1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích chất lượng tăng trưởng kinh tế của tỉnh khánh hòa giai đoạn 2010 2015

81 188 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 2,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bối cảnh các nguồn lực tự nhiên bị hạn chế và dần mất đi, việc nghiên cứu về chất lượng tăng trưởng kinh tế giúp các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách đưa ra được gợi

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

NGUYỄN XUÂN HIẾU

PHÂN TÍCH CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA TỈNH KHÁNH HÒA GIAI ĐOẠN 2010 - 2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KHÁNH HÒA - 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

NGUYỄN XUÂN HIẾU

PHÂN TÍCH CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA TỈNH KHÁNH HÒA GIAI ĐOẠN 2010 – 2015

TS NGUYỄN THỊ TRÂM ANH

Phòng Đào tạo Sau Đại học:

KHÁNH HÒA - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan mọi kết quả nghiên cứu của đề tài “Phân tích chất lượng tăng trưởng kinh tế của tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2010 – 2015” là công

trình nghiên cứu của cá nhân tôi và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm hiện tại

Nha Trang, ngày 19 tháng 9 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Xuân Hiếu

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Phạm Thành Thái, là người thầy đã dành bao nhiêu công sức để giảng dạy cho tôi trong quá trình học tập và cũng là người đã trực tiếp hướng dẫn để tôi có thể hoàn thiện đề tài nghiên cứu của mình

Bên cạnh đó, tôi cũng xin chân thành cảm ơn tất cả thầy, cô của trường Đại học Nha Trang đã cung cấp kiến thức quý báu cho tôi, cũng như quý thầy cô khoa Sau Đại học đã hỗ trợ trong quá trình tôi theo học chuyên ngành Kinh tế phát triển Cũng nhờ các kiến thức học tập được từ quý thầy cô đã giúp tôi có nền tảng lý thuyết thực hiện đề tài nghiên cứu này

Ngoài ra, tôi cũng xin chân thành cảm ơn các anh chị đồng nghiệp tại Ủy ban nhân dân phường Phước Hòa đã hỗ trợ, tạo điều kiện để tôi theo học chuyên ngành Kinh tế phát triển này; các anh chị ở chi cục Thống kê thành phố Nha Trang, Cục thống kê tỉnh Khánh Hòa, các anh chị ở Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã giúp đỡ, cung cấp tài liệu, những lời khuyên bổ ích để tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu này

Và cuối cùng, xin cảm ơn tất cả người thân, bạn bè đã động viên tôi trong giúp quá trình học tập

Kính gửi đến tất cả quý thầy, cô trường Đại học Nha Trang; các anh chị đồng nghiệp tại UBND phường Phước Hòa, các anh chị đang công tác tại chi cục Thống kê thành phố Nha Trang, Cục thống kê tỉnh Khánh Hòa, Văn phòng

Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa lời chức tốt đẹp nhất

Nha Trang, ngày 19 tháng 9 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Xuân Hiếu

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC BẢNG viii

DANH MỤC HÌNH ix

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN x

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Xác định vấn đề nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.2.1 Mục tiêu tổng quát 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3

1.5 Ý nghĩa về thực tiễn của kết quả nghiên cứu 3

1.6 Cấu trúc của luận văn 4

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5

2.1 Cơ sở lý thuyết 5

2.1.1 Tăng trưởng kinh tế 5

2.1.2 Đo lường tăng trưởng kinh tế 5

2.1.3 Chất lượng tăng trưởng kinh tế 6

2.1.4 Đo lường chất lượng tăng trưởng kinh tế 8

2.2 Các nghiên cứu trước đây 25

2.3 Khung phân tích 30

Tóm tắt chương 2 30

Trang 6

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

3.1 Quy trình nghiên cứu 31

3.2 Cách tiếp cận nghiên cứu 32

3.3 Loại dữ liệu và thu thập dữ liệu 32

3.4 Công cụ phân tích dữ liệu 34

Tóm tắt chương 3: 34

CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TỈNH KHÁNH HÒA 35

4.1 Khái quát về tỉnh Khánh Hòa 35

4.1.1 Về điều kiện tự nhiên 35

4.1.2 Về tình hình tăng trưởng kinh tế tỉnh Khánh Hòa 36

4.2 Phân tích thực trạng chất lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh Khánh Hòa 39

4.2.1 Hiệu quả sử dụng vốn 39

4.2.2 Hiệu quả sử dụng lao động 40

4.2.3 Phân tích mức đóng góp của các yếu tố vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh Khánh Hòa 43 4.3 Chất lượng tăng trưởng về mặt xã hội 45

4.3.1 Về y tế 45

4.3.2 Về giáo dục 46

4.3.3 Về đời sống 48

4.4 Chất lượng tăng trưởng kinh tế trên góc độ môi trường 50

4.5 Chất lượng tăng trưởng kinh tế trên góc độ môi trường kinh doanh 53

Tóm tắt chương 4: 57

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 59

5.1 Kết luận 59

5.2 Một số hàm ý chính sách 60

5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 63

TÀI LIỆU THAM KHẢO 64 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CN-XD: Công nghiệp - Xây dựng

GDP: Tổng sản phẩm quốc nội

HĐND: Hội đồng nhân dân

ICOR: Incremental Capital - Output Ratio

NN-LN-TS: Nông nghiệp - Lâm nghiệp - Thủy sản

NSLĐ: Năng suất lao động

PCI: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

TFP: Năng suất các nhân tố tổng hợp, Tổng năng suất nhân tố sản

xuất THCS: Trung học cơ sở

THPT: Trung học phổ thông

UBND: Ủy ban nhân dân

TNDN: Thu nhập doanh nghiệp

WEF World Economy Forum

GCI Global competitiveness Index

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Cấu trúc của chỉ số năng lực cạnh tranh 12

Bảng 2.2: Tiêu chí phân loại các giai đoạn phát triển 13

Bảng 4.1: Vốn đầu tư và ICOR của tỉnh Khánh Hòa và cả nước (Giá so sánh năm 2010) 39

Bảng 4.2: Mức độ thu hút việc làm của nền kinh tế Khánh Hòa 40

Bảng 4.3: Năng suất lao động 41

Bảng 4.4: Năng suất lao động các khu vực kinh tế 42

Bảng 4.5: Tốc độ tăng trưởng yếu tố Vốn và Lao động của tỉnh Khánh Hòa 43

Bảng 4.6: Khái quát ngành Y tế tỉnh Khánh Hòa 45

Bảng 4.7: Ngành giáo dục của tỉnh Khánh Hòa 47

Bảng 4.8: Mức sống dân cư tỉnh Khánh Hòa 48

Bảng 4.9: Khoảng cách giàu nghèo của tỉnh Khánh Hòa 49

Bảng 4.10: Tình hình vệ sinh môi trường tỉnh Khánh Hòa 51

Bảng 4.11: Chỉ số thành phần PCI của tỉnh Khánh Hòa năm 2010 - 2015 54

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Khung phân tích 30

Hình 4.1: Xu hướng tăng trưởng GDP (theo giá so sánh 2010) 37

Hình 4.2: Tốc độ tăng trưởng GDP theo ngành (theo giá so sánh 2010) 38

Hình 4.3: Tốc độ tăng trưởng TFP của tỉnh Khánh Hòa 44

Hình 4.4: Biểu đồ PCI của tỉnh Khánh Hòa từ 2010 – 2015 53

Hình 4.5: Biểu đồ chỉ số thành phần PCI của tỉnh Khánh Hòa năm 2013 & 2015 54

Hình 4.6: Biểu đồ chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của khu vực Duyên hải Miền Trung từ năm 2013 - 2015 56

