1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh đầu đen trên gà tại Phù NinhPhú Thọ và biện pháp phòng trị

50 196 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 117,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam là một nước nông nghiệp với ngành chăn nuôi đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của đất nước. Trong đó, chăn nuôi gia cầm là một nghề truyền thống lâu đời của người dân Việt Nam. Chăn nuôi đã và đang làm thay đổi cuộc sống, nâng cao mức thu nhập cho người dân, tạo ra các sản phẩm có giá trị kinh tế cao phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Ngày nay, nhờ những tiến bộ về di truyền, giống, thức ăn, kỹ thuật chăn nuôi và công tác thú y mà chăn nuôi gia cầm ngày càng phát triển. Khi chăn nuôi càng phát triển thì tình hình dịch bệnh cũng diễn biến phức tạp. Bên cạnh những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm gây tổn thất lớn cho ngành chăn nuôi gia cầm phải kể đến bệnh ký sinh trùng, đặc biệt ký sinh trùng đường tiêu hóa là một trong những nguyên nhân gây tiêu chảy ở gia súc, gia cầm, giảm khả năng tăng trọng. Việt Nam là nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, rất thích hợp cho các loài ký sinh trùng phát triển, ký sinh và gây bệnh trên đàn gà. Các nhà khoa học trong và ngoài nước đã phát hiện hơn 73 loài đơn bào ký sinh và gây bệnh cho vật nuôi, trong đó có đơn bào Histomonas meleagridis (H. meleagridis) gây bệnh đầu đen ở gà. Bệnh đầu đen (Histomonosis) là một bệnh ký sinh trùng nguy hiểm của các loài gia cầm, đặc biệt là gà và gà tây. Bệnh gây ra bởi sinh vật đơn bào kỵ khí có tên khoa học là H. meleagridis. Tác hại của chúng là cướp chất dinh dưỡng của vật chủ, lấy thể dịch tổ chức của vật chủ làm thức ăn làm cho con vật còi cọc, chậm lớn, tạo điều kiện cho các bệnh khác phát sinh; làm giảm sản lượng thịt, trứng, giảm phẩm chất thịt. Nặng hơn nữa, nếu vật nuôi nhiễm ký sinh trùng với số lượng nhiều có thể gây tắc ruột, thủng ruột và chết. Gà bệnh chết rải rác và thường chết về ban đêm, mức độ chết không ồ ạt nhưng sự chết kéo dài, tỷ lệ chết lên tới 85% 95%. Để góp phần làm rõ hơn về căn bệnh này cũng như tìm ra phương pháp điều trị bệnh hiệu quả, phổ biến kiến thức tới người chăn nuôi giúp người chăn nuôi có thể chủ động hơn trong việc phòng và điều trị bệnh, hạn chế tối đa thiệt hại của bệnh gây ra cho đàn gà, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh đầu đen trên gà tại Phù NinhPhú Thọ và biện pháp phòng trị”.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang phụ bìa i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các chữ viết tắt v

Danh mục các bảng vi

Danh mục hình vẽ và đồ thị vii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

H.meleagridis Histomonas meleagridis

Trang 2

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang 3

DANH MỤC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ

Hình 4.1 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm đầu đen ở 3 trại gà 29Hình 4.2 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm đầu đen của gà theo lứa tuổi 30Hình 4.3 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm đầu đen theo tình trạng VSTY 33Hình 4.4 Biểu đồ Tỷ lệ nhiễm đầu đen của gà trên loại nền chuồng

Trang 4

Chương 1

MỞ ĐẦU 1.1.Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một nước nông nghiệp với ngành chăn nuôi đóng vai tròquan trọng trong nền kinh tế của đất nước Trong đó, chăn nuôi gia cầm làmột nghề truyền thống lâu đời của người dân Việt Nam Chăn nuôi đã vàđang làm thay đổi cuộc sống, nâng cao mức thu nhập cho người dân, tạo racác sản phẩm có giá trị kinh tế cao phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuấtkhẩu Ngày nay, nhờ những tiến bộ về di truyền, giống, thức ăn, kỹthuật chăn nuôi và công tác thú y mà chăn nuôi gia cầm ngày càng pháttriển

Khi chăn nuôi càng phát triển thì tình hình dịch bệnh cũng diễn biếnphức tạp Bên cạnh những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm gây tổn thất lớncho ngành chăn nuôi gia cầm phải kể đến bệnh ký sinh trùng, đặc biệt kýsinh trùng đường tiêu hóa là một trong những nguyên nhân gây tiêu chảy ởgia súc, gia cầm, giảm khả năng tăng trọng Việt Nam là nước nằm trongvùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, rất thích hợp cho các loài ký sinh trùng pháttriển, ký sinh và gây bệnh trên đàn gà Các nhà khoa học trong và ngoàinước đã phát hiện hơn 73 loài đơn bào ký sinh và gây bệnh cho vật nuôi,

trong đó có đơn bào Histomonas meleagridis (H meleagridis) gây bệnh đầu

đen ở gà

Bệnh đầu đen (Histomonosis) là một bệnh ký sinh trùng nguy hiểm

của các loài gia cầm, đặc biệt là gà và gà tây Bệnh gây ra bởi sinh vật đơn

bào kỵ khí có tên khoa học là H meleagridis Tác hại của chúng là cướp

chất dinh dưỡng của vật chủ, lấy thể dịch tổ chức của vật chủ làm thức ănlàm cho con vật còi cọc, chậm lớn, tạo điều kiện cho các bệnh khác phátsinh; làm giảm sản lượng thịt, trứng, giảm phẩm chất thịt Nặng hơn nữa,nếu vật nuôi nhiễm ký sinh trùng với số lượng nhiều có thể gây tắc ruột,thủng ruột và chết Gà bệnh chết rải rác và thường chết về ban đêm, mức

Trang 5

Để góp phần làm rõ hơn về căn bệnh này cũng như tìm ra phươngpháp điều trị bệnh hiệu quả, phổ biến kiến thức tới người chăn nuôi giúpngười chăn nuôi có thể chủ động hơn trong việc phòng và điều trị bệnh, hạnchế tối đa thiệt hại của bệnh gây ra cho đàn gà, chúng tôi thực hiện đề tài

“Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh đầu đen trên gà tại Phù Ninh-Phú Thọ và biện pháp phòng trị”.

1.2 Mục tiêu của đề tài

- Xác định tỷ lệ nhiễm bệnh đầu đen ở gà

- Xác định triệu chứng lâm sàng và bệnh tích của gà mắc bệnh đầu đen

- Đề xuất biện pháp phòng trị bệnh đầu đen cho gà

1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về tình hình nhiễmbệnh, về bệnh học và biện pháp phòng chống bệnh đầu đen cho gà

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi

áp dụng biện pháp phòng, trị bệnh đầu đen cho gà, nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm

và thiệt hại do bệnh đầu đen gây ra; góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi,thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển

Trang 6

Chương 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Đặc điểm của đơn bào Histomonas meleagridis ký sinh ở gia cầm 2.1.1 Vị trí của đơn bào trong hệ thống phân loại động vật nguyên sinh

Căn cứ vào kết quả phân tích trình tự gen 18S rRNA của H meleagridis Cepicka I và cs (2010) cho biết, vị trí của H meleagridis

trong hệ thống phân loại nguyên sinh động vật như sau:

