Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi nước ta đã có những thay đổi đáng kể và góp phần không nhỏ vào quá trình phát triển của ngành nông nghiệp, nâng cao mức sống cho người dân ở nông thôn cũng như thành thị. Chăn nuôi gà theo hướng công nghiệp ở nước ta ngày càng phát triển, cung cấp thực phẩm cho mỗi bữa ăn hằng ngày của mỗi gia đình, cung cấp thực phẩm cho trong nước và xuất khẩu. Tuy nhiên cùng với sự phát triển của đàn gà thì tình hình dịch bệnh diễn biến ngày càng phức tạp trong đó có bệnh cầu trùng. Bệnh thường xuyên xảy ra và gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế ở các trang trại nuôi gà theo hướng công nghiệp với mật độ cao. Loại kí sinh trùng này phát triển trong đường ruột nặng thì gây chết và nhẹ gây ra những tổn thương mô, ảnh hưởng đến việc tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng, tăng tính mẫn cảm với các bệnh khác. Theo Dương Công Thuận (1995) 18 bệnh cầu trùng còn làm tăng chi phí trong chăn nuôi. Theo Lê Văn Năm (2003) 11 ở Việt Nam, bệnh đã và đang gây thiệt hại nhiều về kinh tế cho người chăn nuôi do gây chết cao ở gà con (30100%), giảm sản lượng trứng ở gà đẻ (2040%), giảm tốc độ lớn của gà, tiêu tốn thêm chi phí thức ăn, chuồng trại. Đặc biệt nước ta hiện nay đã và đang nhập các giống gà ngoại, các gà giống siêu thịt và siêu trứng để đưa vào sản xuất. Trong đó có giống gà Hyline Brown là một trong những giống gà chuyên trứng cao sản và là loại gà đẻ trứng ổn định nhất trên thế giới đang được nuôi rất phổ biến ở các trại công nghiệp. Giống gà này đã được công ty TNHH ĐTK lựa chọn cho sản xuất trứng. Một công ty với năng suất trứng lên đến 500.000 quảngày, gà được nuôi theo trại khép kín nhưng cũng không tránh khỏi việc gà mắc bệnh cầu trùng vì gà nuôi quy mô lớn, quy mô công nghiệp không có sân chơi nên rất mẫn cảm với các mầm bệnh. Khi gà bị mắc bệnh cầu trùng sẽ gây chết, giảm tỷ lệ đẻ là nguyên nhân làm cho giá thành sản xuất cao và ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty. Tuy nhiên các nghiên cứu về bệnh cầu trùng trên giống gà Hyline Brown ở trong nước chưa nhiều và công ty TNHH ĐTK còn rất rất ít. Vì vậy, để góp phần hạn chế tác hại của bệnh cầu trùng gây ra trên đàn gà, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng trên gà Hyline Brown nuôi tại Công ty TNHH ĐTK Phú Thọ và phác đồ điều trị”
Trang 1MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu đề tài 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
Chương 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
2.1.1 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa và trao đổi chất ở gia cầm 3
2.1.2 Đặc tính chung của bệnh cầu trùng ở gia súc, gia cầm 5
2.1.3 Tác nhân gây bệnh cầu trùng gà 7
2.1.4 Vòng đời của cầu trùng gà 10
2.1.5 Dịch tễ học bệnh cầu trùng gà 11
2.1.6 Bệnh lý lâm sàng 13
2.1.7 Phương pháp chẩn đoán bệnh cầu trùng gà 19
2.1.8 Phòng trị bệnh cầu trùng gà 20
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 24
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 24
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 28
Chương 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .30
3.1 Đối tượng nghiên cứu 30
ii
Trang 23.2 Phạm vi nghiên cứu 30
3.3 Nội dung nghiên cứu 30
3.4 Phương pháp nghiên cứu 30
3.4.1 Phương pháp lấy mẫu phân 30
3.4.2 Phương pháp kiểm tra mẫu phân 30
3.4.3 Phương pháp đánh giá cường độ nhiễm cầu trùng 31
3.4.4 Phương pháp theo dõi biểu hiện triệu chứng lâm sàng 32
3.4.5 Phương pháp mổ khám và xác định bệnh tích 32
3.4.6 Phương pháp cạo niêm mạc đường tiêu hóa 33
3.4.7 Phác đồ điều trị bệnh cầu trùng 34
3.6 Phương pháp xử lý số liệu 35
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36
4.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng ở gà theo lứa tuổi 36
4.2 Kết quả theo dõi triệu chứng lâm sàng khi gà bị bệnh cầu trùng 38
4.3 Tỷ lệ gà chết do cầu trùng theo độ tuổi 39
4.4 Bệnh tích gà mắc cầu trùng 41
4.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng theo niêm mạc đường tiêu hóa 42
4.6 Kết quả điều trị bệnh cầu trùng gà 44
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 46
5.1 Kết luận 46
5.2 Đề nghị 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47 PHỤ LỤC HÌNH ẢNH
iii
Trang 3DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng ở gà theo lứa tuổi 37
Bảng 4.2 Triệu chứng lâm sàng của gà bị nhiễm bệnh cầu trùng 38
Bảng 4.3 Tỷ lệ gà chết do cầu trùng theo độ tuổi 39
Bảng 4.4 Bệnh tích gà mắc cầu trùng 41
Bảng 4.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng theo niêm mạc đường tiêu hóa .43
Bảng 4.6 Tỷ lệ xuất hiện noãn nang cầu trùng sau khi kết thúc liệu trình điều trị 44
iv
Trang 4v
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ chu kỳ sinh học phát triển của cầu trùng 11
Hình 4.1 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở gà theo lứa tuổi 37
Hình 4.2 Biểu đồ tỷ lệ gà chết do cầu trùng theo lứa tuổi 40
Hình 4.3 Bệnh tích gà mắc cầu trùng 42
Hình 4.4 Biểu đồ tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng theo niêm mạc đường tiêu hóa 44
Hình 4.5 Biểu đồ tỷ lệ xuất hiện noãn ngang cầu trùng sau khi kết thúc liệu trình điều trị 45
vi
Trang 6Chương 1
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi nước ta đã có những thayđổi đáng kể và góp phần không nhỏ vào quá trình phát triển của ngành nôngnghiệp, nâng cao mức sống cho người dân ở nông thôn cũng như thành thị
Chăn nuôi gà theo hướng công nghiệp ở nước ta ngày càng phát triển,cung cấp thực phẩm cho mỗi bữa ăn hằng ngày của mỗi gia đình, cung cấpthực phẩm cho trong nước và xuất khẩu Tuy nhiên cùng với sự phát triển củađàn gà thì tình hình dịch bệnh diễn biến ngày càng phức tạp trong đó có bệnhcầu trùng Bệnh thường xuyên xảy ra và gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế
ở các trang trại nuôi gà theo hướng công nghiệp với mật độ cao Loại kí sinhtrùng này phát triển trong đường ruột nặng thì gây chết và nhẹ gây ra nhữngtổn thương mô, ảnh hưởng đến việc tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng, tăng tínhmẫn cảm với các bệnh khác Theo Dương Công Thuận (1995) [18 ] bệnh cầutrùng còn làm tăng chi phí trong chăn nuôi Theo Lê Văn Năm (2003) [11] ởViệt Nam, bệnh đã và đang gây thiệt hại nhiều về kinh tế cho người chăn nuôi
do gây chết cao ở gà con (30-100%), giảm sản lượng trứng ở gà đẻ (20-40%),giảm tốc độ lớn của gà, tiêu tốn thêm chi phí thức ăn, chuồng trại Đặc biệtnước ta hiện nay đã và đang nhập các giống gà ngoại, các gà giống siêu thịt
và siêu trứng để đưa vào sản xuất Trong đó có giống gà Hyline Brown là mộttrong những giống gà chuyên trứng cao sản và là loại gà đẻ trứng ổn định nhấttrên thế giới đang được nuôi rất phổ biến ở các trại công nghiệp Giống gà này
đã được công ty TNHH ĐTK lựa chọn cho sản xuất trứng Một công ty vớinăng suất trứng lên đến 500.000 quả/ngày, gà được nuôi theo trại khép kínnhưng cũng không tránh khỏi việc gà mắc bệnh cầu trùng vì gà nuôi quy môlớn, quy mô công nghiệp không có sân chơi nên rất mẫn cảm với các mầmbệnh Khi gà bị mắc bệnh cầu trùng sẽ gây chết, giảm tỷ lệ đẻ là nguyên nhânlàm cho giá thành sản xuất cao và ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty
Trang 7Tuy nhiên các nghiên cứu về bệnh cầu trùng trên giống gà Hyline Brown ởtrong nước chưa nhiều và công ty TNHH ĐTK còn rất rất ít.
