Nhiệm vụ của công tác bảo vệ môi trường không khí là phải tạo được môitrường không khí thật trong sạch, các yếu tố gây ô nhiễm không khí như bụi, khíđộc hại phải có nồng độ nhỏ hơn nồng độ cho phép (NĐCP). Nguồn gây ônhiễm không khí chủ yếu do hoạt động công nhiệp, giao thông vận tảI và sinhhoạt. khi thiết kế nhà công nghiệp cần phảI tính toán khả năng gây ô nhiễmkhông khí của các nguồn thải. Mục đích tính toán là kiểm tra hiệu quả của cácbiện phầpm thiết kế đã áp dụng nhằm bảo độ trong sạch của không khí tại khudân cư và sân công nghiệp , tại các vị trí lấy không khí ngoàI của các hệ thốngthông gió, đIều hoà không khí (ĐHKK) và tại các cửa vào của hệ thống thônggió tự nhiên.Kết quả tính toán về nồng độ các yếu tố độc hại có trong không khí tại khu dâncư không được lớn hơn NĐCP được quy định bởi tiêu chuản nhà nước TCVN59381995.Đối với không khí được lấy thổi vào các toà nhà dân dụng hoặc các phânxưởng công nghiệp qua cửa lấy gió ngoàI không được lớn hơn 30% nồng độgiới hạn cho phép của các yếu tố độc hại tương ứng.Nừu nồng độ vượt quá giới hạn cho phép cần phảI có biện pháp bổ xung nhằmgiảm mức độ ô nhiễm, ví dụ như tăng hiệu quả lọc, hoàn thiện quá trình và thiếtbị công nghệ, tăng độ cao nguồn thảI , giảm lượng đốt cháy nhiên liệu, thaynhiên liệu gây ô nhiễm nhiều bằng nhiên liệu ít gây ô nhiễm hơn ( thay dầu nặngbằng dầu nhẹ)…
Trang 1GIÁO TRÌNH
KIỂM SOÁT VÀ XỬ LÝ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
KHÔNG KHÍ
Trang 2CHƯƠNG 1 KHÁI NIỆM CHUNG
Nhiệm vụ của công tác bảo vệ môi trường không khí là phải tạo được môi trường không khí thật trong sạch, các yếu tố gây ô nhiễm không khí như bụi, khí độc hại phải có nồng độ nhỏ hơn nồng độ cho phép (NĐCP) Nguồn gây ô nhiễm không khí chủ yếu do hoạt động công nhiệp, giao thông vận tảI và sinh hoạt khi thiết kế nhà công nghiệp cần phảI tính toán khả năng gây ô nhiễm không khí của các nguồn thải Mục đích tính toán là kiểm tra hiệu quả của các biện phầpm thiết kế đã áp dụng nhằm bảo độ trong sạch của không khí tại khu dân cư và sân công nghiệp , tại các vị trí lấy không khí ngoàI của các hệ thống thông gió, đIều hoà không khí (ĐHKK) và tại các cửa vào của hệ thống thông gió tự nhiên
Kết quả tính toán về nồng độ các yếu tố độc hại có trong không khí tại khu dân
cư không được lớn hơn NĐCP được quy định bởi tiêu chuản nhà nước TCVN 5938-1995
Đối với không khí được lấy thổi vào các toà nhà dân dụng hoặc các phân xưởng công nghiệp qua cửa lấy gió ngoàI không được lớn hơn 30% nồng độ giới hạn cho phép của các yếu tố độc hại tương ứng
Nừu nồng độ vượt quá giới hạn cho phép cần phảI có biện pháp bổ xung nhằm giảm mức độ ô nhiễm, ví dụ như tăng hiệu quả lọc, hoàn thiện quá trình và thiết
bị công nghệ, tăng độ cao nguồn thảI , giảm lượng đốt cháy nhiên liệu, thay nhiên liệu gây ô nhiễm nhiều bằng nhiên liệu ít gây ô nhiễm hơn ( thay dầu nặng bằng dầu nhẹ)…
Khi tính toán nồng độ chất ô nhiễm và đề ra giảI pháp giảm thiểu, phòng
chống ô nhiễm, trước tiên cần phảI xác định nguồn gây ô nhiễm rồi từ đó
