1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

THỐNG NHẤT một số vấn đề về dạy học môn NGỮ văn ở NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG THEO HƯỚNG đổi mới PPDH

7 148 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 27,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo viên không nên chỉ yêu cầu đơn giản đối với học sinh là soạn bài theo câu hỏi hướng dẫn trong sách giáo khoa SGK mà phải cụ thể hóa bằng những việc làm kể cả việc yêu cầu HS tự làm

Trang 1

THỐNG NHẤT MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN Ở NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG THEO HƯỚNG ĐỔI MỚI PPDH

(5-1-2014)

PHÒNG GDTrH

THỐNG NHẤT MỘT SỐ VẤN ĐỀ

VỀ DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN Ở NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG THEO HƯỚNG ĐỔI MỚI PPDH

PHẦN VĂN HỌC

A Mở đầu:

Trước đây phần Văn học được gọi là Giảng văn Hiện nay trước sự thay đổi quan niệm về môn Ngữ văn trong chương trình phổ thông, tên gọi của phân môn cũng có sự thay đổi: phân môn Văn/ Đọc hiểu văn bản (VB) /Đọc văn + Nếu như Giảng văn, phân tích tác phẩm văn học là việc làm của giáo viên (GV), GV là chính, học sinh (HS) là phụ (GV chủ động, là trung tâm, học sinh thụ động); với những hiểu biết và rung động của mình về tác phẩm văn chương, thầy cắt nghĩa, bình giảng nhằm giúp HS hiểu văn, chứ không nhằm đào tạo năng lực tự đọc hiểu văn bản cho học sinh -> khái niệm đọc chỉ hạn chế trong việc đọc to, đọc chính âm, đọc diễn cảm…là một phương pháp trong giảng văn Quan hệ thầy trò là quan hệ một chiều, trò hiểu và rung cảm với sự rung cảm của thầy + Đọc văn/Đọc hiểu VB thì khác: GV hướng dẫn học sinh chủ động thâm nhập, chiếm lĩnh tác phẩm - văn bản -> Từ việc khác nhau đó mà việc thiết kế giáo án, tổ chức các hoạt động dạy học cũng thay đổi Dạy văn là dạy cho học sinh năng lực đọc, kĩ năng đọc để học sinh có thể đọc - hiểu bất cứ văn bản nào cùng loại Từ đọc hiểu văn mà phát triển năng lực của chủ thể học sinh: có kĩ năng nắm bắt thông tin nhanh nhất, chủ động nhận ra các giá trị văn học, những ý nghĩa xã hội, có khả năng phản hồi thông tin, trực tiếp thể nghiệm các tư tưởng, cảm xúc, góp phần tích cực vào việc tham gia vào cuộc sống xã hội với đầy đủ các giá trị: chân, thiện, mĩ trở thành con người phát triển

toàn diện - con người có văn hóa

B/ Thống nhất một số vấn đề dạy học phần Văn:

I/ Nguyên tắc dạy đọc hiểu trong trường phổ thông:

- Dạy – học văn học xuất phát từ đặc trưng của bộ môn

- HS là bạn đọc sáng tạo trong quá trình tiến hành hoạt động dạy và học văn học

- Vì vậy cần đổi mới phương pháp dạy học để HS:

+ Hoạt động nhiều hơn;

+ Thực hành nhiều hơn;

+ Thảo luận nhiều hơn;

+ Suy nghĩ nhiều hơn

Từ đó mà hình thành năng lực tự đọc hiểu

- Đảm bảo tính tích hợp

- GV cần có thái độ dân chủ trong tiếp nhận, chấp nhận những cách hiểu khác nhau của HS từ đó phát huy đối thoại, thảo luận, phân tích giá trị của từng cách hiểu, chú ý sách lược đọc, để lựa chọn cách hiểu có ý nghĩa nhất, hay

nhất, có sức thuyết phục cao

- Sử dụng có hiệu quả các phương tiện dạy học

II/ Một số vấn đề lưu ý khi thiết kế bài học:

2.1 Mục tiêu bài học: cần bám sát chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu về thái độ trong chương trình

- Điều cần bàn ở đây là quan niệm về chuẩn của 1 bộ phận không nhỏ giáo viên còn quá đơn giản, máy móc; thậm chí chỉ cần gọi tên được những tiêu chí kiến thức về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, hoặc buộc phải có những chữ tương tự trong cuốn chuẩn KT, KN thế là đảm bảo chuẩn mà chưa chú ý đến cách thức tổ chức hoạt động dạy

và học để làm sao học sinh chiếm lĩnh được đơn vị kiến thức đó Một đơn vị kiến thức nhưng có nhiều cách thức,

nhiều con đường khám phá và có nhiều cách diễn đạt khác nhau về cùng một vấn đề

-> Như vậy cần phải hiểu một cách linh hoạt, sáng tạo về chuẩn kiến thức, kĩ năng; từ đó định hướng cho việc lựa

chọn một hệ thống các hoạt động, phương pháp và phương tiện dạy học

- Trong các đơn vị kiến thức chuẩn cần xác định trọng tâm để nhấn mạnh làm rõ hơn trong bài học Những kiến thức còn lại có thể nêu định hướng cho HS tìm hiểu, giáo viên có thể đánh giá việc tiếp thu phần kiến thức này qua kiểm

tra bài cũ Ở đây chuẩn đã kết hợp với dạy học giảm tải

2.2 Chuẩn bị của GV và HS:

- GV: chuẩn bị các thiết bị dạy học, phương tiện và tài liệu dạy học cần thiết (tranh ảnh, phiếu học tập, tài liệu tham khảo, trích đoạn băng hình tư liệu ) Cân nhắc đến hiệu quả của việc sử dụng Muốn sử dụng công nghệ thông tin (CNTT), cần cân nhắc: tùy từng bài học, tùy từng đơn vị kiến thức, không nhất thiết bài học nào cũng sử dụng

- HS: chuẩn bị bài học theo sự hướng dẫn của GV Giáo viên không nên chỉ yêu cầu đơn giản đối với học sinh là soạn bài theo câu hỏi hướng dẫn trong sách giáo khoa (SGK) mà phải cụ thể hóa bằng những việc làm (kể cả việc yêu cầu HS tự làm và sưu tầm phương tiện và đồ dùng học tập), những câu hỏi phục vụ trực tiếp cho kiến thức của

tiết học tiếp theo

-> Phần chuẩn bị tương đối quan trọng, tạo tâm thế học tập cho học sinh, thu được hiệu quả cao khi học tiết học sau

đó Có thể nói: học sinh không chuẩn bị bài thì tiết học đó coi như không thành công

Trang 2

2.3 Nội dung của thiết kế:

Hoạt động của GV và HS trong một tiết học được chia theo quá trình của tiết học, có thể phân chia thành:

- Hoạt động khởi động, định hướng, tạo tâm thế cho giờ học; có các hình thức sau: kiểm tra bài cũ, kiểm tra phần chuẩn bị bài mới của học sinh, lời dẫn vào bài mới, hoặc đưa ra một trò chơi, nêu một tình huống có liên quan đến

kiến thức của bài mới (một ý kiến có tính chất phản đề, một vấn đề nghi vấn…), (Lưu ý: việc kiểm tra phần chuẩn bị bài mới của HS, có thể kiểm tra việc soạn bài, làm bài tập của học sinh bằng nhiều hình thức như: phát vấn ngay trên lớp, chấm vở soạn của một số HS, yêu cầu tóm tắt tác phẩm, kể tên nhân vật và các tình tiết chính, nêu cảm nhận ban đầu về tác phẩm…và những câu hỏi bám sát phần hướng dẫn chuẩn bị Việc kiểm tra có thể tiến hành ở đầu giờ hoặc đan xen trong giờ học nhưng bắt buộc phải kiểm tra thì mới duy trì

được thói quen chuẩn bị bài của HS, tạo tâm thế học bài mới tốt hơn.)

- Các hoạt động nhằm đạt mục tiêu của bài học về kiến thức kĩ năng bao gồm: hoạt động để chiếm lĩnh kiến thức

mới, hoạt động củng cố, hoạt động hình thành kĩ năng

- Hoạt động kết thúc tiết học, bao gồm: đánh giá, ra bài tập về nhà và nhắc học sinh tiến hành các công việc chuẩn bị

cho bài sau

2.4 Hình thức của thiết kế: Thiết kế có thể trình bày theo nhiều cách:

- Có thể gồm 2 cột:

Công việc của giáo viên Công việc của học sinh

(1) (2) Cột (1): Ghi rõ các công việc của GV sẽ hướng dẫn HS trong giờ học (cụ thể đến từng hoạt động hoặc thao tác, dự

kiến thời gian)

Cột (2): Ghi rõ yêu cầu và dự kiến mức độ về kiến thức, kĩ năng, thái độ HS cần đạt

- Có thể trình bày thiết kế theo hình thức tuyến tính (hàng ngang), không chia cột mà xâu chuỗi các hoạt động của

GV và HS…

III/ Một số vấn đề lưu ý khi tổ chức các hoạt động dạy học:

3.1 Thống nhất tên gọi một số tiêu chí của bài học:

a Các đề mục lớn:

