Cải tiến phương thức tổ chức thực hiện chính sách, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước trong công tác chuyển đổi ngành nghề và việc làm cho người lao động nông thôn khi nhà nước thu h
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN THỊ BÍCH HIỀN
ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI DÂN
BỊ THU HỒI ĐẤT TẠI KHU KINH TẾ DUNG QUẤT
TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHÁNH HÒA - 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN THỊ BÍCH HIỀN
ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI DÂN
BỊ THU HỒI ĐẤT TẠI KHU KINH TẾ DUNG QUẤT
TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học:
TS PHẠM XUÂN THỦY ThS VÕ HẢI THỦY Chủ tịch Hội Đồng:
TS PHẠM HỒNG MẠNH Phòng Đào tạo Sau Đại học:
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn: “ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT TẠI KHU KINH TẾ DUNG QUẤT, TỈNH QUẢNG NGÃI” Là công trình nghiên cứu và thực hiện của cá nhân tôi với sự
hướng dẫn của TS Phạm Xuân Thủy và Th.s Võ Hải Thủy trên cơ sở các lý thuyết đã học và tìm hiểu thực tế tại địa phương Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
là trung thực và chính xác Chưa công bố trong các công trình nghiên cứu nào khác
Luận văn tham khảo tư liệu và sử dụng thông tin được đăng tải trong danh mục tài liệu tham khảo
Quảng Ngãi, tháng 9 năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Bích Hiền
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt luận văn này, ngoài sự nổ lực cố gắng của bản thân, tôi nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của tập thể, cá nhân trong và ngoài Trường Đại học Nha Trang Nhân dịp này cho tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới: Hiệu trưởng, các khoa, phòng và quý thầy, cô Trường Đại học Nha Trang đã tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi trong quá trình học tập, hoàn thành luận văn tốt nghiệp này Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Thầy giáo TS Phạm Xuân Thủy và Th.s Võ Hải Thủy là người đã trực tiếp hướng dẫn đề tài cho tôi với tất cả lòng nhiệt tình và sự quan tâm sâu sắc
Bên cạnh đó, tôi cũng gửi lời cảm ơn chân thành của mình đến lãnh đạo các cơ quan trong Khu kinh tế Dung Quất, các huyện, bạn bè, đồng nghiệp, luôn quan tâm, tạo điều kiện, chia sẻ, góp ý, động viên tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn
Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện nhưng luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tác giả mong nhận được sự góp ý của quý thầy,
cô và bạn bè
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Quảng Ngãi, tháng 9 năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Bích Hiền
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC BẢNG ix
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN x
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT TẠI VIỆT NAM 6
1.1 Các vấn đề chung về thu hồi đất cho phát triển kinh tế tại Việt Nam 6
1.1.1 Khái niệm thu hồi đất 6
1.1.2 Tác động của thu hồi đất đối với đời sống của người dân 6
1.2 Các vấn đề chung về chính sách tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất tại Việt Nam 8
1.2.1 Khái niệm việc làm 8
1.2.2 Khái niệm tạo việc làm 9
1.2.3 Cơ chế tạo việc làm 10
1.2.4 Chính sách tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất tại Việt Nam 11
1.2.5 Các tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện chính sách tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất tại Việt Nam 17
1.2.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất tại Việt Nam 18
1.3 Bài học kinh nghiệm về thực hiện chính sách tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất ở nước ngoài và một số địa phương trong nước 20
1.3.1 Kinh nghiệm các tỉnh trong nước 20
1.3.2 Kinh nghiệm ở nước ngoài 24
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT TẠI KHU KINH TẾ DUNG QUẤT, TỈNH QUẢNG NGÃI 26
2.1.Tổng quan về Khu Kinh tế Dung Quất 26
2.2 Thực trạng thu hồi đất cho phát triển Khu Kinh tế Dung Quất 28
Trang 62.2.1 Diện tích đất bị thu hồi của người dân: 28
2.2.2 Tổng số hộ gia đình và người dân bị ảnh hưởng bởi thu hồi đất tại KKT Dung Quất: 28
2.3 Thực trạng triển khai chính sách tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất tại Khu Kinh tế Dung Quất 29
2.3.1 Các văn bản pháp luật cụ thể hóa chính sách tạo việc làm cho người dân bị THĐ tại KKT Dung Quất 29
2.3.2 Thực trạng bộ máy thực hiện chính sách 31
2.3.3 Thực trạng thực hiện chính sách tạo việc làm cho người dân bị THĐ tại KKT Dung Quất 32
2.3.4.Tình hình lao động bị thu hồi đất tại KKT Dung Quất 35
2.4 Khảo sát sự hài lòng của người dân bị thu hồi đất tại Khu Kinh tế Dung Quất về chính sách tạo việc làm: (bổ sung thêm phần này) 40
2.4.1 Giới thiệu chung về cuộc điều tra của tác giả 40
2.4.2 Mô tả mẫu khảo sát 41
2.4.3 Đánh giá sự hài lòng của người dân bị THĐ đối với chính sách tạo việc làm tại KKT Dung Quất 42
2.5 Đánh giá chung chính sách tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất tại Khu Kinh tế Dung Quất 43
2.5.1 Những mặt thành công 43
2.5.2 Những mặt hạn chế: 45
2.5.3 Nguyên nhân ảnh hưởng 50
CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT TẠI KHU KINH TẾ DUNG QUẤT TỈNH QUẢNG NGÃI 56
3.1 Định hướng của chính sách tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất tại Khu Kinh tế Dung Quất 56
3.1.1 Tuân theo nguyên tắc tiến bộ và công bằng xã hội 56
3.1.2 Kết hợp hài hòa giữa các lợi ích 57
3.1.3 Tuân theo nguyên tắc thị trường 58
3.1.4 Tăng cường vai trò điều tiết vĩ mô của nhà nước 58
3.1.5 Thu hồi đất phải đảm bảo hiệu quả chuyển đổi ngành nghề và việc làm 58
Trang 73.1.6 Các phương án để chuyển đổi ngành nghề và GQVL có thể người lao động
nông thôn bị thu hồi đất lựa chọn 59
3.2 Các giải pháp góp phần hoàn thiện chính sách tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất tại Khu Kinh tế Dung Quất 60
3.2.1 Đào tạo nghề theo từng nhóm tuổi và đa dạng hóa ngành nghề 60
3.2.2 Hỗ trợ vốn cho người lao động 63
3.2.3 Nâng cao tính chủ động của người dân về tự tạo, tìm kiếm việc làm, nâng cao thu nhập cho bản thân và gia đình sau khi thu hồi đất 63
3.2.4 Đẩy mạnh thu hút đầu tư, phát triển các ngành nghề thích hợp 64
3.2.5 Hoàn thiện cơ chế, thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, chuyển đổi nghề, tạo việc làm 65
3.2.6 Nhà nước tạo điều kiện cho người lao động có đất bị thu hồi 66
3.2.7 Thực hiện liên kết kinh tế để phát triển sản xuất, thu hút lao động 67
3.2.8 Đẩy mạnh xuất khẩu lao động, tăng cơ hội có việc làm ở nước ngoài 68
3.2.9 Phát triển thông tin thị trường lao động, tổ chức có hiệu quả sàn giao dịch việc làm 69
3.2.10 Cải tiến phương thức tổ chức thực hiện chính sách, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước trong công tác chuyển đổi ngành nghề và việc làm cho người lao động nông thôn khi nhà nước thu hồi đất 70
Tóm tắt chương 3: 73
KẾT LUẬN 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Tình hình quy mô và cơ cấu diện tích đất bị thu hồi cho KKT Dung Quất giai đoạn 2010 – 2016 28 Bảng 2: Tình hình hộ gia đình và người dân bị ảnh hưởng bởi thu hồi đất tại KKT Dung Quất tính đến năm 2016 28 Bảng 3: Thống kê tình hình người dân bị ảnh hưởng bởi THĐ theo tuổi, trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn tại KKT DQ năm 2016 35 Bảng 4: Thống kê tình hình ngành nghề và chuyên môn của người dân chịu ảnh hưởng của THĐ tại KKT DQ năm 2016 37 Bảng 5: Thống kê nhu cầu việc làm của người dân bị THĐ tại KKT DQ năm 2016 38 Bảng 6: Tình hình kinh phí hỗ trợ về đào tạo nghề và tìm việc làm cho người dân bị THĐ tại KKT DQ năm 2016 39 Bảng 7: Tình hình việc làm của người dân bị THĐ tại KKT Dung Quất tính đến thời điểm 31/12/2016 39 Bảng 8: Mô tả mẫu khảo sát tình hình 100 hộ dân trước khi bị THĐ tại KKT Dung Quất 41 Bảng 9: Mô tả mẫu khảo sát tình hình 100 hộ dân sau khi bị THĐ tại KKT Dung Quất 41 Bảng 10: Phân tích mức độ hài lòng của người dân trong mẫu khảo sát về chính sách tạo việc làm tại KKT DQ 42
Trang 10
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
1 Giới thiệu
Cùng với sự nghiệp CNH-HĐH của đất nước, tỉnh Quảng Ngãi là một trong những tỉnh phát triển vượt bậc về công nghiệp, trong đó trọng điểm là Khu kinh tế Dung Quất, đã làm thay đổi cơ bản cơ cấu GDP của tỉnh theo hướng tăng mạnh tỷ trọng công nghiệp, góp phần quan trọng làm tăng nguồn thu ngân sách tỉnh Quảng Ngãi, góp phần đưa Quảng Ngãi từ một tỉnh có nguồn thu ngân sách thấp trở thành một tỉnh có nguồn thu lớn của cả nước, giải quyết hàng chục ngàn việc làm cho người lao động địa phương, góp phần xóa đói giảm nghèo trên địa bàn Tuy nhiên, nó cũng
có tác động không nhỏ đến nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội của người bị thu hồi đất tại địa phương, người dân bị mất tư liệu sản xuất, thất nghiệp, thiếu việc làm, sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp, thu nhập không ổn định, biến động ngành nghề, cuộc sống bị thay đổi, đời sống khó khăn…
Mặt dù được sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước, của tỉnh Quảng Ngãi, thực hiện các giải pháp, các chính sách về chuyển đổi ngành nghề, giải quyết việc làm, an sinh xã hội, tuy nhiên các giải pháp này vẫn chưa thể giải quyết dứt điểm bài toán ổn định cuộc sống lâu dài cho người dân bị thu hồi đất, vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần giải quyết; trong đó vấn đề thực hiện chính sách tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất còn nhiều bất cập, do vậy cần phải có những giải pháp tích cực hơn nhằm hoàn thiện chính sách trong thời gian đến, góp phần đem lại hiệu quả thiết thực cho người lao động ở nông thôn do bị nhà nước thu hồi đất và sẽ đóng góp thêm kinh nghiệm cho các địa phương khác trên cả nước