Vì vậy, để góp phần hạn chế tác hại của bệnh cầu trùng gây ra trên đàn
gà, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng trên gà Hyline Brown nuôi tại Công ty TNHH ĐTK Phú Thọ và phác đồ điều trị”
Trang 8Chương 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa và trao đổi chất ở gia cầm
Gia cầm có nguồn gốc từ chim hoang dại Gia cầm có bộ xương xốpnhẹ và thân phủ lông vũ, chi trước biến thành cánh để bay, con cái đẻ trứngsau khi ấp nở thì thành gia cầm con
Gia cầm khác với động vật khác ở chỗ cường độ của các quá trình traođổi chất lớn, thân nhiệt cao từ 40-420C, gia cầm sinh trưởng nhanh
Gia cầm có cấu tạo đầy đủ các cơ quan bộ phận như: hệ tiêu hóa, hôhấp, bài tiết, tuần hoàn, sinh dục Nhưng cấu tạo giải phẫu sinh lý gia cầm lại
có nhiều điểm khác với gia súc Đặc biệt là hệ hô hấp, hệ tiêu hóa, hệ sinhdục… trong đó:
Hệ hô hấp: của gia cầm gồm phổi không có màng phổi, nằm sâu trong
xương sườn nên trao đổi khí kém nhưng được bổ sung thêm hệ thống túi khí
có khả năng chứa oxy khi căng ra điều hòa thân nhiệt, giảm trọng lượng khibơi và bay Có 9 túi khí (2 túi ở cổ, 2 túi ở ngực, 2 túi ở ngực sau, 2 túi ở bụng
và 1 túi ở xương đòn) 9 túi khí này có dung tích 130-150 ml lớn gấp 10 đến
12 lần dung tích ở phổi
Hệ bài tiết: Do gia cầm không tiết mồ hôi nên hệ hô hấp bài tiết khí và
hơi nước Thận hình dải gồm 3 thùy nằm sát 2 bên sống lưng, không có bểthận, không có bàng quang, có 2 niệu quản đổ nước tiểu vào cuối trực tràngsau đó được thải ra cùng phân Sản phẩm thải ra có Nitơ màu xám trắng đặcthù Trong 24 giờ lượng nước tiểu gà thải ra 120 ml, vịt 277 ml
Hệ tiêu hóa: Cũng có nhiều điểm khác về cấu tạo chức năng, nó bao
gồm: Khoang miệng, hầu, thực quản trên, diều, thực quản dưới, dạ dày tuyến,
dạ dày cơ, ruột non, manh tràng, trực tràng, lỗ huyệt, tuyến tụy và gan
Cấu tạo chức năng của bộ máy tiêu hóa cũng có những đặc điểm riêngbiệt Gia cầm lấy thức ăn bằng mỏ, khoang miệng không có răng và môi Mặt
Trang 9trên lưỡi có những răng rất nhỏ hóa sừng hướng về cổ họng để đưa thức ăn vềphía thực quản, thức ăn không được nghiền nhỏ mà chỉ được nước bọt thấmtrơn để dễ nuốt Thức ăn từ miệng vào thực quản, thực quản phình to tạothành diều, thức ăn được làm mềm, quấy trộn và tiêu hóa từng phần do cácmen và vi khuẩn trong thức ăn, nhờ men Amylase tinh bột được phân giảithành glucose Ở gà không có phản xạ nôn, thức ăn ở diều không trở lạimiệng được.
