hay có khi đi ngang, Trong âm nhạc, những nét giai điệu đi liền bậc chưa hẳn đã tạo nên sự uyển chuyển, nhịp nhàng Những nét giai điệu được tạo bởi các âm thành các quãng rộng chưa hẳn đã là vui tươi nhảy nhót Tuy nhiên, những yếu tố chi phối đến giai điệu như điệu thức, những nốt hoa mỹ, các ký hiệu âm nhạc cùng với tư duy sắp xếp các đường nét giai điệu của tác giả sẽ quyết định tính chất của bài
Như vậy, phân tích giai điệu chính là phân tích yếu tố cơ bản nhưng rất quan trọng trong một tác phẩm âm nhạc
Định nghĩa về tiết tấu, tác giả Đào Ngọc Dung cho rằng: Tiết tấu là
sự nối tiếp các âm và các kết cấu âm nhạc bằng thời gian ngân vang của âm thanh (độ dài của âm và độ dài của kết cấu) có tổ chức và có quy luật [6, tr.20]
Tác giả Nguyễn Thị Nhung đưa ra hai khái niệm về tiết tấu: “Theo nghĩa hẹp, tiết tấu chỉ sự liên tục có tổ chức về độ dài, ngắn của âm thanh Theo nghĩa rộng, tiết tấu là mối tương quan về thời gian giữa các phần của hình thức, giữa các chương trong tác phẩm gồm nhiều chương” [37, tr.26]
Theo chúng tôi, tiết tấu là sự tổ chức về mặt trường độ/độ dài của âm thanh Trong đó, yếu tố cốt lõi của tiết tấu là trường độ được tổ chức như thế nào, sắp xếp theo quy luật nào Sự tổ chức này sẽ làm nên tiết tấu của một đoạn, một phần hay một tác phẩm Sự kết hợp các trường độ (không kể
Trang 30sự khác nhau về tuyến độ cao) khác nhau theo một quy luật nào đó sẽ tạo nên một tính cách, một đặc điểm làm cho đoạn nhạc này khác đoạn nhạc kia, tác phẩm này khác tác phẩm kia Đây chính là một trong những yếu tố
lý giải vì sao chỉ với 7 nốt nhạc cơ bản mà nhân loại có vô số tác phẩm âm nhạc khác nhau, tạo nên điều diệu kỳ của nghệ thuật âm nhạc
Chẳng hạn như cùng những cao độ dưới đây nhưng trường độ được tổ chức (sắp xếp) thành những tiết tấu khác nhau tạo những nét nhạc khác nhau
Phân tích tiết tấu là tìm ra quy luật liên kết trường độ trong các cấu trúc âm nhạc cụ thể, là một trong những vấn đề cần thiết để xác định tính thống nhất, phát triển hay tương phản, hỗ trợ đắc lực cho việc nhận biết hình tượng âm nhạc của tác phẩm
1.1.5.5 Hòa thanh
Khi nói đến hòa thanh trong âm nhạc, người ta thường nghĩ ngay đến các chồng âm, các hợp âm và cách liên kết các hợp âm Tuy nhiên, ta có thể dựa vào đường nét giai điệu, các âm kết, các âm hóa, sự thay đổi hóa
Trang 31biểu là có thể nắm được ý đồ sáng tác và sắp xếp hòa thanh của tác giả Ở mỗi điệu thức còn có thể dựa vào các bậc âm ổn định để xác định hòa thanh cho từng câu, từng đoạn nhạc
Tác giả Đào Ngọc Dung có nêu định nghĩa Hòa thanh trong cuốn
giáo trình Phân tích tác phẩm: Hòa thanh là sự hài hòa âm thanh, hài hòa giữa các âm theo chiều ngang (là giai điệu), và theo chiều dọc (là các hợp âm), hài hòa giữa các kết cấu âm nhạc (giữa các tiết nhạc, câu nhạc, đoạn nhạc… với nhau) và hài hòa trong toàn bộ tác phẩm [7, tr.35]
Khi bàn về vai trò của hòa âm, hai tác giả Phạm Tú Hương và Vũ
Nhật Thăng của cuốn Sách giáo khoa hòa thanh có trích dẫn ý kiến của
nhạc sĩ người Nga M.I Glin-ka (1804 - 1857):