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 113 Phương pháp nghiên cứu
Trong triển khai nghiên cứu luận văn, tác giả sử dụng các phương pháp:
- Phương pháp phân tích thực chứng, phân tích chuẩn tắc
- Phương pháp điều tra, khảo sát, phỏng vấn, thu thập thông tin và phân tích, khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu Trên cơ sở số liệu
đã được thu thập, tổng hợp, việc phân tích số liệu được vận dụng theo các phương pháp như phân tích thống kê và phân tích kinh tế
4 Các phát hiện chính từ nghiên cứu
Phân tích được tình hình thực hiện các chính sách tạo việc làm cho người lao động nông thôn khi nhà nước thu hồi đất ở KKT Dung Quất tỉnh Quảng Ngãi, đưa ra các căn cứ khoa học của chính sách, qua đó chỉ ra những điểm hợp lý và chưa hợp lý của hệ thống chính sách tạo việc làm cho người lao động nông thôn khi nhà nước thu hồi đất hiện tại ở KKT Dung Quất
Kết quả nghiên cứu của luận văn, trước hết là cung cấp những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc vận dụng các lý thuyết về chính sách công để góp phần nâng cao nhận thức, hiểu rõ hơn về lý luận chính sách tạo việc làm cho người lao động nông thôn khi nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam, xem xét giữa lý luận và thực tiễn từ kết quả thực hiện chính sách tại KKT Dung Quất Quảng Ngãi, từ đó đề xuất góp phần hoàn thiện chính sách, nâng cao hiệu quả chất lượng của thực hiện chính sách tạo việc làm cho người lao động nông thôn khi nhà nước thu hồi đất tại KKT Dung Quất nói riêng
và ở Việt Nam nói chung trong những năm tiếp theo Khi đưa ra giải pháp thực hiện chính sách phù hợp hơn, việc thực hiện các chính sách đem lại hiệu quả thiết thực, giúp người lao động nông thôn khi nhà nước thu hồi đất có khả năng tiếp cận chính sách và tham gia cùng với Nhà nước để thực hiện chính sách Đề tài không những góp phần quan trọng trong lĩnh vực nghiên cứu mà còn phát huy vai trò tư vấn, là tài liệu tham khảo cho cán bộ lãnh đạo KKT Dung Quất Quảng Ngãi trong xây dựng, hoạch định chính sách về tạo việc làm cho người lao động nông thôn khi nhà nước thu hồi đất
5 Kết luận và kiến nghị
Nghiên cứu này nhằm lý giải cơ sở lý luận và tìm ra các giải pháp để nâng cao hiệu lực, hiệu quả và tác động xã hội tích cực của chính sách tạoviệc làm cho người người dân bị thu hồi đất tại KKT Dung Quất nói riêng và của tỉnh Quảng Ngãi nói
Trang 12chung; đồng thời, qua nghiên cứu thực trạng tổ chức thực hiện chính sách từ thực tiễn KKT Dung Quất tỉnh Quảng Ngãi sẽ rút ra được những thành tựu, những mặt còn hạn chế, những bất cập hiện nay, từ đó có thể đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách trong thời gian đến, góp phần đem lại hiệu quả thiết thực cho người lao động ở nông thôn do bị nhà nước thu hồi đất và sẽ đóng góp thêm kinh nghiệm cho các địa phương khác trên cả nước
*Kiến nghị
- Nhà nước tăng cường vai trò điều tiết vĩ mô trong quá trình thực hiện chính sách
- Khi thực hiện phê duyệt phương án thu hồi đất hay phê duyệt dự án đầu tư cần phải có phương án chuyển đổi ngành nghề và giải quyết việc làm cho người lao động
có diện tích đất bị thu hồi
- Cần phải có một cơ quan, đơn vị chuyên thực hiện công tác hỗ trợ đào tạo chuyển đổi ngành nghề và giải quyết việc làm cho người lao động có diện tích đất bị thu hồi
- Nhà nước cần phải có chế tài mạnh đối với các nhà đầu tư, các doanh nghiệp trong việc cam kết giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất để đầu tư
- Hoàn thiện cơ chế chính sách và cải tiến phương thức tổ chức thực hiện chính sách, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước trong công tác chuyển đổi ngành nghề
và giải quyết việc làm cho người bị thu hồi đất
Từ khóa: tạo việc làm, người lao động nông thôn, thu hồi đất, KKT Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau 20 năm hình thành và phát triển, đến nay KKT Dung Quất được đánh giá là một trong những KKT thành công tại Việt Nam, đã và đang đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ngãi nói riêng và phát triển ngành công nghiệp của Việt Nam nói chung Sự phát triển của KKT Dung Quất đã khơi dậy tiềm năng và khai thác có hiệu quả lợi thế về vị trí địa lý, tài nguyên, đất đai, cảng biển…
đã làm thay đổi cơ bản cơ cấu GDP của tỉnh theo hướng tăng mạnh tỷ trọng công nghiệp, góp phần quan trọng làm tăng nguồn thu ngân sách tỉnh Quảng Ngãi, góp phần đưa Quảng Ngãi từ một tỉnh có nguồn thu ngân sách thấp trở thành một tỉnh có nguồn thu lớn của cả nước, giải quyết hàng chục ngàn việc làm cho người lao động địa phương, góp phần xóa đói giảm nghèo trên địa bàn Từ một vùng đất nghèo, đến nay
bộ mặt KKT Dung Quất đã có nhiều đổi thay quan trọng, hệ thống giao thông thuận lợi, hệ thống cấp điện, cấp nước, bưu chính viễn thông đáp ứng các yêu cầu phát triển, góp phần cải thiện đời sống nhân dân trong khu vực
Bên cạnh những mặt tích cực, việc xây dựng KKT Dung Quất cũng tác động đến nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội của người bị thu hồi đất tại địa phương người dân bị mất tư liệu sản xuất, thất nghiệp, thiếu việc làm, sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp, thu nhập không ổn định, biến động ngành nghề, cuộc sống bị thay đổi, đời sống khó khăn…
Mặt dù được sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước, của tỉnh Quảng Ngãi, của các nhà đầu tư chi trả tiền đền bù và hỗ trợ theo chính sách đối với các hộ dân thuộc diện bị thu hồi đất, thực hiện các giải pháp, các chính sách về chuyển đổi ngành nghề, giải quyết việc làm, an sinh xã hội, tuy nhiên các giải pháp này vẫn chưa thể giải quyết dứt điểm bài toán ổn định cuộc sống lâu dài cho người dân bị thu hồi đất, vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần giải quyết; trong đó vấn đề thực hiện chính sách tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất còn nhiều bất cập; do chưa có những cách thức tổ chức thực hiện phù hợp với từng đối tượng cụ thể nên khi thực hiện gặp không ít vướng mắc, dẫn đến việc hoàn thành các yêu cầu đặt ra còn hạn chế, nên phần lớn người lao động ở nông thôn, nhất là lao động nông nghiệp bị thu hồi đất sản xuất không có ngành nghề, việc làm ngày càng gia tăng theo quá trình thu hồi đất
Để giải quyết những bất cập, tồn tại nêu trên; việc triển khai thực hiện chính
sách “tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất tại Khu kinh tế Dung Quất tỉnh
Trang 14Quảng Ngãi giai đoạn đến” là hết sức cần thiết Do vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào
để giảm thiểu tối đa những tác động không mong muốn đối với người dân bị thu hồi
đất như đã nêu trên Đó là lý do thúc đẩy tôi chọn đề tài: “Đánh giá chính sách tạo
việc làm cho người dân bị thu hồi đất tại Khu kinh tế Dung Quất tỉnh Quảng Ngãi”
làm luận văn thạc sĩ của mình
Với mong muốn đóng góp một phần vào công cuộc tìm hiểu, nghiên cứu để lý giải cơ sở lý luận và tìm ra các giải pháp để nâng cao hiệu lực, hiệu quả và tác động xã hội tích cực của chính sách tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất tại KKT Dung Quất nói riêng và của tỉnh Quảng Ngãi nói chung; đồng thời, qua nghiên cứu thực trạng tổ chức thực hiện chính sách tại KKT Dung Quất tỉnh Quảng Ngãi sẽ rút ra được những thành tựu, những mặt còn hạn chế, những bất cập hiện nay, từ đó có thể đưa ra những giải pháp thực hiện chính sách nhằm hoàn thiện trong thời gian đến, góp phần đem lại hiệu quả thiết thực cho người lao động ở nông thôn do bị nhà nước thu hồi đất
và sẽ đóng góp thêm kinh nghiệm cho các địa phương khác trên cả nước
- Đề xuất một số hàm ý để hoàn thiện về mặt chính sách trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong đề tài là chính sách tạo việc làm và thực tiễn thi hành
chính sách này đối với người dân bị thu hồi đất trên địa bàn KKT Dung Quất
Trang 153.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu việc đánh giá chính sách tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất thuộc 9 xã tại KKT Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn năm 2010 đến 2016
4 Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu
4.1 Phương pháp nghiên cứu
Trong triển khai nghiên cứu luận văn, tác giả sử dụng các phương pháp:
- Phương pháp phân tích thực chứng, phân tích chuẩn tắc
- Phương pháp điều tra, khảo sát, phỏng vấn, thu thập thông tin và phân tích, khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, Nghị quyết, Quyết định của Đảng, Nhà nước, bộ ngành ở Trung ương, tỉnh Quảng Ngãi, BQL KKT Dung Quất và huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh;
- Trên cơ sở số liệu đã được thu thập, tổng hợp, việc phân tích số liệu được vận dụng theo các phương pháp như phân tích thống kê và phân tích kinh tế
- Phương pháp chuyên gia: nhằm làm sáng tỏ các vấn đề có tính chất kinh tế, kỹ thuật phức tạp, đồng thời trắc nghiệm lại các tính toán và những nhận định làm căn cứ cho việc đưa ra các kết luận có tính khoa học và thực tiễn
4.2 Dữ liệu sử dụng
- Nguồn số liệu sơ cấp:
Tác giả thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua điều tra trực tiếp các hộ gia đình có đất bị thu hồi để tìm hiểu về đời sống và việc làm của họ sau khi bị thu hồi đất cho các dự án tại Khu kinh tế Dung Quất
Tác giả cũng tiến hành phỏng vấn trực tiếp để lấy ý kiến chuyên gia nhằm nhận dạng và xác định các yếu tố ảnh hưởng tới thực hiện chính sách chuyển đổi ngành nghề và việc làm cho người lao động nông thôn khi Nhà nước thu hồi đất