Sau một thời gian lưu ở diều, thức ăn được làm mềm, nghiền nhỏ 1 đến
2 giờ, khi hạt có khối lượng khoảng 3 đến 4g và ngấm đủ nước thì xuống dạdày tuyến tiêu hóa bằng các men và không giữ lâu ở dạ dày tuyến với PH4,5 - 5,8 Khi được dạ dày tuyến làm ướt, thức ăn chuyển xuống dạ dày cơ Ở
dạ dày cơ diễn ra đồng thời hai quá trình tiêu hóa là tiêu hóa men và tiêu hóa
cơ học Các men tiêu hóa được tiết ra từ dạ dày tuyến thấm vào thức ăn xuống
dạ dày cơ Tại đây sự phân hủy protein diễn ra như sau:
Protein + H2O + HCl Albumoz + Pepton
Dạ dày cơ không tiết dịch tiêu hóa, nhờ có cơ khỏe và màng sừng pháttriển mà thức ăn được nghiền nhỏ và trộn lẫn với dịch vị của dạ dày tuyến.Axit Chlohydric tác động làm cho các protein trở nên căng phồng và nhờ cómen Pepsin, chúng được phân giải thành pepton và một phần thành axit amin
Từ dạ dày cơ thức ăn đi vào ruột, thức ăn ở ruột non được trộn đều vớidịch ruột, trong dịch ruột có các men Amylase, Lipasse, Tripsin do tuyến tụytiết ra có tác dụng phân giải các chất dinh dưỡng cơ bản của thức ăn nhưgluxit, protit và lipit (nguồn men tiêu hóa do tuyến tụy cung cấp) Ruột non cócác nhung mao để tăng cường hấp thu các chất dinh dưỡng Cuối tá tràng cóống tụy và ống mật đổ vào
Dịch mật có thể dễ dàng lên dạ dày cơ do có nhu động ngược để bảo vệlớp sừng Dịch mật có chức năng nhũ tương hóa chất béo, hoạt hóa các mencủa dịch tụy, kích thích tăng nhu động ruột, giúp nhung mao hấp thụ tốt chất
Trang 10dinh dưỡng, diệt khuẩn, bảo vệ niêm mạc dạ dày khỏi bị tổn thương và
ăn mòn
Ở manh tràng quá trình phân giải gluxit, protit và lipit còn tiếp tục nhờmen đường ruột tồn tại, men do vi sinh vật tiết ra rất ít, chủ yếu là quá trìnhtái hấp thu lại nước, khoáng và vitamin Đây là nơi duy nhất phân giải mộtlượng nhỏ chất xơ (10-30%) bằng các men do vi khuẩn tiết ra Gà tiêu hóachất xơ kém nên trong khẩu phần thức ăn không nên có quá 4-6% chất xơ,nhưng trong khẩu phần không có chất xơ dễ bị rối loạn tiêu hóa
Ở gà con thức ăn đi qua đường tiêu hóa 2-4 giờ, ở gà trưởng thành mất4-5 giờ, ở gà đẻ trong giai đoạn không đẻ mất 8 giờ, gà mái ấp mất 12 giờ.Vìvậy khi gà nuốt phải noãn nang cầu trùng thì noãn nang sẽ cùng thức ănxuống ruột non, ruột già và manh tràng Do đó quá trình xâm nhập của cầutrùng vào biểu bì ruột sẽ rất nhanh (trong vài giờ)
Trong bộ máy tiêu hóa của gà, hợp chất hữu cơ phức tạp sẽ được phângiải thành các chất đơn giản như: Protit thành axit amin, gluxit thành đườngđơn, lipit thành glyxeril và axit béo Những chất này sau khi hấp thu vào máuđược đưa tới các cơ quan, bộ phận trên cơ thể gà, chúng được dùng để tạo tếbào mới, khôi phục tế bào già, tạo thành dịch tiêu hóa và cơ thể luôn xảy raquá trình phân giải, oxy hóa hợp chất hữu cơ phức tạp, để giải phóng nănglượng duy trì thân nhiệt và hoạt động Cường độ trao đổi chất phụ thuộc vàochế độ dinh dưỡng và trạng thái cơ thể gà
2.1.2 Đặc tính chung của bệnh cầu trùng ở gia súc, gia cầm
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [5] cho biết: Bệnh cầu trùng là bệnh
do đơn bào gây ra, mầm bệnh ký sinh ở đường tiêu hóa của gia súc, gia cầm,thú rừng, bò sát, cá Một số súc vật như: Trâu, bò, ngựa, dê, cừu, lợn, chó,thỏ, gà, vịt, ngan, ngỗng… đều bị cầu trùng tác động gây bệnh
Lê Văn Năm (2003) [11] cho biết: Bệnh có thể gây chết nhiều súc vật,nhất là súc vật non Bệnh gây tổn hại rất lớn đối với thỏ và gà (tỷ lệ chết caonhất ở thỏ con và gà lên đến 80-100%)
Trang 11Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [5] thì bệnh cầu trùng gà đượccoi là bệnh thứ hai sau bệnh do vi trùng gây nên Đặc điểm quan trọng củacầu trùng là vòng đời ngắn (5-7 ngày) và không cần ký chủ trung gian Tỷ lệchết từ 50-70% số gà mắc bệnh
Bệnh cầu trùng gây tổn thất lớn đối với gia cầm 1-3 tháng tuổi Gà consau khi bị bệnh thì rất còi cọc chậm lớn, trọng lượng giảm 12-30% rất khóphục hồi lại bình thường
Cùng là gia cầm nhưng mỗi loài lại có một số loài cầu trùng ký sinhriêng Cầu trùng gà không ký sinh ở ngan, ngỗng trên cùng cơ thể nhưngmỗi loài cầu trùng lại ký sinh trên một vị trí nhất định: Cầu trùng ký sinh ởmanh tràng, không ký sinh ở ruột non và ngược lại Ở gà mọi lứa tuổi đều bịnhiễm cầu trùng, nhưng ở mỗi lứa tuổi mức độ nhiễm khác nhau Gà con bịnhiễm nặng và chết nhiều hơn ở gà lớn, gà trưởng thành phần lớn là vật mangtrùng làm ảnh hưởng lớn đến sản lượng thịt và trứng
Đặc tính chung của cầu trùng:
Cầu trùng thuộc bộ Coccidia, họ Eimeridiae
Bệnh cầu trùng do động vật nguyên sinh đường ruột gia súc thuộc các
loài Eimeria và Isospora Cầu trùng có tính chuyên biệt về vật chủ nên không
lây truyền giữa các loài gia súc khác nhau
Khi cầu trùng mới theo phân ra ngoài được gọi là một kén hay một
noãn nang (Oocyt) là những bào tử trùng hình bầu dục, hình trứng hay hình
cầu, có 3 lớp vỏ, lớp ngoài cùng rất mỏng, bên trong có nguyên sinh chất lổnnhổn thành hạt, ở giữa đám nguyên sinh chất có một nhân tương đối to, cómột số cầu trùng ở đầu có chỗ lõm vào gọi là lỗ noãn nang, có một số loài cầutrùng không có lỗ noãn nang hoặc không rõ Khi ở ngoại cảnh gặp điều kiệnthuận lợi (nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng… thích hợp) thì nhân và nguyên sinhchất bắt đầu phân chia
Nếu là cầu trùng thuộc giống Eimeria thì nhân và nguyên sinh chất sẽ
hình thành 4 bào tử, mỗi bào tử lại phân chia thành 2 bào tử con Bào tử con
Trang 12có hình quả lê, chính bào tử con sẽ xâm nhập vào niêm mạc ruột, tổ chức gan
và gây những tổn thương bệnh lý
Nếu cầu trùng thuộc giống Isospara thì nhân và nguyên sinh chất sẽ
phân chia thành 2 bào tử, mỗi bào tử lại phân chia thành 4 bào tử con, cuối
cùng hình thành 8 bào tử con giống Eimeria và cũng xâm nhập vào niêm mạc ruột Giống Isospara ít gặp hơn và thường thấy ở chó, mèo