Nhiệm vụ của hòa âm là vẽ thêm cho người nghe những đường nét
mà trong giai điệu không có và không thể có được nó làm cho tư tưởng âm nhạc có một giá trị nhất định và nói tóm lại, nó làm cho giai điệu có tính cách sống động” [18, tr.3]
Cùng với lịch sử phát triển âm nhạc, phong cách hòa âm cũng không ngừng được thay đổi, phát triển trong xu hướng thay đổi về nhu cầu thẩm
mỹ âm nhạc
PGS.TS Nguyễn Thị Nhung lại giải thích: Hòa âm là một trong những phương pháp diễn tả quan trọng nhất, là động lực tạo thành hình thức âm nhạc và góp phần tạo nên sự tương phản giữa các hình tượng Ba khía cạnh quan trọng nhất của hòa âm là: 1) Bổ sung và làm rõ giai điệu 2) Tạo màu sắc 3) Công năng [37, tr.22]
Bằng sự tổng kết ngắn gọn, GS.TSKH Phạm Lê Hòa đưa ra khái niệm có tính tổng hợp: Hòa thanh là khoa học về sự hòa hợp/nối tiếp giữa các âm/chồng âm (về phương diện chiều dọc) trong một tác phẩm âm nhạc [13, tr.21]
Hòa thanh/hòa âm là một trong những yếu tố quan trọng, không thể
Trang 32thiếu trong mỗi tác phẩm âm nhạc Ngày nay, nhiều nhạc sĩ đôi khi sáng tác
ca khúc còn phá vỡ các quy luật hòa thanh của các nhà soạn nhạc cổ điển, tuy nhiên, mỗi tác phẩm đều có mục đích sáng tác, tư duy và cảm nhận khác nhau Mỗi sự sáng tạo đều có ý đồ, có cái hay và cái đặc điểm riêng của từng tác phẩm mà chúng ta không thể phủ nhận hoặc bác bỏ nó
1.2 Vai trò của tự học môn Phân tích tác phẩm
1.2.1 Vai trò của tự học
Khi còn học ở trường phổ thông, HS chỉ cần nắm vững kiến thức đã học trên lớp, hoàn thành bài tập được giao, giáo viên sẽ có những bài kiểm tra, đánh giá dành cho HS Tuy nhiên, quá trình học tập trên giảng đường Đại học, yêu cầu học tập dành cho SV hoàn toàn khác, tự học là con đường, cách thức, phương pháp mà SV cần thực hiện thường xuyên để luyện tập, trau dồi và bổ sung kiến thức cho bản thân Trong giáo dục, tự học đóng vai trò rất quan trọng với mỗi SV
Tự học là mục tiêu cơ bản của quá trình dạy học
Trong quá trình dạy học, GV đóng vai trò quan trọng, GV là người truyền đạt kiến thức có sẵn đã được nghiên cứu và tổng hợp, là người tổ chức các hoạt động tiếp thu kiến thức cho SV, là người định hướng các con đường, cách thức tiếp nhận và tự phát huy khả năng mở rộng vốn kiến thức cho SV GV là người giúp SV không ngừng nghiên cứu, sáng tạo, phát huy
và nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn Chỉ ra cho người học thấy rằng, tự học là cách tốt nhất để khơi dậy niềm đam mê tìm tòi tri thức cho bản thân, tự học là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học SV nên và cần nghiên cứu khoa học, bởi quan trọng nhất trong quá trình học tập là phát hiện ra được vấn đề, tự tìm cách giải quyết vấn đề Để làm được điều
đó, SV cần tập thói quen và rèn luyện tri thức cho bản thân qua việc nghiên cứu khoa học Như vậy, để quá trình dạy học được thành công, GV không chỉ ngừng ở việc truyền tải tri thức mà cần nhằm đến mục tiêu SV biết cách
tự học cho riêng mình
Trang 33Bồi dưỡng năng lực tự học để tạo động lực cho quá trình học tập