Loài Histomonas meleagridis

2.1.2 Hình thái học của đơn bào

Khi nghiên cứu về bệnh đầu đen ở gà tây, Smith T (1895) nhậnthấy, gà tây mắc bệnh thì gan và manh tràng là 2 cơ quan bị tổn thươngnặng nề nhất Lấy chất chứa trong manh tràng gà bệnh soi tươi, tác giả đã

tìm thấy tác nhân gây bệnh là một sinh vật đơn bào (Amoeba meleagridis

= Histomonas meleagridis) có hình tròn hoặc ovan, đường kính 8 - 15

μm Trong mô cố định và nhuộm màu, Amoeba meleagridis có đường

kính khoảng 6 - 10 μm

Tyzzer E E (1920) đã nghiên cứu hình thái của đơn bào trong môi

trường nuôi cấy, kết quả cho thấy, Amoeba meleagridis xuất hiện roi và có

khả năng chuyển động trong điều kiện yếm khí Từ đặc điểm này, Tyzzer

đã đổi tên tác nhân gây bệnh thành Histomonas meleagridis

Các nhà khoa học cho biết, cấu tạo đơn bào H meleagridis ở dạng amoeboid theo thứ tự từ ngoài vào trong gồm 3 phần: màng, tế bào chất

và nhân

Trang 7

- Màng đơn bào H meleagridis là một màng đơn, nhấp nhô giúp

đơn bào dễ dàng thay đổi hình dạng cơ thể để di chuyển kiểu làn sóng

- Tế bào chất chứa ß-glycogen, ribosome, ARN, bộ máy golgi, một

số lượng lớn hạt glycogen, một số không bào, các hydrogenosome và hệ

vi ống nằm ở lớp ngoài của tế bào chất, sát với tơ cơ hoặc theo trục dọccủa tế bào để nâng đỡ và định vị các bào quan trong tế bào chất

- Nhân hình trứng hoặc hình chữ U (hạch nhân), bao gồm mộtnucleotid, màng nhân là một màng kép

Ở dạng trùng roi, đơn bào H meleagridis có thêm một roi xuất phát

từ phía trước của tế bào, làm nhiệm vụ vận chuyển; một pelta-axostyle(tấm vi ống phát sinh từ gốc của roi, có chức năng hỗ trợ cho roi); bộ máyparabasal (sợi vân hỗ trợ bộ máy golgi)

2.1.3 Sức đề kháng của đơn bào H meleagridis

Zaragatzki E và cs (2010) cho biết, đơn bào H meleagridis có sức

đề kháng yếu với nhiệt độ thấp và độ axit cao: H meleagridis không thể

tồn tại trong môi trường đông lạnh; ở 40C đơn bào sống không quá 23 giờ;

trong điều kiện môi trường nuôi cấy có độ axit cao, H meleagridis chỉ

sống được 1 giờ

Theo Lê Văn Năm (2011) đơn bào H meleagridis có sức đề kháng

kém Sau khi theo phân ra ngoài môi trường, ở nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ

cơ thể gia cầm, đơn bào này chỉ sống được vài phút hoặc vài giờ tùy thuộcvào nhiệt độ bên ngoài, thời gian sống lâu nhất không quá 24 giờ Tuy

nhiên, H meleagridis có thể tồn tại hàng năm trong trứng của giun kim (Heterakis ganillarum) mà vẫn có khả năng gây bệnh

2.1.4 Phương thức truyền lây bệnh do đơn bào H meleagridis ở gà

H meleagridis sinh sản bằng hình thức phân đôi (trực phân), bệnh

lây truyền bằng 2 đường: trực tiếp và gián tiếp

Trang 8

* Bệnh truyền trực tiếp

Trong báo cáo ban đầu, Smith T (1895) đã cho rằng, sự lây truyền

trực tiếp bệnh đầu đen do gà tây ăn, uống phải đơn bào Amoeba meleagridis (= Histomonas meleagridis)

Horton - Smith C và Long P L (1956) đã tiến hành 2 thí nghiệm đểnghiên cứu độ pH trong đường tiêu hóa và ảnh hưởng của pH tới tỷ lệ

Kết quả thấy, trong cả 2 thí nghiệm trên gà đều nhiễm H meleagridis với tỷ lệ cao hơn nhiều so với gà đối chứng không bị bỏ đói Tác giả cho rằng, gây nhiễm H meleagridis trên gà, gà tây qua đường

miệng chỉ đạt hiệu quả khi làm giảm độ axit hoặc kiềm hóa được môitrường axit trong đường tiêu hóa trên của chúng

Liebhart D và cs (2009) cho biết, gây nhiễm đơn bào H meleagridis qua đường miệng cho gà một ngày tuổi thì tỷ lệ nhiễm bệnh

và tỷ lệ chết cao Có lẽ, do ở gà một ngày tuổi lượng axit tiết ra ở đườngtiêu hóa trên còn ít, nên gà dễ mắc bệnh

Như vậy, những đàn gà được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt thì con

đường truyền trực tiếp H meleagridis qua đường miệng để gây ra bệnh

được xem là không quan trọng

Theo Hess M và cs (2006) bệnh đầu đen xảy ra dễ dàng khi lỗhuyệt của gà khỏe tiếp xúc với mầm bệnh Ngay sau khi tiếp xúc, đơn bào

H meleagridis sẽ di chuyển ngược theo nhu động ruột vào ký sinh ở manh tràng Với đường truyền lây này, Histomonosis sẽ lây lan nhanh

Trang 9

Gây nhiễm Histomonosis cho gà qua đường miệng, tỷ lệ mắc bệnh

và chết thấp hơn so với gây nhiễm qua lỗ huyệt Cụ thể, gây nhiễm quađường miệng tỷ lệ mắc bệnh dưới 20%, tỷ lệ chết khoảng 2%, trong khigây nhiễm qua lỗ huyệt tỷ lệ mắc bệnh trên 65%, tỷ lệ chết khoảng 45%

Kết quả trên cho thấy: Có thể gây nhiễm bệnh đầu đen cho gà khỏebằng cách cho gà khỏe tiếp xúc trực tiếp với gà bệnh, hoặc đưa mầm bệnhvào gà khỏe qua đường miệng và qua lỗ huyệt Độ pH axit ở đường tiêu

hóa có thể làm chết đơn bào H meleagridis, nên khi gây nhiễm qua đường

miệng gà thường nhiễm đơn bào này với tỷ lệ thấp Khác với nhiễm quađường miệng, gà mắc bệnh đầu đen dễ dàng hơn khi gây nhiễm qua lỗhuyệt, hoặc khi lỗ huyệt của gà khỏe tiếp xúc với phân tươi mang mầm

bệnh Khi tiếp xúc với phân tươi của gà bệnh, H meleagridis sẽ di chuyển

ngược theo nhu động ruột vào ký sinh ở manh tràng và gây bệnh

* Bệnh truyền qua giun kim

Smith T (1895) đã cho ấp nở 42 trứng gà tây giống lấy từ 3 trangtrại chăn nuôi gà tây bị bệnh đầu đen Theo dõi sự phát triển của con nở ra

từ những trứng này, tác giả cho biết, đơn bào H meleagridis không lây

truyền dọc từ gà tây mẹ sang gà con qua trứng, mặc dù tác giả phát hiệnthấy gà tây con mắc bệnh đầu đen rất sớm và chết ở 12 - 14 ngày tuổi Tácgiả cho rằng, những gà tây con bị nhiễm bệnh do được nuôi trong khu đất,nơi mà đàn gà tây nuôi trước đó đã mắc bệnh đầu đen

Graybill H W (1921) là người đầu tiên phát hiện ra mối quan hệ

giữa giun kim Heterakis và đơn bào H meleagridis Tác giả đã thí nghiệm cho gà tây khỏe nuốt trứng giun kim Heterakis có sức gây bệnh thu thập

từ gà tây bị bệnh do đơn bào H meleagridis Kết quả, sau khi nuốt trứng Heterakis, gà tây xuất hiện triệu chứng của Histomonosis Theo tác giả,

bệnh đơn bào H meleagridis thực sự truyền lây qua trứng giun kim

Heterakis ganillarum Những trứng Heterakis chứa H meleagridis là

nguồn bệnh quan trọng để bệnh đầu đen phát triển Đây là một phát hiện

Trang 10

có ý nghĩa khoa học và thực tiễn vì đã xác định được tác nhân truyền bệnh

đơn bào H meleagridis

Lund E E (1960) cho biết, trứng giun kim Heterakis có sức đề

kháng tốt, ở trong đất ẩm có thể tồn tại từ 3 - 4 năm Trong khoảng thời

gian này, Histomonosis vẫn có thể xảy ra khi gà nuốt phải trứng Heterakis

có chứa đơn bào H meleagridis

Như vậy, trứng Heterakis đã bảo vệ đơn bào H meleagridis tránh

được điều kiện thời tiết khắc nghiệt của ngoại cảnh Ngoài ra, khi gia cầm

ăn phải trứng Heterakis chứa đơn bào H meleagridis, trong trứng Heterakis, đơn bào này được bảo vệ khi đi qua môi trường axit ở đường

tiêu hóa trên của gia cầm để di chuyển an toàn xuống manh tràng ký sinh

và bắt đầu quá trình gây bệnh

* Bệnh truyền qua giun đất

Theo Kemp R L và cs (1975), gà và gà tây bị nhiễm cả H meleagridis và Heterakis ganillarum khi cho chúng ăn giun đất Helodrilus gieseleri lấy từ khu vực trước đây đã xảy ra bệnh đầu đen.