- Nguồn số liệu thứ cấp: Số liệu thứ cấp được thu thập từ Cục thống kê tỉnh Quảng Ngãi, website tổng cục thống kê http://www.gso.gov.vn, số liệu tổng hợp của BQL Khu kinh tế Dung Quất, website của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi
5 Đóng góp về khoa học và thực tiễn của đề tài
Về khoa học: Hệ thống hóa về mặt lý luận và thực tiễn các chính sách tạo việc
làm cho người dân khi bị thu hồi đất
Thực tiễn: Đề tài đánh giá được thực trạng, tình hình thực hiện chính sách tạo
việc làm cho người dân bị thu hồi đất tại KKT Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi, từ đó đề
Trang 16xuất một số hàm ý chính sách, góp phần hoàn thiện chính sách, nâng cao hiệu quả chất lượng của thực hiện chính sách tạo việc làm cho người dâ n bị thu hồi đất tại KKT Dung Quất nói riêng và ở Việt Nam nói chung trong những năm tiếp theo Đề tài không những góp phần quan trọng trong lĩnh vực nghiên cứu mà còn phát huy vai trò
tư vấn, là tài liệu tham khảo cho cán bộ lãnh đạo KKT Dung Quất Quảng Ngãi trong xây dựng, hoạch định chính sách về tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất
6 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Tạo việc làm cho người lao động ở nông thôn đang là vấn đề, là bài toán khó của Chính phủ và các cấp, ngành địa phương trong việc đảm bảo phát triển ổn định, bền vững, an sinh xã hội, ổn định cuộc sống Nếu không đánh giá tổng quát, khoa học về sự tác động của thu hồi đất đến việc làm, ngành nghề của người nông dân, không có cơ chế, chính sách thực hiện sẽ không tìm ra “cái đích” cho việc ổn định chính trị, kinh tế -
xã hội Vì vậy, đã có nhiều tác giả nghiên cứu vấn đề này, nhiều đề án đưa ra các giải pháp giải quyết vấn đề này như:
- Tác giả Nguyễn Thị Thơm và Phí Thị Hằng (2010) chủ biên“Giải quyết việc
làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa” Các tác giả đã bàn về
những vấn đề nảy sinh do quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, đô thi hóa các khu công nghiệp, Khu kinh tế , đã làm cho đất đai sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp, người nông dân mất tư liệu sản xuất chủ yếu đồng nghĩa với việc mất hoặc thiếu việc làm, gây nên nhiều vấn đề xã hội khác nảy sinh
- Tác giả Trần Thị Minh Ngọc (2010) chủ biên “Việc làm của nông dân trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2010” Trên
cơ sở phân tích, đánh giá những thuận lợi, khó khăn trong giải quyết việc làm cho nông dân vùng đồng bằng sông Hồng trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, từ đó
đề ra phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm thực hiện có hiệu quả vấn đề giải quyết việc làm cho nông dân
- Nguyễn Văn Nhường (2010): “Chính sách an sinh xã hội đối với người nông
dân sau khi thu hồi đất để phát triển cụm công nghiệp (nghiên cứu tại Bắc Ninh)” Tác
giả đi sâu vào phân tích những nội dung lý luận về chính sách an sinh xã hội đối với nông dân bị thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp, đồng thời đánh giá thực trạng đời sống người dân bị thu hồi đất nông nghiệp tại Bắc Ninh
- Nguyễn Dũng Anh (2014): “Việc làm cho nông dân bị thu hồi đất trong quá
trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở thành phố Đà Nẵng” Tác giả đi sâu vào việc đề
xuất, các giải pháp chủ yếu về việc làm cho nông dân bị thu hồi đất trong thời gian đến
Trang 17- Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” số 1956 của Thủ
tướng Chính phủ năm 2009
- Đề án “Đào tạo, giải quyết việc làm và chuyển đổi ngành nghề cho lao động
thuộc các hộ dân nhường đất cho dự án trong KKT Dung Quất giai đoạn đến năm
2015 ” số 37 của UBND tỉnh Quảng Ngãi, năm 2014
- Đặng Thị Mai Trâm (2010): “Nghiên cứu thực trạng và giải pháp phát triển
kinh tế ở các khu tái định cư trên địa bàn Dung Quất” Tác giả đề cập đến vấn đề vị trí,
điều kiện thổ nhưỡng hiện có để phát triển kinh tế ở các khu tái định cư Bên cạnh
đó, có nhiều bài viết về bồi thường, hỗ trợ và Tái đinh cư được đăng trên các tạp chí
uy tín như: Chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của Nguyễn Thị Phượng đăng trên Tạp chí Quản lý Nhà nước số 176 (tháng 9/2010); Pháp
luật về bồi thường, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của Singapore và Trung Quốc – những gợi mở cho Việt Nam trong hoàn thiện pháp luật về bồi thường, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của Nguyễn Quang Tuyến và Nguyễn Ngọc Minh đăng trên
Tạp chí Luật học số 10/2010; Chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong thu hồi
đất: Vấn đề và giải pháp của Đỗ Phú Hải đăng trên Tạp chí cộng sản số chuyên đề
5/2014,
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn dự kiến gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của chính sách tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất ở Việt Nam
Chương 2: Thực trạng triển khai chính sách tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất tại Khu kinh tế Dung Quất tỉnh Quảng Ngãi
Chương 3: Định hướng và đề xuất những hàm ý góp phần hoàn thiện chính sách tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất tại Khu kinh tế Dung Quất tỉnh Quảng Ngãi
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM
CHO NGƯỜI DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT TẠI VIỆT NAM
1.1 Các vấn đề chung về thu hồi đất cho phát triển kinh tế tại Việt Nam
1.1.1 Khái niệm thu hồi đất
Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc các ý kiến, các quan điểm của các nhà khoa học, Luật đất đai năm 2013 đã được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2013, có hiệu lục vào này 01/07/2014, tại khoản 11, điều 4 đã quy định:“Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai“
Từ đó, có thể hiểu một cách khái quá về thu hồi đất như sau: “Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại đất và quyền sử dụng đất đã giao cho các chủ thể sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai“
1.1.2 Tác động của thu hồi đất đối với đời sống của người dân
1.1.2.1 Tác động tích cực
- Tạo sức ép mạnh mẽ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, thay đổi cơ cấu việc làm
- Thúc đẩy khả năng tự tạo và tìm kiếm việc làm đối với người lao động
- Tạo cơ hội chuyển đổi việc làm cho người lao động nông nghiệp, đặc biệt là nông dân trong độ tuổi lao động
- Góp phần cơ cấu lại lực lượng lao động theo hướng gia tăng lực lượng lao động trẻ, khỏe, năng động vào phát triển kinh tế
- Góp phần hiện đại hóa đời sống cư dân nông thôn và giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa trên cơ sở lựa chọn, sàng lọc những giá trị truyền thống, tinh hoa văn hóa vùng miền
1.1.2.2 Tác động tiêu cực
Bên cạnh những tác động tích cực đã nêu trên, quá trình thu hồi đất để phát triển các KCN, KKT, KCX nhằm thực hiện CNH, HĐH, đô thị hóa ở nước ta cũng làm nảy sinh những vấn đề kinh tế - xã hội cần quan tâm giải quyết như:
- Trong ngắn hạn, giảm việc làm và thu nhập của lao động nông nghiệp, đặc biệt
là bộ phận nông dân trong độ tuổi lao động bị thu hồi đất
Trang 19- Làm cho một bộ phận người lao động trong diện thu hồi đất nông nghiệp rơi vào tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp
- Gia tăng sức ép tìm kiếm việc làm đối với lao động và tạo áp lực giải quyết việc làm, đảm bảo an sinh xã hội đối với chính quyền địa phương
Đất đai là tư liệu sản xuất, vừa là môi trường sống của người dân Do đó mất đất, đồng nghĩa với mất chỗ ở, mất nơi tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh Hay nói cách khác, việc thu hồi đất của Nhà nước đã ảnh hưởng bất lợi đến người dân bị mất đất trên các phương diện sau đây:
- Mất chỗ ở
Chỗ ở của người dân không chỉ đơn thuần là nơi họ ăn ở mà còn gắn với tài sản, môi trường, các quan hệ kinh tế xã hội, văn hóa địa bàn đó Khi thu hồi đất, Nhà nước không chỉ thu hồi quyền sử dụng diện tích đất, mà còn lấy đi của họ cơ hội tiếp nối cuộc sống quen thuộc, tập quán của họ, buộc họ phải chuyển sang một địa bàn mới với các quan hệ và cơ hội không giống trước Đối với những người khó thích nghi với điều kiện mới, nhất là đối với những nông dân đã trên 45 tuổi, đối với những người dân đã gắn với làng nghề truyền thống,… thì việc di dời là một biến cố nặng nề Hơn nữa, khi chuyển nhà, các chi phí phát sinh do cần xây dựng lại nhà cửa, tạo dựng hạ tầng sinh hoạt, dịch vụ chung là khá lớn, nếu không có sự hỗ trợ bên ngoài, nhiều người dân mất đất sẽ không tự giải quyết được Đặc biệt, khi di dời chỗ ở nhiều người dân có tâm lý không thoải mái, tâm lý bị thua thiệt Nếu không có sự đã thông tư tưởng và một số hình thức bồi thường thích hợp, không có chuyển đổi ngành nghề và việc làm những người dân có thể bị kích động, phản ứng tiêu cực với chính sách thu hồi đất của Nhà nước
- Mất tư liệu sản xuất
Đất bị thu hồi là đất nông nghiệp hay phi nông nghiệp đều là tư liệu sản xuất quan trọng Khi nhà nước thu hồi có bồi thường bằng diện tích đất khác đi chăng nữa cũng làm cho người bị mất đất thua thiệt trên các phương diện như: mất địa thế của địa điểm đã quen dùng; mất một phần thành quả đầu tư vào đất Chính vì vậy, người sử dụng đất không muốn giao đất cho Nhà nước nếu không được bồi thường, hỗ trợ xứng đáng
Sự mất mát, thua thiệt, tâm lý lo sợ tương lai không rõ ràng khiến nhiều người tìm mọi cách để không phải giao đất cho Nhà nước, từ vận động hành lang quy hoạch đến chây ì, phản đối tập thể… Muốn thu hồi đất hiệu quả, Nhà nước phải có phương
án giải quyết thỏa đáng các mâu thuẫn này
Trang 20- Bức xúc vì phân chia lợi ích không công bằng
Do chuyển mục đích sử dụng đất hoặc xây dựng cơ sở hạ tầng trên đất thu hồi
sẽ làm cho một số chủ thể kinh tế có lợi ích tăng lên (ví dụ doanh nghiệp nhận đất