Giới trẻ hiện nay cần có những yếu tố vô cùng quan trọng, đó là tính chủ động, tích cực, sáng tạo mọi tri thức trên sách vở và thực tiễn cuộc sống Các nhà giáo dục cần giúp người học hình thành và phát triển năng lực đó để qua quá trình học tập, SV luôn năng động, sáng tạo, dễ dàng thích nghi với môi trường lao động phù hợp với năng lực của bản thân Để có thể say mê tìm tòi, nghiên cứu, khám phá tri thức luôn đòi hỏi SV có sự hứng thú với hoạt động tự học Người SV có khả năng tự học là người có nỗ lực cao trong quá trình học tập và luôn muốn vượt qua chính mình để thu nhận những kiến thức mới, kiến thức khó Các nhà làm giáo dục cần không ngừng đổi mới phương pháp, cách thức gây hứng thú cho người học để họ
có động lực nhiều hơn và tích cực hơn trong việc tự học Người học sẽ định hình được tính độc lập trong học tập
Tự học giúp SV có thể chủ động học tập suốt đời
Người SV có năng lực tự học là người luôn nắm được cơ hội thể hiện bản thân, luôn phát huy được phẩm chất và có khả năng cống hiến hết mình cho công việc Những người đó luôn tìm ra phương pháp mới mẻ để tiếp nhận và trao đổi, truyền đạt kiến thức, luôn bắt nhịp được với xu thế và những điều mới mẻ trong cuộc sống Những yêu cầu, thách thức khó trong quá trình hoạt động nghề nghiệp sẽ là động lực để phát huy hết năng lực bản thân mà họ tiếp nhận được nhờ việc tự học Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kỹ năng tự học, biết linh hoạt vận dụng những điều đã học vào thực tiễn thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, nhờ đó kết quả học tập sẽ ngày càng được nâng cao
1.2.2 Vai trò của tự học môn Phân tích tác phẩm trong đào tạo hệ Đại học Sư phạm Âm nhạc
Trong chương trình đào tạo cho SV hệ Đại học SPAN, môn Phân tích tác phẩm giữ vai trò quan trọng Nó trang bị cho SV những kiến thức
Trang 34cơ bản và tổng hợp để có thể nhìn nhận, đánh giá và cảm nhận về một tác phẩm âm nhạc Bởi đây là một môn học bao quát toàn bộ kiến thức của các môn như Lý thuyết âm nhạc, Lịch sử âm nhạc, Hòa âm, Giới thiệu nhạc cụ, Phương pháp dạy học âm nhạc, Mỹ học, Nghệ thuật học,…
Âm nhạc là sản phẩm âm nhạc tồn tại dưới dạng một tác phẩm âm nhạc hoàn thiện, có nội dung, hình thức và giá trị nghệ thuật nhất định Khi dàn dựng một chương trình âm nhạc, khi đàn, khi hát SV cần hiểu về tác phẩm đó Để sáng tác được ca khúc, SV cần nắm vững kiến thức khi xây dựng cấu trúc, hình thức và các nguyên tắc phát triển… Môn Phân tích tác phẩm là môn lý luận tổng hợp những yếu tố cần để giúp SV thực hiện những công việc nêu trên
Hơn nữa, khi hoàn thiện chương trình đào tạo hệ Đại học SPAN, SV
có thể trở thành giáo viên giảng dạy môn Âm nhạc trong các trường phổ thông Ngoài việc dạy kiến thức nhạc lý cơ bản, những câu chuyện về các nhạc sĩ, tập đọc nhạc,… giáo viên chủ yếu dạy cho HS học các bài hát có trong chương trình Giáo viên cần giải thích được cho các em những vấn đề
có liên quan đến bài học để HS không chỉ hát đúng mà còn hát hay, hiểu nội dung, tính chất, kết cấu, ý nghĩa và giá trị nghệ thuật của bài