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Chất lượng tăng trưởng kinh tế đang là nội dung được được các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách quan tâm Trong bối cảnh các nguồn lực tự nhiên bị hạn chế và dần mất đi, việc nghiên cứu về chất lượng tăng trưởng kinh tế giúp các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách đưa ra được gợi ý, giải pháp phát triển kinh tế bền vững, kinh tế phát triển nhưng vẫn đảm bảo được các vấn đề về môi trường, xã hội

Có rất nhiều quan điểm và khái niệm về chất lượng tăng trưởng kinh tế đã được các nhà nghiên cứu đưa ra Trong đó, khái niệm mà Thomas và cộng sự đưa ra mang tính toàn diện, đánh giá quá trình tăng trưởng kinh tế trong mối quan hệ với yếu tố xã hội và môi trường, phù hợp để các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách sử dụng nghiên cứu và đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng của quá trình tăng trưởng kinh tế

Khánh Hòa là tỉnh có nhiều điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý để phát triển kinh tế, trở thành trung tâm giao lưu văn hóa, giao thương trong nước và quốc

tế Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế của tỉnh Khánh Hòa vẫn chủ yếu theo chiều rộng, chủ yếu là thâm dụng yếu tố vốn Do đó, mục tiêu của đề tài là nghiên cứu

và đưa ra gợi ý về mặt chính sách để nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế, giúp tỉnh Khánh Hòa phát triển bền vững

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp trong giai đoạn 2010 – 2015 để phân tích chất lượng tăng trưởng kinh tế của tỉnh Khánh Hòa dưới 03 góc độ: kinh tế,

xã hội và môi trường Kết quả chỉ ra tỉnh Khánh Hòa vẫn đang duy trì tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, yếu tố TFP đóng góp vào tăng trưởng GDP giai đoạn 2011 – 2015 cao, nền kinh tế đang có xu hướng chuyển dần sang phát triển theo chiều sâu Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo đúng định hướng Tình hình lạm phát được ổn định, thu nhập bình quân đầu người tăng đáng kể, đời sống nhân dân ngày càng nâng cao Các vấn đề về an sinh xã hội, vệ sinh môi trường luôn được quan tâm ngày càng cải thiện Tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế: hiệu quả

Trang 11

sử dụng vốn thấp, khó khăn về phát triển nguồn nhân lực trong ngành giáo dục

và y tế Tính minh bạch và công bằng của môi trường kinh doanh tỉnh Khánh Hòa vẫn chưa được cải thiện, …

Từ kết quả phân tích, luận văn cũng đã mạnh dạn đưa ra một số hàm ý chính sách để giúp tỉnh nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của tỉnh

Nhìn chung, luận văn đã đáp ứng được mục tiêu đề ra, chỉ ra được bức tranh tổng quát về chất lượng tăng trưởng kinh tế của tỉnh Khánh Hòa Tuy nhiên, luận văn vẫn còn một số hạn chế: (i) Do thiếu số liệu về vốn nên nghiên cứu phải sử dụng số liệu về trữ lượng vốn được ước lượng từ vốn đầu tư dẫn đến giảm độ tin cậy trong các tính toán; (ii) Dữ liệu phân tích thu thập trong thời gian ngắn (6 năm, từ năm 2010 – 2015) không thể thực hiện hồi quy và sử dụng các số liệu thứ cấp nên chưa phản ánh rõ ràng một số chỉ tiêu kinh tế như: ICOR, tỷ trọng đóng góp của các yếu tố, … Nếu đề tài vẫn được tiếp tục nghiên cứu, cần phải tăng thời gian nghiên cứu (ít nhất là 12 năm) và tăng tính chi tiết của số liệu theo cấp huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh để đánh giá, phân tích cụ thể hơn

Từ khóa: Chất lượng tăng trưởng kinh tế, Khánh Hòa

Trang 12

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Xác định vấn đề nghiên cứu

Thực tiễn tăng trưởng trong nhiều thập kỷ của nhân loại ghi nhận những tiến bộ vượt bậc về sản lượng, năng suất và quy mô kinh tế, mang lại thành quả

to lớn giúp nâng cao thu nhập và mức sống người dân không chỉ ở các quốc gia phát triển mà cả những quốc gia đang phát triển Tuy nhiên, đi kèm với các thành tựu kinh tế là những cuộc khủng hoảng mang tính chu kỳ, bất bình đẳng gia tăng, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác cạn kiệt, môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng Những thách thức trên cho thấy rằng chỉ chú trọng vào tăng trưởng GDP là chưa đủ Do vậy, các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách ngày càng chú trọng hơn đến khía cạnh “chất lượng” của tăng trưởng (Nguyễn Trọng Hoài, 2013)

Trong bối cảnh tỉnh Khánh Hòa, là tỉnh có tỷ lệ nông nghiệp chiếm vai trò nhỏ và dịch vụ đóng vai trò lớn Về địa lý, Khánh Hòa là một tỉnh nằm ở vị trí trung tâm các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, ở giữa hai thành phố lớn là thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, có bờ biển dài với nhiều cửa lạch, đầm, vịnh, nhiều đảo lớn nhỏ và vùng biển rộng lớn thuận lợi đầu tư và thu hút đầu tư các lĩnh vực dịch vụ và khai thác biển, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm và thu hút vốn đầu tư, chất xám, nguồn nhân lực Kể từ khi đổi mới đến nay, mặc dù Khánh Hòa đã đạt được nhiều thành tựu nhưng có thể thấy được tăng trưởng kinh

tế của Khánh Hòa vẫn chủ yếu dựa vào vốn, lao động và tài nguyên thiên nhiên; năng suất lao động thấp, không ổn định; … Do đó, nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế và chất lượng tăng trưởng kinh tế tại tỉnh Khánh Hòa là cần thiết

Từ nhiều năm nay, vấn đề tăng trưởng kinh tế và nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế đã thu hút và nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách Những nghiên cứu điển hình có thể

kể đến như: nghiên cứu về chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam của Nguyễn Trọng Hoài và Nguyễn Hoài Bảo (2006) về nhận định ban đầu về vốn nhân lực

và vốn xã hội hay nghiên cứu của Phan Ngọc Trung (2006) về vấn đề đặt ra với

Trang 13

nền kinh tế Việt Nam, … Ngoài ra, còn có các nghiên cứu về từng địa phương như của Đỗ Phú Trần Tình (2008) với nghiên cứu “Chất lượng tăng trưởng kinh

tế trên địa bàn TP.HCM - Những đánh giá ban đầu”, của Ông Nguyên Chương và Trần Như Quỳnh (2011) về chất lượng tăng trưởng kinh tế thành phố Đà Nẵng, …