I/ Giới thiệu chung II/ Đọc hiểu văn bản III/ Tổng kết IV/ Củng cố, luyện tập

b Các đề mục nhỏ:

- Trong phần tìm hiểu chung thường có 2 ý cần triển khai như:

Ý 1 Tác giả: Thời đại / Thân thế / Sự nghiệp (tác phẩm tiêu biểu / phong cách nghệ thuật / vị trí của tác giả trong nền

văn học) Đặc biệt nhấn mạnh đặc điểm phong cách nghệ thuật của tác giả

Ý 2 Tác phẩm: xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác, thể loại, bố cục, tóm tắt…

- Phần Đọc – hiểu văn bản trong sách Hướng dẫn chuẩn kiến thức kĩ năng đưa ra hai tiêu chí: Nội dung và nghệ thuật Lưu ý đây là kiến thức cần đạt tới chứ không phải là cấu trúc khai thác văn bản tác phẩm Trong khi hướng dẫn HS tìm hiểu tác phẩm nếu tách như thế dễ bị trùng lặp về kiến thức, và không phù hợp với việc khai thác văn bản văn học GV chủ động lựa chọn kết cấu bài giảng theo kiểu bổ dọc hay bổ ngang tùy theo cách thức tiếp cận Phải có thao tác khái quát trong từng đơn vị kiến thức được tìm hiểu, bao gồm nội dung và nghệ thuật, nếu là nhân vật thì đánh giá về nghệ thuật xây dựng nhân vật và ý nghĩa của nhân vật Thể hiện kết quả đọc hiểu của HS

- Phần tổng kết bài học: dựa trên phần ghi nhớ trong sách giáo khoa cho học sinh đánh giá tác phẩm trên hai mặt nội dung và nghệ thuật; không nên cho HS ghi 1 câu là ghi nhớ SGK như vậy đồng nghĩa với việc chưa tổng kết bài học

- Phần củng cố, dặn dò:

+ Củng cố: có thể thực hiện bằng các thao tác như: yêu cầu đọc diễn cảm bài thơ, đọc phân vai với kịch, làm bài tập trắc nghiệm nhỏ, có thể cho HS xem một cảnh của vở kịch bằng video, hệ thống bài học theo một sơ đồ tư duy… + Dặn dò: hướng dẫn HS chuẩn bị bài mới bằng những bài tập cụ thể, yêu cầu HS ghi lại vào vở

3.2 Tổ chức các hoạt động dạy học trong một giờ Đọc văn:

2.2.1 Một số phương pháp được sử dụng trong một giờ Đọc văn như:

- Dạy học vấn đáp, đàm thoại

- Dạy và học phát hiện giải quyết vấn đề

- Thảo luận nhóm…

-> Những phương pháp này được giáo viên chủ động lựa chọn sử dụng sao cho có hiệu quả, biết kết hợp các phương pháp một cách hợp lí tạo cho giờ học sự sinh động cuốn hút, học sinh vừa hứng thú học tập vừa có điều

kiện phát triển nhận thức, kỹ năng

2.2.2 Một số vấn đề cần lưu ý:

Vấn đề thứ nhất: Cần thiết kết hợp các phương pháp dạy học hiện đại với các phương pháp dạy học truyền thống

- Tiếp tục sử dụng các phương pháp truyền thống một cách hợp lý:

VD: Phương pháp thuyết trình trong một giờ Đọc văn cũng rất cần thiết Vậy thuyết trình ở chỗ nào: thuyết trình trong dẫn dắt, gợi mở; thuyết trình trong giảng bình ý nghĩa của chi tiết, hình ảnh độc đáo; thuyết trình trong việc khái quát chốt lại ý nghĩa của tác phẩm… một lời giảng bình đẹp, sâu sắc có thể theo các em đi suốt cuộc đời, có tác dụng bồi đắp tâm hồn, hướng thiện; tạo sức cuốn hút cho một giờ đọc văn Có thể nói khả năng thuyết trình thể hiện năng lực

Trang 3

của người dạy văn Vấn đề là ở chỗ cần chú ý đến thời lượng nên dừng ở mức độ nào.

- Việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học hiện đại là điều rất cần được khuyến khích nhưng phải tính đến

cách thức thực hiện, hiệu quả, và được giải quyết triệt để trọn vẹn trong từng hoạt động dạy học

Thảo luận nhóm: Phải đưa ra câu hỏi thảo luận thực sự có vấn đề cần thiết phải thảo luận

Thảo luận nhóm phải để cho HS trình bày quan điểm, trao đổi, nhận xét bổ sung giữa các nhóm, người giáo viên phải biết định hướng đến những cách hiểu thống nhất, biết phân tích, lý giải và chỉ ra những cách hiểu chưa hợp lí Vấn đề thứ hai: chú ý phương pháp đọc: Đây là một trong những phương pháp quan trọng không thể thiếu trong giờ một giờ Đọc văn Có thể đọc trước khi đến lớp, đọc để tóm tắt, đọc phần tìm hiểu chung, đọc trong quá trình tìm hiểu

cụ thể, đọc củng cố…; đọc dưới nhiều hình thức: đọc to, đọc thầm, đọc cảm tính - đọc diễn cảm, đọc phân vai…GV

tùy ý lựa chọn cho phù hợp với bài học

=>Trong thực tế chúng tôi đi dự giờ của GV, phương pháp này rất nhiều khi bị bỏ qua thậm chí là cả trong giờ thi

GVG

Vấn đề thứ ba: câu hỏi đọc hiểu

* Cần phải có ý thức xây dựng hệ thống câu hỏi trong một giờ Đọc văn để sử dụng trong những phương pháp dạy

học khác nhau

* Nguyên tắc:

- Ngoài những câu hỏi liên quan đến tác giả và những kiến thức khái quát về tác phẩm; ở phần đọc hiểu chi tiết, chỉ nêu những câu hỏi về những từ, những câu, những liên kết mà chỉ có hiểu đúng chúng thì mới nắm được ý nghĩa

văn bản

- Hệ thống câu hỏi này cũng nên thể hiện các mức độ của tư duy mang tính phân hóa phù hợp với từng đối tượng

học sinh từ dễ đến khó:

+ Câu hỏi nhận biết cần nêu câu hỏi yêu cầu HS kể lại hoặc tóm tắt để kiểm tra HS phần đọc, lựa chọn các chi tiết,

hình ảnh tiêu biểu…phù hợp HS trung bình, yếu

+ Câu hỏi thông hiểu (đọc có suy nghĩ, phân tích) hỏi về các vấn đề do chỗ trống, lạ hóa, chỗ nghĩa chưa xác định tạo nên; hỏi về ý nghĩa tác dụng của các từ ngữ then chốt, giải thích từ ngữ, câu văn khó … phù hợp HS khá, trung

bình

+ Câu hỏi vận dụng( vận dụng ở mức thấp, vận dụng ở mức cao) thể hiện sự sáng tạo: từ những hiểu biết cơ bản về một đơn vị kiến thức mà yêu cầu HS vận dụng tự tìm hiểu và thông báo kết quả…dành cho HS khá giỏi

* Một số trường hợp cần lưu ý:

- Những chỗ mà HS đọc là hiểu ngay thì không nên mất thì giờ nêu câu hỏi chúng (trừ trường hợp cá biệt)

- Tránh những câu hỏi kiểu: có - không, phải không? Có tính áp đặt và trả lời thụ động không cần suy nghĩ, tạo thói

quen nói đế, nói leo

- Không nên quá chú trọng việc khái quát nâng lên thành vấn đề chính trị, đạo đức, hoặc những vấn đề của nghiên

cứu văn học sẽ không gây hứng thú cho HS, quá sức học sinh, ví dụ (VD):

1) Tác phẩm Chí Phèo đã nêu lên vấn đề xã hội gì?

2) Những thành công và hạn chế của tác phẩm Chí Phèo?

3) Anh/ chị hiểu thế nào là nhân vật điển hình? Tại sao nói Chí Phèo là nhân vật điển hình độc đáo? (Dẫn theo GS

Đỗ Ngọc Thống)

- Những câu sử dụng kiến thức ngoài văn bản để gợi ý tìm hiểu văn bản chỉ thích hợp sau khi đã đọc hiểu tác phẩm

rồi, mở rộng suy nghĩ VD:

1) Ban đầu Nam Cao đặt tên là Cái lò gạch cũ Phần đầu truyện có hình ảnh cái lò gạch cũ bỏ không và kết thúc

truyện lại trở lại hình ảnh đó Điều đó có liên quan gì đến chủ đề của truyện?

2) Cũng viết về nỗi thống khổ của người nông dân bị áp bức, truyện Chí Phèo có gì mới mẻ so với truyện Tắt đèn? 3) Hãy phân tích mối tình giữa Thị Nở và Chí Phèo để làm sáng tỏ nhận định: Cuộc gặp gỡ với Chí Phèo đã lóe sáng

như một tia chớp trong chuỗi ngày tăm tối dẳng dặc của Chí Phèo

+ Các kiểu câu mệnh lệnh “hãy phân tích mối tình”, hãy phân tích tâm trạng, tìm hiểu nghệ thuật xây dựng nhân vật,

tìm hiểu và phân tích những hạn chế…(Dẫn theo GS Trần Đình Sử)