Do đó, SV tự học, tự nghiên cứu kiến thức về Phân tích tác phẩm là đang tự trau dồi, hoàn thiện tri thức cho bản thân, giúp liên hệ và giải quyết vấn đề cho các môn học có kiến thức liên quan Không chỉ giúp hiểu bài về các mặt đặc điểm âm nhạc, hình thức, cấu trúc, nội dung, ý nghĩa… mà còn giúp cho SV mở rộng được vốn kiến thức có liên quan đến từng tác phẩm đang phân tích Đó là cơ sở, là hành trang giúp SV có thể tự tin hơn bước vào con đường sự nghiệp trong tương lai khi cần trình bày hiểu biết kiến thức về tác phẩm, tác giả cho người nghe, người học Vậy nên, Phân tích tác phẩm là môn học có vai trò hết sức quan trọng, SV cần đề cao tinh thần, trách nhiệm tự học với môn này nói riêng và các môn học khác nói chung
Trang 35để tự đảm bảo kiến thức cho bản thân sau khi ra trường
1.3 Thực trạng tự học môn Phân tích tác phẩm của sinh viên Đại học Sư phạm Âm nhạc tại Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương
1.3.1 Khái quát về Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương
Trường Trung cấp Sư phạm Thể dục là tiền thân của Trường ĐHSP Nghệ thuật TW ngày nay Trải qua nhiều lần đổi tên, từ những năm 1970, trường có tên là Trường Sư phạm Thể dục – Nhạc họa TW Sau 10 năm (1980) trường được gọi là CĐSP Thể dục – Nhạc – Họa TW Sau 5 năm (1985), trường tách thành Trường CĐSP Nhạc – Họa TW (1985 – 2006) và Trường CĐSP Thể dục TW 1 (Trường ĐHSP TDTT Hà Nội ngày nay) Đến ngày 26/05/2006, Trường CĐSP Nhạc – Họa TW được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định về việc thành lập Trường ĐHSP Nghệ thuật TW cho đến ngày hôm nay
Sau 45 năm xây dựng và trưởng thành, hiện nay trường đang có 14 khoa Đây cũng được coi là cái nôi đào tạo, bồi dưỡng nguồn giáo viên nghệ thuật, cán bộ quản lý chất lượng cho ngành giáo dục nói riêng và cả nước nói chung Nhà nước và xã hội đã ghi nhận Trường ĐHSP Nghệ thuật
TW là cơ sở đào tạo các cử nhân uy tín, đảm bảo chất lượng trong nước hiện nay
Khoa SPAN thành lập từ năm 1970 đến nay, là đơn vị gắn liền với quá trình phát triển của nhà trường Khoa SPAN đã đào tạo không ít SV ở các trình độ Cao đẳng, Đại học ra trường giảng dạy âm nhạc tại các trường phổ thông, các trường Văn hóa Nghệ thuật, các trường Trung cấp, Cao đẳng và Đại học, trở thành diễn viên của Đoàn Nghệ thuật, các cán bộ văn hóa… đóng góp quan trọng vào công tác giáo dục thẩm mỹ cũng như sự nghiệp trồng người của đất nước
Theo thống kê đến ngày 20 tháng 12 năm 2016 trên website www.spnttw.edu.vn, hiện nay khoa SPAN hiện nay có tổng số 23 cán bộ,
Trang 36GV trong đó có 1 Tiến sĩ chuyên ngành Âm nhạc học và nhiều cán bộ, GV đang học Nghiên cứu sinh và Thạc sĩ tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam và Trường ĐHSP Nghệ thuật TW Các thầy cô đảm nhận giảng dạy các bộ môn: Lý thuyết âm nhạc, Phân tích tác phẩm, Ký – xướng âm, Lịch
sử âm nhạc, Hòa thanh, Nhập môn Phức điệu, Giới thiệu nhạc cụ, Âm nhạc
cổ truyền, Âm nhạc mới Việt Nam, Phối hợp xướng, Sáng tác, Phương pháp dạy học âm nhạc, Hát hợp xướng, Chỉ huy hợp xướng, Dàn dựng chương trình âm nhạc tổng hợp, Múa, Mỹ học, Nghệ thuật học…
