1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỀ CƯƠNG ôn tập môn CHÍNH SÁCH xã hội

23 259 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 47,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính sách xã hội bao gồm tập hợp các chính sách cụ thể, là sự thể chế hóa, cụ thể hóa các giải pháp của Nhà nước trong việc giải quyết vần đề xãhội liên quan đến từng nhóm người hay toà

Trang 1

Câu 1: Phân tích khái niệm chính sách xã hội? Lấy ví dụ minh họa?

Nghĩa rộng: Chính sách là tổng thể các quan điểm, giải pháp và công cụ

mà chủ thể quản lý (Nhà nước) sử dựng để tác động lên đối tượng và khách thểquản lý nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong một giai đoạn, thời kỳlịch sử cụ thể Những mục tiêu này không nằm ngoài định hướng của mục tiêutổng quát

Chính sách của Nhà nước là tập hợp văn bản mà Chính phủ xây dựng,

ban hành với các mục đích rõ ràng, tác động đến nhóm người hoặc toàn bộngười dân trong xã hội Hầu hết các chính sách được thể hiện dưới dạng văn bảnpháp luật và các văn bản dưới luật

Chính sách xã hội bao gồm tập hợp các chính sách cụ thể, là sự thể chế

hóa, cụ thể hóa các giải pháp của Nhà nước trong việc giải quyết vần đề xãhội liên quan đến từng nhóm người hay toàn bộ dân cư, trên cơ sở phù hợpvới quan điểm, đường lối của Đảng, nhằm hướng tới công bằng, tiến bộ xãhội và phát triển toàn diện con người

Khái niệm này cho thấy, một số nguyên tắc khi hoạch định chính sách xã

hội, có khả năng hàm chứa các đặc trưng để người đọc hiểu đúng về chính sách

xã hội, cho phép phân biệt chính sách xã hội với các chính sách khác

Đặc trưng cơ bản:

- Chính sách xã hội thường hướng vào phục vụ nhiệm vụ chính trị của

Đảng cầm quyền và của Nhà nước trong từng thời kì

- Các chính sách xã hội thể hiện trách nhiệm cao, mang hàm nghĩa văn

hóa – văn minh, nó phản ánh tính chất tiến bộ, công bằng của xã hội

- Chính sách xã hội luôn liên quan trực tiếp đến con người

- Chính sách xã hội mang tính xã hội, nhân văn, nhân bản sâu sắc, thể

hiện truyền thống nhân đạo tốt đẹp của dân tộc

1

Vị trí của CSXH

Chính sách xã hội là 1 bộ phận cấu thành chính sách chung của đảng hay

NN hướng tới XH nhằm giải quyết các vấn đề XH đồng thời góp phần điềuchỉnh các quan hệ XH phù hợp với bản chất giai cấp và những mục tiêu củađảng, NN

Ví dụ: Vị trí CSXH được quy định bởi vị trí con người trong XH đó, song

do địa vị của con người ở mỗi chế độ khác nhau không giống nhau nên vai tròcủa CSXH cũng khác nhau

Ví dụVai trò của CSXH

Trang 2

-Cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân

Câu 3: Phân tích các chức năng cơ bản của chính sách xã hội?

Chính sách xã hội của Nhà nước là bộ phận quan trọng của những công cụquản lý vĩ mô nền kinh tế - xã hội, nó có những chức năng chính như sau:Chức năng định hướng sự vận động của xã hội:

- Chính sách xã hội xuất phát từ thực tiễn các vấn đề xã hội của một đấtnước

- Chính sách xã hội là công cụ quản lý xã hội, thể hiện ý chí của Đảng,Nhà nước

=> Chính vì vậy nó là phương tiện quan trọng định hướng mọi hoạt

động theo những mục tiêu, phương hướng đã định trước của Nhà nước Cóvai trò thúc đẩy các vấn đề xã hội vận động đúng quy luật kinh tế, xã hộikhách quan trong điều kiện toàn cầu hóa