Những nghiên cứu trên đã xây dựng nền tảng lý thuyết và đưa ra khung phân tích cũng như phương pháp tiếp cận trong việc đánh giá chất lượng tăng trưởng của Việt Nam cũng như tại các địa phương khác nhau

Những nghiên cứu trên đã xây dựng nền tảng lý thuyết và đưa ra khung phân tích cũng như phương pháp tiếp cận trong việc đánh giá chất lượng tăng trưởng của Việt Nam cũng như tại các địa phương khác nhau Tại Khánh Hòa, Đặng Nguyên Duy và Lê Kim Long (2015) đã thực hiện nghiên cứu về năng suất các yếu tố tổng hợp và tăng trưởng kinh tế của tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 1996-2012 Kết quả chỉ ra được hiệu quả sử dụng vốn và năng suất lao động thấp, dẫn đến yếu tố TFP đóng góp vào tăng trưởng GDP thấp và có xu hướng giảm, thậm chí có năm còn âm Tuy nhiên, tác giả ước lượng yếu tố TFP gián tiếp qua yếu tố vốn và yếu tố lao động, do đó việc xem xét khía cạnh chất lượng tăng trưởng kinh tế tại Khánh Hòa vẫn chưa được đánh giá đầy đủ và chi tiết

Mặc dù tỉnh Khánh Hòa vẫn đang duy trì được tốc độ tăng trưởng cao, là một trong các tinh có nền kinh tế tăng trưởng nhanh của cả nước, nhưng từ nghiên cứu của Đặng Nguyên Duy và Lê Kim Long (2015) có thể thấy được chất lượng tăng trưởng của tỉnh Khánh Hòa còn thấp Do đó, tiếp tục nghiên cứu

và tìm kiếm giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế tại tỉnh Khánh Hòa là điều cần thiết

Xuất phát từ vấn đề cấp thiết trên, việc chọn đề tài “Phân tích chất lượng tăng trưởng kinh tế của tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2010 – 2015” để nghiên cứu

là cần thiết và hữu ích nhằm làm sáng tỏ “bức tranh” về chất lượng tăng trưởng kinh tế của tỉnh Khánh Hòa và từ đó đề xuất những hàm ý chính sách để nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của tỉnh trong giai đoạn tiếp theo

Trang 14

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu này nhằm nhận dạng chất lượng tăng trưởng kinh tế của tỉnh Khánh Hòa, qua đó đề xuất một số hàm ý chính sách nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh Khánh Hòa trong thời gian tới

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

(1) Chất lượng tăng trưởng kinh tế của tỉnh Khánh Hòa giai đoạn

2010-2015 như thế nào?

(2) Mức độ đóng góp của các yếu tố đến đến tăng trưởng kinh tế của tỉnh? (3) Các hàm ý chính sách nào giúp tỉnh nâng cao chất lượng tăng trưởng?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Chất lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh Khánh Hòa

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

Thời gian: Dữ liệu dùng trong phân tích này được thu thập từ năm 2010 đến năm 2015

1.5 Ý nghĩa về thực tiễn của kết quả nghiên cứu

Cung cấp bức tranh tổng thể thực trạng chất lượng tăng trưởng kinh tế tại tỉnh Khánh Hòa

Cung cấp các luận cứ khoa học cho các hàm ý chính sách nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế cho tỉnh Khánh Hòa

Trang 15

1.6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần giới thiệu và kết luận, luận văn bao gồm:

Chương 1: Giới thiệu Đây là chương giới thiệu chung về lý do chọn đề

tài và xác định mục tiêu của đề tài Từ đó đưa ra những câu hỏi mà nghiên cứu cần làm rõ cũng như đối tượng và phạm vi của nghiên cứu

Chương 2: Tổng quan tài liệu và cơ sở lý thuyết Chương này trình bày

gồm các nội dung chính về khái niệm và các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến chất lượng tăng trưởng kinh tế

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này mô tả phương pháp và

công cụ được sử dụng để phân tích chất lượng tăng trưởng kinh tế của tỉnh Khánh Hòa

Chương 4: Phân tích thực trạng chất lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh Khánh Hòa Chương này trình bày khái quát về tỉnh Khánh Hòa như: về điều

kiện tự nhiên, về tình hình tăng trưởng GDP của tỉnh Khánh Hòa Tiếp đó, phân tích hiệu quả sử dụng các nguồn lực của tỉnh, chất lượng tăng trưởng kinh tế ở các góc độ khác nhau để làm rõ hơn chất lượng tăng trưởng kinh tế của tỉnh Khánh Hòa

Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách Từ kết quả ở chương 4, luận văn

đưa ra kết luận và một số gợi ý về mặt chính sách để giúp tỉnh Khánh Hòa nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững trong giai đoạn tới

Trang 16

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Cơ sở lý thuyết

2.1.1 Tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế phản ánh sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một giai đoạn nhất định (thường là 1 năm) Các nhà kinh tế học hiện đại cho rằng vốn, lao động và tiến bộ kỹ thuật (hay năng suất nhân tố tổng hợp – TFP) là nguồn cơ bản của tăng trưởng kinh tế

Từ hàm sản xuất Cobb-Douglas, Solow (1956) đã đưa ra mô hình tăng trưởng không chỉ dựa trên những giả định tương đối thực tế mà còn đi kèm với những hàm ý chính sách quan trọng như: (i) Trong khi vai trò của tiết kiệm và đầu tư đối với tăng trưởng kinh tế được đề cao, đầu tư chỉ làm tăng thu nhập bình quân đầu người trong thời kỳ chuyển tiếp do năng suất cận biên của vốn giảm dần; (ii) Các nước nghèo có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh hơn và cuối cùng sẽ “đuổi kịp” các nước phát triển Lý do là các nước nghèo có tỷ lệ vốn trên lao động thấp, nên hiệu quả của đồng vốn được sử dụng cao hơn, do đó kéo theo tốc độ tăng trưởng nhanh hơn trong giai đoạn chuyển tiếp Tuy nhiên, quá trình “đuổi kịp” này là có điều kiện Một số không ít nền kinh tế đã không tiến kịp các nước giàu hơn, và thậm chí còn rơi vào tình trạng tăng trưởng thấp và nghèo đói; (iii) Nhân tố duy nhất bảo đảm quá trình tăng trưởng bền vững chính

là tiến bộ công nghệ Tuy nhiên Solow (1956) chưa chỉ ra được tiến bộ công nghệ diễn ra như thế nào và có chịu tác động chính sách hay không

2.1.2 Đo lường tăng trưởng kinh tế

Để đo lường tăng trưởng kinh tế có thể dùng mức tăng trưởng tuyệt đối, tốc độ tăng trưởng kinh tế hoặc tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong một giai đoạn