Cùng với sự phát triển không ngừng của nhà trường, khoa SPAN luôn nỗ lực phấn đấu, tích cực học tập nâng cao trình độ, không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượng đào tạo cho SV GV thường xuyên tham gia NCKH, biên soạn chương trình, giáo trình, tài liệu phục vụ giảng dạy để phù hợp với quy mô đào tạo của nhà trường Tăng cường công tác quản lý
và giáo dục SV để khẳng định thương hiệu của mình trong công tác đào tạo giáo viên âm nhạc, đáp ứng yêu cầu của đổi mới giáo dục đại học và những đòi hỏi ngày càng cao của xã hội
1.3.2 Chương trình môn Phân tích tác phẩm hệ Đại học Sư phạm Âm nhạc
Hiện nay, nội dung và yêu cầu môn Phân tích tác phẩm hệ ĐHSP
Âm nhạc Trường ĐHSP Nghệ thuật TW được xây dựng trên cơ sở Giáo trình Phân tích tác phẩm âm nhạc của PGS TSKH Phạm Lê Hòa và Giáo trình Phân tích tác phẩm âm nhạc của PGS TS Nguyễn Thị Nhung Toàn
bộ chương trình của môn học gồm 3 HP (06 tín chỉ) = 90 tiết TC = 108 tiết thực dạy trên lớp so với ĐHSP Hà Nội gồm 2 HP = 4 TC = 60 tiết thực dạy Về thời lượng của ĐHSP Hà Nội thì ít hơn nhiều so với Trường ĐHSP Nghệ thuật TW và nội dung chương trình bị giản lược nhiều Vì thế việc dạy học cũng chỉ ở mức sơ giản, việc khai thác, đào sâu kiến thức cũng như nghe/nhìn các tư liệu âm nhạc bị hạn chế hơn
Trong phạm vi của đề tài này, chúng tôi tập trung nghiên cứu và tìm
Trang 37hiểu nội dung chi tiết chương trình môn PTTP HP 1 Trong HP này, SV phải hoàn thiện 2 tín chỉ tương đương 39 tiết thực dạy trên lớp Nhiệm vụ
và mục tiêu môn PTTP HP 1 cung cấp những khái niệm cơ bản ban đầu về hình thức và thể loại âm nhạc như: khái niệm về hình thức, thể loại; phương tiện diễn tả về âm nhạc; các hình thức âm nhạc cơ bản
Nội dung chi tiết chương trình môn PTTP HP 1 (Phụ lục 4; 133) gồm
có 6 nội dung lớn quan trọng Ở nội dung 1, SV được học một số vấn đề chung thuộc các khái niệm về phân tích tác phẩm âm nhạc, về hình thức và thể loại, nắm được các phương tiện diễn tả chính trong âm nhạc và phân tích tổng hợp về cấu trúc và các phương tiện diễn tả của âm nhạc Nội dung
2 yêu cầu SV nắm được kiến thức về kết cấu âm nhạc trong đó có chủ đề
âm nhạc (khái niệm, các dạng chủ đề âm nhạc), các thủ pháp phát triển chính trong âm nhạc (nhắc lại, mô phỏng, tổng hợp và xé lẻ chất liệu,…), các đơn vị của cấu trúc âm nhạc (âm hình, tiết nhạc, câu nhạc, đoạn nhạc), các phần cấu trúc phụ (mở đầu, nối tiếp, kết/coda), cuối nội dung này SV sẽ thực hành phân tích các ví dụ/dẫn chứng về đặc điểm cấu trúc, các thủ pháp phát triển, nội dung và tính chất âm nhạc Trong nội dung 3, 4, 5 SV đi sâu nghiên cứu khái niệm, đặc điểm, cấu trúc, các dạng cơ bản của hình thức một đoạn đơn (đoạn nhạc), hai đoạn đơn, ba đoạn đơn Cuối mỗi nội dung,
SV đều được luyện tập, thực hành phân tích các trích đoạn/ tác phẩm tiêu biểu ở các dạng của các hình thức tương ứng Kết thúc chương trình PTTP
HP 1, nội dung 6 chủ yếu tập trung ôn tập kiến thức của môn học, luyện tập phân tích các dạng khác nhau của các hình thức từ 1 đoạn đến 3 đoạn Cuối cùng, GV sẽ phổ biến kế hoạch thi kết thúc môn học