chọn phương pháp tính, công thức tính toán phù hợp
1.1 Không khí bị ô nhiễm và ảnh hưởng của nó tới sức khoẻ con người
1.1.1 Thành phần của không khí sạch
Không khí là yếu tố vô cùng quan trọng và không thể thiếu được với cuộc sống của con người và sinh vật Không khí không bị ô nhiễm tính theo % thể tích thì chủ yếu là nitơ 78,09%, ôxy là 20,94% Bảng 1.1 trình bày các thành phần của không khí khô không bị ô nhiễm
Bảng 1.1 Các thành phần của không khí không bị ô nhiễm
Thành phần
không khí
Công thức phân
tử
Tỉ lệ theo thể tích (%)
Tổng trọng lượng trong khí quyển (triệu tấn)
Trang 3Kripton Kr 1,0 ppm 15 000
Các bon mônô
ôxit
Không khí bao quanh chúng ta là không khí ẩm và đã bị ô nhiễmdo các chất độc hại và bụi Trong không khí thường có 5 chất ô nhiễm chính là Cacbon mono oxit (CO), Sunfua oxit (SOx) chủ yếu là SO2, Hydro cacbon (HC), Nito oxit (NOx) chủ yếu là NO2 và NO, các loại bụi
1.1.2 Bụi và các chất độc hại trong không khí
a Các loại bụi và tác hại đối với sức khoẻ con người
1 Định nghĩa
Bụi là tập hợp nhiều hạt vật chất vô cơ hoặc hữa cơ, có kích thước nhỏ bé, tồn tại trong không khí dưới dạng bụi bay, bụi lơ lửng, bụi lắng và các thể khí gồm hơi, khói, mù
Bụi bay có kích thước từ 0,1 - 10 m, gồm tro, muội khói, và những hạt chất rắn
đã nghiền nhỏ, chuyển động Brao hoặc rơi xuống mặt đất với tốc độ đều Loại bụi này thường gây tổn thương cho cơ quan hô hấp
Bụi lắng có kích thướ lớn hơn 10Mm, thường rơi có gia tốc Loại bụi này thường gây tác hại cho mắt, gây nhiễm trùng, gây dị ứng, …
2 Phân loại
Theo nguồn gốc
Bụi hữu cơ: bụi thực vật, động vật
Bụi vô cơ: khoáng chất thạch anh, bụi kim loại, bụi hỗn hợp
Theo nguyên nhân
Bụi tự nhiên
Bụi nhân tạo
Theo kích thước
Bụi lắng: hạt có kích thước > 10m
Bụi lơ lửng: hạt có kích thước = 10 - 0,1 m
Bụi khói, mù: hạt có kích thước < 0,1 m
Theo tính xâm nhập vào đường hô hấp
Bụi < 0,1 m không ở lại trong phế nang
Bụi = 0,1 - 5 m ở lại phổi từ 50-90% rất nguy hiểm đối với sức khoẻ con người
Bụi = 5 - 10 m vào phổi nhưng được phổi đào thải ra
Bụi > 10 m thường đọng lại ở ngoàI mũi
b Tác hại của bụi tới sức khoẻ con người
Trang 4 Bệnh phổi nhiễm bụi (silicose): là do trong không khí có lẫn bụi khoáng, bụi amiăng, bụi than, kim loại mà con người hít phải Khi hít thở phải những bụi trên, con người bị xơ phổi, suy giảm chức năng hô hấp
- ở Nam Phi có khoảng 30-40% thợ mỏ hàng năm chết do bị bệnh phổi nhiễm bụi đá
- ở Nhật Bản bệnh silicose chiếm tới 63% ở các mỏ kim loại và 39% ở các
mỏ than
Bệnh đường hô hấp: khi con người hít thở phải bụi hữu cơ như bông, gai, đay gây ra bệnh viêm mũi, họng, phế quản Về lâu dài bụi gai, lanh có thể gây viêm loét lòng khí phế quản, bụi len, bột thuốc kháng sinh gây dị ứng, viêm mũi, viêm phế quản, hen
Bụi vô cơ có cạnh sác nhọn gây ra viêm mũi, hít thở khó
Bụi Crom, asen gây viêm loét thủng vách mũi vùng trước sụn lá mía
Bệnh ngoài da: bụi đồng gây ra bệnh nhiễm trùng da rất khó chữa Các loại bụi tác động các tuyến nhờn làm cho da bị khô, gây viêm da, sinh mụn nhọt,
lở loét như bụi vôi, bụi đường, dược phẩm, thuốc trừ sâu