Có những loại cầu trùng chỉ gây hại cho gà ở lứa tuổi nhất định như:
Eimeria tenella chủ yếu gây bệnh cho gà dưới 45 tuổi, Eimeria brunette gây
bệnh cho gà lớn
Gà mọi lứa tuổi đều bị nhiễm cầu trùng nhưng tác hại ở mỗi lứa tuổi làkhác nhau Gà con bị bệnh nặng và chết nhiều hơn gà lớn Gà lớn chủ yếu ởdạng mang trùng
Trong chăn nuôi gia cầm, hiện tượng cầu trùng rất đa dạng nó luôn gắnliền với vệ sinh thú y kém Gà nuôi nhốt tập trung mật độ cao, khi nuôi dưỡngkém thì bệnh phát triển mạnh và trầm trọng
2.1.3 Tác nhân gây bệnh cầu trùng gà
Nguyễn Thị Kim Lan (1999) và cs [5] cho biết: Cho tới nay người ta
đã phát hiện được 9 loại cầu trùng thuộc giống Eimeria gây bệnh cho gà và
gây thiệt hại lớn là:
Eimeria acervulina Eimeria hagani
Eimeria necastrix
Theo tác giả Phan Lục và Bạch Mã Điền (1999) [10] cho biết ở ViệtNam có nhiễm 6 loại cầu trùng:
Trang 13Đặc điểm 9 loại cầu trùng gây bệnh cho gà:
Eimeria tenella
Đây là loài phổ biến rộng rãi nhất, noãn nang hình trứng bao bọc bởihai lớp vỏ màu xanh nhạt, ở một đầu noãn nang có hạt cực Tỷ lệ dài/rộng củanoãn nang là 1,16µm Thời gian hình thành bào tử con từ 18-48 giờ Khi nhiệt
độ thấp thời gian hình thành bào tử kéo dài hơn còn khi nhiệt độ tăng trên
300C thì sự hình thành bào tử dừng lại, các nang trứng chết Qua sinh sản bào
tử, các nang trứng phát triển thành 4 bào tử kích thước 4 x 8µm, mỗi bào tử
có 2 thể bào tử
Cầu trùng Eimeria tenella phát triển trong manh tràng nhưng cũng có
thể ở các phần ruột khác, thời kỳ cầu trùng phát triển trong cơ thể gà là 10ngày tuổi, cầu trùng thải nang trứng vào ngày thứ 6 đến ngày thứ 7 sau khinhiễm vào cơ thể Số lượng nang trứng thải ra tối đa trong 3-4 ngày đầu,những ngày tiếp theo cường độ nang trứng thải ra giảm dần, tới ngày thứ 10thì hoàn toàn không thấy nang trứng nữa
Ở môi trường bên ngoài, nang trứng Eimeria tenella khá bền vững Cầu
trùng này giữ được khả năng gây bệnh sau khi nằm trong đất suốt năm Nơi
cư trú là manh tràng nên chúng gây tổn thương rất nặng ở đây Các giai đoạnphát triển nội sinh, nhất là cơ thể phân lập đời 2, khi phát triển thành số lượnglớn trong thành ruột sẽ phá hủy niêm mạc ruột gây chảy máu, xoang chứa đầycác biểu bì bị phá hoại, những thành phần hữu hình của máu và những dạngcầu trùng ở các giai đoạn khác nhau
Do tổn thương nhiều đám lớn trong ruột nên chức năng tiêu hóa bị rốiloạn, màng niêm mạc bị tổn thương là cửa để các vi khuẩn, các độc tố tạo rakhi phân hủy các chất trong manh tràng xâm nhập vào cơ thể
Eimeria acervulina
Đây là loại cầu trùng mới tìm thấy ở nước ta, chúng có độc lực không mạnh.Noãn nang hình trứng, không màu, có khối nguyên sinh chất chưa hình thành,bào tử có dạng hạt, ở đầu hẹp có một hay nhiều hạt cực, đầu to có nhân phân
Trang 14cực, vỏ bọc nhẵn Giai đoạn nội sinh, loại cầu trùng này ký sinh ở tá tràng,gây ra quá trình viêm ở thể cấp tính Tỷ lệ dài/rộng của noãn nang là 1,25µm.
Eimeria maxima
Là loại cầu trùng có độc lực cao nhưng khả năng gây bệnh thấp hơn
Eimeria tenella, noãn nang có màu nâu vàng, hình trứng vỏ hơi sần sùi, hạt
cực ở đầu hẹp Trong noãn nang và trong bào tử đều không có thể cặn Quátrình nội sinh diễn ra dọc chiều dài ruột non nhưng nhiều hơn cả là phần trước
và phần giữa Tỷ lệ dài/rộng của noãn nang là 1,47µm Khối nguyên sinh chấttrong những cầu trùng chưa hình thành bào tử thì có dạng hình tròn (hình hạttròn) Quá trình sinh bào tử kéo dài từ 21-24 giờ Thường ký sinh ở giữaruột non
Eimeria mitis
Là loài cầu trùng có độc lực yếu Noãn nang hình cầu, không màu.Khối nguyên sinh chất đều đặn, nang trứng có hạt cực Cầu trùng ký sinh ởtuyến đầu ruột non Sau khi nhiễm vào cơ thể 36 giờ trong các tế bào biểu bìnhung mao thấy những thể phân lập thành thục, thường có 6-12 thể phânđoạn, các giao tử được hình thành vào ngày thứ 5 Tỷ lệ dài/rộng của noãnnang là 1,09µm
Eimeria necastrix
Đây là loại cầu trùng có độc lực khá cao, song mức độ phổ biến và khả
năng gây bệnh của nó thấp hơn loài Eimeria tenella Nang trứng không có
màu, hình trứng hoặc hình bầu dục, không có lỗ noãn nang, ở một trong haiđầu nang trứng có hạt cực Ở những cầu trùng chưa hình thành bào tử, nguyênsinh chất không rõ
Thời gian sinh sản bào tử là 48 giờ Thời gian xâm nhập trong cơ thể
gà là 138-140h Gà con từ 2-5 tuần tuổi cảm nhiễm mạnh với cầu trùng này.Thường ký sinh ở ruột non và cả manh tràng Tỷ lệ dài/rộng của noãn nang
là 1,19µm
Trang 15Eimeria brunettic
Loài cầu trùng này có độc lực tương đối cao nhưng không bằng Eimeria
tenella và Eimeria necastrix, các nang trứng có hình trứng, không màu Trong
noãn nang có một hoặc một số hạt cực Giai đoạn nội sinh diễn ra ở ruột già
và phần cuối của ruột non Tỷ lệ dài/rộng của noãn nang là 1,31µm
Eimeria mivatti
Sức gây bệnh không mạnh Noãn nang hình cầu, không màu, có hạtcực Giai đoạn nội sinh diễn ra ở ruột non gây tổn thương tế bào nội mônhung mao tạo ra những khe, những hốc trên suốt phần ruột non
2.1.4 Vòng đời của cầu trùng gà
Tất cả các loài cầu trùng đều có vòng đời khá phức tạp và chúng đềuphát triển theo một vòng đời chung Việc hiểu biết về vòng đời của chúng rấtquan trọng trong việc chẩn đoán, điều trị, phòng bệnh và có những kế hoạchđiều chỉnh loại ký sinh trùng này
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (1999) và cs [5]: Chu trình phát triển cầutrùng gà gồm 2 giai đoạn phát triển: Giai đoạn ở ngoài tự nhiên và giai đoạn ởtrong cơ thể ký chủ
Giai đoạn 1: Phân gà thải ra có noãn nang (Oocyst) Gặp điều kiện
thích hợp về nhiệt độ, độ ẩm, noãn nang phát triển thành bào tử (cầu trùng
Eimeria phát triển thành 4 bào tử) Lúc đó trở thành noãn nang gây nhiễm
(Oocyst gây nhiễm).