Để học tốt môn PTTP HP 1, SV cần nắm vững các kiến thức về lý thuyết âm nhạc, hòa thanh cơ bản… Bên cạnh đó cần tham khảo các tài liệu
về lịch sử âm nhạc; rèn luyện khả năng tổng hợp tài liệu, kỹ năng viết bài…
Trang 38SV Trường ĐHSP Nghệ thuật TW học môn PTTP tuy không chuyên sâu, lượng kiến thức thu nhận cũng không thể sánh ngang với SV khoa Lý – Sáng – Chỉ của Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam Tuy nhiên, sau khi học xong môn PTTP HP 1, SV cũng có thể nhớ và hiểu vai trò của các phương tiện diễn tả chính trong âm nhạc, mô tả được đặc điểm cấu tạo của các phương tiện diễn tả đó trong tác phẩm âm nhạc Phân biệt và so sánh đặc điểm của các bộ phận trong cấu trúc tác phẩm âm nhạc (motif, âm hình, tiết nhạc, câu nhạc…) Hiểu và thực hành phân tích được các trích đoạn/tác phẩm ở hình thức từ 1 đến 3 đoạn đơn Tìm hiểu một số tác phẩm tiêu biểu
ở thể loại ca khúc và tiểu phẩm viết cho piano Nội dung của môn học làm
cơ sở cho các môn kế tiếp như: PTTP HP 2, PTTP HP 3 để có thể tiếp xúc với các hình thức lớn và các thể loại âm nhạc khác nhau Tuy nhiên, trong môn PTTP HP 2 và PTTP HP 3 nội dung chủ yếu đi sâu vào các hình thức lớn như hình thức ba đoạn phức, hình thức rondo, hình thức biến tấu, hình thức sonata và các thể loại âm nhạc Thực hành phân tích các tiểu phẩm/trích đoạn thường sử dụng các bài cho khí nhạc mà ít nói đến các ca khúc Việt Nam Trong khi đó, tầm quan trọng của việc phân tích ca khúc Việt Nam trong quá trình học tập và trong công tác giảng dạy sau này lại rất quan trọng
Có thể thấy, lượng kiến thức SV cần đạt khi học môn PTTP HP 1 cũng tương đối lớn, tuy nhiên, trong quá trình học và thi phần nhiều chưa được chú trọng đến phân tích ca khúc Việt Nam Mặc dù vậy, trong quá trình học GV vẫn kết hợp cho kiểm tra dưới dạng viết bài phân tích ca khúc hoàn chỉnh và cuối HP 1 SV vẫn thi kết hợp phân tích ca khúc và tác phẩm khí nhạc Đặc biệt, khi hoàn thành quá trình học tại trường, SV thi tốt nghiệp ra trường vẫn cần phải thi thực hành phân tích các ca khúc Việt Nam Sau khi học xong, nếu SV tham gia công tác giảng dạy môn Âm nhạc trong các trường phổ thông thì việc phân tích được các ca khúc Việt Nam
Trang 39là vô cùng quan trọng Nó giúp các bạn hiểu bài một cách chi tiết và sâu sắc, phân tích được bài là cách tốt nhất để giúp HS có thể hiểu được cái hay, cái đẹp và giá trị của tác phẩm Với những SV đi theo hướng khác (biểu diễn thanh nhạc, biểu diễn nhạc cụ…), phân tích ca khúc Việt Nam giúp các bạn hiểu bài, thể hiện tâm tư, tình cảm vào tác phẩm một cách truyền cảm hơn và dễ tạo cảm xúc cho người nghe hơn Vì vậy, với khá nhiều nội dung cần tiếp thu trong 39 thực dạy trên lớp, SV học lý thuyết có thể sẽ không được nhiều và không được sâu Điều đó cũng gây ảnh hưởng đến quá trình luyện tập phân tích bài, đặc biệt là phân tích ca khúc Việt Nam là một nội dung rất quan trọng trong quá tình học tập trong nhà trường
1.3.3 Khả năng tự học môn Phân tích tác phẩm của sinh viên Đại học
Sư phạm Âm nhạc
1.3.3.1 Đặc điểm về tâm sinh lý và năng khiếu âm nhạc