Bụi nhựa, than dưới tác dụng của ánh nắng làm cho da sưng tấy bỏng, ngứa , mắt sưng đỏ, chảy nước mắt
- Bụi kiềm, axits có thể gây bỏng giác mạc, giảm thị lực, nặng hơn có thể bị
mù
Bệnh đường tiêu hoá: bụi đường, các loại bột có thể gây sâu răng, làm hỏng men răng Bụi chì gây ra bệnh thiếu máu, làm giảm hồng cầu, và gây ra rối loạn thận
Bụi kim loại, bụi khoáng chất có cạnh sắc nhọn vào dạ dày có thể gây viêm niêm mạc dạ dày, rối loạn tiêu hoá
c Các loại chất độc và tác hại đối với sức khoẻ con người
Nguồn gốc của các chất độc hại, gây ô nhiễm môi trường không khí là do sản xuất công nghiệp, và do quá trình đốt cháy nhiên liệu Các chất độc hại đi vào cơ thể con người qua đường hô hấp, tiêu hoá, và qua da
Dựa vào tác dụng chủ yếu của chất độc hại, ta chia ra các nhóm như sau:
Nhóm 1: gây bỏng, kích thích da, niêm mạc, vi dụ như axit đặc, kiềm đặc và loãng
Nhóm 2: gây kích thích đường hô hấp trên như: Clo, NH3, SO3, SO2, NO, HCl, … Các chất này hoà tan trong niêm dịch tạo ra axit gây phù phổi cấp
Nhóm 3: chất gây ngạt - gây ngạt đơn thuần như CO2, êtan, mêtan; gây ngạt hoá học như CO hoá hợp với các chất khác làm mất khả năng vận chuyển ô
xy của hồng cầu, làm hô hấp bị rối loạn
Nhóm 4: chất tác dụng lên hệ thần kinh trung ương, gây mê, gây tê như các loại rượu, các hợp chất hydro cacbua H2S, CS2, xăng, …
Nhóm 5: chất gây độc - gây tổn thương cơ thể, ví dụ như các loại hydro cacbua, halogen, clorua metin, …; chất gây tổn thương cho hệ thống tạo máu như benzen, phenol, chì, asen, …, thuỷ ngân, mangan, phôt pho, …
Một số chất độc hại gây ô nhiẽm môi trường không khí:
Trang 51 Cacbon mono oxit (CO)
CO là loại khí không màu, không mùi, không vị, tạo ra do sự cháy không hoàn toàn của các vật liệu có chứa cacbon Trên toàn cầu, mỗi năm sinh ra khoảng
250 triệu tấn CO
CO là loại khí ngạt, nó tác dụng mạnh với hêmoglobin làm mất khả năng vận chuyển ô xy của máu Phản ứng thuận nghịch:
HbO2 + CO ↔ HbCO + O2
hít thở phải nhiều khi CO, con người có thể bị chết
Thực vật ít nhậy cảm với CO so với người và động vật, nhưng khi nồng độ CO cao (100 - 10000 ppm) làm cho lá xoăn, rụng, xoắn cây, cây non bị chết, cây cối chậm phát triển
2 Khí sunfur axit (SOx)
SO2 là chủ yếu, còn SO3 cũng có nhưng số liệu không nhiều SO2 không màu,
có vị cay, mùi khó chịu Nó sinh ra ở lò luyện gang, lò rèn, lò gia công nóng, những lò đốt than có lưu huỳnh
SO2 tác dụng với hơi nước biến thành axit sunfuric SO2 và H2SO4 ở nồng độ thấp gây kích thích hô hấp của người và động vật, với nồng độ cao gây bệnh tật,
có thể dãn đến chết người
SO2 và H2SO4 tác hại đến sức khoẻ của con người và động vật, với nồng
độ thấp gây kích thích người và động vật, với nồng độ cao có thể gây bệnh tật thậm chí gây tử vong
3 Khí Clo và HCl
Khí Clo và HCl có nhiều ở vùng nhà máy hoá chất Khi đốt cháy than, giấy, chất dẻo, và nhiên liệu rẵn cũng tạo ra khí Clo và HCl
Tiếp xúc với môi trường có nồng độ Clo cao bị xanh sao, vàng vọt, có thể bị chết
Khí Cl và HCl làm cho cây chậm phát triển, ở nồng độ cao cây bị chết