xây dựng khu đô thị, người có đất hai bên đường mới làm,…) đi đôi với thua thiệt
trông thấy của người dân mất đất dẫn đến các xung đột lợi ích gay gắt
Do nhiều địa phương thiếu quỹ đất nông nghiệp để bồi thường thích đáng cho nông dân, nên nhiều nông dân, sau khi nhận tiền bồi thường, đã không có công ăn việc làm, nên tiền bồi thường nhanh chóng tiêu hao Nơi ở mới nhiều khi không được xây dựng cơ sở hạ tầng hoàn thiện, đồng bộ, thiếu điều kiện sinh hoạt làm cho cuộc sống của họ ở nơi tái định cư càng khó khăn hơn
Ngoài ra, việc thu hồi đất không chỉ gây tác động bất lợi cho người mất đất mà còn tạo thêm sức ép cho Nhà nước về phương diện tài chính, về công tác quản lý và điều hành Chính vì thu hồi đất có nhiều tác động không mong muốn như vậy nên Nhà nước một mặt phải có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hợp lý, dài hạn, ổn định, nhằm hạn chế xáo trộn; mặt khác, phải xây dựng chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư, xây dựng chính sách chuyển đổi ngành nghề và việc làm đối với người dân thu hồi đất một cách hợp lý
1.2 Các vấn đề chung về chính sách tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất tại Việt Nam
1.2.1 Khái niệm việc làm
Khái niệm việc làm: Theo khoản 2, Điều 3 Luật Việc làm số 38/2013/QH13 ngày
16/11/2013: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm” [15]
Theo quan niệm trên, một hoạt động được coi là việc làm cần thỏa mãn hai tiêu thức:
Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động
Hai là, hoạt động đó không bị pháp luật ngăn cấm Điều này chỉ ra tính pháp lý
của việc làm
* Một số khái niệm công cụ:
- Khái niệm lao động: có rất nhiều khái niệm khác nhau:
+ Ănghen nhận định “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó chúng ta phải nói đến lao động đã sáng tạo ra bản thân con người”
Trang 21+ Theo Mác: “ Lao động trước hết là một quá trình diễn ra đối với con người và
tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động của mình con người làm trung gian điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ với tự nhiên”
+ Hồ Chí Minh coi lao động là vinh quang Người cho rằng chức năng lao động sản xuất là chức năng đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của một cấu trúc xã hội Trong đó thì người lao động đặt ở vị trí trung tâm là nguồn lực quan trọng quyết định nhất cho yêu cầu của sản xuất
- Nông thôn: là địa bàn rộng lớn là nơi tập trung đông dân cư sinh sống chủ yếu bằng nghề sản xuất nông nghiệp là chính
Nông thôn là vùng địa lý cư trú Theo Từ điển Tiếng Việt: nông thôn là làng mạc sống bằng sản xuất nông nghiệp, khác hẳn với thành thị và có lối sống riêng, văn hóa riêng V.Staroverov – nhà xã hội học người Nga đã đưa ra một định nghĩa khái quát về nông thôn, khi ông cho rằng: “ Nông thôn với tư cách là khách thể nghiên cứu của xã hội học về một phân hệ xã hội có lãnh thổ xác định đã hình thành từ lâu trong lịch sử” nông thôn phân biệt với đô thị hóa bởi trình độ phát triển kinh tế xã hội thấp kém hơn
về mức độ phúc lợi xã hội, sinh hoạt Nông thôn là hệ thống độc lập tương đối ổn định
là một tiểu hệ thống không gian – xã hội
1.2.2 Khái niệm tạo việc làm
Trần Xuân Cầu (2013) cho rằng: Tạo việc làm là quá trình tạo điều kiện kinh tế
xã hội cần thiết để người lao động có thể kết hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, nhằm tiến hành quá trình lao động, tạo ra hàng hóa và dịch vụ theo yêu cầu thị trường
Đó là quá trình tạo ra môi trường hình thành các chỗ làm việc và sắp xếp người lao động phù hợp với chỗ làm việc để có các việc làm chất lượng, đảm bảo nhu cầu của cả người lao động và người sử dụng lao động đồng thời phải đáp ứng được mục tiêu phát triển đất nước
Trang 22Có thể hiểu tạo việc làm là tổng hợp những hoạt động cần thiết để tạo ra những chỗ làm việc mới, giúp người lao động chưa có việc làm có được việc làm; tạo thêm việc làm cho những người lao động đang thiếu việc làm và giúp người lao động tự tạo việc làm
Cơ chế tạo việc làm là cơ chế ba bên gồm có:
- Về phía người lao động: Người lao động muốn tìm việc làm phù hợp có thu nhập cao thì phải có kế hoạch thực hiện và đầu tư phát triển sức lao động, phải tự mình hoặc dựa vào các nguồn tài trợ từ gia đình, từ các tổ chức xã hội để tham gia đào tạo, phát triển, nắm vững một nghề nghiệp nhất định
- Về phía người sử dụng lao động: Người sử dụng lao động bao gồm các doanh nghiệp trong nước thuộc các thành phần kinh tế, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các tổ chức kinh tế xã hội cần có thông tin về thị trường đầu vào và đầu ra, cần
có vốn để mua nhà xưởng, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, sức lao động để sản xuất
ra sản phẩm hoặc dịch vụ Ngoài ra người sử dụng lao động cần có kinh nghiệm, sự quản lý khoa học và nghệ thuật, sự hiểu biết về các chính sách của nhà nước nhằm vận dụng linh hoạt, mở rộng sản xuất, nâng cao sự thỏa mãn của người lao động, khơi dậy động lực làm việc, không chỉ tạo ra chỗ làm việc mà còn duy trì và phát triển chỗ làm việc
- Về phía Nhà nước: Ban hành các luật, cơ chế chính sách liên quan trực tiếp đến người lao động và người sử dụng lao động, tạo ra môi trường pháp lý kết hợp lao động với tư liệu sản xuất
1.2.3 Cơ chế tạo việc làm
Để tạo việc làm đòi hỏi phải có sự phối hợp của nhiều cơ quan, tổ chức cũng như người lao động, tạo thành cơ chế; trong đó có cơ chế 3 bên với sự tham gia của người lao động, Nhà nước, doanh nghiệp (người sử dụng lao động)
- Về phía người lao động: muốn có ngành nghề, muốn tìm được việc làm phù
hợp, có thu nhập cao phải có kế hoạch thực hiện và đầu tư cho phát triển sức lao động của mình
- Về phía Nhà nước: Nhà nước tạo hành lang pháp lý, ban hành các luật, cơ chế
chính sách liên quan trực tiếp đến người lao động và người sử dụng lao động, tạo ra môi trường pháp lý kết hợp sức lao động với tư liệu sản xuất là một bộ phận cấu thành trong cơ chế việc làm cho người lao động
Nhà nước có những chính sách khuyến kích đầu tư, đổi mới công nghệ sản xuất;
có chính sách đẩy mạnh và hỗ trợ xuất khẩu lao động thông qua chính sách hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài…
Trang 23- Về phía doanh nghiệp (người sử dụng lao động): Hàng năm và dài hạn xây
dựng kế hoạch tuyển dụng và sử dụng lao động, qua đó phối hợp với chính quyền địa phương và cơ sở đạo tạo nghề thực hiện đào tạo nghề theo địa chỉ, tiếp nhận giải quyết việc làm khi học viên ra trường; ưu tiên tuyển dụng lao động bị ảnh hưởng trong vùng dự án, nhất là lao động những hộ gia đình bị thu hồi đất, bị di dời, giải tỏa nhường đất phục vụ các dự án, các công trình trọng điểm
Các doanh nghiệp trong nước thuộc các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các tổ chức kinh tế xã hội cần có thông tin về thị trường đầu vào và đầu ra để không chỉ tạo ra nghề nghiệp, chỗ làm việc mà còn phải duy trì và phát triển chỗ làm việc cho người lao động
Tóm lại, tạo việc làm cho nguời lao động đòi hỏi có sự tham gia tích cực của ba phía: Nhà nước, doanh nghiệp (người sử dụng lao động) và của chính bản thân người lao động sao cho cơ hội chuyển đổi ngành nghề, việc làm và mong muốn nguyện vọng
có ngành nghề, có việc làm của người lao động nông thôn phù hợp, bềnh vững
1.2.4 Chính sách tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất tại Việt Nam
1.2.4.1 Sự cần thiết của chính sách
Nhà nước cần hỗ trợ nhằm tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất do đất đai là
tư liệu sản xuất chính và quan trọng nhất trong sản xuất nông nghiệp Đất nông nghiệp được thu hồi với mục đích phát triển kinh tế xã hội, phục vụ lợi ích công cộng Việc thu hồi đất nông nghiệp để chuyển đổi sang mục đích sử dụng khác gây thiệt hại trực tiếp cho người có đất bị thu hồi Do đất là tư liệu sản xuất không thể thiếu trong sản xuất nông nghiệp, việc làm của nông dân gắn chặt với đất sản xuất, do đó, cho dù được đền bù thỏa đáng, người bị thu hồi đất cũng không thể thích ứng ngay với việc chuyển sang làm việc trong các ngành nghề, lĩnh vực khác Khi bị thu hồi đất, một bộ phận lao động nông nghiệp mất việc làm truyền thống, thất nghiệp hoặc buộc phải chuyển đổi nghề nghiệp nhưng rất khó khăn, bởi đa số họ đều có trình độ học vấn thấp, không có tay nghề, thiếu vốn để tổ chức việc làm Hơn nữa, đối với họ, việc tìm kiếm một nghề
để ổn định cuộc sống là không đơn giản, vì thiếu những điều kiện cơ bản như vốn, mặt bằng sản xuất, công nghệ Do đó, hỗ trợ tạo việc làm cho họ để ổn định cuộc sống là
vô cùng cần thiết, nhất là giai đoạn đầu
Nhà nước phải hỗ trợ nhằm tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất để ngăn ngừa nguy cơ bất ổn về chính trị, xã hội do tình trạng mất việc làm, không có thu nhập
Trang 24gây ra Ở các quốc gia nông nghiệp, nông dân thường chiếm tỷ trọng đông đảo trong
xã hội Lao động trong nông nghiệp thường chiếm tỷ trọng lớn trong lực lượng lao động Vì thế nếu lực lượng lao động này bị mất việc làm, thiếu việc làm không chỉ tạo
ra tác động tiêu cực đến nền kinh tế mà còn tạo ra những tác động tâm lý, xã hội tiêu cực, tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định chính trị, xã hội, gây sức ép tiếp nhận lao động nhập
cư lên các đô thị Đối với người lao động, mất việc làm là mất nguồn thu nhập, mất kế sinh nhai, con người sẽ mất đi phương cách sống chủ yếu nhất để thể hiện và khẳng định mình Vì vậy, bản thân người lao động và gia đình họ dễ rơi vào tình trạng khốn khó, túng quẩn, khủng hoảng về tinh thần, thiếu niềm tin vào cuộc sống, mặc cảm, tự