Trang 16Giai đoạn 2: Giai đoạn ở trong cơ thể ký chủ: Gà nuốt noãn nang gây
nhiễm, vào tới ruột, noãn nang vỡ ra giải phóng 4 bào tử gọi là Trophotozoit bám vào tế bào biểu mô ruột, tiếp tục phát triển thành Schizontes Schizontes tiếp tục phát triển và phân chia tạo thành Schizogonie và vỡ ra thành nhiều
Schizogoit Schizogoit tiếp tục phát triển thành Merozoit rồi thành tế bào đực
(tiểu phố tử) và tế bào cái (đại phối tử) Tế bào đực và cái kết hợp với nhau
tạo thành hợp tử rồi thành noãn nang (Oocyst) Thời gian hoàn thành vòng
đời: 5-7 ngày
Noãn nang Noãn nang gây nhiễm Bào tử
Schironotes
(Oocyst) (Oocyst gây nhiễm) (Trophotozoit)
Tế bào cái Schizogonie
Tế bào đực(Tiểu phối tử)
Hình 2.1 Sơ đồ chu kỳ sinh học phát triển của cầu trùng
2.1.5 Dịch tễ học bệnh cầu trùng gà
Đường nhiễm bệnh là do gà nuốt phải noãn nang cầu trùng có sức gâynhiễm Noãn nang cầu trùng trong phân gà lẫn vào thức ăn, nước uống, đất,
Trang 17nền chuồng, dụng cụ chăn nuôi, trở thành nguồn gây nhiễm bệnh Các loạichim, gia súc, gia cầm, ruồi… đều có thể là nguồn gieo rắc mầm bệnh Theo
Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [4], Oocyst khi bị hút vào trong ruột
ruồi, vẫn còn khả năng gây bệnh trong thời gian 24 giờ
Sức đề kháng của noãn nang cầu trùng rất mạnh, ở trong đất có thể duy trìsức sống 4-9 tháng và 15-18 tháng ở sân chơi râm mát Môi trường ẩm ướt vànhiệt độ ôn hòa là điều kiện thuận lợi nhất cho cầu trùng phát triển Nhiệt độ22-300C chỉ mất 18-36 giờ thì cầu trùng phát triển thành những bào tử con Sức đề kháng của noãn nang đối với nhiệt độ cao và khô hạn tương đối yếu.Khi độ ẩm 2-30%, nhiệt độ 18-400C thì E.tenella sau 1-5 ngày sẽ bị chết
Khi gia cầm được nuôi dưỡng quản lý không tốt sẽ tạo điều kiện chocầu trùng phát triển mạnh và gây bệnh nặng Thức ăn thiếu sinh tố cũng làđiều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển mạnh Vì vậy, gà nuôi trong môitrường ẩm ướt, sân chơi quá hẹp, thức ăn chất lượng không tốt, điều kiện vệsinh kém… là điều kiện thuận lợi cho bệnh cầu trùng phát triển và lây lan.Bệnh cầu trùng thường tiến triển âm ỉ làm cho con vật chậm lớn, sức đềkháng yếu dễ mắc bệnh kế phát Và khi điều kiện thuận lợi, cầu trùng pháttriển thành ổ dịch lớn, mang tính chất hủy diệt Tỷ lệ chết do cầu trùng ở gàcon có thể lên tới 100%, những con ốm thì mchậm lớn, giảm từ 12-30% trọnglượng, sức đẻ giảm gây ảnh hưởng xấu tới hiệu suất của gà
Thời gian xâm nhập của cầu trùng vào vật chủ diễn ra rất nhanh Natt
(1995) [27] cho biết, cầu trùng Eimeria acervulina sau khi nhiễm vào cơ thể
gà 1 giờ 30 phút, các bào tử đã giải phóng ra trong tá tràng và chỉ 54 giờ saukhi bị nhiễm, các bào tử đã có trong tế bào biểu bì ruột, sau đó 16 giờ chúngbắt đầu nhân lên, ba ngày sau khi xâm nhiễm, thế hệ II đã xâm nhập vào tếbào biểu bì
Gà công nghiệp rất mẫn cảm với bệnh cầu trùng vì sức đề kháng kém.Trong một đàn chỉ cần một vài con nhiễm cầu trùng thì sau vài hôm cả
Trang 18đàn nhiễm và gây chết hàng loạt Mưa nhiều, ẩm thấp thì cầu trùng pháttriển mạnh.
2.1.6 Bệnh lý lâm sàng
2.1.6.1 Cơ chế sinh bệnh
Quá trình sinh bệnh được hình thành trước hết từ tác động trực tiếp củacăn bệnh ở các giai đoạn phát triển nội sinh của cầu trùng gà, đồng thời từ cảnhững yếu tố thứ phát do tác động của các yếu tố trên
Hầu hết các kết quả nghiên cứu đều cho rằng: Cầu trùng xâm nhập vào
tế bào biểu bì ruột gây tổn thương lan tràn niêm mạc ruột Từ đó, một sốlượng lớn tế bào biểu bì, lớp dưới niêm mạc ruột, các mạch quản thần kinh bịhủy hoại, tạo điều kiện thuận lợi cho các loài vi sinh vật khác xâm nhập vào
cơ thể Nhiều đoạn ruột mất khả năng tiêu hóa làm cho con vật bị đói daidẳng, dẫn tới ngưng đọng và phù nề các cơ quan và mô bào khác Vì vậy, quátrình sinh bệnh thường làm loãng máu, giảm bạch cầu, mạch đập chậm
Khả năng sinh sản lớn của cầu trùng làm tổn thương nơi chúng cư trú(niêm mạc ruột), vì vậy nhiều đoạn ruột không tham gia được vào quá trìnhtiêu hóa, làm cho con vật không hấp thu được thức ăn, con vật thiếu dinhdưỡng, rối loạn tiêu hóa dẫn đến tích tụ các chất độc gây phù nề các cơ quan
mô bào khác Sự phá hoại các tế bào ruột non dẫn đến trên các vùng tế bào,
mô bào bị chết vi khuẩn xâm nhập vào và gây nên quá trình viêm ruột Quátrình viêm tăng dịch rỉ viêm tiết ra nhiều gây mất cân bằng nước tiểu trong cơthể gà Đặc biệt khi mà bệnh cầu trùng ghép với các bệnh khác làm cho tỷ lệchết của gà cao hơn