4 Chì và các hợp chất của chì
Chì là nguyên liệu được dùng rất nhiều trong công nghiệp Hơn 150 nghề (khai thác, chế biến quạng chì, sản xuất bột chì màu, sản xuất ăc qui, …) trên 400 quá trình công nghệ sử dụng đến chì
Chì rất độc đối với người và động vật Chì qua đường hô hấp, tiêu hoá, gây độc cho hệ thần kinh, sự tạo máu, và làm rối loạn hệ tiêu hoá Với nồng độ 0,182 mg/lít trong không khí dã đủ làm chết xúc vật trong 18 giờ
5 Thuỷ ngân Hg
Hg là kim loại nặng sôi ơ 357oC, nhưng bay hơi ở nhiệt độ bình thường, hơi thuỷ ngân năng hơn không khí 2 lần
Hơi thuỷ ngân thâm nhập vào cơ thể con người chủ yếu qua đường hô hấp, tiêu hoá, và da Người bị nhiễm Hg bị rung chân tay, rung mi mắt, mất ngủ, giảm trí nhớ, rối loạn thần kinh, viêm răng, lợi, đại tràng, rối loạn tiêu hoá
6 Nito oxit NOx
Trong khí quyển có nhiều loại nitơ ôxit nhưng chủ yếu là NO (nitric oxit), và NO2 (nito dioxit) NOx làm hỏng vải, han rỉ kim loại Khí NO2 với nồng độ 100 ppm có thể làm chết người và động vật chỉ sau vài phút
Trang 67 Khí ôzôn và tầng ôzôn
Trong khí quyển ôzôn sinh ra và mất đi rất nhanh, nó chỉ tồn tại trong một vài phút Khí ôzôn tập trung nhiều ở độ cao 25 km so với mặt đất (tầng bình lưu), nồng độ thường 20mg/kg ở độ cao mặt biển nồng độ ôzôn khoảng 0,05 ppm, trị
số trung bình về mùa đông là 0,02 ppm, mùa hè là 0,07 ppm
ôzôn là sản phẩm của các chất chứa ôxy (SO2, NO2,…) khi hấp thụ bức xạ tử ngoại của mặt trời
NO2 O + NO
O + O2 O3 Môi trường không khí có nồng độ ôzôn cao hơn nồng độ tự nhiên, ta nói môi trường đó bị ô nhiễm ôzôn, khi đó nó gây tác hại cho sức khoẻ con người
Nồng độ O3 = 0,02 ppm chưa có tác dụng gây bệnh rõ rệt
Nồng độ O3 = 2 - 3 ppm gây mệt mỏi sau 2 giờ tiếp xúc
Nồng độ O3 = 8 ppm nguy hiểm đối với phổi
Đối với thực vật, với nồng độ O3 = 0,2 ppm thì nhiều loại cây (cà chua, đậu,… ) sinh trưởng chậm và giảm năng suất
Với nồng độ O3 = 15 - 20 ppm cây bị đốm lá, mầm bị khô héo
O3 làm tăng nhiệt độ mặt đất, nếu nồng độ O3 trong không khí tăng lên 2 lần, có thể làm nhiệt độ mặt đất tăng lên 1oC
Ngược lại tầng O3 trong khí quyển có lợi cho con người và động vật, nó bảo vệ che chắn bức xạ tử ngoại của mặt trời Bức xạ mặt trời chiếu qua tầng O3 xuống mặt đất, phần lớn bức xạ tử ngoại được tầng O3 hấp thụ, điều tiết khí hậu và sinh thái trái đất
Như vậy nếu tầng O3 trong khí quyển bị chọc thủng sẽ gây thảm hoạ hệ sinh thái ở mặt đất
Tầng O3 bị chọc thủng do nhiễm CFCl: hợp chất của florua cacbon - clorua metan Chất freon (CmHxFyClz), chất tác nhân lạnh trong các máy lạnh, máy điều hoà không khí, bình thường chúng là các khi trơ, nhưng trong khí quyển dưới tác dụng của tia bức xạ tử ngoại của mặt trời nó giải thoát Clo Mỗi một nguyên tử Clo phản ứng dây truyền với 100 000 phân tử O3 và biến O3 thành ôxy
8 Cacbon và hiệu ứng nhà kính