Tiếp tục hâm nóng cơ thể giun đất, tác giả quan sát thấy rất nhiều ấu trùng

Heterakis nổi lên trên bề mặt cơ thể giun này

Theo tác giả, khi giun đất ăn phải trứng Heterakis chứa đơn bào H meleagridis, ấu trùng Heterakis sẽ được giải phóng trong đường tiêu hóa,

sau đó xâm nhập vào các xoang và mô cơ thể giun đất Khi gà và gà tây ăn

giun đất, trong đường tiêu hóa ấu trùng Heterakis được giải phóng khỏi giun

đất, mang theo đơn bào di chuyển đến manh tràng ký sinh và gây bệnh

Tác giả cũng cho biết thêm, trứng của Heterakis ganillarum có thể

tồn tại 3 - 4 năm trong đất, trong ký chủ dự trữ - giun đất, trứng có ấu

trùng của Heterakis ganillarum có thể tồn tại 1 năm Gà bị Histomonosis khi ăn phải giun đất hoặc trứng có ấu trùng của Heterakis chứa đơn bào

H meleagridis Tác giả cho rằng, giun đất ngoài vai trò bảo vệ ấu trùng Heterakis tránh các tác động khắc nghiệt của môi trường, nó còn giúp

Trang 11

Ngoài giun đất, thì một số loại động vật không xương sống khácnhư châu chấu, ruồi, dế … cũng đóng vai trò làm truyền lây bệnh đơn bào

H meleagridis Tuy nhiên, mức độ lây lan qua các động vật này ít hơn so với giun đất Ngoài ra, đơn bào H meleagridis có thể được phát tán từ nơi

này đến nơi khác bởi con người và các dụng cụ chăn nuôi

Kết quả các nghiên cứu trên đã chứng minh được vai trò quan trọngcủa giun kim, giun đất và một động vật không xương sống trong việctruyền tải bệnh đầu đen, là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi

có biện pháp phòng bệnh hiệu quả, nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm và thiệt hại

do đơn bào H meleagridis gây ra, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi.

2.2 Bệnh đầu đen (Histomonosis) ở gà

2.2.1 Lịch sử bệnh đầu đen ở gà

Cushman S (1894) cho biết, Histomonosis được phát hiện lần đầu

tiên vào năm 1893 ở Rhode Island Tuy nhiên, từ năm 1891 Trạm thựcnghiệm nông nghiệp tại địa phương đã nhận được báo cáo về tình hìnhdịch bệnh, trong báo cáo đã đề cập về một " bệnh khó hiểu" xuất hiện trênđàn gà tây, với triệu chứng chung là da vùng đầu bị biến đổi màu, gà tâymắc bệnh tỷ lệ chết cao, gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi

Lúc đầu, những người nông dân địa phương đã căn cứ vào triệuchứng đặc biệt quan sát được ở vùng đầu của gà tây mắc bệnh (mào thâmtím, da mép và da vùng đầu xanh xám, thậm chí xanh đen) để gọi tên bệnh

là bệnh “đầu đen”

Theo Smith T (1895), khi gà tây mắc bệnh thì gan và manh tràng bịtổn thương nặng nề nhất Tác giả đã lấy bệnh phẩm ở gan và manh tràng

gà bệnh để nghiên cứu và xác định được nguyên nhân gây bệnh là một

sinh vật đơn bào (Amoeba meleagridis), từ đó bệnh được đặt tên là bệnh viêm gan - ruột truyền nhiễm (Enterohepatitis)

Tyzzer E E (1920) đã nghiên cứu hình thái của đơn bào trong môi

trường nuôi cấy, kết quả cho thấy Amoeba meleagridis được nuôi cấy yếm

khí trong ống nghiệm xuất hiện roi và có khả năng chuyển động Lúc này,

Trang 12

tác nhân gây bệnh Amoeba meleagridis được tác giả đổi thành tên mới Histomonas meleagridis Từ đó, bệnh cũng được gọi bằng tên khoa học là Histomonoasis Tuy nhiên, vì quy định đã được đề xuất năm 1990 về việc

sử dụng hậu tố osis cho tên các bệnh ký sinh trùng, do đó bệnh có tên

khoa học là Histomonosis

Từ năm 1926 Histomonosis ở Mỹ đã nhanh chóng lây lan sang các

châu lục khác như châu Âu, Úc và Đông Á Ở Châu Âu, dịch

Histomonosis đã xuất hiện và được báo cáo ở Áo, Hà Lan, Bỉ, Ireland,

Scotland và vương quốc Anh,…

Ngày nay, Histomonosis là bệnh phổ biến trên toàn thế giới, nhất

là các nước có ngành chăn nuôi gà, gà tây theo lối thả vườn và tập trungcông nghiệp

Lê Văn Năm và cs (2010) cho biết, ở Việt Nam lần đầu tiên

Histomonosis được phát hiện thấy trên các đàn gà nuôi tập trung thả vườn

tại một số tỉnh phía Bắc vào tháng 3/2010 Hiện nay, bệnh đã xảy ra ởnhiều tỉnh, thành trên cả nước

2.2.2 Những thiệt hại kinh tế do Histomonas meleagridis gây ra

Trong những thập kỷ gần đây, Histomonosis đã gây ra thiệt hại

nghiêm trọng cho ngành chăn nuôi gia cầm, đặc biệt là gà và gà tây Nhữngnăm 1930, dịch bệnh đầu đen đã phá hủy hầu như hoàn toàn ngành chănnuôi gà tây ở khu vực Đông và Trung Tây của Hoa Kỳ Trong năm 1945,

bệnh đầu đen do H meleagridis chiếm 32,2% tỉ lệ chết của gà tây ở Bắc

Carolina Những năm tiếp theo dịch bệnh đầu đen ở gia cầm vẫn thường

xuyên phát triển, tiếp tục gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế cho ngườichăn nuôi

Từ tháng 4 năm 2003 đến tháng 3 năm 2005, ở Pháp xuất hiện113 ổ

dịch Histomonosis trên gà tây, trong đó có 15 ổ dịch ở các trang trại gà giống Năm 2009 có sự bùng nổ của dịch Histomonosis ở gà tây 9 đến11

tuần tuổi với tỷ lệ chết 24 - 68% (Sentíes - Cué G và cs (2009))

Trang 13

2.2.3 Dịch tễ học bệnh đầu đen (Histomonosis) ở gia cầm

Động vật mắc bệnh

Histomonosis thấy ở đàn gà, gà tây trên toàn thế giới Trong tự

nhiên, gà tây, gà, chim trĩ, chim công, chim cút, gà lôi, đà điểu, vịt, đều

có thể bị bệnh Trong đó gà tây mẫn cảm hơn cả (Lotfi A R và cs., 2012)

- Tình hình mắc bệnh đầu đen ở gà tây

Trong những thập kỷ gần đây, Histomonosis đã gây ra thiệt hại

nghiêm trọng cho ngành chăn nuôi gia cầm, đặc biệt là gà tây Trong năm

1930, dịch bệnh đầu đen đã phá hủy hầu như hoàn toàn ngành chăn nuôi

gà tây ở khu vực Đông và Trung Tây của Hoa Kỳ Trong năm 1945, tỷ lệ

tử vong do bệnh đầu đen chiếm 32,2% tỉ lệ tử vong của gà tây ở BắcCarolina Thời gian gần đây, dịch bệnh đầu đen ở gà tây vẫn thườngxuyên phát triển, tiếp tục gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế ở nhiềunước trên thế giới

Theo Mc Dougald L R và Fuller L (2005), gà tây mắc bệnh đơn

bào H meleagridis tỷ lệ chết cao, có thể lên đến 100%

Gia cầm bị Histomonosis tỷ lệ chết cao, chủ yếu do tổn thương ở gan.