ti, dễ bị tổn thương, thậm chí bất mãn về chính trị, gây nên các tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật làm đảo lộn nếp sống lành mạnh và ảnh hưởng xấu đến thuần phong, mỹ tục, gây bất ổn xã hội
- Nhà nước cần hỗ trợ để giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất xuất phát từ những đặc điểm của hoạt động sản xuất nông nghiệp và lao động trong nông nghiệp
Một là, Nhà nước phải hỗ trợ nhằm tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất do
tính chất rủi ro cao của sản xuất nông nghiệp và năng lực hạn chế của người bị thu hồi đất Ngành sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, thời tiết, khí hậu cũng như có những điểm rất khác biệt so với ngành công nghiệp trong chế biến, bảo quản, cất trữ Những đặc điểm đó làm sản xuất nông nghiệp gặp nhiều rủi ro trong sản xuất Cũng vì vậy, tỷ suất lợi nhuận ngành nông nghiệp thường thấp hơn so với các ngành khác Do đó, khả năng tích lũy, mở rộng sản xuất khá hạn chế, đặc biệt trong điều kiện sản xuất phân tán, manh mún, nhỏ lẻ Ở các nước đang phát triển, nông dân được xếp vào nhóm yếu thế trong xã hội Khi thu hồi đất, nhóm yếu thế mất đi phương tiện sinh kế Chính vì thế, việc hỗ trợ của Nhà nước để tạo việc làm mới cho nông dân bị thu hồi đất là vô cùng cấp thiết
Hai là, chất lượng lao động của nông dân còn thấp Ở Việt Nam, nông dân có
truyền thống chịu thương, chịu khó; cần cù, chăm chỉ Tuy vậy, so với các ngành khác, trình độ văn hoá, chuyên môn kỹ thuật của nông dân thấp, ít được đào tạo bài bản; trình độ họ có được chủ yếu nhờ truyền nghề Những hiểu biết của nông dân vẫn đang chủ yếu tập trung ở các kỹ thuật canh tác, sản xuất vốn là yếu tố mang nặng tính kinh nghiệm Đây là yếu tố cản trở lớn đến việc áp dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất,
Trang 25góp phần tăng năng suất lao động và hiệu quả đầu tư, sản xuất Điều đó ảnh hưởng đến mức thu nhập và đời sống của người nông dân, lao động nông nghiệp thấp hơn các ngành nghề khác ngay cả khi chưa bị mất đất - tư liệu sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp
Ba là, việc làm của nông dân mang tính thời vụ Trong sản xuất nông nghiệp,
thời gian gián đoạn lao động là rất lớn Thời gian cây trồng, vật nuôi chịu sự tác động của tự nhiên trong quá trình sinh trưởng chiếm tỷ lệ cao Do vậy, nhu cầu về việc làm
có biên độ dao động lớn giữa các kỳ thu hoạch Kết quả là phần đa nông dân trở nên nhàn rỗi trong giai đoạn đó Chính đặc điểm này đã ảnh hưởng lớn đến mức độ sử dụng lao động khi thời vụ đến và tình trạng thiếu việc làm của nông dân trong thời gian nông nhàn
Bốn là, khả năng tự tạo việc làm của nông dân thấp Năng suất lao động trong
nông nghiệp thấp cùng với tình trạng thiếu việc làm làm cho việc tích lũy, tiết kiệm của nông dân thấp Nguồn lực hạn chế dẫn tới việc người nông dân ít có khả năng mở rộng sản xuất từ đó làm cho khả năng tự tạo việc làm của nông dân thấp Các nước đang phát triển phần lớn là các nước có xuất phát điểm thấp (nghèo, trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật thấp), đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn Quá trình
đô thị hóa đã tạo ra nhiều cơ hội cho người lao động có việc làm nâng cao thu nhập, ổn định đời sống, song tình trạng đói, nghèo, thiếu vốn đầu tư đã hạn chế việc mở rộng cơ
sở sản xuất hoặc phát triển các ngành nghề mới, thu hút lao động mới khỏi lĩnh vực nông nghiệp (mất đất, không có đất để canh tác do đô thị hóa ) hoặc một bộ phận lao động nông nghiệp thiếu việc làm lúc thời vụ nông nhàn Do đó, để tự giải quyết việc làm cho mình là rất khó khăn, để giải quyết vấn đề việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa cần phải có sự quan tâm giúp đỡ của Nhà nước cũng như các cấp, các ngành liên quan
1.2.4.2 Mục tiêu và nguyên tắc xây dựng chính sách
1.2.4.2.1 Mục tiêu của chính sách
Tạo việc làm cho lao động ở nông thôn khi Nhà nước thu hồi đất là một nhân tố quan trọng góp phần cho sự phát triển kinh tế của đất nước Sự phát triển này phụ thuộc vào nhiều nhân tố như tài nguyên, vốn, lao động, công nghệ, đào tạo, trong đó việc chọn ngành nghề và sử dụng lao động là nhân tố quan trọng, nhất là đối với một nước nông nghiệp đang phát triển như Việt Nam Việc để không một lực lượng lớn người lao động không sử dụng đến gây lãng phí, tổn thất lớn cho xã hội, đồng thời lao
Trang 26động nhàn rỗi, thất nghiệp sẽ dễ dẫn đến tệ nạn xã hội Chính vì vậy, giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn khi Nhà nước thu hồi đất là hoạt động rất quan trọng đối với xã hội, doanh nghiệp và chính bản thân người lao động
- Đối với xã hội:
Trong thời đại CNH-HĐH hiện nay, quốc gia nào cũng muốn thoát khỏi tình trạng kinh tế nông nghiệp lạc hậu để chuyển sang nền kinh kế công nghiệp, nhằm có được năng suất sản xuất tăng, đời sống của con người nâng cao, từ đó mới có thể đưa được nền kinh tế của xã hội phát triển Giải quyết việc làm là một yếu tố cần thiết nhằm giảm tình trạng thất nghiệp, giảm gánh nặng cho xã hội trong việc ổn định cuộc sống cho người lao động Đồng thời giải quyết việc làm giúp cho cuộc sống của người dân được nâng cao, hạn chế được những vấn đề tiêu cực do lao động dư thừa trong xã hội gây nên và góp phần xóa đói giảm nghèo, giúp giải quyết được các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội, an sinh xã hội
- Đối với các doanh nghiệp
Tạo việc làm cho lao động ở nông thôn khi Nhà nước thu hồi đất còn giúp duy trì
sự tồn tại và phát triển cho các doanh nghiệp Lao động là một yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy sản xuất, càng nhiều lao động thì lượng sản phẩm tạo ra càng tăng, từ đó giúp các doanh nghiệp phát triển lớn mạnh, bền vững Đặt biệt là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn ít, quá trình sản xuất chủ yếu dựa vào lao động hơn là máy móc Đồng thời, dù công nghệ ngày càng tiến bộ nhưng máy móc, thiết bị cũng không thể tự hoạt động, mà phải dựa trên sự điều khiển của con người Vì vậy, trên thực tế các doanh nghiệp luôn cần tuyển lao động có tay nghề, trình độ cao
- Đối với người lao động bị thu hồi đất
Giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn khi Nhà nước thu hồi đất là biện pháp cải thiện giúp người lao động sớm ổn định được đời sống, góp phần nâng cao thu nhập cho bản thân cũng như gia đình người lao động Khi đó, ý thức của người lao động trong việc nâng cao trình độ, nhận thức tăng lên, biết đầu tư nhiều hơn vào đào tạo, tìm ngành nghề, việc làm cho tầng lớp con em Đồng thời cũng giúp giảm sự phân cấp giàu nghèo giữa các tầng lớp trong xã hội
Hiện nay đất nước đang ngày càng phát triển, rất cần đến sự đóng góp không nhỏ của lực lượng lao động, trong đó việc làm cho lao động ở nông thôn khi Nhà nước thu hồi đất là rất cần thiết, đôi lúc cấp thiết Nếu người dân bị thu hồi đất canh tác sẽ trở nên thất nghiệp (không có ngành nghề, việc làm), cuộc sống bị gián đoạn ổn định, sự
Trang 27phát triển kinh tế có thể bị chững lại, mọi bước đi đều trở nên chông chênh Nhà nước cần tạo ra chính sách đào tạo nghề, chuyển đổi ngành nghề, tạo việc làm, mà chú trọng vào đối tượng trong tuổi lao động, thành niên, bởi đây chính là lực lượng nòng cốt, là xương sống để phát triển kinh tế của hộ gia đình Nếu đẩy mạnh quá trình CNH-HĐH
mà không gắn liền với quyền lợi và việc làm, ngành nghề của người lao động bị thu hồi đất thì sẽ tạo ra sự mất ổn định trong xã hội, làm chậm tiến trình CNH
1.2.4.2.2 Nguyên tắc xây dựng chính sách
- Chính sách việc làm cho lao động ở nông thôn khi Nhà nước thu hồi đất là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành và xã hội nhằm cho người dân ở nông thôn có việc làm, có ngành nghề nâng cao chất lượng lao động nông thôn, đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn
- Học nghề là quyền lợi và nghĩa vụ của lao động nông thôn nhằm có việc làm, chuyển đổi nghề, phù hợp thực tiễn, tăng thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống
- Chuyển mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn từ đào tạo theo năng lực sẵn có của cơ sở đào tạo sang đào tạo theo nhu cầu học nghề của lao động nông thôn
và yêu cầu của thị trường lao động, theo sự phát triển của đất nước; gắn đào tạo nghề, việc làm với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phát triển cơ
sở hạ tầng… của cả nước, từng vùng, từng ngành, từng địa phương
- Đổi mới và phát triển đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo và tạo điều kiện thuận lợi để lao động nông thôn tham gia học nghề phù hợp với trình độ học vấn, độ tuổi, điều kiện kinh tế và nhu cầu học nghề của mình
- Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức tạo sự chuyển biến sâu sắc về mặt chất lượng, hiệu quả đào tạo
1.2.4.3 Nội dung của chính sách
Hiện nay, chúng ta đang áp dụng hỗ trợ cho người lao động nông thôn trong việc CĐNN và giải quyết việc làm khi nhà nước thu hồi đất theo quyết định 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ [20]; Quyết định số 52/2012/QĐ-TTg ngày 16/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ [22]; Nghị định số 61/2015/NĐ-CP ngày 9/7/2015 của Chính phủ [18]
- Đào tạo nghề, tập huấn chuyển đổi ngành nghề
- Người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp có nhu cầu đào tạo, học nghề, CĐNN được nhận vào các cơ sở đào tạo nghề và được hỗ trợ chi phí như sau:
Trang 28+ Học nghề ngắn hạn (trình độ sơ cấp và dạy nghề dưới 3 tháng) được Nhà nước
hỗ trợ chi phí học nghề theo quy định tại Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009
và Quyết định 52/2012/QĐ-TTg ngày 16/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ
+ Học nghề trình độ trung cấp, cao đẳng được Nhà nước trả học phí cho một khóa học Mức học phí được Nhà nước trả bằng mức thu học phí thực tế của cơ sở đào tạo nhưng tối đa không quá mức trần học phí đối với cơ sở đào tạo nghề trung cấp, cao đẳng công lập theo quy định của pháp luật
Kinh phí hỗ trợ học nghề trình độ trung cấp, cao đẳng được bố trí từ kinh phí hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề nằm trong phương án đào tạo, chuyển đổi nghề và được tính trong tổng kinh phí của dự án đầu tư hoặc phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được duyệt
- Đối với người lao động thuộc hộ gia đình bị thu hồi đất nông nghiệp đồng thời cũng thuộc đối tượng vay vốn theo quy định tại Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg ngày 27/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ
- Tạo việc làm trong nước
- Người lao động bị thu hồi đất có nhu cầu tìm việc làm được hỗ trợ:
+ Tư vấn học nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí tại các Trung tâm giới thiệu việc làm trực thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
+ Ưu tiên vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm theo quy định của pháp luật + Cơ sở sản xuất kinh doanh, chủ đầu tư, doanh nghiệp được cấp đất thực hiện các dự án đầu tư nhận nhiều lao động bị thu hồi đất nông nghiệp vào làm việc được hưởng các chính sách ưu đãi về đất đai, tín dụng, thuế theo quy định của pháp luật
- Hỗ trợ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
- Người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài được hỗ trợ như sau:
+ Hỗ trợ 100% phí học nghề, ngoại ngữ, bồi dưỡng kiến thức cần thiết theo quy định pháp luật về người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
+ Hỗ trợ 100% chi phí khám sức khỏe, làm hộ chiếu, thị thực và lý lịch tư pháp trước khi đi làm việc ở nước ngoài theo mức quy định của Nhà nước;
+ Hỗ trợ tiền ăn hàng ngày trong thời gian đi học theo mức quy định tại Quyết định số 1956/QĐ-TTg; số 52/QĐ-TTg
Trang 29+ Hỗ trợ tiền đi lại 01 lượt đi và về từ nơi cư trú đến nơi học đối với các học viên
ở cách địa điểm học trên 15 km theo giá vé thông thường của phương tiện công cộng tại thời điểm thanh toán;
+ Được vay vốn với lãi suất ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội để chi trả các chi phí cần thiết để đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài
Mức cho vay tối đa bằng tổng chi phí cần thiết mà người lao động phải đóng góp theo quy định ghi trên hợp đồng đối với từng thị trường lao động
Lãi suất bằng lãi suất cho vay hiện hành với người lao động không thuộc huyện nghèo đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài tại Ngân hàng Chính sách xã hội
Thời hạn cho vay tối đa bằng thời gian đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng
- Giải quyết việc làm tại chỗ, việc làm khác, tăng việc làm
- Số lao động thuộc các hộ gia đình bị thu hồi đất có độ tuổi từ 36 tuổi trở lên, không có khả năng học nghề để chuyển đổi nghề nghiệp:
+ Khuyến khích các tổ chức và cá nhân có điều kiện thành lập doanh nghiệp vừa
và nhỏ, hợp tác xã sản xuất, dịch vụ, tổ hợp tác sản xuất kinh doanh, cơ sở sản xuất, tổ, nhóm liên kết cùng sở thích sản xuất; Tiếp tục sản xuất nông lâm ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; tổ chức hướng dẫn, xây dựng các mô hình sản xuất nông nghiệp áp dụng
kỹ thuật tiên tiến để người dân học tập và làm theo
+ Được vay vốn Quỹ quốc gia giải quyết việc làm, vay tại Ngân hàng chính sách
xã hội để thực hiện các dự án nhỏ, các mô hình sản xuất
+ Đối với lao động tiếp tục sản xuất nông nghiệp: thì Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn, phòng nông nghiệp và các đơn vị có liên quan phối hợp với Hội nông dân, phụ nữ, thanh niên chịu trách nhiệm tư vấn, giới thiệu các mô hình, tổ chức tập huấn, hướng dẫn chuyển giao kỹ thuật, công nghệ để người lao động có việc làm + Đối với lao động chuyển đổi ngành, nghề để hoạt động trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, làng nghề: thì ủy ban cấp huyện phối hợp cùng Sở công thương, Liên minh hợp tác hướng dẫn, khuyến khích việc thành lập hợp tác xã, tổ hợp sản xuất hướng dẫn, hỗ trợ thành lập các doanh nghiệp vừa và nhỏ để thu hút lao động nhằm giải quyết việc làm
1.2.5 Các tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện chính sách tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất tại Việt Nam
- Tỷ trọng người lao động tìm được việc làm và tỷ trọng người lao động tìm được làm việc trong các khu công nghiệp, doanh nghiệp lớn Tiêu chí này phản ánh hiệu quả
Trang 30của các chính sách hỗ trợ của Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp
và năng lực của người lao động
- Tỷ trọng người lao động được hỗ trợ đào tạo nghề, đào tạo lại, chuyển đổi nghề
và tỷ trọng người lao động được đào tạo phù hợp với nhu cầu của thị trường trong tổng số lao động Tiêu chí này phản ánh hiệu quả của công tác hỗ trợ đào tạo nghề, đào tạo lại, chuyển đổi ngành nghề cho người lao động
- Tỷ trọng người lao động không kiếm được việc làm ổn định, lâu dài, có đời sống bấp bênh, gặp nhiều khó khăn trong tổng số lao động Tiêu chí đánh giá này phản ánh kết quả công tác giải quyết việc làm cho người lao động
- Tỷ trọng người lao động được Nhà nước hỗ trợ xuất khẩu lao động để giải quyết việc làm trong tổng số lao động Tiêu chí này giúp phản ánh hiệu quả công tác xuất khẩu lao động giải quyết việc làm cho người lao động
- Mức độ, hiệu quả phối hợp giữa chính quyền địa phương với các tổ chức, các doanh nghiệp trong việc xây dựng và thực hiện các kế hoạch, dự án, chương trình đào tạo nghề, đào tạo nghề lại cho người lao động để họ có thể đáp ứng được các yêu cầu của thị trường lao động và có thể tìm được một công việc thích hợp
- Đánh giá tổng quát về công tác thực hiện các chính sách của Trung ương và địa phương về giải quyết việc làm cho người dân Nếu công tác giải quyết việc làm cho người dân được Trung ương và địa phương thực hiện tốt, đảm bảo tính minh bạch, xuyên suốt với tầm nhìn lâu dài thì góp phần hiệu quả trong giải quyết nhu cầu việc làm lâu dài và ổn định cuộc sống của người dân
1.2.6.Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất tại Việt Nam
1.2.6.1 Quy định của chính sách, cơ sở pháp lý có liên quan
Cơ chế chính sách của Chính phủ, của chính quyền địa phương, các quy định của các chủ doanh nghiệp, cơ sở sản xuất là nhóm nhân tố quan trọng giải quyết việc làm, CĐNN cho người lao động Trong mỗi thời kỳ khác nhau, Chính phủ sẽ đề ra những chính sách cụ thể, tạo hành lang pháp lý cho phát triển sản xuất, phát triển kinh tế xã hội cải thiện đời sống, mở rộng hoặc thu hẹp việc làm, ngành nghề của lĩnh vực này hay lĩnh vực khác, tạo môi truờng để người chủ sử dụng lao động và người lao động gặp nhau Chính sách và cơ chế của Nhà nước cũng trực tiếp hoặc gián tiếp khuyến khích các chủ sử dụng lao động thu hút lao động Có thể nói nhóm nhân tố này rất đa
Trang 31dạng, như các chính sách kinh tế vĩ mô, vi mô của Nhà nước chung hoặc theo ngành, lĩnh vực, vùng lãnh thổ… và có ảnh hưởng lớn đến việc làm, ngành nghề cho người lao động
Bộ luật Lao động của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam có hiệu lực từ ngày 01/5/2013 với 242 Điều, đã tạo thành nền tảng cho khung pháp lý của thị trường lao động ở nước ta
Tóm lại, cơ chế chính sách của Chính phủ, chính quyền địa phương và việc áp dụng nó vào thực tiễn có tác động mạnh mẽ đến cầu lao động của doanh nghiệp, của thị trường lao động Đến lượt nó trực tiếp tác động đến thái độ, hành vi, cách ứng xử của chủ doanh nghiệp trong thu hút lao động
1.2.6.2 Điều kiện tự nhiên, vốn và công nghệ
Nhu cầu có ngành nghề, việc làm bắt nguồn từ đòi hỏi của sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội Sản xuất càng phát triển, quy mô ngày càng mở rộng thì nhu cầu việc làm càng lớn Muốn mở rộng sản xuất, phát triển kinh tế phải dưạ vào những tiền đề vật chất Trong thực tế có những nước rất nghèo tài nguyên thiên nhiên như Nhật Bản nhưng có công nghệ hiện đại, máy móc tiên tiến, có phương pháp quản lý hiện đại đã giải quyết được nhiều việc làm, ngành nghề có chất lượng cao, nâng cao đời sống của nhân dân Đặc biệt, yếu tố sức lao động liên quan đến thể lực, trí tuệ, kinh nghiệm quản lý và sản xuất, cơ chế, chính sách của mỗi quốc gia, của chính quyền địa phương
và những quy định cụ thể của chủ sản xuất kinh doanh là những nhân tố ảnh hưởng đến việc làm, ngành nghề cho người lao động
Bên cạnh đó, sự đổi mới và nâng cao nhanh chóng tiến bộ khoa học và công nghệ trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân tác động đến việc làm
1.2.6.3 Chất lượng lao động
Cơ chế việc làm đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ của 3 phía: Doanh nghiệp (người sử dụng lao động), người lao động, và Nhà nước Do đó, nhân tố có ảnh hưởng quyết định đến việc làm cho người lao động là sức lao động trên hai phương diện số lượng
và chất lượng Trong bối cảnh của một nước đang phát triển như Việt Nam, vấn đề quan trọng nhất là chất lượng sức lao động Do đó, người lao động muốn kiếm được việc làm và nhất là việc làm có thu nhập cao, phù hợp với năng lực, trình độ, cần phải
có thông tin thị trường lao động, biết các cơ hội việc làm và đặc biệt phải đầu tư cho sức lao động của mình, tức đầu tư vào vốn con người cả về thể lực và trí tuệ
Trang 321.2.6.4 Các nhân tố khác
Trong thực tế ngoài yếu tố vốn đầu tư; nguyên, nhiên vật liệu, năng lượng, số lượng và chất lượng lao động, nhu cầu thị trường đối với sản phẩm hàng hóa, còn nhiều yếu tố khác phức tạp hơn tác động đến quá trình giải quyết việc làm, ngành nghề Ví dụ như, do giá xăng dầu tăng nhanh dẫn đến giá thành sản phẩm tăng, hàng hóa không tiêu thụ được, sản xuất bị đình đốn, thất nghiệp tăng Cơ sở hạ tầng yếu kém cũng ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình giải quyết việc làm, ngành nghề