Sự sinh sản mạnh mẽ trong niêm mạc ruột của cầu trùng và sự phá hủymạnh mẽ các tế bào dẫn tới hệ vi sinh vật gây mủ phát triển mạnh trên nhữngvùng protit bị chết Các vi khuẩn này làm nặng thêm quá trình viêm, gây rốiloạn quá trình hấp thu và nhu động ruột, làm mất sự cân bằng nước, từ đó làmtăng độ dính của máu, tim hoạt động khó khăn hơn
Trang 19Những xét nghiệm máu về hóa sinh và hình thái cho thấy, khi bị bệnhcầu trùng, lượng hồng cầu và hemoglobulin giảm, con vật bị thiếu máu Ngoài
ra, khi bị bệnh tiến triển ác tính thì lượng đường trong máu, catalaza và kiềm
dự trữ cũng giảm
Khi gà bị cầu trùng thì cấu trúc tiểu não cũng biến đổi Sợi thần kinhbiến mất, xuất hiện những đám có cấu trúc khác với cấu trúc bình thường vàxuất hiện những mảnh tế bào, sợi thần kinh đang trong quá trình thoái hóa
Theo thông báo của Natt (1995) [27], Eimeria tenella gây ra trong gà con
những biến đổi trong thành phần lâm ba cầu Bắt đầu từ ngày thứ 5 sau khinhiễm cầu trùng, ruột có những đám xuất huyết, cơ thể biểu hiện thiếu máu,tăng bạch cầu lympho và bạch cầu dị hình Đến ngày thứ 10 biểu hiện tăngbạch cầu ưa axit lúc này cơ thể gà bị mất máu nhiều
Theo Matrinsky và Orekop (1996) [25] cho thấy: Gà bị bệnh cầu trùng,thành phần đạm huyết bị thay đổi Ở thời kỳ đầu của bệnh trong máu gà hàmlượng đạm tổng số và gluco giảm
Số lượng tế bào hồng cầu và bạch cầu ở gà gây nhiễm noãn nang
Eimeria tenella không chiếu xạ giảm so với gà bình thường Kết quả mổ
khám cho thấy ở gà này có hiện tượng xuất huyết trong manh tràng ở mức độkhác nhau Tỷ lệ bạch cầu Eosin ở gà gây nhiễm noãn nang tăng lên so với gàbình thường, triệu chứng tăng bạch cầu Eosin có liên quan với hiện tượng gà
bị nhiễm cầu trùng theo Trần Tích Cảnh và cs (1996) [1]
Những nghiên cứu trên cho thấy sự biến đổi sâu sắc diễn ra trong cơ thể
gà bị cầu trùng, sự phát triển bệnh lý cuối cùng dẫn đến sự suy sụp trạng tháicủa gà, gà bị ốm và cuối cùng dẫn đến chết Ruột bị phá hủy có thể bị trúngđộc nặng, vận động không bình thường, mất cân bằng, cánh bị tê liệt, uốngnhiều nước, diều có nhiều dịch thể, kém ăn, thiếu máu niêm mạc và mào nhợtnhạt, phân có lẫn máu
Từ những phân tích trên cho chúng ta thấy: Không thể coi bệnh cầutrùng là bệnh chỉ riêng ở cơ quan này hay cơ quan khác, do loài này hay loài
Trang 20khác ký sinh, mà phải coi bệnh cầu trùng là một bệnh toàn thân Vì vậy, khiđiều trị bệnh cầu trùng thì ngoài việc dùng các loại thuốc đặc trị cầu trùng taphải kết hợp dùng thuốc điều trị triệu chứng, dùng thuốc tăng lực, tăng sức đềkháng và có chế độ chăm sóc nuôi dưỡng thích hợp.
2.1.6.2 Sự miễn dịch của gà đối với bệnh cầu trùng
Sau khi gà bị bệnh cầu trùng đã khỏi sẽ có sự miễn dịch đối với bệnhcầu trùng mà chúng đã nhiễm phải Tuy nhiên, sự miễn dịch của gà đối vớibệnh cầu trùng là không rõ ràng, nó phụ thuộc vào loài cầu trùng, trạng thái
cơ thể và nhiều yếu tố khác Vấn đề miễn dịch cầu trùng được rất nhiều nhàkhoa học nghiên cứu và công bố
Tyzzer (1929) [31] đã chứng minh tính đặc hiệu của miễn dịch trongbệnh cầu trùng Tác giả nhận thấy những gà khỏi bệnh với loài cầu trùng nàythì có khả năng miễn dịch chống lại loài cầu trùng ấy khi chúng xâm nhậplần sau
Theo Hondon-Smith, Beattic (1961) [23] thì thời gian miễn dịch miễn dịchtrong bệnh cầu trùng là tương đối dài và phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt
là phương pháp miễn dịch Nếu tiêm cho gà con một liều lớn noãn nang cầutrùng thì tới ngày thứ 14 ở chúng có sức đề kháng với bệnh và tới ngày thứ 42thì sức đề kháng đó giảm đi một ít Sau khi tiêm cho gà con 3 liều nang trứng,mỗi lần cách nhau một tuần thì chúng có đủ sức đề kháng và có thể tự bảo vệkhi tiêm cho chúng một liều trên liều chết Hơn nữa gà còn được bảo vệkhông bị tái nhiễm
Những loài cầu trùng gây bệnh ở tầng sâu thường kích thích cơ thể sinhmiễn dịch mạnh hơn những loại cầu trùng chỉ ký sinh ở bề mặt niêm mạc Xâm nhập qua quá trình tiêu hóa tự nhiên kích thích sản sinh miễn dịchtốt hơn tiêm thẳng vào ruột
Vật nuôi khỏe mạnh đáp ứng miễn dịch tốt hơn khi bị ốm
Trang 21Liều gây nhiễm thích hợp có tác dụng kích thích khả năng hìnhthành miễn dịch, nhưng liều quá cao có thể gây ức chế miễn dịch, thậmchí phát bệnh.