Gà tây chết nhiều từ ngày thứ 14, sau khi xuất hiện triệu chứng lâm sàng

Gà bị Histomonosis thường tự hồi phục, trong khi gà tây mắc bệnh

có khả năng tự hồi phục kém nên tỷ lệ chết thường cao

- Tình hình mắc bệnh đầu đen ở gà

Theo Mc Dougald L R (2005), gà bị Histomonosis có tỷ lệ chết

khoảng 10%, trong khi tỷ lệ chết ở gà tây là 80 đến 100%

Ở miền Bắc nước Đức, giữa năm 1971 và 1973 đã xuất hiện

Histomonosis trên gà, gà mắc bệnh chủ yếu ở 3 - 9 tuần tuổi Tỷ lệ chết

trong đàn là 10%

Ở California, năm 2001 bệnh do đơn bào H meleagridis đã xảy ra

trên một trại gà thịt 6 tuần tuổi Nhờ chẩn đoán bệnh sớm và can thiệp kịpthời nên tỷ lệ chết thấp, chỉ khoảng 1%

Trang 14

Tất cả các giống gà đều dễ bị nhiễm đơn bào H meleagridis Gà bị

bệnh do gan tổn thương ít nên tỷ lệ chết thấp hơn so với gà tây

- Tình hình mắc bệnh đầu đen trên vịt, chim cút và các loài chim khác

AbdulRahman L (2011) đã tìm thấy đơn bào H meleagridis

trong manh tràng vịt, mặc dù vịt không thể hiện triệu chứng lâm sàng

của bệnh Lấy H meleagridis ở manh tràng vịt gây nhiễm cho gà tây,

thấy gà tây mắc bệnh

Như vậy, vịt có thể bị nhiễm đơn bào H meleagridis nhưng tính

cảm thụ không cao: vịt mắc bệnh ít thể hiện triệu chứng lâm sàng, tỷ lệchết thấp Tuy nhiên, vịt thường mang trùng và truyền bệnh cho các giacầm nhạy cảm Vì vậy, vịt là loài gia cầm đóng vai trò quan trọng trongdịch tễ học của bệnh đầu đen

Mc Dougald L R và cs (2012) cho biết, Histomonosis đã bùng

phát trong một trang trại nuôi 13.500 chim cút, làm chết khoảng 1500 controng 4 tuần Mổ khám 56 chim cút chết thấy có 55/56 mẫu manh tràng và3/56 mẫu gan bị tổn thương nghiêm trọng, điển hình của bệnh đầu đen

Công cũng là loài dễ mắc bệnh đơn bào H meleagridis, quá trình

tiến triển của bệnh chậm nhưng triệu chứng và bệnh tích cũng tương tựnhư gà tây

Trong tự nhiên, gà lôi cũng mắc Histomonosis Mặc dù ít mẫn cảm với đơn bào H meleagridis, nhưng gà lôi được coi là ký chủ thích hợp của giun kim Heterakis.

Tuổi mắc bệnh

Theo Lê Văn Năm (2011), bệnh do đơn bào H meleagridis xảy ra

chủ yếu ở gà tây từ 2 tuần đến 2 - 3 tháng tuổi, ở gà ta thì chậm hơn: chủyếu từ 3 tuần (vẫn có trường hợp gà 2 tuần tuổi cũng bị mắc) đến 3 - 4tháng tuổi, gà lớn tuổi hơn vẫn có thể mắc bệnh

Tuổi từng được cho là một yếu tố ảnh hưởng đến sức đề kháng của

gia cầm với H meleagridis Có ý kiến cho rằng gia cầm ở mọi lứa tuổi

Trang 15

đều mắc bệnh Tuy nhiên, gia cầm non dễ nhiễm Histomonosis hơn cả Gia cầm tuổi càng cao tỷ lệ nhiễm Histomonosis càng giảm.

Mùa vụ

Lê Văn Năm (2011) cho biết, ở Miền Bắc Việt Nam,

Histomonosis trên gà thường bùng phát vào các tháng nóng ẩm cuối

Xuân, Hè và đầu Thu Song ở gà lớn tuổi (gà già, gà đẻ) bệnh có thểxảy ra vào cuối mùa Thu và mùa Đông

Nhiệt độ và ẩm độ được xem là nhóm yếu tố chính, ảnh hưởng trựctiếp đến khả năng mắc bệnh và tỷ lệ chết ở gà Ẩm độ cao gây tác độnggián tiếp, tạo điều kiện thuận lợi cho sự tồn tại, phát triển các loại mầm

bệnh như vi khuẩn, kí sinh trùng và nấm mốc Bệnh do đơn bào H meleagrisis thường xuyên xảy ra trong những tháng nóng nhất của năm, nhưng đôi khi dịch Histomonosis vẫn bùng phát trong mùa Đông.

Điều kiện vệ sinh thú y

Điều kiện vệ sinh thú y đối với chuồng trại và khu vực xung quanhchuồng trại, dụng cụ và môi trường chăn nuôi là một trong những yếu tố

có ảnh hưởng lớn tới khả năng nhiễm Histomonosis của gà Điều này có

liên quan mật thiết với sự tồn tại và phát triển của giun kim - môi giớitrung gian truyền bệnh

Theo Lê Văn Năm (2011) bệnh đầu đen xảy ra chủ yếu trên nhữngđàn gà nuôi thả vườn, nơi mà gà thường xuyên tiếp xúc với môi trường đất

Yếu tố stress

Các yếu tố strees như chuồng trại chật chội, khí hậu nóng ẩm, thức

ăn kém dinh dưỡng đóng vai trò thúc đẩy mức độ và tốc độ lây lan

Histomonosis ở gà.

2.2.4 Cơ chế sinh bệnh

Việc nhiễm đơn bào H.meleagridisở gà và gà tây có thể xảy ra

riêng lẻ hoặc đồng thời theo các đường sau:

Thứ nhất, gà và gà tây ăn phải phân tươi có chứa H.melesgridis hoặc lỗ huyệt tiếp xúc với phân tươi chứa H.meleagridis.

Trang 16

Thứ hai, gà có thể nuốt phải trứng giun kim Heterakis ganillarum có phôi và chứa H.meleagridis Vào đường tiêu hóa của gà, các đơn bào H.meleagridis sẽ giải phóng trong những lần lột xác của ấu trùng giun kim.

Thứ ba, gà có thể ăn giun đất chứa trứng giun kim mang đơn bào

H.meleagridis.