Do đốt cháy nhiên liệu, than củi và hô hấp của động vật đã thải vào khí quyển một khối lượng lớn Cacbon dioxit CO2 Không phải toàn bộ khí CO2 sinh ra lưu tồn mãi trong khí quyển mà chừng độ 1/2 do thực vật và nước biển hấp thụ được hoà tan và kết tủa trong biển Các loại thực vật ở dưới biển đóng via trò chủ yếu duy trì sự cân bằng giữa khí quyển và bề mặt ddại dương Còn một lượng khí CO2 lưu tồn trong khí quyển, thực vật hút CO2 để tồn tại và phát triển, nhưng khi nồng độ CO2 trong khí quyển quá cao thì lại có tác hại
Nhiệt độ mặt đất được cân bằng giữa năng lượng mặt trời chiếu xuống mặt đất
và năng lượng nhiệt mặt đất phát vào vũ trụ
Trang 7Bức xạ mặt trời là bức xạ sóng ngắn, nó dễ dàng xuyên qua các tầng khí CO2, O3 rổi chiếu xuống mặt đất Còn bức xạ nhiệt từ mặt đất vào vũ trụ là bức xạ sóng dài, nó không có khả năng xuyên qua tầng khí CO2 mà nó bị hấp thụ do CO2 và hơi nước trong khis quyển, do đó nó làm cho nhiệt độ không khí xung quanh trái đất tăng lên, làm cho nhiệt độ mặt đất tăng dần lên Hiện tượng này gọi là hiệu ứng nhà kính Tầng CO2 tương tự như lớp kính bao che nhà kính trồng cây xanh trong mùa đông ở các xứ lạnh, chỉ khác ở đây có qui mô toàn cầu
Nhiệt độ trái đất tăng lên là nguyên nhân làm tan băng ở 2 cực trái đất, nâng cao mực nước biển, dẫn đến ngập những vùng đất thấp trũng ven biển
Nhiệt độ trái đất tăng làm thay đổi khí hậu, tăng các trận mưa, bão, lụt, … gây nhiều thiệt hại
Nếu không ngăn được hiện tượng nhà kính thì trong vòng 50 năm tới mặt nước biển dâng cao từ 1,5 - 3,5 m (Stephan Keckes) Nếu nồng độ CO2 trong khí quyển tăng gấp đôi thì nhiệt độ trung bình bề mặt trái đất tăng lên 3,6oC (G.N Plass) Trong khi theo tài liệu kihí hậu quốc tế, trong vòng 134 năm gần đây nhiệt độ trái đất chỉ tăng 0,4oC
1.1.3 Nồng độ cho phép của các loại bụi và các chất độc hại trong không khí
a Các khái niệm về nồng độ
Đại lượng biểu thị lượng chất độc hại hoà lẫn trong không khí gọi là nồng độ, ký hiệu là C, đơn vị đo là mg/l, mg/m3, hoặc g/m3
Đơn vị mg/l là khối lượng chất độc hại tính bằng mg trong 1 lít không khí
Đơn vị mg/m3 hoặc g/m3 là khối lượng chất độc hại tính bằng mg hoặc g trong
1 m3 không khí
Ngoài ra nồng độ còn được biểu diễn bằng tỷ lệ % theo thể tích, hoặc tỷ lệ % theo trọng lượng
Thông thường ta ký hiệu m (%) theo thể tích, K (%) theo trong lượng
Quan hệ giữa C với m, K như sau:
Trong đó:
M: trọng lượng phân tử của chất khí
kk: khối lượng riêng của không khí
kk: mật độ của không khí
g: gia tốc trọng trường
Nồng độ chất độc hại không phải là hằng số, mà thay đổi theo thời gian và không gian
Có các loại nồng độ sau: nồng độ trung bình tức thời, nồng độ trung bình ngày đêm, nồng độ trung bình tháng, nồng độ trung bình năm cho một điểm trong không gian, hoặc nồng dộ trung bình cho một vùng, một mặt phẳng nào đó Dựa theo mức độ tác hại của chất độc hại đối với cơ thể con người, phân ra thành các giới hạn sau: giới hạn cho phép, giới hạn nguy hiểm và mức gây tử vong
b Nồng độ cho phép của các loại bụi và các chất độc hại có trong không khí
Trang 8Ơ nước ta, chất lượng nước, không khí được nhà nước qui định ở "Các tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường", Tập I: Chất lượng nước, Tập II: Chất lượng không khí, âm học, đất - Hà Nội, 1995