Kolapxki và cs (1980) [26] gây bệnh cho gà con bằng một liều nhỏ
mang trùng (1-5.000 Oocyst/gà) thì thấy mắc bệnh, không có triệu chứng,
nhưng gây nhiễm liều 50.000 nang trứng/gà thì gà bị cầu trùng rất nặng, cóthể chết
Cường độ miễn dịch cũng phụ thuộc vào đặc điểm phát triển các giaiđoạn nội sinh của các loài cầu trùng khác nhau Miễn dịch được tạo ra tươngđối bền vững đối với loài cầu trùng khi các giai đoạn phát triển của chúng tiến
triển và xâm nhập sâu trong mô bào E.acervulina ký sinh trong tế bào biểu bì
miễn dịch kém bền vững khi các giai đoạn phát triển của chúng chỉ phát triển
trong lớp biểu bì niêm mạc ruột Với những loài có độc lực yếu như E.mitis
thì tạo miễn dịch ngắn, không bền vững với lần cảm nhiễm sau Ngược lại các
thời kỳ nội sinh của E.tenella phát triển không chỉ trong biểu bì mà còn xâm
nhập vào lớp dưới biểu bì của niêm mạc và đôi khi còn thấy chúng ở dưới lớpsâu màng niêm mạc Với loài cầu trùng đó thì chỉ cần một liều nhỏ nang trứngtrong thời gian ngắn cũng đã đủ gây ra miễn dịch vững chắc
Phan Lục và Bạch Mã Điền (1999) [10] thử nghiệm vaccine cầu trùngcủa Trung Quốc lúc gà 3 và 6 ngày tuổi cho thấy: Tỷ lệ mắc cầu trùng giảm
do đó làm cho gà tiêu hóa tốt, khối lượng cơ thể tăng lên, tỷ lệ chết và loạithải thấp hơn, chi phí cho bệnh cầu trùng giảm
Trong các điều kiện sản xuất, ở gà lớn không cảm thụ với bệnh cầutrùng do chúng đã bị nhiễm nhiều lần ở những ngày tuổi còn non, về sau sức
đề kháng phát sinh được củng cố bằng sự tái nhiễm cầu trùng thường xuyên
2.1.6.3 Triệu chứng lâm sàng
Tùy theo mỗi loại gia cầm khác nhau mà biểu hiện triệu chứng cũng cónhững đặc điểm khác nhau Sở dĩ như vậy là vì cầu trùng trên mỗi loại giacầm là khác nhau
Trang 22Bệnh cầu trùng gà có thời gian nung bệnh ngắn (4-6 ngày) tùy thuộcvào chủng cầu trùng gà nhiễm phải, nơi cầu trùng cư trú, mức độ nhiễm bệnh,
số lượng căn nguyên xâm nhập vào cơ thể và tình trạng sức khỏe chung củađàn gà, gây bệnh cho gà ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp nhất ở gà 14-60ngày tuổi, đặc biệt là ở gà 18-40 ngày tuổi, thường bị mắc bệnh rất nặng màchủ yếu ở thể cấp tính Gà lớn thường là vật mang trùng và gây giảm 20-40%sản lượng trứng
Gà mắc bệnh thường thể hiện ở 3 thể sau:
Thể cấp tính: Thể này chủ yếu gặp ở gà con, thời gian nhiễm bệnh
ngắn, diễn ra từ vài ngày đến 2-3 tuần kèm theo các triệu chứng lâm sàng chủyếu là ủ rũ, chậm chạp, lười đi lại hay đứng tụm một chỗ, bỏ ăn, khát nước,lông cánh xõa xuống, khi đứng đầu thường nghẹo sang một bên, mắt nhắmnghiền Lúc đầu bệnh mới phát gà ỉa khó, có biểu hiện táo bón sau mấy tiếngđồng hồ thì gà ỉa phân loãng toàn nước, phân sống, màu xanh sau có màunâu vàng dần dần chuyển sang dạng sáp nâu lẫn máu và cuối cùng phân
được thải ra toàn máu tươi khi gà nhiễm phải E.tenella Lông xung quanh lỗ
huyệt bẩn bết toàn phân lẫn máu Đôi khi quan sát chúng ta còn thấy gà cócác biểu hiện triệu chứng thần kinh như bị liệt, bán liệt hoặc sã cánh, nằm tụlại một góc chuồng Quan sát bên ngoài thấy niêm mạc nhợt nhạt, con vậtgầy dần Giai đoạn cuối gà bị tê liệt rồi chết
Thể cấp tính xảy ra hết sức nhanh chóng chỉ kéo dài 2-3 ngày và tỷ lệchết do thể này gây ra có thể lên đến 90-95%, thậm chí toàn bộ số gà thínghiệm có thể chết hết nếu không can thiệp kịp thời
Thể mãn tính: Thể này hay gặp ở gà từ 4-6 tháng tuổi hoặc gà trưởng
thành Các triệu chứng lâm sàng chủ yếu hay gặp về cơ bản giống thể cấp tínhnhưng không rõ, không điển hình Bệnh kéo dài từ vài ngày đến vài tháng, gàgầy dần, chân cánh liệt nhẹ, thỉnh thoảng bị kiết lỵ, rất ít gà bị chết, thời gian
gà ốm kéo dài từ 7-15 ngày, tỷ lệ chết khoảng 25-45%
Trang 23Thể không triệu chứng: Theo nhiều tác giả thì đây là thể mang trùng
của những gà lớn, gà trưởng thành Quan sát bên ngoài thấy gà hoàn toànkhỏe mạnh, ăn uống đi lại bình thường, triệu chứng lâm sàng duy nhất ta cóthể thấy là đôi khi gà ỉa chảy, tỷ lệ đẻ không đều, năng suất trứng giảm từ20-40%, nếu kiểm tra phân thấy nhiều noãn nang cầu trùng
Bệnh tích
Gà mắc bệnh cầu trùng xác chết gầy, niêm mạc, mào tích nhợt nhạt,phân dính bết xung quanh lỗ huyệt, thường trong phân có lẫn máu Bệnh tíchchủ yếu thấy ở ruột, các cơ quan khác không rõ Mức độ biến đổi phụ thuộcvào chủng cầu trùng và lượng cẩu trùng gà nhiễm phải
Eimeria tenella: Gây bệnh tích ở manh tràng, manh tràng viêm xuất
huyết, phình to chứa đầy dịch lẫn máu hoặc có cục máu nhỏ và xốp Màngniêm mạc bị hủy hoại do đó mỏng đi và có nhiều vết loét mà ta có thể quansát từ bên ngoài
Eimeria necastrix: Ruột non sưng to, thành ruột dày lên, chất chứa
trong ruột màu vàng nhạt hoặc xám, thỉnh thoảng có lẫn cục máu, ruột mấtkhả năng nhu động
Eimeria brunetti: Bệnh tích ở phần sau đường tiêu hóa Viêm xuất
huyết ở cổ manh tràng, kết tràng và trực tràng Ở kết tràng phần lớn có nhữngđiểm trắng (ít thấy có triệu chứng của loài này)
Eimeria maxima: Gây bệnh chủ yếu ở đoạn giữa và 1/2 đoạn dưới của
ruột non, niêm mạc ruột dày lên, có nhiều điểm trắng trên niêm mạc ruột (cóthể nhìn thấy qua bề mặt lớp thành dịch)
Eimeria acervulina: Gây ra những vết trắng ở phần ruột non, tá tràng,
niêm mạc ruột non dày lên, phù và xung huyết đỏ, có một số điểm trắng
và đỏ
Eimeria hagani: Gây bệnh tích ở tá tràng, phần trước ruột non, thành
ruột có những điểm xuất huyết, niêm mạc ruột viêm cata nặng
Trang 24Kolapxki và Paskin (1980) [26] đã gây nhiễm cầu trùng cho gà con
bằng các chủng E.tenella, E.acervulina, E.maxima, E.necastrix, khi mổ
khám thấy: Niêm mạc miệng, khí quản trắng bệch phủ chất nhầy, phổi màutrắng có bọt, niêm mạc đường tiêu hóa màu xanh tím, phủ chất nhầy màuvàng xám, diều và dạ dày tuyến trống rỗng, màng niêm mạc phủ niêm dịch,trong dạ dày cơ có một ít thức ăn, tá tràng viêm chứa đầy chất niêm dịchmàu vàng, vách ruột dày lên rõ rệt, thấy rõ các điểm xuất huyết, phần giữaruột non không có biến đổi rõ rệt, manh tràng viêm xuất huyết, phình tochứa đầy chất dính có máu, trong đó có những cục máu nhỏ và xốp, váchmanh tràng mỏng đi, màng niêm mạc bị hủy hoại phủ đầy những nốt loét
Đối với gà bị nhiễm E.tenella thì bệnh tích này rất rõ.