- Nếu những câu hỏi đưa ra học sinh không thể trả lời ngay được cũng nên có phương án câu hỏi gợi ý Vấn đề thứ tư: Sử dụng công nghệ thông tin trong một giờ Đọc văn (Tiếng Việt, Làm văn):

- Là một trong những cách làm tăng giá trị lượng tin, trao đổi thông tin nhanh hơn, nhiều hơn và hiệu quả hơn Chúng ta phải suy nghĩ việc sử dụng hợp lý và hiệu quả phù hợp nội dung tiết dạy Không nhất thiết ở tiết học nào

cũng phải sử dụng trình chiếu

+ Phải hài hòa ghi bảng và trình chiếu Những gì đã được trình chiếu rồi không nên viết lại nguyên xi lên bảng phấn + Nên trình chiếu những ngữ liệu tích hợp phức tạp, những kiến thức đối sánh, những hình ảnh tư liệu phù hợp + Những slide trình chiếu nên đánh số thứ tự và ghi rõ nội dung trình chiếu là gì ngay trong giáo án

- Tránh: đưa quá nhiều chữ, lời bình dài khó theo dõi, tạo thói quen nhìn chép cho HS; hoặc đưa vào những hình ảnh minh hoạ phản cảm, ví dụ: chim đại bàng minh họa cánh chim trong Chiều tối, một đàn con nở ra từ cái bọc trăm trứng minh họa cho câu thơ: Lạc Long Quân và Âu Cơ…; không nên dùng quá nhiều hiệu ứng, hình ảnh động, nhiều

màu sắc, rối…

Một số vấn đề về dạy học theo đặc trưng thể loại, kiểu bài chưa bàn nhiều ở đây, vấn đề này sẽ là chủ đề cho hội

thảo lần sau

Trang 4

PHẦN TIẾNG VIỆT

I Vị trí, nhiệm vụ và đặc điểm của phân môn tiếng Việt ở trường phổ thông

1 Tiếng Việt là một trong ba phân môn giữ vị trí quan trọng nhất định trong bộ môn Ngữ văn nói riêng và trong các môn học cơ bản nói chung của chương trình phổ thông Ở cấp tiểu học phân môn tiếng Việt là tên gọi thay thế cho

cả bộ môn Ngữ văn, thể hiện nhiệm vụ chủ đạo của cấp học chú trọng đến việc dạy tiếng, dạy chữ cho học sinh Lên đến cấp trung học cơ sở (THCS), trung học phổ thông (THPT) phân môn tiếng Việt chuyển dần sang vị trí tương đối

Chương trình Ngữ văn hiện nay được biên soạn theo hướng tích hợp, tiếng Việt cùng với Văn và Làm văn hướng tới việc hình thành và nâng cao kiến thức sử dụng ngôn ngữ cho người học làm cơ sở cho việc sử dụng và lĩnh hội ngôn ngữ trong mọi hoạt động giao tiếp và tư duy, rèn luyện và phát triển kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cho học sinh Tiếng Việt không bó hẹp trong phạm vi hệ thống cấu trúc mà ngày càng hướng tới tính ứng dụng, thực hành đúng

Những điều này có ảnh hưởng rất lớn đến việc dạy và học môn Ngữ văn nói chung, tiếng Việt nói riêng, định hướng

2 Tuy nhiên, với tình hình học tập bộ môn Ngữ văn hiện nay của học sinh và thói quen của giáo viên thì phân môn tiếng Việt chưa thực sự được chú ý đầu tư Hệ quả là HS sử dụng tiếng Việt còn nhiều hạn chế như: viết câu sai về ngữ pháp, dùng từ thiếu chính xác, diễn đạt không trúng và không đúng ý, câu văn không cảm xúc, chưa biết đa dạng các kiểu câu hay diễn đạt một vấn đề theo nhiều cách khác nhau trong làm văn cũng như trong thực tế giao tiếp , thậm chí, có học sinh cả bài văn là một đoạn không dấu chấm câu Vậy phải dạy tiếng Việt như thế nào cho có hiệu quả? Đây là câu hỏi đặt ra đối với mỗi GV đứng lớp II/ Khái quát về cấu trúc phân môn Tiếng Việt trong chương trình trung học phổ thông: 2.1 Đơn vị kiến thức: Chương trình Tiếng Việt hiện nay được phân đều ở các khối lớp và có thể xếp vào 4 nhóm sau:

- Loại bài thực hành: củng cố kiến thức và kĩ năng đã được học

- Nguyên tắc hướng vào hoạt động giao tiếp: phải đặt các đơn vị ngôn ngữ đưa ra giảng dạy, học tập trong hệ thống hành chức của nó (ví dụ: đặt từ trong câu, đặt câu trong đoạn, đoạn trong văn bản…) tìm hiểu kiến thức về bản thân ngôn ngữ phải gắn với việc xem xét khả năng hoạt động của nó trong giao tiếp và tư duy, trong nói và viết