Khi xây dựng các chính sách xã hội thì các nhà hoạch định chính sáchphải dựa trên các chiến lược, đường lối chủ trương của Đảng Do đó cácchính sách của Nhà nước luôn phản ánh đường lối chủ trương của Đảng2

trong việc phát triển các hoạt động xã hội cũng như mọi hoạt động liên quannhằm thúc đẩy xã hội phát triển bền vững, công bằng và tiến bộ xã hội.Chức năng điều chỉnh các vấn đề xã hội:

Trong quá trình phát triển của đất nước, có rất nhiều vấn đề xã hội nảysinh ảnh hưởng đến đời sống, sự ổn định xã hội

Nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý xã hội thông qua chính sách giảiquyết những vấn đề xã hội bức xúc, điều tiết sự mất cân đối, những hành vikhông phù hợp, nhằm tạo ra một môi trường thuận lợi phù hợp với mục tiêu,chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường:

Trang 3

Nhà nước sử dụng chính sách để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, tác

động vào quá trình phân phối thu nhập Tạo cơ hội phát triển cho các đối tượngyếu thế, bị ảnh hưởng

Chức năng phát triển con người:

- Chính sách xã hội là loại chính sách liên quan đến con người và bao

trùm mọi mặt cuộc sống của con người Vì vậy đặc trưng bao quát nhất củachính sách xã hội là lấy con người, các nhóm người trong cộng đồng làm đốitượng tác động để hoàn thiện và phát triển toàn diện con người

- Lấy con người làm trung tâm, coi trọng yếu tố con người trong sự

nghiệp xây dựng đất nước Con người vừa là động lức của sự phát triển xã hội

vừ là mục tiêu của quá trình phát triển xã hội

- Con người có quan hệ chặt chẽ với cộng đồng và xã hội

- Tác động của chính sách xã hội đối với con người ở đây là nhằm hình

thành các chuẩn mực, giá trị xã hội

Chức năng thúc đẩy sự phát triển:

- Chính sách xã hội không phải chỉ nhằm vào giải quyết các hậu quả của

các vấn đề xã hội mà nó là công cụ quản lý vĩ mô, có vai trò kính thích, tạo độnglực cho sự phát triển kinh tế và xã hội

3

- Các chính sách có vai trò tác động tích cực đến các vấn đề xã hội theo

chiều hướng tích cực

- Khi giải quyết được một vấn đề xã hội thì sẽ tác động đến các vấn đề

khác như kinh tế, xã hội góp phần thúc đẩy những nhu cầu mới phát triển.Câu 4: Làm rõ mối quan hệ của chính sách xã hội với công tác xã

hội? Lấy ví dụ minh họa?

Chính sách xã hội bao gồm tập hợp các chính sách cụ thể, là sự thể chế

hóa, cụ thể hóa các giải pháp của Nhà nước trong việc giải quyết vần đề xãhội liên quan đến từng nhóm người hay toàn bộ dân cư, trên cơ sở phù hợpvới quan điểm, đường lối của Đảng, nhằm hướng tới công bằng, tiến bộ xãhội và phát triển toàn diện con người

CTXH là một nghề chuyên hỗ trợ, giúp đỡ những người gặp khó khăn

hoặc những người bị đẩy ra ngoài xã hội (người nghèo, người khuyết tật, trẻ em

có hoàn cảnh đặc biệt, phụ nữ, người già ) Sứ mạng của ngành CTXH là nỗlực hành động nhằm giảm thiểu: Những rào cản trong xã hội, sự bất công và sựbất bình đẳng Thực chất của nghề CTXH là cung cấp dịch vụ cho người dân,nhân viên xã hội là người phục vụ chứ không phải là người chủ Đối tượngđược chăm sóc, phục vụ đều là những đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt, là

những người cần chăm sóc sức khỏe, được bảo vệ, che chở… Chính vì vậy,ngoài kiến thức, nhân viên CTXH cần phải được đào tạo nhiều về kỹ năng mềm