Các chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng kinh tế gồm: Tổng giá trị sản xuất (GO), tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP), tổng thu nhập quốc dân (GNI), thu nhập quốc dân (NI), tổng sản phẩm tính bình quân

Trang 17

đầu người (GDP/đầu người) Tùy theo mỗi nước mà sử dụng khác nhau, nước xuất khẩu vốn thì dùng GNP, nhập khẩu vốn như Việt Nam thì GDP

Các công thức đo lường tăng trưởng kinh tế:

- Mức tăng trưởng kinh tế theo kỳ gốc:

Với là GDP năm cuối cùng của thời kỳ;

là GDP năm đầu tiên của thời kỳ tính toán

2.1.3 Chất lượng tăng trưởng kinh tế

Trong một thời gian dài, hầu hết các nước theo đuổi mô hình tăng trưởng dựa vào tích lũy tài sản vốn (chính sách chú trọng thu hút dòng đầu tư, kể cả nhập khẩu vốn), thâm dụng tài nguyên thiên nhiên đã dẫn đến tình trạng kinh tế tăng trưởng âm, chênh lệch giàu nghèo, mất cân bằng xã hội, tăng trưởng không bền vững Từ đó, chất lượng tăng trưởng được chú ý nhiều hơn khi nghiên cứu tính bền vững của tăng trưởng

Các nhà kinh tế học trước đây tuy chưa nêu khái niệm đầy đủ về chất lượng tăng trưởng nhưng cũng đã nhấn mạnh sự tăng trưởng ổn định, chắc chắn được tạo bởi tăng năng suất lao động, nâng cao khả năng cạnh tranh trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh như Ricardo (1821), tiến bộ kỹ thuật từ Kark Marx (1867) hay Kaldor (1961)

Trang 18

Theo Mankiw (2000) tăng trưởng có chất lượng là khi sự tăng trưởng đó

có thể duy trì trong dài hạn, khi nó dựa vào tiến bộ kỹ thuật thể hiện qua hiệu quả của lao động, nghĩa là chất lượng tăng trưởng thể hiện qua sự đóng góp của yếu tố tiến bộ ngày càng lớn

Vấn đề chất lượng tăng trưởng kinh tế được các nhà nghiên cứu kinh tế xem xét theo nhiều góc độ khác nhau Một số cho rằng, tăng trưởng có chất lượng khi chất lượng tăng trưởng được nâng cao, đảm bảo những yêu cầu đặc trưng chủ yếu như: phát huy được lợi thế so sánh nhằm tăng trưởng nhanh và đạt hiệu quả kinh tế cao, đẩy mạnh xuất khẩu; tăng nhanh được năng lực nội sinh về khoa học công nghệ và tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ và cải thiện môi trường (Lê Huy Đức, 2004)

Theo Nguyễn Văn Nam và Trần Thọ Đạt (2006) có thể hiểu khái niệm chất lượng tăng trưởng kinh tế như sau: “Chất lượng tăng trưởng kinh tế cao là

sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững của nền kinh tế, thể hiện qua năng suất nhân tố tổng hợp và năng suất lao động xã hội tăng và ổn định, mức sống của người dân được nâng cao không ngừng, cơ cấu kinh tế được chuyển dịch phù hợp với từng thời kỳ phát triển của đất nước, sản xuất có tính cạnh tranh cao, tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, quản lý kinh tế nhà nước có hiệu quả”

Hiện nay, vẫn chưa có một quan niệm thống nhất về “chất lượng tăng trưởng” bởi đây là khái niệm khá rộng và mang tính tổng quát, bao trùm nhiều nội dung về kinh tế, chính trị, thể chế, xã hội và môi trường Ngoài ra, các quốc gia trên thế giới đang ở những giai đoạn phát triển khác nhau nên tiếp cận khái niệm này cũng có sự khác nhau tùy thuộc vào giai đoạn phát triển hiện tại của nền kinh tế

Thomas và cộng sự (2000) bắt đầu nghiên cứu quá trình tăng trưởng kinh

tế dưới khía cạnh chất lượng để đưa ra giải pháp nhằm tăng trưởng nhanh hơn và bền vững hơn Thomas và cộng sự chỉ ra được trọng tâm của tăng trưởng kinh tế không chỉ ở tốc độ tăng trưởng mà chất lượng tăng trưởng cũng là một yếu tố quan trọng Các nguồn lực và mô hình phát triển kinh tế định hướng thành quả

Trang 19

phát triển Những thành quả phát triển này được sử dụng để cải thiện cuộc sống của người dân Nói đơn giản, giúp nâng cao được thu nhập bình quân đầu người, giúp con người tiếp cận nền giáo dục tốt hơn, cơ hội việc làm cao hơn, sức khỏe tốt hơn; cải thiện bình đẳng giới; môi trường tự nhiên trong lành và bền vững hơn; thể chế pháp lý công bằng và hiệu quả hơn; cuộc sống tự do và dân chủ hơn, …

Khi nghiên cứu quá trình tăng trưởng kinh tế dưới cả 2 khía cạnh định tính và định lượng, có 03 vấn đề mà các quốc gia đã và đang phát triển cần phải chú ý: (i) Tập trung vào các nguồn lực: vốn vật chất, vốn con người và vốn thiên nhiên; (ii) Luôn quan tâm đến vấn đề phân phối thành quả; (iii) Hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng điều hành

Thomas và cộng sự (2000) đã đưa ra khái niệm về chất lượng tăng trưởng bao gồm tăng trưởng kinh tế, phát triển và phát triển bền vững, liên quan đến ba thành tố: kinh tế, xã hội và môi trường Một nền kinh tế có chất lượng tăng trưởng tốt khi có tăng trưởng kinh tế cao và ổn định, chất lượng cuộc sống người dân nâng cao và môi trường được bảo vệ bền vững

Khái niệm mà Thomas và cộng sự đưa ra mang tính toàn diện, đánh giá quá trình tăng trưởng kinh tế trong mối quan hệ với yếu tố xã hội và môi trường, phù hợp để các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách sử dụng nghiên cứu và đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng của quá trình tăng trưởng kinh tế Luận văn này cũng sử dụng khái niệm của Thomas và cộng sự để phân tích chất lượng tăng trưởng kinh tế của tỉnh Khánh Hòa trong giai đoạn

2010 – 2015

2.1.4 Đo lường chất lượng tăng trưởng kinh tế

Nguyễn Trọng Hoài (2013) đã chỉ ra nhóm chỉ tiêu đo lường chất lượng tăng trưởng kinh tế như sau:

2.1.4.1 Nhóm các chỉ tiêu đo lường tính hiệu quả của nền kinh tế

ICOR (Incremental capital-output ratio)

Hệ số ICOR phản ánh việc tạo thêm một đơn vị tăng trong sản lượng thì cần tăng thêm bao nhiêu đơn vị vốn, hoặc để tạo thêm một phần trăm tăng

Trang 20

trưởng GDP thì cần bao nhiêu phần trăm tỉ phần chi tiêu đầu tư trong GDP ICOR có thể được tính bằng công thức sau:

(1.6)

Trong đó:

K: Vốn

Y: Sản lượng

: Thay đổi lượng vốn giữa 2 thời kỳ

: Thay đổi sản lượng giữa 2 thời kỳ

I: Chi tiêu đầu tư

Hệ số ICOR cho biết hiệu quả sử dụng vốn đầu tư Thông thường hệ số ICOR càng cao thì phản ánh nền kinh tế đó sử dụng vốn càng kém hiệu quả Tuy nhiên cần thận trọng trong việc sử dụng hệ số ICOR khi so sánh vì mỗi giai đoạn phát triển khác nhau, tỷ lệ kết hợp giữa vốn và lao động sẽ khác nhau Thông thường, hệ số ICOR sẽ thấp khi nền kinh tế ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển vì khi đó các ngành sản xuất thâm dụng lao động phát triển Hệ số này có

xu hướng gia tăng khi nền kinh tế phát triển, chuyển từ các ngành thâm dụng lao động sang thâm dụng vốn

Tổng năng suất nhân tố sản xuất (Total factor productivity – TFP)

Tổng năng suất nhân tố sản xuất (TFP) phản ánh sự đóng góp của các yếu

tố như tiến bộ công nghệ, kỹ năng quản lý, kiến thức – kinh nghiệm – kỹ năng của người lao động vào tăng trưởng sản lượng Theo Solow (1957), TFP được ước tính bằng cách lấy tăng trưởng sản lượng trừ đi phần tăng trưởng do tích lũy vốn và gia tăng lực lượng lao động

(1.7) (1.8) Trong đó:

, , là tốc độ tăng trưởng của GDP, vốn và lao động

và là tỷ trọng tiền lương và sinh lợi của vốn trong giá trị gia tăng

a là tăng trưởng TFP

Trang 21

Các khái niệm tổng năng suất nhân tố sản xuất (Total factor productivity – TFP), Tổng năng suất đa nhân tố (Multifactor productivity – MFP), và số dư Solow (Solow Residual) được xem là tương tự nhau trong các nghiên cứu kinh

tế, việc tính toán chúng dựa trên các dữ liệu theo thời gian của từng ngành (quốc gia) bằng tính toán thống kê hay mô hình kinh tế lượng

Năng suất lao động (Labor Productivity)

Theo Báo cáo năng lực cạnh tranh Việt Nam (2010), Năng suất lao động (NSLĐ) được định nghĩa là GDP / lao động NSLĐ tăng lên là biểu hiện của tính hiệu quả của nền kinh tế gia tăng Đây là yếu tố đảm bảo cho việc gia tăng thu nhập

và mức sống của người lao động GDP/lao động cũng được định nghĩa trên cơ sở của hàm sản xuất

Y/L = A F(K/L, H/L, N/L) (1.9) Trong đó:

Y/L = GDP/lao động

K/L = Trang bị vốn vật chất/lao động

H/L = Trang bị vốn nhân lực/lao động

N/L = Trang bị tài nguyên thiên nhiên/lao động

A = đại diện cho trình độ công nghệ của nền kinh tế

NSLĐ tăng lên có thể xuất phát từ các nguồn:

Thứ nhất, NSLĐ cao hơn có thể là kết quả của việc trình độ và kỹ năng của người lao động được nâng cao, sự gia tăng các yếu tố đầu vào của sản xuất như vốn, hay do thay đổi các tiến bộ về kỹ thuật và công nghệ

Thứ hai, NSLĐ cao hơn có thể là kết quả của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, người lao động rời bỏ các ngành có năng suất thâp (nông nghiệp) và chuyển vào làm việc trong các ngành có năng suất cao (công nghiệp) Ngoài ra, NSLĐ cao hơn cũng có thể do việc tăng năng suất nội bộ ngành do các tiến bộ

về công nghệ

Thứ ba, NSLĐ cao hơn có thể là kết quả của việc dịch chuyển lao động giữa các khu vực kinh tế (khu vực nhà nước, tư nhân, nước ngoài) bởi các khu vực này có NSLĐ khác nhau

Trang 22

Thứ tư, NSLĐ có thể được cải thiện từ các chính sách từ chính phủ bao gồm: khuyến khích tiết kiệm và đầu tư, khuyến khích dòng vốn đầu tư từ nước ngoài, khuyến khích và hỗ trợ giáo dục và đào tạo, thiết lập quyền sở hữu rõ ràng, ổn định vĩ mô và ổn định chính trị, khuyến khích tự do ngoại thương, hỗ trợ và thúc đẩy nghiên cứu và phát triển

2.1.4.2 Nhóm các chỉ tiêu đo lường năng lực cạnh tranh của nền kinh tế

Hạn chế lớn nhất của các chỉ tiêu được trình bày ở trên là chúng đều là chỉ tiêu đơn hướng, chỉ đo lường một khía cạnh nào đó của chất lượng tăng tưởng

Do vậy, các chỉ tiêu này khó phản ánh một bức tranh toàn cảnh về chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế, cũng vì vậy mà khó giúp đưa ra những gợi ý chính sách đầy đủ và toàn diện

Một cách tiếp cận giúp giải quyết hạn chế trên là đo lường chất lượng tăng trưởng một cách đa hướng bằng một hệ thống các chỉ tiêu, sau đó tính toán ra một chỉ số duy nhất Chỉ số phổ biến và được các quốc gia sử dụng rộng rãi nhất hiện nay là chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu (Global Competitiveness Index) của Diễn dàn Kinh tế Thế Giới (World Economic Forum) Phương pháp này có

ưu điểm là vừa phân tích từng nhân tố nhỏ cấu thành nên năng lực cạnh tranh, giúp chỉ ra điểm mạnh, điểm yếu cụ thể của từng nền kinh tế, vừa cho ra một chỉ

số duy nhất giúp việc so sánh và thông tin đến người làm chính sách và công chúng dễ dàng

Cấu trúc của chỉ số năng lực cạnh tranh (Competitiveness Index)

Theo Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu 2012-2013 của Diễn đàn Kinh

tế Thế giới, chỉ số năng lực cạnh tranh của mỗi nền kinh tế được hình thành từ 3 nhóm chỉ tiêu và 12 trụ cột Mỗi trụ cột bao gồm nhiều chỉ tiêu cụ thể đánh giá về nhiều mặt khác nhau của trụ cột đó Có tổng cộng 111 chỉ tiêu (indicators) được khảo sát cho 12 trụ cột trong Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu 2012-2013

Trang 23

Bảng 2.1: Cấu trúc của chỉ số năng lực cạnh tranh Nhóm các yêu cầu

cơ bản

Nhóm các yếu tố cải thiện tính hiệu quả của nền kinh tế

Nhóm các yếu tố đổi mới

5 Giáo dục đại học, cao đẳng

6 Hiệu quả của thị trường hàng hóa

7 Hiệu quả của thị trường lao động

8 Phát triển thị trường tài chính

9 Sẵn sàng về công nghệ

10 Qui mô thị trường

11 Trình độ kinh doanh của doanh nghiệp

12 Đổi mới

Nền kinh tế dựa vào

yếu tố đầu vào

(factor-driven economy)