- Nguyên tắc tích hợp: huy động kiến thức sẵn có về tiếng Việt với những kiến thức, kĩ năng có trong bài học để mở rộng, làm sâu sắc, nâng cao thêm kiến thức lí thuyết về tiếng Việt Tích hợp với phần Văn và Làm văn

- Phương pháp được lựa chọn phải phù hợp với đối tượng, đặc trưng bộ môn, kiểu bài; phối hợp nhiều phương pháp để giờ học không nhàm chán, tạo tâm thế chủ động, gây hứng thú cho HS

Trang 5

Phần 1: Xây dựng khái niệm lý thuyết (Bài học):

- Nên theo hướng quy nạp, từ những ngữ liệu cụ thể cho học sinh tìm hiểu, phân tích lí giải, nhận xét, từ đó mà hình

+ Hướng dẫn học sinh tìm hiểu ngữ liệu thông qua những câu hỏi gợi ý trong SGK + Có thể phân nhóm hoặc cho học sinh làm việc cá nhân sau đó báo cáo kết quả + Cho HS nhận xét ngữ liệu từ đó khái quát vấn đề lý thuyết, rút ra khái niệm

- Yêu cầu: bám sát các ngữ liệu trong SGK, kết hợp lấy thêm ngữ liệu bên ngoài phù hợp với bài học Nếu những bài

mà SGK cung cấp nhiều VD cũng không nhất thiết phải phân tích hết, nên xoáy vào một hai ngữ liệu tiêu biểu, những ngữ liệu còn lại hướng dẫn cho học sinh tự tìm hiểu Trong thực tế có rất nhiều giáo viên khi dạy phần này lại quá chú trọng đến ngữ liệu bên ngoài, thậm chí thay hoàn toàn ngữ liệu SGK Điều này cũng chứng tỏ sự công phu, sáng tạo của giáo viên Song trên thực tế sẽ mất thêm nhiều thời gian của tiết học thay vì có thể sử dụng sách giáo khoa một cách có hiệu quả hơn Ngữ liệu bên ngoài cũng có thể dùng sau khi tìm hiểu ngữ liệu trong SGK và xem nó như một bài tập vận dụng, có

sự định hướng tìm hiểu; hoặc có thể thay thế ngữ liệu trong SGK trong trường hợp thực sự đảm bảo tính chính xác,

Ví dụ: khi dạy bài Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, có thể lấy nhiều ngữ liệu là những đoạn hội thoại ghi âm được trong cuộc sống hằng ngày hoặc các đoạn hội thoại của chính các em để phân tích + Cho HS liên hệ mở rộng tới việc phát triển của ngôn ngữ hiện nay Ngôn ngữ luôn biến đổi cùng đời sống xã hội, vì thế trong quá trình dạy học tiếng Việt cần chỉ rõ cho các em về sự biến đổi này Từ đó hướng các em tới việc sử dụng tiếng Việt trong sáng hơn

Ví dụ: Khi dạy bài Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, có thể liên hệ tới ngôn ngữ 9X đang gây xôn xao dư luận hiện nay với những biến đổi về ngữ âm (thay đổi hình thức của các phụ âm đầu, phụ âm cuối và vần trong tiếng: pạn pè (bạn bè), hem thik (không thích),…), kết hợp từ (ảo tung chảo, buồn như con chuồn chuồn, chán như con gián,…)

Từ việc liên hệ này GV có thể cho HS nhận xét và thể hiện thái độ trong việc lựa chọn ngôn từ thích hợp khi giao tiếp

- Giáo viên yêu cầu HS phát biểu khái niệm trên cơ sở xem xét ngữ liệu hoặc đọc lại phần ghi nhớ trong SGK

- GV nhấn mạnh lại những nội dung cơ bản, lưu ý trọng tâm kiến thức

- Vị trí của phần luyện tập trong một bài cung cấp lý thuyết cũng rất quan trọng vì với ngôn ngữ, học kiến thức lý thuyết là hình thành kĩ năng sử dụng ngôn ngữ Thời lượng khoảng 15 phút

- Các dạng bài tập: kết hợp bài tập trong SGK và nếu còn thời gian thì lấy thêm những bài tập bên ngoài, theo các