Trang 4

Ví dụ, trường hợp một người có tổn thương tâm lý và có ý định tự tử, nhân viên

xã hội cần tìm hiểu nguyên nhân và mức độ tổn thương của người đó và giúp đỡ

họ vượt qua khủng hoảng bằng cách tham vấn hoặc trị liệu tâm lý để người đó

ổn định lại và không có hành vi làm tổn hại đến bản thân nữa

MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VÀ CÔNG TÁC XÃ HỘICSXH và CTXH là 2 mảng riêng biệt nhưng chúng có mối quan hệ tác độngqua lại với nhau là cơ sở, nền tảng, bộ phận nối liền nhau trong hoạt động quản lýnhà nước cụ thể như sau:

Chính sách xã hội là cơ sở cho tổ chức và hoạt động của công tác xã

hội

Chính sách xã hội định hướng cho hành động của công tác xã hội

Công tác xã hội là là hoạt động đưa các chính sách xã hội vào thực

tiễn

4

Công tác xã hội ngoài thực tiễn giúp cho những nhà hoạch định chính

sách xã hội thấy được những ưu điểm, hạn chế, bất cập của chính sách xã

hội, của xã hội từ đó đề ra những chính sách xã hội đúng đắn, phù hợp

Câu 5: Các yếu tố cấu thành hệ thống chính sách xã hội?

Hệ thống CSXH là tập hợp các chính sách trong lĩnh vực xã hội, hướng

vào giải quyết những vấn đề xã hội, đảm bảo cho phát triển kinh tế - xã hội củamột quốc gia ổn định, bền vững Hệ thống các chính sách xã hội bao gồm cácnhóm chính sách chủ yếu sau đây:

Nhóm chính sách tác động vào quá trình phát triển con người

- Chính sách dân số: Nhằm tạo ra một quy mô dân số, cơ cấu hợp lý giữa

các vùng

- Chính sách giáo dục, đào tạo: Nhằm thực hiện các giải pháp hướng vào

phát triển con người toàn diện, nâng cao nhân dân trí, phát triển nguồn lực choquốc gia, dân tộc

- Chính sách việc làm: Nhằm thực hiện các giải phát tạo môi trường, cơ

hội giải quyết việc làm, thu nhập, nâng cao mức sống của người lao động và dâncư

- Chính sách văn hóa thể thao; Nhàm thực hiện các giải pháp thỏa mãn

nhu cần văn hóa, nghệ thuật, thể thao ( nhu cầu tình thần )

- Chính sách an toàn vệ sinh lao động: Thực hiện các giải pháp và kỹ

thuật hướng vào bảo vệ sức khỏe và tính mạng của con người dưới tác động củamôi trường lao động

- Chính sách về môi trường: Nhằm thực hiện các giải pháp, kỹ năng giữ

gìn môi trường sống trong sạch, lành mạnh để đảm bảo sức khỏe và tính mạng

Trang 5

của các cộng đồng dân cư.

- Chính sách chăm sóc sức khỏe nhân dân: Nhằm thực hiện các giải pháp

về phòng bệnh và chữa bệnh cho nhân dân để bảo vệ sức khỏe và tính mạng củanhân dân

Nhóm các chính sách xã hội trong lĩnh vực phân phối

Bao gồm các chính sách liên quan đến phân phối thu nhập trong các

doanh nghiệp và nền kinh tế, bảo đảm lợi ích vật chất hài hòa giữa những ngườilao động, tậng lớp dân cư và cộng đồng xã hội, bao gồm các chính sách như:

- Chính sách tiền lương: Nhằm đảm bảo nguyên tắc phân phối theo lao

động, kết hợp các giá trị truyền thống trong trả công lao động, đảm bảo mức5

lương tối thiếu đủ cho lao động giản đơn đủ tái sản xuất sức lao động, tiền lươngmang tính cạnh tranh trên thị trường lao động, điều tiết thu nhập thông quachính sách thuế thu nhập hợp lý