Nền kinh tế dựa vào tính hiệu quả (Efficiency- driven economy)

Nền kinh tế dựa vào đổi mới công nghệ (innovation- driven economy)

Nguồn: WEF (2012)

Cách tính các chỉ số năng lực cạnh tranh cho một nền kinh tế

Bước 1: Thu thập dữ liệu

Diễn dàn Kinh tế Thế giới thu thập dữ liệu về các chỉ tiêu kinh tế dựa trên

cơ sở dữ liệu của những tổ chức lớn trên thế giới như World Bank, IMF, UNDP,

… Các chỉ tiêu này được đánh dấu *, có các đơn vị đo khác nhau và được chuyển về thang điểm 1-7 với 1 là kém nhất và 7 là tốt nhất Các chỉ tiêu khác nhau được thu thập từ “Khảo sát ý kiến nhà quản lý doanh nghiệp” Khảo sát này được tiến hành hàng năm từ hơn 40 năm qua Năm 2012, phạm vi khảo sát

là trên 15.000 mẫu từ gần 150 nền kinh tế Có 14.059 mẫu được giữ lại sau khi

xử lý dữ liệu Trung bình có 100 mẫu/nền kinh tế Các chỉ tiêu được lấy từ

“Khảo sát ý kiến nhà quản lý doanh nghiệp” có thang điểm từ 1 đến 7 với 1 là mức kém nhất và 7 là mức tốt nhất

Bước 2: Xác định trọng số của từng chỉ tiêu

Các chỉ tiêu có thể được chia theo 5 cấp độ: (i) Cấp 1: 3 nhóm chỉ tiêu lớn; (ii) Cấp 2: 12 trụ cột; (iii) Cấp 3: Các mục A, B, C, …; (iv) Cấp 4: Chỉ tiêu trong mục (1,2, …); (v) Cấp 5: Chỉ tiêu nhỏ trong mục (1.01, 1.02, …)

Trang 24

Đối với 3 nhóm chỉ tiêu lớn cấp 1, tỷ lệ điểm phụ thuộc vào giai đoạn phát triển hiện tại của mỗi nền kinh tế Các nền kinh tế được chia thành 3 giai đoạn phát triển và 2 quá trình chuyển tiếp theo 2 tiêu chí: thu nhập bình quân đầu người theo tỷ giá thị trường và mức độ phụ thuộc vào xuất khẩu tài nguyên khoáng sản (tỷ lệ xuất khẩu khoáng sản trên tổng giá trị xuất khẩu)

Bảng 2.2: Tiêu chí phân loại các giai đoạn phát triển

Giai đoạn phát triển

Giai đoạn

1 (dựa vào yếu tố đầu vào)

Chuyển tiếp

từ giai đoạn 1 sang giai đoạn 2

Giai đoạn 2 (dựa vào tính hiệu quả)

Chuyển tiếp từ giai đoạn 2 sang giai đoạn 3

Giai đoạn 3 (dựa vào đổi mới công nghệ)

các yếu tố cải thiện

tính hiệu quả của

Đối với những nền kinh tế có chỉ số năng lực cạnh tranh tổng xếp hạng từ

1 đến 10 thì các chỉ tiêu chi tiết được xếp hạng từ 1 đến 10 được coi là lợi thế

Trang 25

cạnh tranh Đối với những nền kinh tế có chỉ số năng lực cạnh tranh tổng xếp hạng từ 11 đến 50, các chỉ tiêu chi tiết được xếp hạng tốt hơn so với xếp hạng tổng được coi là lợi thế Đối với những nền kinh tế có chỉ số năng lực cạnh tranh tổng xếp hạng lớn hơn 50, các chỉ tiêu chi tiết nào có xếp hạng tốt hơn 51 được coi là lợi thế

Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI)

Khái niệm

Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh hay PCI (viết tắt của Provincial Competitiveness Index) là chỉ số đánh giá và xếp hạng chính quyền các tỉnh, thành của Việt Nam về chất lượng điều hành kinh tế và xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho việc phát triển doanh nghiệp dân doanh Đây là dự án hợp tác nghiên cứu giữa Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) Chỉ số này được công bố thí điểm lần đầu tiên vào năm 2005 cho 42 tỉnh, thành Từ lần thứ hai, năm 2006 trở đi đến nay, tất cả các tỉnh thành Việt Nam đều được đưa vào xếp hạng, đồng thời các chỉ số thành phần cũng được tăng cường thêm

Năm 2009, phương pháp luận PCI được điều chỉnh để phản ánh kịp thời

sự phát triển năng động của nền kinh tế và các thay đổi trong môi trường pháp lý tại Việt Nam Sau khi loại bỏ chỉ số Ưu đãi doanh nghiệp nhà nước, PCI còn 9 chỉ số thành phần

Năm 2013, PCI đánh dấu bước thay đổi mới khi chỉ số Cạnh tranh bình đẳng được đưa vào bộ chỉ số là một thước đo đánh giá, theo đó, một tỉnh được đánh giá là thực hiện tốt tất cả 10 chỉ số thành phần này cần có:

1) Chi phí gia nhập thị trường thấp;

2) Doanh nghiệp dễ dàng Tiếp cận đất đai và có mặt bằng kinh doanh ổn định; 3) Môi trường kinh doanh công khai minh bạch, doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận công bằng các thông tin cần cho kinh doanh và các văn bản pháp luật cần thiết;

4) Thời gian doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện các thủ tục hành chính

và thanh tra kiểm tra hạn chế nhất (Chi phí thời gian)

Trang 26

5) Chi phí không chính thức ở mức tối thiểu;

6) Cạnh tranh bình đẳng - chỉ số thành phần mới;

7) Lãnh đạo tỉnh năng động và tiên phong;

8) Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, do khu vực nhà nước và tư nhân cung cấp;

9) Có chính sách đào tạo lao động tốt;

10) Hệ thống pháp luật và tư pháp để giải quyết tranh chấp công bằng và hiệu quả

Phương pháp tiếp cận PCI có bốn đặc điểm đáng chú ý:

Thứ nhất, chỉ số PCI khuyến khích chính quyền các tỉnh cải thiện chất

lượng công tác điều hành bằng cách chuẩn hóa điểm số xung quanh các thực tiễn điều hành kinh tế tốt sẵn có tại Việt Nam mà không dựa trên các tiêu chuẩn điều hành kinh tế lý tưởng nhưng khó đạt được, do đó đối với từng chỉ tiêu, có thể xác định được một tỉnh "ngôi sao" hoặc tỉnh đứng đầu của chỉ tiêu đó, và về lý thuyết bất kỳ tỉnh nào cũng có thể đạt được điểm số PCI tuyệt đối là 100 điểm bằng cách

áp dụng các thực tiễn tốt sẵn có

Thứ hai, bằng cách loại trừ ảnh hưởng của các điều kiện truyền thống ban

đầu (các nhân tố cơ bản đóng góp vào tăng trưởng kinh tế trong một tỉnh và gần như không thể thay đổi trong ngắn hạn như vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng, quy mô của thị trường và nguồn nhân lực), chỉ số PCI giúp xác định và hướng vào các thực tiễn điều hành kinh tế tốt có thể đạt được ở cấp tỉnh