Khi vào cơ thể gà, đơn bào H meleagridis sẽ xâm nhập vào manh

tràng, rồi vào niêm mạc manh tràng Tại đây, bằng cách sinh sản trực

phân, đơn bào H meleagridis nhân lên rất nhanh Số lượng lớn đơn bào

tác động vào niêm mạc manh tràng làm cho niêm mạc manh tràng dày dầnlên, dẫn đến hiện tượng viêm, loét, hoại tử Màng nhày, dịch viêm và chấtchứa trong lòng manh tràng đọng lại thành những cục rắn, màu trắng như

phomat Từ manh tràng, H meleagridis xuyên qua niêm mạc, thâm nhập vào mạch máu dưới niêm mạc, theo dòng máu tới gan H meleagridis ký

sinh và gây hoại tử gan Những ổ hoại tử có màu vàng nhạt, ban đầu nhỏ,đường kính khoảng 0,3 - 0,5 cm, sau đó các ổ hoại tử mở rộng và ăn sâutrên khắp bề mặt gan Từ gan, đơn bào này sẽ theo máu tới ký sinh ở các

cơ quan khác trong cơ thể (Sentíes - Cué G và cs (2009))

2.2.5 Triệu chứng và bệnh tích bệnh đầu đen

Triệu chứng

Theo Nguyễn Xuân Bình và cs (2002), sau khi nhiễm đơn bào H meleagridis 9 - 10 ngày, gà bắt đầu xuất hiện triệu chứng lâm sàng.

Triệu chứng sớm nhất có thể quan sát được của Histomonosis là gà

đứng ủ rũ, ăn ít Giai đoạn sau của bệnh, gà sốt 43 - 440C, lười vận động,

xù lông, sã cánh, đứng run rẩy, gà thường dấu đầu vào dưới cánh, hai mắtnhắm nghiền, uống nhiều nước Khi mầm bệnh trong cơ thể nhiều gà bịtiêu chảy phân loãng, da vùng đầu và mào tích nhợt nhạt, tái xanh hoặcxanh đen do rối loạn chức năng tiết mật và do chức năng của gan, thận bịsuy yếu Bệnh thường kéo dài 10 - 20 ngày nên gà rất gầy Trước khi chết,thân nhiệt gà giảm xuống 39 - 380C (Mc Dougald L R (2005))

Trang 17

Gà bệnh chết rải rác và thường chết về ban đêm, mức độ chếtkhông ồ ạt nhưng kéo dài, gây thiệt hại cho người chăn nuôi.

bào H meleagrdis ký sinh đầu tiên Khi tới manh tràng, đơn bào bắt đầu

sinh sản để tăng số lượng, sau đó xâm nhập vào niêm mạc và ký sinh ở

đó Số lượng đơn bào nhiều làm manh tràng bị viêm, thành manh tràngdày lên gấp nhiều lần Dịch viêm, hồng cầu, bạch cầu, ký sinh trùng vàchất chứa tích lại trong manh tràng tạo thành kén rắn chắc, màu trắnggiống như pho mát Ngoài ra, nếu số lượng đơn bào ký sinh trong niêmmạc manh tràng nhiều, phản ứng viêm sẽ kéo dài, dẫn đến manh tràng bịloét, thủng, rò rỉ chất chứa vào xoang bụng gây viêm phúc mạc

Tổn thương manh tràng ở gia cầm non thường không thể hồi phục,ngược lại, ở những gia cầm trưởng thành tổn thương manh tràng có thểphục hồi Khi gia cầm hồi phục, kén trong manh tràng dần dần mềm ra, tự

vỡ thành các mảnh nhỏ và đào thải ra ngoài Thành manh tràng sẽ từ từ colại để trở về trạng thái ban đầu, những chỗ niêm mạc bị phá hủy sẽ đượcbao phủ bởi lớp biểu mô hoặc mô sẹo

- Bệnh tích ở gan

Kemp R L., Franson J C (1975) cho biết, H meleagridis từ manh

tràng theo máu tới ký sinh ở gan và một số cơ quan khác trong cơ thể giacầm Ở gà tây, tổn thương gan bắt đầu vào ngày thứ 10 sau gây nhiễm:gan sưng to gấp 2 - 3 lần, viêm xuất huyết, hoại tử Những ổ hoại tử có

Trang 18

màu trắng ngà hoặc vàng nhạt, ban đầu nhỏ, lỗ chỗ như đá hoa cương, sau

đó các ổ hoại tử mở rộng, đường kính lên tới 0,5cm

Mc Dougald L R., Fuller L (2005), đã tiến hành các thí nghiệm

nghiên cứu về mối quan hệ giữa cầu trùng manh tràng E tenella và đơn bào H meleagridis Kết quả cho thấy, nhóm gia cầm nhiễm đồng thời 2 loại mầm bệnh E tenella và H meleagridis có mức độ tổn thương ở gan nặng hơn nhiều so với nhóm gia cầm chỉ nhiễm H meleagridis

Những biến đổi vi thể quan sát được trên tiêu bản là: tế bào biểu môruột bị tổn thương, cấu trúc tế bào lỏng lẻo, phù nề; niêm mạc ruột bị sunghuyết, xuất huyết, thâm nhiễm bạch cầu ái toan ở lớp hạ niêm mạc

2.2.6 Chẩn đoán bệnh do đơn bào H Meleagridis

Có rất nhiều phương pháp chẩn đoán, phát hiện bệnh ký sinh trùng

nói chung và bệnh do đơn bào H meleagridis nói riêng: chẩn đoán bệnh

dựa vào triệu chứng lâm sàng, kỹ thuật nuôi cấy, xét nghiệm phân để xácđịnh hình thái đơn bào bằng kính hiển vi quang học, mổ khám kiểm trabệnh tích Trong đó, chẩn đoán lâm sàng và mổ khám kiểm tra bệnh tích

là hai phương pháp được ứng dụng rộng rãi

- Chẩn đoán lâm sàng

Mc Dougald L R (2005) cho biết, hiện nay, ở các cơ sở chăn nuôi,việc chẩn đoán đối với gà còn sống chủ yếu dựa vào các triệu chứng củabệnh: xù lông, sốt cao 43 - 440C, ăn ít hoặc bỏ ăn, lười vận động, đứngrun rẩy, mắt nhắm nghiền và thường dấu đầu dưới cánh, da vùng đầu sạmmàu, tiêu chảy phân màu vàng lưu huỳnh Trong đó, triệu chứng điểnhình nhất là gà tiêu chảy, phân màu vàng lưu huỳnh, da vùng đầu xanhxám, thậm chí xanh đen

- Mổ khám gà ốm hoặc chết để kiểm tra bệnh tích

Mổ khám xác chết hoặc con vật sống nghi bệnh, có thể phát hiệnnhững biến đổi bất thường ở các cơ quan, phủ tạng để xét đoán nguyên

nhân gây bệnh Gà bị Histomonosis có bệnh tích đặc trưng tập trung chủ

yếu ở gan và manh tràng: gan sưng to gấp 2 - 3 lần, bề mặt gan có những

Trang 19

ổ hoại tử lỗ chỗ như đá hoa cương, hoặc ổ hoại tử hình hoa cúc màu trắnghoặc vàng nhạt; manh tràng bị viêm, sưng, thành manh tràng dày, trongmanh tràng có kén trắng (Lê Văn Năm, (2010)).

2.2.7 Chẩn đoán phân biệt

+ Bệnh cầu trùng: Bệnh cầu trùng do Eimeria tenella gây ra cũng

có các biến đổi giống như các biến đổi bệnh do Histomonas gây ra Nhìn

từ ngoài vào qua thành ruột ở bệnh cầu trùng ta thấy rõ các nốt đỏ xen lẫncác điểm trắng, khi tách ruột ra thì thấy chất chứa bị lẫn máu hoặc toàn

cục máu đông, thậm chí máu tươi, trong khi đó chất chứa do Histomonas

gây ra lúc đầu cũng lẫn máu khó đông giống như bệnh cầu trùng, nhưng

về giai đoạn cuối tạo thành kén đông đặc, gạt lớp phủ niêm mạc thấy niêmmạc ruột bị viêm hoại tử rất nặng, thành ruột thừa dầy và rắn chắc

+ Bệnh Marek: gà ủ rũ, xù lông, giảm ăn, gầy và sút cân rất nhanh,xuất hiện triệu chứng bại liệt