- Chính sách phúc lợi xã hội: Hướng vào thực hiện các giải pháp đảm bảophần bổ sung, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người lao động và dâncư

- Chính sách bảo hiểm xã hội: Nhằm thực hiện các giải pháp quản lý rủi

ro xã hội, bao gồm nhiều lĩnh vực như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp,bảo hiểm nghề nghiệp, bảo hiểm kinh doanh, bảo hiểm y tế

- Chính sách trợ giúp đặc biệt: Nhằm thực hiện các giải pháp ưu đãi người

có công với cách mạng để họ có cuộc sống đầy đủ về vật chất, vui vẻ về tinhthần, thực hiện trách nhiệm, đạo lý, truyền thống của dân tộc

- Chính sách trợ giúp xã hội: Gồm các chính sách trợ cấp về vật chất,

chăm sóc sức khỏe, giáo dục, tạo cơ hội sống cho các nhóm đối tượng yếu thếtrong xã hội

Nhóm các chính sách tác động vào cơ cấu xã hội

Bao gồm các chính sách điều chỉnh lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp xã

hội: công nhân, nhân dân, trí thức, doanh nhân, tiểu thương, tiểu chủ các điềuchỉnh lợi ích này phải đảm bao cho thúc đẩy xã hội phát triển tiến bộ, củng cố sựhài hòa giữa các giai cấp, tầng lớp theo mục tiêu dân giàu nước mạnh, quan tâmđến các nhóm xã hội trong từng tầng lớp xã hội, bao gồm cả chính sách đối vớicác nhóm xã hội đặc thù và bao gồm các chính sách như:

- Chính sách đối với các nhóm xã hội: Công nhân, nông dân, trí thức,

doanh nhân, tiểu chủ Các chính sách này nhằm tác động vào sự phát triển, đảmbảo hài hòa quyền lợi giữa các tầng lớp xã hội và sự hài hòa, ổn định xã hội

- Chính sách với các nhóm xã hội đặc thù, hướng vào các giải pháp đảm

bảo cho sự phát triển bình đẳng, công bằng xã hội đối với các nhóm xã hội nhấtđịnh, bao gồm các chính sách như: Chính sách đối với thanh niên, trẻ em, người

Trang 6

cao tuổi, phụ nữ, đồng vào dân tộc thiểu số, người khuyết tật Chính sách tôngiáo, chính sách với người Việt Nam định cư ở nước ngoài

Nhóm chính sách tác động đến hiện tượng tiêu cực và tội phạm xã hội

Các chính sách này nhằm và các giải pháp phòng và chống tệ nạn xã hội

và tội phạm trong xã hội nhằm đảm bảo cho xã hội phát triển lành mạnh baogồm chính sách như: Chính sách phòng, chống tệ nạn xã hội ( mại dâm, ma túy,

cờ bạc, mê tín dị đoan ) Chính sách phòng chống tội phạm

6

Câu 6: Phân tích quy trình chính sách xã hội? Cho ví dụ cụ thể?

Chính sách xã hội được xem xét như một quy trình với nhiều hoạt động

liên tục theo thời gian, từ khi phát hiện vẫn đề xã hội đến khi vẫn đề được giảiquyết thông qua những can thiệp của nhà nước vào hoạt động của chủ thể xãhội

Quy trình của chính sách xã hội được biểu hiện thông qua sơ đồ sau:

- Là khâu đầu tiên của quy trình chính sách

- Vai trò là cơ sở, tiền đề cho toàn bộ hoạt động tiếp sau bởi vì hoạch địnhchính sách quyết định nội dung, cách thức, tiến độ thực hiện, mục tiêu, kết qỉachính sách

- Giúp toàn bộ quá trình thực hiện đúng hướng, không bị chệch mục tiêu

- Hoạch định chính sách còn đem lại khả năng tiết kiệm nguồn nhân lực

- Là thang đo đánh giá chính xác mức độ hoàn thành công việc, làm cho

việc kiểm tra được dễ dàng hơn

Tổ chức thực hiện chính sách:

- Được tiến hành sau khi hoạch định chính sách – điều kiện cần

- Làm cho chính sách vận hành – điều kiện đủ để chính sách thành công

Trang 7

- Bao gồm một loạt các hoạt động như:

+ Tổ chức cơ cấu bộ máy

7

+ Xây dựng chương trình hành động, chuẩn bị các nguồn lực cần thiết và

thời gian để thực thi chính sách

Chỉ đạo, phối kết hợp trong quá trình thực hiện chính sách:

- Chính sách xã hội là chính sách mang tầm vĩ mô, để triển khai thực hiệncần nhiều chủ thể tham gia

- Sự đông đảo trong đội ngũ chủ thể thực hiện chính sách xã hội có thuận

lợi về nguồn lực

- Tuy nhiên nó gây ra sự chồng chéo hoặc bỏ sót công việc do phân định

nhiệm vụ không rõ ràng, các chủ thể hoạt động độc lập, không có sự liên lạcthông tin với nhau nên nhiệm vụ quan trọng của nhà lãnh đạo là tăng cường cơchế để tăng sự phối hợp trong hoạt động của các chủ thể khác nhau

- Sự phối hợp hoạt động có thể thực hiện theo chiều dọc, theo chiều

ngang, hoặc kết hợp cả hai hình thức

Thanh tra, kiểm tra chính sách:

- Kiểm tra là quá trình đo lường kết quả hoạt động của một chủ thể nhất

định dựa trên cơ sở những tiêu chuẩn, thang đo được xã định từ trước để pháthiện những sai lệch nhằm đưa ra các tác động điều chỉnh kịp thời, góp phầnhoàn thành mục tiêu chung

- Thông qua kiểm tra, nhà quản lý sẽ nắm được toàn bộ tình hình hoạt

động: biết được tiến độ công việc hoàn thành tới đâu, chất lượng và khối lượngcông việc

- Điều chỉnh được nhịp độ làm việc giữa các bộ phận sao cho hài hòa

- Phát hiện được những vấn đề phát sinh trong tiến trình thực thi chính

sách từ đó đưa ra được những hướng xử lý kịp thời

Điều chính chính sách:

- Trên cơ sở kết quả thanh tra, kiểu tra, số liệu điều tra, khảo sát và tổng

kết thực hiện chính sách xã hội, các nhà hoạch định chính sách nghiên cứu, phântích và xã định cac tồn tại, bất hợp lý, thiếu sót, để đưa ra cá kiến nghị về bổsung, sửa đổi chính sách

- Đối chiếu kết quả mới với thang đo ban đâu nhằm kiểu tra lại mức độ

đáp ứng của hoạt động vói mục tiêu đặt ra

- Nếu kết quả đã thỏa mãn tiêu chuẩn thì được công nhận là đã hoàn

thành, nếu vẫn phát hiện ra sai lệch thi tiếp tục tìm nguyên nhân và đưa ra giảipháp sửa chữa

8

Trang 8

- Việc kiểm tra phải được diễn ra thường xuyên nhằm điều chỉnh, thực thi

để chính sách tới mục tiêu và hiệu quả cao nhất

Câu 7: Việc thanh tra, kiểm tra chính sách xã hội được tiến hành thế

nào?

Việc thanh tra, kiểm tra chính sách xã hội được tiến hành thông qua các

bước cơ bản sau:

1 Thiết lập thang đo

+ Đây là những yêu cầu, đòi hỏi đối với công việc cần kiểm tra

+ Khi tiến hành một nhiệm vụ cụ thể, đưa ra các mục tiêu nhất định và

nhiệm vụ được hoàn thành khi mục tiêu đó được thực hiện

+ Được biểu hiện bằng những thông số định tính hoặc định lượng làm cơ

sở đo lường kết quả của một hoạt động nhất định

+ Thang đo đúng => Đánh giá đúng

2 Tiến hành đo lường kết quả

Đo lường kết quả là quá trính so sánh đối chiếu kết quả thực tế với những

tiêu chuẩn đã đặt ra để phát hiện độ sai lệch của hoạt động Việc đo lường kếtquả có chính xác hay không phụ thuộc vào một số yếu tố sau:

+ Tiêu chuẩn đo/thang đo

+ Chủ thể đo lường

+ Công cụ và phương tiện đo

+ Đối tượng đo

3 Phát hiện sai lầm

Trong quá trình đo lường kết quả nếu có sự không trùng khớp giữa thực tếcông việc và thang đo, (ảnh hưởng xấy hơn so với dự kiến) thì đó chính là sailệch của khâu thực hiện

Câu 8: Sự phát triển của chính sách xã hội trong thời kỳ đổi mới, từ

năm 1986 đến nay?

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12-1986) trong khi đề ra

đường lối đổi mới toàn diện để phát triển đất nước đã đặt đúng vị trí, tầm quantrọng của chính sách xã hội trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội củaĐảng Đại hội đã coi chính sách xã hội là một bộ phận quan trọng trong hệ thốngchính sách của Đảng và Nhà nước, một bộ phận cấu thành chiến lược phát triểnkinh tế - xã hội, là động lực to lớn phát huy tính năng động, sáng tạo của nhân9

dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Nghị quyết Đại hội khẳngđịnh: “Chính sách xã hội bao trùm mọi mặt của cuộc sống con người: điều kiệnlao động và sinh hoạt, giáo dục và văn hoá, quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp,quan hệ dân tộc… Cần thể hiện đầy đủ trong thực tế quan điểm của Đảng và

Trang 9

Nhà nước về sự thống nhất giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội” 1 Từ

nhận thức: “Trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để thực hiện chính

sách xã hội, nhưng những mục tiêu xã hội lại là mục đích của các hoạt động

kinh tế”2, Đại hội VI của Đảng đã nhấn mạnh: Cần có chính sách xã hội cơ bản,

lâu dài và xác định những nhiệm vụ, mục tiêu phù hợp với yêu cầu, khả năng

trong chặng đường đầu tiên Đó là một bước tiến mới trong nhận thức về chính

sách xã hội của Đảng

Quá trình Đảng lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội trong thời kỳ

đổi mới - Thành tựu và hạn chế

Trong sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo,

cùng với đổi mới tư duy về kinh tế, Đảng từng bước đổi mới việc thực hiện

chính sách xã hội với chủ trương tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và

công bằng xã hội Hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, những thành tựu về

xã hội và con người là minh chứng hùng hồn cho năng lực lãnh đạo của Đảng

đối với hệ thống chính sách xã hội

Trước hết, trong giải quyết việc làm cho người lao động

Việc làm là vấn đề mang tầm chiến lược quốc gia, đảm bảo cho sự phát triển

kinh tế - xã hội của đất nước Giải quyết việc làm là chính sách xã hội cơ bản của

Đảng và Nhà nước ta, là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành,

các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp, của mỗi người lao động Quan điểm giải

quyết việc làm của Đảng được thể chế hoá bằng pháp luật: “Giải quyết việc làm,

bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động, đều có cơ hội có việc làm là trách

nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và toàn xã hội” Theo đó, Đảng và

Chính phủ đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách, chương trình phát triển kinh tế xã hội có tác động trực tiếp đến việc tạo và giải quyết việc làm cho người lao

động, coi giải quyết việc làm vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển

như: Quyết định số 176/QĐ-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về

tổ chức sắp xếp lại lao động trong khu vực nhà nước; Quyết định số 120/QĐHĐBT của Hội đồng

Bộ trưởng ngày 11-4-1992 về thành lập Quỹ quốc gia giải

quyết việc làm; Quyết định số 327/QĐ-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng về phủ

xanh đất trống, đồi núi trọc; Chương trình giải quyết việc làm của các tổ chức

đoàn thể như: Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Trung

ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Tổng Liên đoàn Lao động Việt