Thứ ba, bằng cách so sánh đối chiếu giữa các thực tiễn điều hành với kết

quả phát triển kinh tế, chỉ số PCI giúp lượng hóa tầm quan trọng của các thực tiễn điều hành kinh tế tốt đối với thu hút đầu tư và tăng trưởng Nghiên cứu chỉ

ra được mối tương quan giữa thực tiễn điều hành kinh tế tốt với đánh giá của doanh nghiệp, và sự cải thiện phúc lợi của địa phương Mối liên hệ cuối cùng này đặc biệt quan trọng vì nó cho thấy các chính sách và sáng kiến thân thiện với doanh nghiệp khuyến khích họ hoạt động theo hướng đem lại lợi ích cho cả

Trang 27

chủ doanh nghiệp, người lao động và cộng đồng thông qua tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho cả nền kinh tế

Thứ tư, các chỉ tiêu cấu thành chỉ số PCI được thiết kế theo hướng dễ

hành động, đây là những chỉ tiêu cụ thể cho phép các cán bộ công chức của tỉnh đưa ra các mục tiêu phấn đấu và theo dõi được tiến bộ trong thực hiện Các chỉ tiêu này cũng rất thực chất vì được doanh nghiệp nhìn nhận là các chính sách then chốt đối với sự thành công của công việc kinh doanh./

Phương pháp xây dựng và tính PCI

Chỉ số PCI được xây dựng theo quy trình 3 bước gọi tắt là “3T”: (i) thu

thập dữ liệu điều tra doanh nghiệp bằng phiếu hỏi và dữ liệu từ các nguồn đã

công bố, (ii) tính toán 10 chỉ số thành phần và chuẩn hóa kết quả theo thang điểm 10, và (iii) tính trọng số cho chỉ số PCI trung bình của 10 chỉ số thành

phần trên thang điểm 100

Mẫu khảo sát: sử dụng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên nhằm phản ánh

chính xác đặc điểm của các doanh nghiệp tại tỉnh Mẫu được phân tầng nhằm đảm bảo tính đại diện về thời gian hoạt động, loại hình pháp lý, ngành nghề hoạt động của doanh nghiệp.10 chỉ số thành phần bao gồm:

1 Chi phí gia nhập thị trường

Chỉ số này được xây dựng nhằm đánh giá sự khác biệt về chi phí gia nhập thị trường của các doanh nghiệp mới thành lập giữa các tỉnh với nhau Các chỉ tiêu cụ thể bao gồm:

- Thời gian đăng ký doanh nghiệp - số ngày

- Thời gian thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp - số ngày

- % Doanh nghiệp cần thêm giấy phép kinh doanh khác

- Tổng số giấy đăng ký và giấy phép cần thiết để chính thức hoạt động (sau 2010)

- Thời gian chờ đợi để được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất

Trang 28

- % DN phải chờ hơn một tháng để hoàn thành tất cả các thủ tục để chính thức hoạt động

- % DN phải chờ hơn ba tháng để hoàn thành tất cả các thủ tục để chính thức hoạt động

- % DN đăng ký hoặc sửa đổi đăng ký kinh doanh thông qua bộ phận Một cửa

- Thủ tục tại bộ phận Một cửa được niêm yết công khai

- Hướng dẫn về thủ tục tại bộ phận Một cửa rõ ràng và đầy đủ

- Cán bộ tại bộ phận Một cửa am hiểu về chuyên môn (% đồng ý)

- Cán bộ tại bộ phận Một cửa nhiệt tình, thân thiện (% đồng ý)

- Ứng dụng công nghệ thông tin tại bộ phận Một cửa tốt (% đồng ý)

- Không có lập luận nào ở trên là đúng (% đồng ý)

2 Tiếp cận đất đai và Sự ổn định trong sử dụng đất

Đo lường về hai khía cạnh của vấn đề đất đai mà doanh nghiệp phải đối mặt: việc tiếp cận đất đai có dễ dàng không và doanh nghiệp có thấy yên tâm và được đảm bảo về sự ổn định khi có được mặt bằng kinh doanh hay không, gồm:

- % doanh nghiệp có mặt bằng kinh doanh và có Giấy chứng nhận Quyền

sử dụng đất

- % diện tích đất trong tỉnh có Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất

- Doanh nghiệp ngoài quốc doanh không gặp cản trở về tiếp cận đất đai hoặc mở rộng mặt bằng kinh doanh

- Doanh nghiệp đánh giá rủi ro bị thu hồi đất (1: Rất cao đến 5: Rất thấp)

- Nếu bị thu hồi đất, doanh nghiệp sẽ được bồi thường thỏa đáng (% Luôn luôn hoặc Thường xuyên)

- Sự thay đổi khung giá đất của tỉnh phù hợp với sự thay đổi của giá thị trường (% Đồng ý)

Trang 29

- % DN thực hiện các thủ tục hành chính về đất đai trong vòng 2 năm qua

nhưng không gặp bất kỳ khó khăn nào về thủ tục

- % DN có nhu cầu được cấp GCNQSDĐ nhưng không có do thủ tục

hành chính rườm rà/ lo ngại cán bộ nhũng nhiễu

3 Tính minh bạch và tiếp cận thông tin

Đo lường khả năng tiếp cận các kế hoạch của tỉnh và các văn bản pháp lý cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, liệu doanh nghiệp có thể tiếp cận một cách công bằng các văn bản này, các chính sách và quy định mới

có được tham khảo ý kiến của doanh nghiệp và khả năng tiên liệu trong việc triển khai thực hiện các chính sách quy định đó và mức độ tiện dụng của trang web tỉnh đối với doanh nghiệp

- Tiếp cận tài liệu quy hoạch (1: tiếp cận dễ dàng; 5: không thể tiếp cận)

- Tiếp cận tài liệu pháp lý (1: tiếp cận dễ dàng; 5: không thể tiếp cận)

- Cần có "mối quan hệ" để có được các tài liệu kế hoạch của tỉnh (% Rất quan trọng hoặc Quan trọng)

- Thương lượng với cán bộ thuế là phần thiết yếu trong hoạt động kinh doanh (% Hoàn toàn đồng ý hoặc Đồng ý)

- Khả năng có thể dự đoán được trong thực thi của tỉnh đối với quy định pháp luật của Trung ương (% Luôn luôn hoặc Thường xuyên)

- % Doanh nghiệp tham gia góp ý kiến về quy định, chính sách của Nhà nước

- Độ mở và chất lượng của trang web tỉnh

- Vai trò của các hiệp hội DN địa phương trong việc xây dựng và phản biện chính sách, quy định của tỉnh (% quan trọng hoặc vô cùng quan trọng)

- % DN truy cập vào website của UBND tỉnh

- Các tài liệu về ngân sách đủ chi tiết để DN sử dụng cho hoạt động kinh doanh (% Đồng ý)