Bệnh tích: mắt gà bên trong có các hạt thừa nhỏ li ti, xuất hiện khối

u ở các cơ, gan sưng to hoại tử, dạ dày tuyến sưng to gấp 2 - 3 lần

+ Bệnh Leucocyts: gà gầy sút dần, nhợt nhạt thiếu máu, gà đẻ thìgiảm đẻ hoặc tịt đẻ hoàn toàn, gà suy nhược dần rồi chết

Bệnh tích: khối u tập trung ở gan, lách, thận và buồng trứng

+ Bệnh Newcastle: Gà bị Newcastle sốt cao 43 - 43,5ºC, uốngnước nhiều, rối loạn tiêu hóa trầm trọng, thức ăn ở diều không tiêu,nhão ra do lên men Khi cầm chân gà dốc ngược từ mỏ chảy ra một thứnước chua khắm Bệnh kéo dài vài ngày gà ỉa chảy, phân lúc đầu xanh,

có bọt sau chuyển sang loãng, trắng xám do có nhiều urat Gà khó thởtrầm trọng, mũi thường chảy nhớt màu trắng xám hoặc đỏ nhạt làm cho

gà vẩy mỏ Bệnh nặng gà không thở bằng mũi mà phải há mồm, vươn

cổ ra để thở làm mào yếm ứ máu, tím bầm Cuối ổ dịch gà xuất hiệncác triệu chứng thần kinh: đi vòng tròn, đi giật lùi hoặc đi xiêu vẹo đầu,

cổ co giật hoặc bị nghẹo, mổ không trúng thức ăn

Trang 20

Bệnh tích: Niêm mạc đường tiêu hóa phủ lớp chất nhờn màu trắngxám hoặc vàng nhạt có xuất huyết điểm Niêm mạc dạ dày tuyến xuấthuyết rõ, các nốt xuất huyết lấm tấm tròn bằng đầu đinh ghim và trùng với

lỗ đổ ra của đường tiêu hóa Niêm mạc ruột non, ruột già, van hồi manhtràng và hậu môn xuất huyết nặng

+ Bệnh Lao: Các ổ lao (viêm hoại tử) quan sát được không chỉ ởgan mà còn thấy ở lách, ruột và tủy xương Bệnh lao gà chỉ quan sát thấy

ở gà lớn tuổi, không thấy ở gà con và gà dò Trong bệnh lao gà không cócác biến đổi tạo kén ở ruột thừa như ở bệnh đầu đen

2.2.8 Các biện pháp phòng bệnh đầu đen cho gà

* Vệ sinh phòng bệnh

Theo Nguyễn Xuân Bình và cs (2002), đơn bào H meleagridis gây

bệnh có thể tồn tại 2 - 3 năm trong trứng của giun kim, gà ăn phải trứng

giun kim có chứa H meleagridis sẽ bị bệnh Do đó, cần hạn chế cho gà

tiếp xúc với đất, nên nuôi gà trên sàn

Chuồng trại không đảm bảo vệ sinh, phân và rác ướt không thu dọnthường xuyên, thức ăn nước uống không sạch sẽ là những nguy cơ gây tái

phát Histomonosis ở gia cầm.

* Sử dụng thuốc dự phòng

Paromomycin là một kháng sinh nhóm aminoglycoside, có tácdụng chống lại động vật nguyên sinh Hiện nay, paromomycin được chophép bổ sung vào thức ăn công nghiệp để phòng bệnh cho vật nuôi.Trong nghiên cứu này, tác giả đã thử nghiệm bổ sung paromomycin liều

100, 200 và 400ppm vào thức ăn của gà tây 1 - 42 ngày tuổi để xác định

hiệu quả phòng Histomonosis ở gà Gà thí nghiệm được chia thành 2

nhóm, một nhóm được bổ sung paromomycin vào thức ăn, bắt đầu từ 1ngày tuổi, nhóm khác không được bổ sung paromomycin trong thức ăn

Đến ngày thứ 21, gây nhiễm H meleagridis cho gà ở cả 2 nhóm Theo

dõi kết quả sau gây nhiễm thấy, nhóm gà tây không được bổ sung thuốc

Trang 21

400ppm vào thức ăn có tỷ lệ chết lần lượt là 73,3%, 43,3% và 20% Kếtquả thử nghiệm cho thấy, paromomycin bổ sung vào thức ăn cho gà bắt

đầu từ 1 ngày tuổi có tác dụng phòng Histomonosis.

2.2.9 Điều trị bệnh đầu đen cho gà

Ở Hoa Kỳ, Dimetridazole và Ipronidazole là 2 loại thuốc điều trị

Histomonosis hiệu quả Cả hai đều là thuốc thuộc nhóm Nitroimidazole.

Tuy nhiên, những năm 1990 các nhà quản lý thực phẩm và thuốc ở Hoa

Kỳ đã có quyết định cấm sử dụng 2 sản phẩm này vì thuốc tồn dư lâu trong sản phẩm và có thể gây ung thư.

- Nitrofuran (furazolidone): nguyên sinh động vật có thể bị phá hủy

vì sự cạnh tranh gây giảm các enzyme và làm gián đoạn các phản ứngchuyển điện tử cần thiết cho sự trao đổi chất kỵ khí để tạo năng lượng của

ký sinh trùng Nhưng do thuốc có tác dụng gây đột biến, gây ung thư chongười tiêu dùng nên đã bị cấm sử dụng

- Thuốc kháng sinh:

+ Ức chế tổng hợp protein: paromomycin, anaminoglycoside có tácdụng ức chế tổng hợp protein của sinh vật đơn bào Hiện nay EU đăng ký

sử dụng như một loại thuốc dự phòng chống lại Histomonosis

+ Loại bỏ các vi khuẩn manh tràng đi kèm: bacitracin, apramycin,penicillin, tylosin, và sarafloxacin Đặc biệt điều trị bằng bacitracin vàapramycin cho gà sẽ làm giảm các tổn thương ở gan nhanh

- Hợp chất anthelminthic (Benzimidazoles): albendazole, fenbendazolechỉ có tác dụng loại bỏ giun kim

- Quinolines: iodochloroxyquinoline và chlorohydroxyquinoline cảhai đều có tác dụng bảo vệ chống lại bệnh đầu đen ở gà tây Tuy nhiên,các chất này có tác dụng phụ, gây độc cho gia cầm nên không được sửdụng để kiểm soát bệnh đầu đen

Trang 22

2.3 Tình hình nghiên cứu bệnh đầu đen trong và ngoài nước

2.3.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Trên thế giới, bệnh do đơn bào H meleagridis được phát hiện năm

1893 ở Rhode Island, sau đó bệnh được báo cáo ở khắp lục địa và nhiều

nước khác Dịch bệnh do H meleagridis nhanh chóng lan xuống các vùng

ven biển phía Đông, miền Trung Tây và miền Tây Hoa Kỳ Bệnh có tỷ lệ

chết cao (có thể tới 100%) Các nhà khoa học sớm xác định đơn bào H meleagridis là tác nhân gây bệnh Giống như nhiều ký sinh trùng khác, vòng đời H Meleagridis rất phức tạp, liên quan tới một vật chủ trung gian

là giun kim Heterakis gallinae (McDougald L R (2008)).

Các nhà nghiên cứu cho rằng, gà nhiễm bệnh từ trứng của giun kimhoặc ăn phải giun đất đã mang trứng của giun kim Bệnh này hầu hết cácloại gà đều mẫn cảm, đặc biệt là gà tây và gà dò, ít thấy ở gà lớn > 5 - 6tháng tuổi

Tyzzer E E (1920) lần đầu tiên mô tả về hiện tượng bệnh ở gà tây

do một loại đơn bào gây ra với những biểu hiện bất thường, ở da vùng đầu

có màu xanh tím, sau đó nhanh chóng trở nên thâm đen và tác giả đã đặttên là bệnh đầu đen (Bleck Head) Sau đó, bệnh được các tác giả khác quansát thấy ở Bắc Mỹ, Tây Âu và hàng loạt nước khác ở Nam Mỹ, Nhật Bản…

Trong chăn nuôi gia cầm hiện đại, không phải là chuyện bất thườngkhi các trang trại chuyển đổi chăn nuôi gia cầm từ loại này sang loại khác,nhưng sẽ có nhiều tác hại khi các trại chăn nuôi gà thịt chuyển sang nuôi

gà tây Hầu hết các trang trại chăn nuôi gà thịt đang bị ô nhiễm giun kim (Heterakis gallinae) nặng, mà giun kim được biết đến như một vector sinh học truyền đơn bào H meleagridis cho đàn gia cầm (McDougald L R.