+ Sử dụng phương pháp làm mẫu: Tập trung giải quyết một bài tập tiêu biểu, sau đó yêu cầu HS làm việc cá nhân hoặc theo nhóm, có thể lên bảng trình bày, hoặc định hướng về nhà…-> Hình thức phải sinh động, linh hoạt + Có thể cho HS tự lấy thêm bài tập bên ngoài theo dạng tương tự, tìm những hiện tượng ngôn ngữ trong đời sống, trong văn học có liên quan đến bài học và tìm hiểu, lý giải Hoặc giáo viên có thể đưa ra các hiện tượng ngôn ngữ

+ Sau khi thực hành, GV có thể yêu cầu HS nhắc lại kiến thức lý thuyết của tiết học, ra bài tập về nhà

Đối với những bài thực hành mà kiến thức lý thuyết lại không hề được cung cấp trong chương trình, giáo viên cũng nên nghiên cứu tìm hiểu thêm tài liệu để định hướng cho các em những hiểu biết cơ bản nhất về lý thuyết làm cơ sở

- Các loại bài tập: trước hết ưu tiên giải quyết các bài tập trong SGK, có thể lấy thêm một số các bài tập vận dụng ở ngoài (tích hợp phần Văn và từ thực tế sử dụng ngôn ngữ)

+ Một tiết thực hành thường gồm rất nhiều bài tập, từ dễ đến khó, cho nên phải đa dạng hóa cách thức tiến hành để tránh nhàm chán, mệt mỏi: chia nhóm, làm việc cá nhân, gọi HS làm bài ngay trên bảng…GV cho nhận xét, bổ sung,

+ Đối với những tiết dạy có quá nhiều bài tập, không nhất thiết phải làm hết các bài tập, mỗi loại nên cho thực hành

+ Điều quan trọng của thực hành là phải hình thành kĩ năng sử dụng ngôn ngữ cho học sinh phù hợp với đơn vị kiến thức được cung cấp

Trang 6

PHẦN LÀM VĂN

- Trước đây, Làm văn được tách riêng thành môn học Chương trình hiện nay được xây dựng trên nguyên tắc tích hợp, Làm văn trở thành một phần của bộ môn Ngữ văn và chiếm một thời lượng không nhỏ

- Vị trí của phần Làm văn quan trọng không chỉ ở thời lượng mà còn vì nó ảnh hưởng rất lớn đến việc đánh giá kết

- Tuy nhiên, do tính chất của phân môn thiên về cung cấp những kiến thức về lý thuyết kiểu bài, rèn kĩ năng nên thường được cho là kém hấp dẫn, giáo viên ngại dạy, học sinh ngại học Vậy làm thế nào để khắc phục tình trạng này? Đổi mới phương pháp dạy Làm văn như thế nào, quy trình dạy văn ra sao?

- Chú ý hình thành kĩ năng cho HS: Dạy học Làm văn là sau mỗi tiết học cần hình thành được cho học sinh những kĩ năng nhất định về kiểu bài, các thao tác nghị luận, kĩ năng nói và viết Vấn đề đặt ra là sau mỗi bài học, GV phải hướng dẫn HS khái quát lại các bước thực hiện một cách thật ngắn gọn,

dễ ghi nhớ và phải cho HS thực hành nhiều lần về cùng một kiểu bài, một thao tác nghị luận… VD: Dạng bài NLXH về một tư tưởng đạo lí, ngoài phần mở bài và kết bài có thể khái quát thành 3 bước: B1: Hiểu được tư tưởng đạo lí cần bàn là gì? (giải thích rút ra ý nghĩa khái quát)

+ Khẳng định tính đúng đắn của tư tưởng đó (vai trò, phân tích biểu hiện) + Lật ngược vấn đề, bổ sung, phê phán những quan niệm tiêu cực, trái chiều với tư tưởng đạo lí đang bàn

Kiểu bài nghị luận về một ý kiến bàn về văn học trong chương trình cơ bản ít được giáo viên quan tâm vì đây là một dạng bài khó Nhưng với các em tham dự thi chọn học sinh giỏi cũng cần thiết được trang bị, khắc sâu về kĩ năng Trong quá trình ôn luyện, giáo viên cũng cần chú ý rèn kĩ năng cho HS về kiểu bài này - Dạy, học Làm văn theo

a Tích hợp giữa ba phân môn Văn - Tiếng Việt - Làm văn (Tích hợp ngang)

Làm văn thường có bốn loại bài học: lí thuyết, thực hành luyện tập, bài viết và trả bài

+ Nội dung bài học: khái quát hình thành những kĩ năng cơ bản

- Luyện tập: giải quyết các bài tập trong SGK để khắc sâu kĩ năng thực hành cho HS Có thể đưa thêm một số đề bài luyện tập gắn với kiến thức phần Văn và Tiếng Việt phù hợp với nội dung bài học