1.3 Bài học kinh nghiệm về thực hiện chính sách tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất ở nước ngoài và một số địa phương trong nước
1.3.1 Kinh nghiệm các tỉnh trong nước
*Kinh nghiệm của tỉnh Đồng Nai
Đồng Nai là một trong một số ít địa phương có quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa diễn ra nhanh nhất của nước ta Đồng thời với sự phát triển đó, vấn đề thu hồi đất sản xuất nông nghiệp cũng diễn ra tương tự Đến năm 2008, Đồng Nai đã thu hồi hơn
150 nghìn ha đất các loại và có hơn 100 nghìn lao động nông nghiệp bị ảnh hưởng bởi quá trình này Để giải quyết việc làm cho số lao động nông nghiệp bị thu hồi đất, lãnh đạo tỉnh Đồng Nai đã có nhiều biện pháp rất tích cực, vừa nhanh chóng ổn định đời sống của người dân tái định cư, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho những lao động bị thu hồi đất nhanh chóng ổn định việc làm Và đến nay, vấn đề giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất ở địa phương này có những thành công nhất định Thể hiện trên một số mặt sau:
Thứ nhất, việc tập trung ổn định chốn ăn ở và việc làm cho những người trong diện di dời, giải tỏa, thu hồi đất là ưu tiên hàng đầu của lãnh đạo tỉnh trong việc tiến hành quy hoạch và xét duyệt triển khai các dự án
Thứ hai, ưu tiên giải quyết việc làm cho những lao động bị thu hồi đất
Đây là ưu tiên được tỉnh cam kết mạnh mẽ đối với những lao động này Nhờ sự quan tâm của chính quyền các cấp và việc tích cực học nghề của người lao động nên
đã có hàng chục ngàn lao động chuyển đổi thành công nghề, trở thành những công nhân thực thụ của môi trường công nghiệp và dịch vụ
Thứ ba, thường xuyên hướng dẫn các cách thức, biện pháp tạo việc làm cho người lao động, để bản thân họ có thể tự tạo việc làm cho mình và cho người khác Thứ tư, kêu gọi và khuyến khích các doanh nghiệp ưu tiên tuyển dụng lao động
bị thu hồi đất cho phát triển công nghiệp, đô thị
Trang 33Các doanh nghiệp tích cực và chủ động tạo điều kiện cho người lao động tham gia học nghề ở doanh nghiệp mình, sau đó tuyển dụng vào làm việc
*Kinh nghiệm của tỉnh Hải Dương
Hải Dương là tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, có phần lớn dân số trong độ tuổi lao động sống ở nông thôn (82,5%) Cơ cấu lao động chủ yếu là nông nghiệp, giản đơn, chưa qua đào tạo, tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật còn thấp Trên địa bàn tỉnh Hải Dương có nhiều KCN đã góp phần rất lớn vào phát triển kinh tế của tỉnh Song cũng đặt ra những thách thức lớn về việc làm do trong quá trình hình thành các KCN dẫn đến thu hồi đất của người lao động ở nông thôn
Từ năm 2005-2010, Hải Dương đã có hàng ngàn ha đất nông nghiệp bị thu hồi Việc thu hồi đất nhằm thực hiện CNH, đô thi hóa đã liên quan đến việc làm của khoảng 12.000 người lao động, trong đó có khoảng 9.000 người lao động chưa tìm được việc làm
Để GQVL việc làm cho số lao động nêu trên, Hải Dương đã đưa ra các giải pháp
cơ bản như sau:
- Tạo việc làm qua giáo dục - đào tạo, đặc biệt là hệ thống đào tạo nghề và hướng nghiệp cho lao động nông thôn, trong đó chú trọng đến các lớp đào tạo ngắn hạn để trang bị tay nghề cho người lao động, thông qua đó họ có thể tìm cho mình một công việc phù hợp cho chính bản thân
- GQVL thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, trước hết là chương trình phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, phát triển các ngành nghề truyền thống để thu hút lao động
- Tạo việc làm thông qua chương trình phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
- GQVL thông qua nguồn vốn vay quỹ Quốc gia về GQVL
- GQVL qua đẩy mạnh xuất khẩu lao động ra các thị trường, trong đó chú trọng đến lao động ở nông thôn trên cơ sở trang bị cho họ một trình độ nhất định về tay nghề, chuyên môn, kỹ thuật
*Kinh nghiệm của Thành phố Đà Nẵng
Năm 1997, Đà Nẵng trở thành đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương và đến cuối năm 2003 được Chính phủ xếp hạng đô thị loại I cấp quốc gia Qua khảo sát cho thấy: Lao động trong khu vực nông nghiệp - ngư nghiệp thì có 30,05% giữ nguyên nghề cũ, chuyển sang nghề khác là 18,94%, có việc làm không ổn định 16,17% và
Trang 34không có việc làm 34,84% Hơn nữa trong số này nhiều người có nhu cầu học nghề, còn lại là không đủ điều kiện để học nghề; số lượng lao động mất việc làm khá lớn đang trở thành những bức xúc đòi hỏi Đà Nẵng phải có những giải pháp để khắc phục Trước tình hình trên Đà Nẵng đã có những giải pháp như sau:
- Tiếp tục thực hiện đầy đủ chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người dân khi Nhà nước thu hồi đất, đồng thời thường xuyên rà soát bổ sung chính sách cho phù hợp
- Cho vay vốn để sản xuất kinh doanh từ nguồn vốn vay của Ngân hàng chính sách, nguồn Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm
- Miễn thuế, giảm thuế sản xuất kinh doanh đối với những hộ nông dân chịu ảnh hưởng của quá trình thu hồi đất
- Tăng đầu tư ngân sách để mở rộng hoạt động dạy nghề, đặc biệt tăng chỉ tiêu dạy nghề dài hạn để từng bước tăng nhanh đội ngũ công nhân lành nghề cho thành phố
- Vận động nông dân lập trang trại, thuê mặt nước để nuôi trồng thủy sản tự tạo việc làm cho mình cũng như cho người khác
- Có văn bản quy định đối với các doanh nghiệp được giao đất tại các KCN phải
có trách nhiệm tiếp nhận lao động bị thu hồi đất vào làm việc tại doanh nghiệp
- Sở LĐ-TB&XH chỉ đạo ngành tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các giải pháp, đặc biệt là phối hợp với Hội Nông dân điều tra khảo sát tình hình đời sống hội viên lao động bị mất đất sản xuất, di dời giải tỏa trên địa bàn, phân loại nguồn lao động của các
hộ để có kế hoạch đào tạo nghề và giải quyết việc làm phù hợp
Qua đó, Đà Nẵng đã thu được một số kết quả: Giải quyết việc làm cho khoảng 80.000 lao động mỗi năm, tỷ lệ sử dụng quỹ thời gian lao động ở nông thôn lên 82% Nhìn chung cơ cấu lao động của thành phố theo hướng công nghiệp - du lịch - dịch vụ làm mũi nhọn
* Đánh giá chung về kinh nghiệm trong nước
Ở Việt Nam, một số chính sách hỗ trợ nhằm đào tạo nghề và GQVL cho người lao động khu vực chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp đã được thực hiện Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác GQVL, chuyển đổi ngành nghề ở nước
ta cũng còn những bất cập và hạn chế
Từ trước năm 2004, thực hiện Nghị đinh số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/04/1998 của Chính phủ quy định về việc hỗ trợ nông dân khi bị thu hồi đất nông nghiệp, lao
Trang 35động nông nghiệp sau khi bị thu hồi đất đã được hỗ trợ trực tiếp kinh phí đào tạo để chuyển nghề Nhiều địa phương đã thực hiện tốt như Đà Nẵng; Thành phố Hà Nội; Tiền Giang …
Từ 2009 về sau, nhiều địa phương đã thực hiện cơ chế chuyển tiền cho các cơ sở dạy nghề đào tạo miễn phí cho người lao động có đất nông nghiệp bị thu hồi, hỗ trợ kinh phí cho các doanh nghiệp nhận dạy nghề cho người lao động hoặc nhận lao động vùng chuyển đổi như Hải Dương, Bình Dương, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Đồng Nai
Trong quá trình thực hiện dạy nghề, GQVL, nhiều địa phương đã điều chỉnh quy hoạch tái định cư gắn với việc làm, chuyển đổi ngành nghề bổ sung chính sách, đầu tư ngân sách cho đào tạo nghề, hỗ trợ phát triển ngành nghề, mở rộng sản xuất kinh doanh gắn với khu công nghiệp, khu kinh tế đã thu được nhiều kết quả khả quan, được nhân dân đồng tình ủng hộ
Bên cạnh các kết quả đã đạt được còn những hạn chế:
Hầu hết các địa phương chưa gắn việc thu hồi đất nông nghiệp với tái quy hoạch định cư
Việc thông tin, tuyên truyền đến người dân về kế hoạch, quy hoạch chuyển đổi đất thực hiện còn chậm trễ, chưa đầy đủ khiến người dân bị động; chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành trong việc nâng cao nhận thức và định hướng cho người dân học nghề, chuyển đổi phù hợp
Khả năng thu hút lao động vào các KCN, KKT còn thấp Các doanh nghiệp thuộc KCN, KKT chủ yếu tuyển lao động vào các lĩnh vực công nghệ, kỹ thuật cao nên việc thu hút lao động rất hạn chế
Vấn đề việc làm đối với khu vực chuyển đổi mục đích sử dụng đất đối mặt với nhiều khó khăn do một lượng lớn lao động không đáp ứng được tay nghề
Số lượng lao động trên 35 tuổi chiếm trên 50% Trong sản xuất nông nghiệp đây
là lực lượng lao động có kinh nghiệm, song khi bị thu hồi đất thì họ có nguy cơ thất nghiệp kéo dài, vì tuổi cao khó được tuyển vào các doanh nghiệp
Nhận thức của người lao động còn thụ động, phụ thuộc vào tiền bồi thường mà không chủ động tìm kiếm việc làm Tâm lý chờ sự ưu đãi của Nhà nước và các doanh nghiệp là hiện tượng phổ biến Hiệu quả sử dụng tiền bồi thường thấp
Như vậy, vấn đề bất cập nhất hiện nay là công tác quy hoạch ở vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp chưa gắn kết với kế hoạch chuyển đổi nghề nghiệp
Trang 36và giải quyết việc làm cho người lao động; việc tổ chức thực hiện các chính sách hỗ trợ ở địa phương chưa thiết thực và đồng bộ
1.3.2 Kinh nghiệm ở nước ngoài
*Kinh nghiệm của Thái Lan
Trong những năm gần đây diện tích đất nông nghiệp của Thái Lan đang giảm dần
do tốc độ CNH, sự mở rộng các KCN, đô thị, kéo theo hiện tượng lơ là trong việc áp dụng kỹ thuật canh tác mới theo phương châm bền vững khiến đất canh tác bị rửa trôi, xóa mòn hoặc nhiễm mặn Điều đó khiến người nông dân không mặn mà với nghề nông, bỏ lại ruộng vườn đến những thành phố lớn để tìm việc, tạo áp lực việc làm ở các thành phố lớn Vậy Thái Lan giải quyết vấn đề này như thế nào?