(2005))

Một số nghiên cứu nước ngoài khác về bệnh kí sinh trùng:

Huchzermeyer F W và Sutherland B (1978) lần đầu tiên đã pháthiện được Leucocytozoon smithi ở phía Bắc Châu Phi và tác giả cho rằng

Trang 23

Morii T và cs (1984) đã thử nghiệm lây nhiễm những thoi trùngLeucocytozoon được chiết từ tuyến nước bọt của dĩn, kết quả nhận thấy:các thoi trùng được phân lập vào ngày thứ 2 sau khi dĩn hút máu gia cầmbệnh thì không lây nhiễm được cho gà Các thoi trùng được phân lập vàongày thứ 3 thì có khả năng gây nhiễm cho gà

Nakamura K và cs (2001) nghiên cứu ảnh hưởng củaLeucocytozoon trên gà đẻ nhận thấy: Leucocytozoon ảnh hưởng nghiêmtrọng đến khả năng sản xuất trứng của gà, thậm chí có thể ngừng đẻ Tìmthấy một số lượng lớn thể phân liệt thế hệ 2 trong buồng trứng và ống dẫntrứng Gây phù và làm giảm áp lực của các mô lân cận với các mô có đơnbào ký sinh

Gà con từ 10 - 80 ngày tuổi nhạy cảm và nhiễm bệnh cầu trùngnặng nhất với tỷ lệ chết cao Gà nuôi với mật độ cao, độ ẩm không khí và

độ ẩm chất độn chuồng cao, thức ăn không đầy đủ dinh dưỡng đều làmcho bệnh lan tràn Sự nhiễm bệnh còn xảy ra qua đường tiêu hóa, dịchphát ra vào mùa xuân hoặc mùa hè

Bệnh cầu trùng xảy ra chủ yếu xảy ra ở gia cầm non, E.tenella là loại cầu trùng gây bệnh mạnh nhất ở gà 1 tháng tuổi, E.maxima gây bệnh

cho gà 1,5 - 2 tháng tuổi

2.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Bệnh kí sinh trùng là bệnh gây thiệt hại không nhỏ cho ngành chănnuôi đặc biệt là chăn nuôi gia cầm:

Theo Hoàng Thạch (2004), các cơ quan nội tạng nếu nhiễmLeucocytozoon Ở cường độ nhẹ thì chưa thấy biến đổi gì, nhưng nếunhiễm vừa và nặng (3 - 6 ký sinh trùng trên 1 vi trường) thì xuất hiện

sự thoái hoá, biến màu, thậm chí hoại tử từng đám nhỏ, nếu kéo dài thìtăng sinh, làm giảm chức năng hoạt động hoặc bị phá hoại, rõ nhất làgan và lách

Lê Đức Quyết và cs (2009) cho biết: tỷ lệ nhiễm Leucocytozoonphụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: tuổi gia cầm, giống, địa hình, vùng

Trang 24

sinh thái, phương thức chăn nuôi… Kết quả nghiên cứu của tác giả vềLeucocytozoon ở gà tại một số tỉnh Nam Trung Bộ như sau: Tỷ lệ nhiễmLeucocytozoon chung là 13,29%, cụ thể ở Phú Yên tỷ lệ nhiễm là 20%,Bình Định 9,54%, Khánh Hoà 12,04% Tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon cao ởvùng núi (27,34%) và thấp ở vùng đồng bằng (12,46%) Tỷ lệ lưu hànhLeucocytozoon ở gà địa phương là 12,46%, cao hơn nhiều so với gà ngoại(7,61%) Tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon cao nhất là ở gà giai đoạn > 6 tuầntuổi (15,6%), kế đến là ở độ tuổi 4 - 6 tuần (13,5%) và thấp nhất là ở độtuổi dưới 4 tuần (7,6%)

Khi khảo sát tình hình nhiễm ký sinh trùng đường máu trên gà thịttại hai tỉnh Vĩnh Long và Sóc Trăng, Nguyễn Hữu Hưng (2011) cho biết:đàn gà thịt nhiễm ký sinh trùng đường máu với tỷ lệ khá cao (30,47%).Trong đó tỷ lệ nhiễm ở Vĩnh Long là 32,38% và ở Sóc Trăng là 28,22%.Tác giả cũng cho biết gà Tam Hoàng có tỷ lệ nhiễm cao hơn hai giốngNewlohman và Brown AAA Gà nuôi nuôi theo kiểu chuồng hở tỷ lệnhiễm cao hơn so với kiểu chuồng kín

Hoàng Thạch (1997), Phạm Sĩ Lăng và cs (2006) cho biết bệnhcầu trùng xảy ra quanh năm, nhưng xảy ra tập trung vào các tháng nóng

ẩm của mùa xuân và mùa thu Thời kỳ này mưa nhiều ẩm ướt là điềukiện thuận lợi cho noãn nang cầu trùng tồn tại và phát triển ngoài tựnhiên và gây nhiễm cho đàn gà Tuy nhiên, bệnh có thể phát ra ở bất cứthời gian nào trong năm trong những trại gà lớn, khi nuôi nhiều, chuồngtrại chật chưa kịp phân chia ô chuồng, chất thải quá nhiều chưa kịp thayđổi chất độn chuồng, độ ẩm trong chuồng nuôi tăng nhanh Vì vậy, trongthời gian bệnh dễ bùng phát cần chú ý tập trung cao độ các khả năngphòng bệnh cầu trùng cho gà, ở các trang trại lớn phải thường xuyên sáttrùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi, chăm sóc gà tốt để tăng khả năngmiễn dịch cho gà

Trong đó phải kể đến tác hại của đơn bào H meleagridis gây bệnh

Trang 25

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008), H Meleagridis sống ký sinh trong trứng loài giun kim Heterakis gallinae Cả hai loài này đều

sống ký sinh trong ruột gà, gà tây và cả hai đều gây bệnh cho gà

Phạm Văn Khuê và cs (1996) cho biết: Giun Heterakis kích thích

niêm mạc ruột gây tụ huyết, ngoài ra còn chiếm đoạt dinh dưỡng của gàlàm con vật gầy yếu, gà con chậm lớn Trong quá trình ký sinh,chúng tiếtđộc tố nên gà bị trúng độc và dễ mắc bệnh viêm gan, ruột do loại đơn bào