Như vậy các vị trí bệnh lý đặc trưng cho loài, chính là một trong nhữngyếu tố quan trọng giúp cho một số nhà nghiên cứu chẩn đoán chính xác
2.1.7 Phương pháp chẩn đoán bệnh cầu trùng gà
Chẩn đoán bệnh cầu trùng phải kết hợp nhiều mặt:
Phân tích, tìm hiểu tình hình dịch tễ của địa phương như: Thời gianmắc bệnh, độ tuổi và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng…
Quan sát triệu chứng lâm sàng, bệnh tích mổ khám, chẩn đoán phânbiệt với các bệnh:
Bệnh Gumboro: Triệu chứng lông xù, lúc đầu phân loãng có màngnhầy và trắng sau đó nâu đỏ Tốc độ xảy ra nhanh trong vòng 3-7 ngày, tỷ lệchết cao Bệnh tích: Chỉ sưng túi fabricius, không sưng manh tràng
Bệnh bạch lỵ: Thương hàn, phó thương hàn và E coli: Triệu chứng
phân tiêu chảy trắng như cầu trùng ruột non Bệnh tích mổ khám là ruộtkhông sưng
Bệnh tụ huyết trùng: Cũng có triệu chứng phân đỏ có lẫn máu trongtrường hợp cấp tính, nhưng chết nhanh, tỷ lệ chết cao ở giai đoạn trên mộttháng tuổi Bệnh tích mỡ ở vành tim xuất huyết, không sưng manh tràng
Trang 25Xét nghiệm phân và đệm lót: Phương pháp này nhằm mục đích khẳngđịnh bệnh và phân loại cầu trùng gà bị nhiễm Ta có thể dùng các phươngpháp sau để xét nghiệm phân để tìm noãn nang cầu trùng:
Xét nghiệm phân trực tiếp
Xét nghiệm bằng phương pháp Fulleborn
Xét nghiệm bằng phương pháp Darling
Phương pháp phổ biến nhất là phương pháp Fulleborn và Darling
2.1.8 Phòng trị bệnh cầu trùng gà
2.1.8.1 Phòng bệnh
Phòng bệnh bằng vệ sinh: Theo Lê Văn Năm (2003) [11] để một bệnhtruyền nhiễm xảy ra cần 3 yếu tố cơ bản: căn nguyên, môi trường và các yếu
tố mang, truyền căn nguyên và vật cảm thụ
Do vậy muốn bệnh không xảy ra ta phải tìm cách hạn chế tới mức tối
đa hoặc triệt tiêu các yếu tố 1 và 2 Cụ thể là trước khi đưa gà vào nuôi:
Chuồng chăn nuôi phải được tiêu độc, khử trùng bằng việc quét dọnsạch sẽ, sau đó phun crezin 5%, sau một tuần phun lại bằng formol 1,5%, sau
đó 2 ngày quét vôi đặc
Mọi dụng cụ sau khi rửa sạch được ngâm trong crezin 5% trong 2-5 giờ
Cuối cùng sau 2 ngày mới đưa gà vào nuôi
Trước cửa chuồng gà nên có chậu thuốc khử trùng, hố sát trùng, ra vàochuồng phải đi qua đó
Trang 26Tại chuồng và xung quanh chuồng nuôi phải có biện pháp tiêu diệt cácvật cơ học hoặc sinh học có khả năng mang mầm bệnh cầu trùng như chuột,chim bồ câu, chim sẻ…
Không nuôi chung gà con với gà lớn và gà đẻ trong cùng một chuồnghay cùng một khu nuôi Thay đổi chất độn chuồng thường xuyên, sát trùngmôi trường ngoài đều đặn
Phải cách ly triệt để những gà bị bệnh Xác gà chết phải nhặt ngay rakhỏi chuồng rồi đốt, nếu mổ xác gà chết để khám thì phải mổ trong nhữngkhu quy định riêng Hàng ngày tập trung phân ủ hoặc đốt
Tăng cường khả năng kháng bệnh cho gà bằng cách chăm sóc, nuôidưỡng tốt đảm bảo các kỹ thuật chăn nuôi Vệ sinh thú y thường xuyên
Phòng bệnh bằng miễn dịch hóa học:
Đó là biện pháp cho gia cầm nuốt noãn nang cầu trùng khi gia cầmđược 4-6 ngày tuổi, sau đó cho gia cầm ăn thức ăn có trộn thuốc ức chếcầu trùng tới 20 ngày tuổi, gia cầm sẽ không nhiễm lại noãn nang cầutrùng đó nữa
Hiện nay ở Việt Nam đã có nhiều sản phẩm vaccine ngoại nhập nhưngchủ yếu được dùng cho sinh sản Tập thể nhóm tác giả của Viện Chăn nuôi đãsản xuất được vaccine phòng bệnh cầu trùng Theo Trần Tích Cảnh (1996) và
cs [1] kết quả kiểm tra khả năng được bảo vệ của gà sau khi phòng vaccinecho thấy, gà ở các lô thí nghiệm đều không bị chết, còn gà ở lô đối chứng tỷ
lệ chết lên tới 94-96% Điều này cho thấy, gà được phòng bệnh cầu trùngbằng vaccine được bảo hộ rất cao
Trang 27Phòng bệnh bằng thuốc:
Đây là phương pháp được áp dụng rộng rãi nhất hiện nay Thuốc đượctrộn vào thức ăn hay pha vào nước uống với liều bằng nửa liều điều trị và nó
sẽ có tác dụng ngăn chặn sự phát triển hầu hết của các loại cầu trùng
Sau đây là một số loại thuốc thường dùng:
- Avicoc: Đây là chế phẩm của hãng Avitec (Pháp), thành phần củathuốc gồm có Sulfadimexin và Diaveridin, thuốc dạng bột hòa tan, sử dụng antoàn và có tác dụng tốt Thuốc được dùng phòng bệnh bằng cách hòa tantrong nước với liều 1g/2l nước và cho gia cầm uống liên tục trong 3-5 ngày
- Rigecoccin - WS: Đây là sản phẩm của Công ty cổ phần dược và Vật
tư Thú y Thuốc có tác dụng đặc biệt mạnh chống các chủng Cầu trùng
Eimeria gây bệnh cầu trùng ở ga cầm, thuốc có thể pha vào nước nên hiệu
quả điều trị trực tiếp và tốt Liều phòng 1g/8l nước nhưng hiện tại do đã xuấthiện sự kháng thuốc nên trong chăn nuôi người ta đã tăng liều lên 1g/4l nước
- Baycox: Đây là một chế phẩm dạng dung dịch 2,5% Toltrazuril củahãng Bayer Thuốc có tác dụng với tất cả các loài Cầu trùng Liều phòng 3mg/kg P/ngày, pha với nước uống 2-3 ngày
- Anticoccid: Đây là một chế phẩm hỗn hợp của Sulfaquixalin27,3%, Sulfadimethoxin 22,35%, Trimethothrim 20%, Diaveridim 2,7%.Liều phòng 1g/10kg P, hòa tan vào nước hoặc trộn vào thức ăn cho giacầm 4-5 ngày liên tục
- Coccistop - ESB3: Là chế phẩm hỗn hợp của Sulfamid vàTrimethothrim Liều phòng 0,5 đến 1g/l nước cho uống liên tục 3-5 ngày