- Bên cạnh những chính sách khuyến khích và hỗ trợ nông dân thì vấn đề liên quan đến “tính mềm” như đào tạo kỹ thuật, nâng cao nhận thức của người nông dân được coi trọng Nhiều trường đại học, cao đẳng, trung học và các khóa học tại chỗ về
kỹ thuật canh tác, chuyển giao công nghệ được mở rộng với nhiều ưu đải nhằm nâng cao trình độ và thu hút nguồn nhân lực ở nông thôn
- Tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giảm rủi ro trong sản xuất nông nghiệp cho người nông dân, xóa bỏ thuế nông nghiệp
- Triển khai chương trình điện khí hóa nông thôn, xây dựng hệ thống thủy lợi đảm bảo tưới tiêu
- Áp dụng tiến bộ khoa học cải tạo đất trồng Điều này giúp tăng diện tích đất canh tác cho nông dân, góp phần sử dụng hiệu quả quỹ đất
*Kinh nghiệm của Trung Quốc
Theo quy luật phát triển của xã hội, CNH và đô thị hóa là sự chọn lựa tất yếu của các quốc gia Trung Quốc, nước đông dân nhất thế giới và cũng là nước có nền công nghiệp phát triển mạnh Trong những năm gần đây, tiến trình đô thị hóa ở Trung Quốc diễn ra rất nhanh, nhưng cũng đồng thời lấy đi nhiều diện tích đất nông nghiệp Do diện tích đất bị thu hồi thì hàng năm có hàng triệu nông dân mất đất, thất nghiệp Vì vậy, sau khi bị thu hồi đất, vấn đề giải quyết việc làm cho người nông dân trở nên cấp bách hơn bao giờ hết Trung Quốc đã thực hiện:
- Tích cực phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp sẽ tạo điều kiện cho người nông dân có việc làm là chính sách lâu dài mà Trung Quốc đang tập trung giải quyết Các địa phương ở Trung Quốc có nhiều cách làm khác nhau để giải quyết vấn đề này như: Thành lập quỹ đào tạo, bồi dưỡng nghề cho người nông dân; khuyến khích các đơn vị ưu tiên sắp xếp việc làm cho người nông dân; khuyến khích nông dân lập nghiệp
Trang 37- Áp dụng chính sách hỗ trợ bảo hiểm xã hội cho người nông dân bị thu hồi đất Tất cả các đơn vị tuyển dụng đối tượng này làm việc phải ký hợp đồng lao động từ 3 đến 5 năm trở lên, mức lương hàng tháng không thấp hơn 120% mức lương tối thiểu của địa phương
* Đánh giá chung về kinh nghiệm ở nước ngoài
Thái Lan và Trung Quốc đã xây dựng thành công hai mô hình công nghiệp hoá nông thôn là mô hình doanh nghiệp tư nhân và mô hình doanh nghiệp tập thể vừa và nhỏ để GQVL, chuyển đổi ngành nghề cho lao động, giảm bớt lượng người nhập cư vào các thành phố lớn, mà còn góp phần tối đa hoá việc phân bổ các nguồn lực ở các khu vực, thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, nó dễ được người nông dân tiếp nhận và hưởng ứng hơn là ngay lập tức để họ vào sống và làm việc ở các đô thị lớn Mô hình doanh nghiệp tư nhân tuy còn thiếu sự tích luỹ vốn ban đầu, nhưng đã đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển công nghiệp, GQVL, ngành nghề ở nông thôn Do tốc độ tăng trưởng cao của các doanh nghiệp địa phương nên đã có rất nhiều
cơ hội việc làm cho lực lượng lao động dôi dư Việc khuyến khích xây dựng các doanh nghiệp địa phương không chỉ góp phần quan trọng trong chuyển đổi ngành nghề và giải quyết việc làm tại chỗ, mà còn góp phần giảm sức ép về việc làm ở các đô thị lớn
* Kết quả đạt được và chưa được của kinh nghiệm một số địa phương trong và ngoài nước:
- Về mặt đạt được là Lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo cơ quan địa phương quan tâm, chú trọng đến việc làm, ngành nghề của người lao động nông thôn, có biện pháp can thiệp đối với các doang nghiệp đầu tư trên địa bàn thu hồi đất về đào tạo và giải quyết việc làm, Hỗ trợ nguồn kinh phí và hướng dẫn sử dụng nguồn kinh phí phù hợp đúng mục đích đối với người lao động…
- Về mặt chưa đạt được là chất lượng đào tạo nghề chưa tốt, đôi lúc chưa xác thực với việc làm của người lao động Sự tồn tại và phát triển của một số ngành nghề
và việc làm còm mang tính cầm chừng, chưa có động lực để thu hút lao động
*Tóm lại: Qua lý luận và thực tiễn của một số địa phương, thực hiện chính sách
tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất là cấp bách, để giúp người nông dân có cơ hội tìm được việc làm mới, có sự gắn kết chặt chẽ với kế hoạch phát triển KT – XH của địa phương, cần phải có sự quan tâm mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị, phải có những hoạch định đúng đắn để thực hiện chính sách phù hợp mang lại hiệu quả
Trang 38CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT TẠI KHU KINH TẾ DUNG QUẤT,
TỈNH QUẢNG NGÃI
2.1.Tổng quan về Khu Kinh tế Dung Quất
Khu kinh tế Dung Quất nằm trên địa bàn huyện Bình Sơn và Sơn Tịnh, trong vùng địa hình đồng bằng của tỉnh Quảng Ngãi, xen kẽ đồi núi thấp và có cả cồn cát ven biển; phía Tây Bắc giáp sân bay Chu Lai, phía Tây giáp quốc lộ 1A, phía Đông và Đông Bắc giáp Biển Đông; phía Tây Nam giáp Thành phố Quảng Ngãi
Khu kinh tế Dung Quất quy hoạch có tổng diện tích khoảng 45.332ha bao gồm: phần diện tích Khu kinh tế hiện hữu là 10.300 ha, phần diện tích mở rộng khoảng 24.280 ha và khoảng 10.752 ha diện tích mặt biển; bao gồm toàn bộ diện tích các xã Bình Đông, Bình Thạnh, Bình Chánh, Bình Thuận, Bình Trị, Bình Hải, Bình Phước, Bình Hòa, Bình Phú, Bình Dương, Bình Thanh Đông, Bình Thanh Tây, Bình Tân, Bình Châu, Bình Thới và một phần diện tích các xã Bình Nguyên, Bình Long, Bình Hiệp, Bình Trung, thị trấn Châu Ổ của huyện Bình Sơn; toàn bộ diện tích các xã Tịnh Phong, Tịnh Hòa, Tịnh Kỳ và một phần xã Tịnh Thọ thuộc huyện Sơn Tịnh; toàn bộ diện tích huyện đảo Lý Sơn; khu vực mặt biển liền kề (diện tích khoảng 10.752 ha) Ngày 10/4/1996 Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 207/TTg về việc phê duyệt chung Khu công nghiệp Dung Quất với tổng diện tích là 10.300 ha; Quyết định 553/TTg ngày 16/8/1996 về việc thành lập Ban quản lý Khu công nghiệp Dung Quất; Quyết định số 514/TTg ngày 10/4/1997 về việc đầu tư dự án Nhà máy lọc dầu số 1 Dung Quất được Quốc hội khóa X thông qua tại Nghị Quyết số 07/1997/QH ngày 05/12/1997 Đây là sự kiện có ý nghĩa lịch sử, tạo bước ngoặt quan trọng cho sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Ngãi nói riêng và Miền Trung nói chung
Ngày 11/3/2005, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 50/2005/QĐ-TTg thành lập Khu kinh tế Dung Quất trên cơ sở KCN Dung Quất Với mục tiêu xây dựng và phát triển Khu kinh tế Dung Quất trở thành Khu kinh tế tổng hợp, đa ngành đa lĩnh vực
Ngày 16/8/2007, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 1056/2005/QĐ-TTg phê duyệt quy hoạch chung xây dựng Khu Kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi đến năm
2020, với tổng diện tích là 10.300 ha
Trang 39Ngày 20/01/2011, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 124/QĐ-TTg phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng Khu Kinh tế Dung Quất đến năm 2025 Theo Quyết định 124/QĐ-TTg , Khu kinh tế Dung Quất có tổng diện tích khoảng 45.332 ha; bao gồm: phần diện tích KKT hiện hữu là 10.300 ha, phần diện tích mở rộng 24.280 ha và khoảng 10.752 ha diện tích mặt biển
KKT Dung Quất là khu kinh tế tổng hợp đa ngành, đa lĩnh vực bao gồm: công nghiệp - thương mại - dịch vụ - du lịch - đô thị và nông lâm ngư nghiệp; trong đó trọng tâm là công nghiệp lọc hóa dầu, công nghiệp hóa chất và công nghiệp nặng với các ngành chủ đạo: luyện cán thép, đóng tàu biển và các ngành công nghiệp khác gắn liền với việc khai thác cảng nước sâu Định hướng phát triển là một thành phố công nghiệp
mở, trung tâm lọc hóa dầu quốc gia, trung tâm đô thị công nghiệp dịch vụ cảng của Vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung với các đô thị Vạn Tường, Dốc Sỏi, Châu Ổ - Bình Long; là một trong các đầu mối về giao thông vận tải, trao đổi hàng hóa và giao lưu quốc tế quan trọng của khu vực miền Trung và Tây Nguyên; có vị trí quan trọng
về an ninh quốc phòng của quốc gia
Trong quá trình hình thành và phát triển của Khu kinh tế Dung Quất từ năm 1996 đến nay; Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, UBND tỉnh Quảng Ngãi xác định đẩy mạnh phát triển Khu kinh tế Dung Quất là nhiệm vụ trọng tâm, có ý nghĩa quyết định tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và sự phát triển của tỉnh Quảng Ngãi Để đạt được nhiệm
vụ đó, ngoài việc xây dựng cơ chế chính sách ưu đãi, đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu
hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đồng bộ để tạo môi trường thuận lợi thì công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, di chuyển dân và tái định cư phục vụ xây dựng và phát triển Khu kinh tế Dung Quất cũng rất quan trọng, nhận được sự quan tâm của cả hệ thống chính trị, là trách nhiệm trực tiếp của các cấp ủy Đảng, chính quyền từ Tỉnh đến
cơ sở Trong đó, công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phục vụ cho các dự án đầu
tư phát triển tại KKT Dung Quất là khâu rất quan trọng, then chốt và không thể thiếu, góp phần vào sự thành công trong quá trình xây dựng và phát triển Khu kinh tế Dung Quất Song song với công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thì việc chuyển đổi ngành nghề và việc làm cho người lao động nông thôn khi nhà nước thu hồi đất là vấn
đề, nội dung không thể kém phần quan trọng, đôi lúc trở nên cấp thiết, kịp thời để đảm bảo sự phát triển Khu kinh tế Dung Quất
Trang 402.2 Thực trạng thu hồi đất cho phát triển Khu Kinh tế Dung Quất
2.2.1 Diện tích đất bị thu hồi của người dân:
Bảng 1: Tình hình quy mô và cơ cấu diện tích đất bị thu hồi cho KKT Dung Quất
của người dân (ha) 3500 662 560 846 458 252 370 352 2.Cơ cấu đất bị thu hồi của
người dân (%) 100 100 100 100 100 100 100 100
Nguồn: Ban quản lý Khu kinh tế Dung Quất
Qua bảng số liệu trên cho ta thấy được, diện tích đất bi thu hồi để phục vụ cho sự phát triển của Khu Kinh tế Dung Quất là rất lớn Phần lớn dân cư trên địa bàn KKT Dung Quất chủ yếu sống bằng nghề truyền thống là nông nghiệp và đánh bắt hải sản
Do đó, phần lớn diện tích đất bị thu hồi ở đây là đất nông nghiệp (chiếm 62,8%)
2.2.2.Tổng số hộ gia đình và người dân bị ảnh hưởng bởi thu hồi đất tại KKT Dung Quất:
Bảng 2: Tình hình hộ gia đình và người dân bị ảnh hưởng bởi thu hồi đất tại
KKT Dung Quất tính đến năm 2016
3.Tổng số dân trong độ tuổi lao động bị ảnh hưởng