H meleagridis xâm nhập vào trứng giun kim, gà ăn phải trứng này thì

mắc bệnh

Tháng 3/2010, Lê Văn Năm và cs (2010), bắt đầu đề cập về cănbệnh đầu đen này tại một số tỉnh phía Bắc Tác giả kết luận rằng, nguyênnhân cơ bản gây nên hiện tượng chết hàng loạt gà thịt tại thời điểm đó là

do sự cảm nhiễm, xâm nhập và nhân lên nhanh chóng của đơn bào có tên

khoa học là H.meleagridis trong cơ thể gà thông qua việc đàn gà đang bị

nhiễm nặng giun kim và trứng giun kim có chứa ấu trùng gây bệnh

Ngày đăng: 13/12/2018, 21:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Xuân Bình, Trần Xuân Hạnh, Tô Thị Phấn (2002), 109 bệnh gia cầm và cách phòng trị, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 109 bệnhgia cầm và cách phòng trị
Tác giả: Nguyễn Xuân Bình, Trần Xuân Hạnh, Tô Thị Phấn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
2. Nguyễn Hữu Hưng (2011), “Khảo sát tình hình nhiễm ký sinh trùng đường máu trên gà thịt tại hai tỉnh Vĩnh Long và Sóc Trăng”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập XVIII, số 4, tr 44 – 48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tình hình nhiễm ký sinh trùngđường máu trên gà thịt tại hai tỉnh Vĩnh Long và Sóc Trăng”, T"ạp chíkhoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Nguyễn Hữu Hưng
Năm: 2011
5. Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Lê, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Quang (2008), Ký sinh trùng học thú y (giáo trình dùng cho bậc cao học), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng học thú y
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Lê, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Quang
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2008
6. Nguyễn Hữu Nam, Lê Văn Năm, Nguyễn Vũ Sơn (2013), “Một số đặc điểm bệnh lý chủ yếu bệnh do Histomonas meleagridis gây ra ở gà thả vườn”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, tập XX, số 2, tr 42 - 47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một sốđặc điểm bệnh lý chủ yếu bệnh do Histomonas meleagridis gây ra ở gàthả vườn”, "Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y
Tác giả: Nguyễn Hữu Nam, Lê Văn Năm, Nguyễn Vũ Sơn
Năm: 2013
7. Lê Văn Năm (2010), “Bệnh viêm Gan - Ruột truyền nhiễm ở gà, bệnh đầu đen, bệnh kén ruột thừa”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, số 3 tập II Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh viêm Gan - Ruột truyền nhiễm ở gà, bệnhđầu đen, bệnh kén ruột thừa”, "Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Lê Văn Năm
Năm: 2010
8. Lê Văn Năm (2011), “Bệnh đầu đen ở gà và gà tây”, Tạp chí Khoa học Công nghệ chăn nuôi, tr 88 - 91 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh đầu đen ở gà và gà tây”, "Tạp chí Khoa họcCông nghệ chăn nuôi
Tác giả: Lê Văn Năm
Năm: 2011
9. Lê Đức Quyết, Nguyễn Đức Tân, Lê Hứa Ngọc Lực, Huỳnh Vũ Vỹ, Nguyễn Văn Thoại, Nguyễn Thị Sâm (2009), “Điều tra tình hình nhiễm đơn bào Leucocytozoon trên gà tại một số tỉnh Nam Trung Bộ”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập XVI, số 5, tr 62 - 68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra tình hình nhiễmđơn bào Leucocytozoon trên gà tại một số tỉnh Nam Trung Bộ”, "Tạp chíkhoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Lê Đức Quyết, Nguyễn Đức Tân, Lê Hứa Ngọc Lực, Huỳnh Vũ Vỹ, Nguyễn Văn Thoại, Nguyễn Thị Sâm
Năm: 2009
11. Nguyễn Văn Thiện (2008), Thống kê sinh vật học ứng dụng trong chăn nuôi, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội.Tài liệu nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: hống kê sinh vật học ứng dụng trongchăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Văn Thiện
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2008
12. AbdulRahman L., Hafez H. M. (2009), “Susceptibility of different turkey lines to Histomonas meleagridis after experimental infection”, Parasitol Res., 105 (1), pp. 113 - 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Susceptibility of different turkey lines to Histomonas meleagridis after experimental infection”, "Parasitol Res
Tác giả: AbdulRahman L., Hafez H. M
Năm: 2009
13. Cepicka I., Hamp V., Kulda J. (2010), “Critical Taxonomic Revision of Parabasalids with Description of one new Genus and three new Species”, Protist Poult Sci., 161, pp. 400 - 433 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Critical TaxonomicRevision of Parabasalids with Description of one new Genus andthree new Species”, "Protist Poult Sci
Tác giả: Cepicka I., Hamp V., Kulda J
Năm: 2010
14. Graybill H. W. (1921), “The incidence of blackhead and occurrence of Heterakis papillosa in a flock of artificially reared turkeys”, Journal of Experimental Medicine, 33, pp. 667 - 673 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The incidence of blackhead and occurrenceof "Heterakis papillosa" in a flock of artificially reared turkeys”, "Journalof Experimental Medicine
Tác giả: Graybill H. W
Năm: 1921
15. Hess M., Grabensteiner E., Liebhart D. (2006), “Rapid transmission of the protozoan parasite Histomonas meleagridis in turkeys and specific pathogen free chickens following cloacal infection with a mono- eukaryotic culture”, Avian Pathology, 35, pp. 280 - 285 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rapid transmission ofthe protozoan parasite "Histomonas meleagridis" in turkeys and specificpathogen free chickens following cloacal infection with a mono-eukaryotic culture”, "Avian Pathology
Tác giả: Hess M., Grabensteiner E., Liebhart D
Năm: 2006
16. Horton-Smith C., Long P. L. (1956), “Furazolidone in the control of Histomoniasis (blackhead) in turkeys”, Journal of Comparative Pathology, 66, pp. 22 - 34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Furazolidone in the controlof "Histomoniasis" (blackhead) in turkeys
Tác giả: Horton-Smith C., Long P. L
Năm: 1956
17. Huchzermeyer F.W., Sutherland B. (1978), “ Leucocytozoon smithi in South African Turkeys”, Avian Pathology, 7 (4), pp. 645 - 649 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Leucocytozoon"smithi in South African Turkeys”, "Avian Pathology
Tác giả: Huchzermeyer F.W., Sutherland B
Năm: 1978
18. Kemp R. L., Franson J. C. (1975), “Transmission of Histomonas meleagridis to domestic fowl by means of earthworms recovered from pheasant yard soil”, Avian Diseases, 19, pp. 741 – 744 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Transmission of "Histomonasmeleagridis "to domestic fowl by means of earthworms recovered frompheasant yard soil”, "Avian Diseases
Tác giả: Kemp R. L., Franson J. C
Năm: 1975
19. Liebhart D., Weissenbock H., Hess M. (2006), “In-situ hybridization for the detection and identification of Histomonas meleagridis in tissues”, J. Comp. Pathol., 135, pp. 237 - 242 Sách, tạp chí
Tiêu đề: In-situ hybridization for the detection and identification of "Histomonas meleagridis" in tissues”, "J. Comp. Pathol
Tác giả: Liebhart D., Weissenbock H., Hess M
Năm: 2006
20. Lund E. E. (1960), “Factors influencing the survival of Heterakis and Histomonas on soil”, J. Parasitol, 46, pp. 38.a Sách, tạp chí
Tiêu đề: Factors influencing the survival of "Heterakis "and "Histomonas "on soil”, "J. Parasitol
Tác giả: Lund E. E
Năm: 1960
21. Mc Dougald L. R., Fuller L. (2005), “Blackhead disease in turkeys: direct transmission of Histomonas meleagridis from bird to bird in a laboratory model”, Avian Dis., 49 (3), pp. 328 - 331 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Blackhead disease inturkeys: direct transmission of "Histomonas meleagridis" from bird tobird in a laboratory model”, "Avian Dis
Tác giả: Mc Dougald L. R., Fuller L
Năm: 2005
22. Mc Dougald L. R., Abraham M., Beckstead R. B. (2012), “An outbreak of blackhead disease (Histomonas meleagridis) in farm- reared bobwhite quail (Colinus virginianus)”, Avian Dis., pp. 754 - 756 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anoutbreak of blackhead disease ("Histomonas meleagridis") in farm-reared bobwhite quail (Colinus virginianus)”, "Avian Dis
Tác giả: Mc Dougald L. R., Abraham M., Beckstead R. B
Năm: 2012
23. Morii T., Massui T., Iijima T., Fiotnaoa F. (1984), “Infectivity of Leucocytozoon caulleryi sporozoites developed in vitro and in vivo”, International Journal for Parasitology, 14 (2), pp. 135 – 139 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Infectivity of"Leucocytozoon" caulleryi sporozoites developed in vitro and in vivo”,"International Journal for Parasitology
Tác giả: Morii T., Massui T., Iijima T., Fiotnaoa F
Năm: 1984

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w