SV là nhóm người thuộc độ tuổi từ 18 đến 25 (lứa tuổi thanh niên), đây là một nhóm xã hội đặc biệt, chuẩn bị cho hoạt động sản xuất vật chất hay tinh thần của xã hội Những SV đang học tại các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp là nguồn bổ sung cho đội ngũ tri thức được đào tạo với nghiệp vụ cao để tham gia tích cực vào hoạt động đa dạng có ích cho xã hội Ở độ tuổi này, dù đang được tiếp tục giáo dục nhưng SV bắt đầu có quyền công dân, hoàn thiện học vấn để chuẩn bị cho nghề nghiệp tương lai,
có quan điểm chính trị, bắt đầu lao động, có nghề nghiệp ổn định, giảm phụ thuộc kinh tế vào gia đình, chuẩn bị hành trang bước vào cuộc sống hôn nhân Lúc này, xã hội nhìn nhận SV như chủ thể có trách nhiệm của hoạt động sản xuất xã hội và đánh giá kết quả hoạt động của họ theo “tiêu chuẩn người lớn”
Sự phát triển trong cơ thể của SV vẫn diễn ra ổn định, đồng đều sau những thay đổi, biến động mạnh mẽ ở tuổi dậy thì Và đây sẽ là giai đoạn giúp hoàn tất những thay đổi cơ thể ở nam và nữ thanh niên Thời kỳ này,
Trang 40tình cảm đạo đức và thẩm mỹ sẽ phát triển tích cực nhất, là giai đoạn định hình và ổn định tính cách SV đã biết vạch ra kế hoạch riêng cho hoạt động (công việc, hôn nhân và xây dựng gia đình) của mình, độc lập trong phán đoán và hành vi Thông qua tự đánh giá, SV chủ động điều chỉnh hành vi, hoàn thiện nhân cách, chủ động tổ chức toàn bộ thế giới nội tâm của mình
Qua khảo sát ngày 12 tháng 04 năm 2017 với 80 SV của 2 lớp đang học môn PTTP tại khoa SPAN Trường ĐHSP Nghệ thuật TW, cho thấy đa
số SV (63/80 SV) đang học năm 2 theo đúng tiến độ quy định Ngoài ra, có
17 SV bị chậm tiến độ do kỳ này mới đăng ký được lớp hoặc kỳ này mới
đủ điều kiện được đăng ký, một số ít bị học lại Do đó, năng lực, năng khiếu âm nhạc của các bạn có phần không đồng đều nhau
Bên cạnh vấn đề tiến độ học tập, trình độ đầu vào của SV cũng khác nhau Kết quả khảo sát cho thấy, 100% SV đã được học kiến thức về âm nhạc khi còn học ở trường phổ thông Trong 80 SV được khảo sát có 13 SV trước đây đã được học tại các trường Trung cấp chuyên nghiệp khiến cho chất lượng đầu vào được đảm bảo hơn Ngày nay, các trung tâm âm nhạc, các lớp ôn thi tại các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp cũng mở ra khá nhiều, nhằm luyện cho SV có vốn kiến thức vừa đủ để thi được vào trường
mà các bạn mong muốn SV khoa SPAN cũng không ngoại lệ, số SV đó chiếm đa số tới 61/80 SV được khảo sát đã được học tại các lớp luyện thi
và 13 SV được học kiến thức âm nhạc tại các trung tâm âm nhạc Ngoài ra, một số SV theo Đạo Thiên Chúa, 27 SV được sinh hoạt trong ca đoàn nên được rèn luyện năng khiếu âm nhạc thường xuyên Một số ít (7 SV) thuộc nhóm gia đình có điều kiện hơn, các bạn được học âm nhạc với gia sư riêng tại nhà Chỉ 2 SV là do các bạn tự nghiên cứu, tự học hỏi kiến thức âm nhạc trước khi thi vào trường Đại học Do phạm vi kiến thức trước khi thi đầu vào trường không đồng đều, nên có nhiều trường hợp, khi học trên giảng đường các bạn bị tiếp thu chậm hơn Đó cũng là điều thiệt thòi, một phần do các bạn