10

Nam, Hội Cựu chiến binh, hoạt động của trung tâm dạy nghề và xúc tiến việc

làm, trung tâm dịch vụ việc làm… đặc biệt là Nghị định số 370/HĐBT về quy

chế đưa lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài; giải quyết việc

làm thông qua chương trình viện trợ nhân đạo của các nước: Cộng hoà Séc,

Cộng hoà Slôvakia, Cộng hoà Liên bang Đức và Liên minh châu Âu (EU) Bằng

Trang 10

những cố gắng nỗ lực của Đảng và Nhà nước, cùng với sự tăng trưởng kinh tế của

đất nước, mỗi năm chúng ta đã giải quyết được việc làm cho 1,2 triệu người

Chính đường lối đổi mới, phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành

phần của Đảng đã tạo ra những điều kiện thuận lợi để người lao động có cơ hội

tự tạo việc làm và có việc làm, đáp ứng yêu cầu bức xúc về đời sống, góp phần

ổn định tình hình kinh tế - xã hội Đổi mới tư duy trong lĩnh vực lao động và

việc làm đã thay đổi căn bản tư tưởng bao cấp và cơ chế kế hoạch hoá tập trung

trước đây Từ chỗ Nhà nước bao cấp toàn bộ trong giải quyết việc làm, đã dần

dần chuyển trọng tâm sang thiết lập cơ chế, chính sách để các thành phần kinh tế

và người lao động đều tham gia tạo việc làm Người lao động tích cực và chủ

động tự tạo việc làm, không thụ động, trông chờ vào sự sắp xếp việc làm của

Nhà nước Người sử dụng lao động được khuyến khích đầu tư phát triển sản

xuất, kinh doanh, dịch vụ, tạo việc làm thu hút lao động xã hội

Đánh giá thành tựu trên lĩnh vực giải quyết việc làm, Đại hội đại biểu toàn

quốc lần thứ X của Đảng (4-2006) đã khẳng định:

“Trong 5 năm, đã tạo việc làm cho 7,5 triệu lao động; các thành phần kinh

tế ngoài nhà nước thu hút gần 91% lực lượng lao động xã hội và tạo 90% việc

làm mới Xuất khẩu lao động và chuyên gia bằng 2,3 lần so với 5 năm trước

Năm 2005, thất nghiệp ở thành thị giảm xuống còn 5,3%; thời gian sử dụng lao

động ở nông thôn đạt 80,6% Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 5,7 triệu

đồng năm 2000 lên trên 10 triệu đồng năm 2005, tăng 12,1%/năm”3

Tính đến năm 2007, lực lượng lao động nông thôn chiếm 74,57% tổng

lực lượng lao động xã hội Giai đoạn 2001-2007, lao động có việc làm trong

khu vực nông thôn vẫn có xu hướng tăng từ 29,2 triệu người (năm 2001) lên

34,30 triệu người (năm 2007), bình quân mỗi năm khu vực nông thôn tạo

thêm 0,85 triệu chỗ làm việc mới, chiếm 57% tổng chỗ việc làm mới được tạo

ra Khu vực nông thôn giải quyết việc làm cho hơn 75% lực lượng lao động cả

nước4

Thứ hai, trong lãnh đạo thực hiện chính sách xoá đói, giảm nghèo

Đói nghèo là vấn đề kinh tế, xã hội sâu sắc, xoá đói, giảm nghèo là một

trong những vấn đề vừa cấp bách, vừa cơ bản lâu dài, là một chính sách quan

11

trọng của Đảng và Nhà nước ta Trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế xã hội, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác xoá đói,

giảm nghèo Đặc biệt từ năm 1986, khởi đầu công cuộc đổi mới, một mặt Đảng

khuyến khích mọi người trong các thành phần kinh tế làm giàu hợp pháp, mặt

khác tích cực chỉ đạo thực hiện xoá đói, giảm nghèo trong cả nước Nghị quyết

Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá VII (6-1993) đã chỉ rõ:

“Trợ giúp người nghèo chủ yếu bằng cách cho vay vốn, hướng dẫn cách làm ăn

Trang 11

Hình thành quỹ xoá đói giảm nghèo ở từng địa phương trên cơ sở dân giúp dân,Nhà nước giúp dân và tranh thủ các nguồn tài trợ nhân đạo trong nước và quốc

tế Phấn đấu tăng số hộ giàu đi đôi với xoá đói giảm nghèo”5

Chủ trương xoá đói, giảm nghèo của Đảng đã trở thành cuộc vận động lớn,

khởi đầu ở thành phố Hồ Chí Minh (1992), tiếp đến là các tỉnh đồng bằng sôngCửu Long, các tỉnh Khu IV, Khu V cũ, các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ… Đến tháng12-1995 cả 53 tỉnh, thành phố trong cả nước đều có chương trình xoá đói, giảmnghèo, trong đó 49 tỉnh, thành phố đã thành lập ban chỉ đạo xoá đói, giảm nghèo ởcấp tỉnh, huyện, xã Thực hiện chủ trương của Đảng, Chính phủ đã chú trọng xâydựng các nguồn lực cho xoá đói, giảm nghèo: nguồn lực về lao động và đất đai;nguồn lực về vốn; thực hiện chuyển giao công nghệ giúp đỡ hộ đói, nghèo tổ chứccuộc sống; thực hiện các chính sách xã hội khác đối với người đói, nghèo như hỗtrợ người nghèo về y tế, về giáo dục, khai trương Ngân hàng phục vụ người nghèo(nay là Ngân hàng chính sách xã hội)

Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Đảng chủ

trương: “Thực hiện tốt chương trình xoá đói giảm nghèo, nhất là đối với vùng căn

cứ cách mạng, vùng đồng bào dân tộc thiểu số…”, xoá đói, giảm nghèo được xácđịnh là một trong 11 chương trình quốc gia Thực hiện chủ trương của Đảng, ngày23-7-1998, Chính phủ ra Quyết định số 133/1998/QĐ-TTg phê duyệt Chươngtrình quốc gia xoá đói giảm nghèo giai đoạn 1998-2000 với mục tiêu và

nhiều giải pháp cụ thể Tiếp đó, ngày 31-7-1998, Thủ tướng Chính phủ ban

hành Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển kinh

tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa (gọi tắt làChương trình 135) Phong trào xoá đói, giảm nghèo được đẩy mạnh với nhiều

mô hình gia đình, thôn, bản, xã, huyện xoá đói, giảm nghèo có hiệu quả đã đượcnhân rộng như: mô hình tín dụng - tiết kiệm, mô hình xã hội hoá hỗ trợ nhà ởcho người nghèo, mô hình “một mái nhà, một bể nước, một con bò”, mô hìnhdạy nghề ngắn hạn miễn phí, mô hình liên thông xuất khẩu lao động…, các dự

án thuộc Chương trình quốc gia xoá đói, giảm nghèo theo Quyết định số 133 củaThủ tướng Chính phủ đã đi vào hoạt động và đạt hiệu quả rõ rệt

12

Nhận thức về xoá đói, giảm nghèo cũng có những tiến bộ, từ chỗ không

chấp nhận có sự phân hoá giàu - nghèo đã đi đến chủ trương khuyến khích mọingười làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xoá đói, giảm nghèo, thu hẹp dầnkhoảng cách về trình độ phát triển, mức sống giữa các vùng, các dân tộc, cáctầng lớp dân cư, coi việc một bộ phận dân cư giàu trước là cần thiết cho sự pháttriển xã hội

Tổng kết 20 năm đổi mới (1986-2006), Đảng ta đã khẳng định: “Công tác

xoá đói giảm nghèo được đẩy mạnh và đạt kết quả đầy ấn tượng Theo chuẩn quốc

Ngày đăng: 14/12/2018, 21:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w