+ Loại bài tập: kết hợp bài tập trong SGK và các bài tập vận dụng gắn với những đề bài ôn tập phần Văn, các bài

+ Hoạt động dạy học: cần đa dạng hóa các hoạt động dạy học để tránh tâm lí mệt mỏi, nhàm chán (làm việc cá nhân, làm việc theo nhóm, học sinh thực hành - GV chấm chữa ngay trên lớp )

+ Phần chuẩn bị của HS: cần ghi rõ HS phải ôn phần kiến thức nào để làm bài kiểm tra, điều này sẽ liên qua đến

Thực tế GV chỉ soạn đề bài, không thể hiện hoạt động dạy học

- Yêu cầu soạn đầy đủ các bước lên lớp, tiến trình dạy học và các hoạt động dạy học như một tiết học bình thường

- Trong tiến trình dạy học có thể thống nhất một số tiêu chí như sau: Hoạt động 1: Hướng dẫn HS tìm hiểu đề và xây dựng đáp án: hoạt động này giống như một hình thức ôn luyện, vận

Hoạt động 2: Nhận xét ưu nhược điểm (phải cụ thể, có minh họa, nhắc nhở, sửa chữa)

Trang 7

Hoạt động 3: Trả bài cho học sinh xem lại Hoạt động 4: Thống kê kết quả để theo dõi chất lượng giảng dạy từ đó điều chỉnh kiến thưc và phương pháp

- Hiện nay khuynh hướng ra đề theo hướng mở cũng là một tiêu chí đánh giá năng lực tự đọc hiểu của học sinh,

+ Đề mở trong nghị luận văn học (NLVH), nghị luận xã hội (NHXH), thậm chí ngay trong câu hỏi tái hiện + Nhất là đề thi học sinh giỏi Mấy năm gần đây cứ tập trung vào một kiểu ra đề là lấy một câu chuyện rồi yêu cầu phát biểu suy nghĩ Cũng rất hay nhưng ra mãi một kiểu thì sẽ tạo ra cảm giác nhàm chán Thậm chí có GV đi ra đề thi chọn học sinh giỏi lấy nguyên đề luyện tập trong SGK, copy trên mạng; đây là cần tránh tối đa Tạo ra những bất ngờ từ ngay những đề văn sẽ khơi dậy vốn sống, hứng thú sáng tạo ở HS

1 Đề thi của Bắc Kinh: Viết một bài viết với tiêu đề “Một nét chấm phá về Bắc Kinh”

2 Đề thi tỉnh Giang Tây: Có con chim yến nọ sau khi ấp trứng trở nên rất béo, không thể bay được cao Mẹ của chim yến khuyên nó nên tăng cường tập luyện để giảm béo, như thế mới có thể bay được cao Lấy “Chim yến giảm béo”

(2) Bước đi và dừng lại là hiện tượng thường gặp trong cuộc sống, nó đã giúp ta có được những suy nghĩ và liên tưởng về tự nhiên, xã hội, lịch sử, nhân sinh Hãy lấy chủ đề “Bước đi và dừng lại” để viết một bài viết 600 chữ

1 Viết một bài luận về một website âm nhạc, trong đó hãy phân tích tính trữ tình của một bài hát cụ thể Cho ví dụ để giúp người đọc hiểu tại sao tính trữ tình lại quan trọng với bạn

2 Những vấn nạn ở học đường, trong cộng đồng và trong thế giới rộng lớn này là khó tránh khỏi Hãy chọn một vấn nạn mà bạn quan tâm sâu sắc và viết bài luận chỉ rõ vấn đề, phân tích nguyên nhân và nêu các giải pháp có thể…

Ở Việt Nam: những năm gần đây tài liệu tham khảo đề nghị luận xã hội vô cùng phong phú, có nhiều có rất nhiều đề

VD: Viết một bài văn với chủ đề: Người chiến thắng (Hà Nội, 2008) Một bài học sâu sắc, ý nghĩa mà cuộc sống đã tặng cho em (khối chuyên THPT trường ĐH Sư phạm Hà Nội)

Trên đây là những ý kiến thống nhất có tính định hướng về quy trình và phương pháp dạy học môn Ngữ văn theo từng phân môn Khi thực hiện, GV nên chủ động linh hoạt trong từng bài học cụ thể, không nên quá cứng nhắc cứ phải thế này hay cứ phải thế kia mà quan trọng là ở tính hiệu quả Các tổ nhóm chuyên môn tiếp tục trao đổi thảo luận đóng góp ý kiến bổ sung để đạt được sự thống nhất, góp phần vào việc nâng cao chất lượng dạy và học môn Ngữ văn của tỉnh nhà

Ngày đăng: 14/12/2018, 15:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w