Bảng 1.2 Nồng độ giới hạn cho phép của các chất độc hại trong không khí ở khu vực dân cư (mg/m3)
Tên chất Trung bình 1 giờ Trung bình 8 giờ Trung bình 24
giờ
Bảng 1.3 Nồng độ cho phép của một số chất độc hại thường gặp trong không khí ở khu vực sản xuất (mg/m3)
Tên chất Trung bình 1 giờ Trung bình 8 giờ Trung bình 24
giờ
Bảng 1.4 Quy định nồng độ phát thải cho phép của một số chất độc hại thường gặp đối với các công trình
1 Bụi khói
Ghí chú: Cột A áp dụng cho các cơ sở đang hoạt động
Trang 9Cột B áp dụng cho tất cả các cơ sở kể từ ngày cơ quan quản lý môi trường qui định
Trường hợp không khí có nhiều chất độc hại cùng tồn tại, thì con người, động vật, và thực vật đồng thời phải chụi tác độngcủa nhiều chất độc hại Khi đó ta tính nồng độ cho phép theo công thức:
1
3 3 2
2
1
Ncf n cf
cf
C C
C C
C
C
C
Trong đó
C1, C2, …, Cn: nồng độ thực tế của từng chất độc trong không khí
C1cf, C2cf, …, Cncf: nồng độ giới hạn cho phép của từng chất tương ứng Công thức trên áp dụng cho các chất độc hại có tác dụng riêng rẽ như axeton, fenol, ozon, nito dioxit NO2, S, H2S, …
1.2 các nguồn gây ô nhiễm không khí
Hai loại nguồn gây ô nhiễm không khí là: nguồn ô nhiễm thiên nhiên và nguồn ô nhiễm nhân tạo Ơ đây chỉ đề cập đến các nguồn ô nhiễm nhân tạo
1.2.1 Ô nhiễm môi trường không khí do sản xuất công nghiệp
Trong quá trình sản xuất, các chất độc hại thoát ra do bốc hơi, rò rỉ, tổn hao trên dây truyền công nghệ sản xuất, trên các phương tiện dẫn tải, …
Đặc điểm của chất thải do quá trình sản xuất là nồng độ chất độc hại rất cao và tập trung trong một khoảng không gian nhỏ, thường ở dạng hỗn hợp khí và hơi độc hại, hệ thống thông gió cục bộ thì nồng độ chất độc hại thải ra lớn nhưng lưu lượng không khí nhỏ, hệ thống hút chung thì lưu lượng không khí hút lớn nhưng nồng độ chất độc hại thấp
Khí thải công nghệ và khí thải của các hệ thống thông gió trước khi thải vào môi trường cần qua thiết bị xử lý để làm sạch sơ bộ
Căn cứ vào độ chênh lệch nhiệt độ khí thải vào không khí xung quanh ta được chia thành nguồn cao, nguồn thấp, nguồn điểm, nguồn đường, và nguồn mặt Mỗi một nghành công nghiệp, tuỳ theo dây chuyền công nghệ, tuỳ theo loại nhiên liệu sử dụng, đặc điểm sản xuất, quy mô sản xuất, loại nguyên liệu và sản phẩm của nó, tuỳ theo mức độ cơ giới hoá, tự động hoá, mức độ hiện đại, tiên tiến của nhà máy mà lượng chất độc hại sẽ khác nhau, ví dụ nhà máy hoá chất thường có chất độc hại ở thể khí, thể rắn, độ cao ống thải thường không cao nên chất thải là là trên mặt đất
Mặt khác dây truyền sản xuất không kín, đường ống và thiết bị máy móc sản xuất bị rò rỉ các chất độc hại lan toả ra môi trường xung quanh gây ô nhiễm môi trường không khí Nồng độ độc hại ở khu vực gần khu vực sản xuất, gần nguồn thải thường lớn vì chênh lệch nhiệt độ bé, khí khó bay xa, bay cao
Nhà máy luyện kim thải ra nhiều bụi và các loại chất độc hại Bụi thường có kích thước lớn, hơn 10 - 100 Mm (ở công đoạn khai thác quặng, tuyển quặngk, sàng quặng, nghiền quặng, …) Bụi nhỏ, khói thường thoát ra từ các lò cao, lò mactanh, lò luyện nhiệt Quá trình đốt nhiên liệu, luyện gang thép, luyện đồng kẽm và các kim loại khác sinh ra nhiều CO, SO2, NOx, … Chất ô nhiễm thoát ra thường có nhiệt độ rất cao 300 - 400 oC, có lúc 800 oC từ các ống khói rất cao vài chục mét
Trang 10Nhà máy điện thường dùng nhiên liệu than hoặc dầu; các ống khói, bãi than, các băng tải là nguồn gây ô nhiễm các khí thải là bụi và các chất khí khác thường có nồng độ rất cao
Nhà máy cơ khí: các phân xưởng toả ra nhiều độc hại là phân xưởng sơn, phân xưởng đúc giông như nhà máy luyện kim
1.2.2 Ô nhiễm môi trường không khí do giao thông vận tải
Giao thông vận tải cũng là một nguồn gây ô nhiễm lớn cho môi trường không khí Giao thông thải ra 2/3 khí CO và 1/2 khí NO2
Ô tô, xe máy thải ra nhiều chất độc hại, và làm tung bụi bẩn
Tàu hoả, tàu thuỷ sử dụng than, xăng, dầu cũng toả ra nhiều chất độc hại
Hàng không, máy bay đốt nhiên liệu là xăng cũng gâyô nhiễm bụi, tiếng ồn Nguồn ô nhiễm giao thông vận tải đều là nguồn thấp và là nguồn đường
1.2.3 Ô nhiễm môi trường không khí do sinh hoạt của con người
Nguồn ô nhiễm này do các bếp đun nấu, các lò sưởi sử dụng nhiên liệu than, củi, dầu, khí đốt, sinh ra cacá chất CO, CO2, NO2, H2S, …
So với hai nguồn trên, lượng độc hại toả ra không lớn song nó gây ô nhiễm cục
bộ, và vì nó ở sát cạnh nơI con người sinh hoạt và nghỉ ngơI cho nên tác hại cuả
nó lớn và nguy hiểm Đối với các khu nhà đông người , khu bếp xen lẫn với khu
ở, hệ thống thoát khói nếu không được thiết kế hợp lý sẽ ảnh hưởng xấu tới con nguời vì ô nhĩêm CO, bụi khói…
1.3 Quản lý và kiểm soát môi trường
Cần phải có biện pháp tổng hợp, thực hiện đồng thời nhiều biện pháp từ giáo dục quảng đại nhân dân thực hiện luật nghị định và các quy chế bảo vệ môi trường quản lý xã hội đến việc đầu tư kinh phí và áp dụng các biện pháp kĩ thuật thích đáng mới có thể phòng ngừa được ô nhiễm và bảo vệ môi trường
Nhà nước ta đã ban hành luật bảo vệ môi trường và nhiều văn bản dưới luật bảo vệ môi trường Đã thành lập các cơ quan chuyên chách về quản lý môi trường và các tổ chức thanh tra và kiểm soát và bảo vệ môi trường; đang hình thành mạng lưới trạm quan trắc và bảo vệ môi trường và báo động kịp thời về tình trạng ô nhiễm quá giới hạn cho phép cho các cơ quan quản lý và nhân dân biết Đó là các cơ sở pháp lý và tổ chức nền tảng rất quan trọng để bảo vệ môi trường
Trong nền sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường, mối quan tâm trước hết của người sản xuất là lợi ích kinh tế chứ không phải là bảo vệ môi trường, bảo
vệ sức khoẻ của nhân dân Vì vậy, phải tiến hành kiểm soát và đăng ký các nguồn gây ô nhiễm môi trường Mỗi nhà máy đều phải đăng ký chất thải, hình thức thải các chất độc hại, cũng như các biện pháp phòng tránh sự cố xảy ra thảm hoạ về ô nhiễm môi trường Tiến hành thu thuế xử phạt, thậm trí bắt ngừng sản xuất, nếu nhà máy thải ra các chất độc hại gây ô nhiễm môi trường quá giới hạn cho phép Có chính sách khuyến khích các nhà máy áp dụng các công nghệ sản xuất mới, có tính chất “sạch” (thải ra ít hoặc không thải ra chất độc hại) và