Trang 30

- Các tài liệu về ngân sách được công bố ngay sau khi cơ quan, cá nhân có thẩm quyền phê duyệt (% Đồng ý)

4 Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước

Đo lường thời gian doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện các thủ tục hành chính cũng như mức độ thường xuyên và thời gian doanh nghiệp phải tạm dừng kinh doanh để các cơ quan Nhà nước của địa phương thực hiện việc thanh tra, kiểm tra

- % doanh nghiệp sử dụng hơn 10% quỹ thời gian để tìm hiểu và thực hiện các quy định pháp luật của Nhà nước

- Số cuộc thanh tra, kiểm tra trung vị (tất cả các cơ quan)

- Số giờ trung vị làm việc với thanh tra, kiểm tra thuế

- Cán bộ nhà nước giải quyết công việc hiệu quả hơn (% Đồng ý hoặc hoàn toàn đồng ý)

- Cán bộ nhà nước thân thiện (% hoàn toàn đồng ý hoặc đồng ý)

- DN không cần phải đi lại nhiều lần để lấy dấu và chữ ký (% hoàn toàn đồng ý hoặc đồng ý)

- Thủ tục giấy tờ đơn giản (% hoàn toàn đồng ý hoặc đồng ý)

- Phí, lệ phí được công khai (% hoàn toàn đồng ý hoặc đồng ý)

- Không thấy bất kì sự thay đổi đáng kể nào (% hoàn toàn đồng ý hoặc đồng ý)

5 Chi phí không chính thức

Đo lường các khoản chi phí không chính thức mà doanh nghiệp phải trả

và các trở ngại do những chi phí không chính thức này gây ra đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, việc trả những khoản chi phí không chính thức có đem lại kết quả hay “dịch vụ” như mong đợi và liệu các cán bộ Nhà nước có sử dụng các quy định của địa phương để trục lợi hay không

Trang 31

- Các DN cùng ngành thường phải trả thêm các khoản chi phí không chính thức (% Đồng ý hoặc Hoàn toàn đồng ý)

- % doanh nghiệp phải chi hơn 10% doanh thu cho các loại chi phí không chính thức

- Hiện tượng nhũng nhiễu khi giải quyết thủ tục cho DN là phổ biến (% Đồng ý hoặc Hoàn toàn đồng ý)

- Công việc đạt được kết quả mong đợi sau khi đã trả chi phí không chính thức (% thường xuyên hoặc luôn luôn)

- Các khoản chi phí không chính thức ở mức chấp nhận được (% Đồng ý hoặc Hoàn toàn đồng ý)

- Tỉnh ưu tiên giải quyết các vấn đề, khó khăn cho DN nước ngoài hơn là

DN trong nước (% đồng ý hoặc Hoàn toàn đồng ý)

- Tỉnh ưu tiên thu hút đầu tư nước ngoài hơn là phát triển khu vực tư nhân (% đồng ý hoặc Hoàn toàn đồng ý)

- Thuận lợi trong việc tiếp cận đất đai là đặc quyền dành cho các doanh nghiệp FDI (% đồng ý)

Trang 32

- Miễn giảm thuế TNDN là đăc quyền dành cho các doanh nghiệp FDI (% đồng ý)

- Thủ tục hành chính nhanh chóng và đơn giản hơn là đặc quyền dành cho các doanh nghiệp FDI (% đồng ý)

- Hoạt động của các doanh nghiệp FDI nhận được nhiều quan tâm hỗ trợ hơn từ tỉnh (% đồng ý)

- "Hợp đồng, đất đai,… và các nguồn lực kinh tế khác chủ yếu rơi vào tay các DN có liên kết chặt chẽ với chính quyền tỉnh” (% đồng ý)

- Ưu đãi với các công ty lớn (nhà nước và tư nhân) là trở ngại cho hoạt động kinh doanh của bản thân DN (% đồng ý)

7 Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh

Đo lường tính sáng tạo, sáng suốt của lãnh đạo tỉnh trong quá trình thực thi chính sách Trung ương cũng như trong việc đưa ra các sáng kiến riêng nhằm phát triển khu vực kinh tế tư nhân, đồng thời đánh giá khả năng hỗ trợ và áp dụng những chính sách đôi khi chưa rõ ràng của Trung ương theo hướng có lợi cho doanh nghiệp

- Cảm nhận của DN về thái độ của chính quyền tỉnh đối với khu vực tư nhân (% Tích cực hoặc Rất tích cực)

- UBND tỉnh linh hoạt trong khuôn khổ pháp luật nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp tư nhân (% hoàn toàn đồng ý hoặc đồng ý)

- UBND tỉnh rất năng động và sáng tạo trong việc giải quyết các vấn đề mới phát sinh (% hoàn toàn đồng ý hoặc đồng ý)

- Có những sáng kiến hay ở cấp tỉnh nhưng chưa được thực thi tốt ở các

Sở, ngành (% hoàn toàn đồng ý hoặc đồng ý)

- Lãnh đạo tỉnh có chủ trương, chính sách đúng đắn nhưng không được thực hiện tốt ở cấp huyện (% hoàn toàn đồng ý hoặc đồng ý)

Trang 33

- Phản ứng của tỉnh khi có điểm chưa rõ trong chính sách/văn bản trung ương: “trì hoãn thực hiện và xin ý kiến chỉ đạo” và “không làm gì” (% lựa chọn)

8 Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp

Chỉ số này trước kia có tên gọi là Chính sách phát triển kinh tế tư nhân, dùng để đo lường các dịch vụ của tỉnh để phát triển khu vực tư nhân như xúc tiến thương mại, cung cấp thông tin tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp, hỗ trợ tìm kiếm đối tác kinh doanh, phát triển các khu/cụm công nghiệp tại địa phương

và cung cấp các dịch vụ công nghệ cho doanh nghiệp

- Số hội chợ thương mại do tỉnh tổ chức trong năm trước hoặc đăng ký tổ chức cho năm nay

- Tỉ lệ số nhà cung cấp dịch vụ trên tổng số DN (%)

- Tỉ lệ số nhà cung cấp dịch vụ tư nhân và có vốn đầu tư nước ngoài trên tổng số nhà cung cấp dịch vụ (%)

- Doanh nghiệp đã từng sử dụng dịch vụ tìm kiếm thông tin thị trường (%)

- Doanh nghiệp đã sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư cho dịch vụ tìm kiếm thông tin thị trường (%)

- Doanh nghiệp có ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ tìm kiếm thông tin thị trường (%)

- Doanh nghiệp đã từng sử dụng dịch vụ tư vấn về pháp luật (%)

- Doanh nghiệp đã sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư cho dịch vụ tư vấn về pháp luật (%)

- Doanh nghiệp có ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ tư vấn về pháp luật (%)

- Doanh nghiệp đã từng sử dụng dịch vụ hỗ trợ tìm đối tác kinh doanh (%)

- Doanh nghiệp đã sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư cho dịch vụ hỗ trợ tìm đối tác kinh doanh (%)

Trang 34

- Doanh nghiệp có ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ hỗ trợ tìm đối tác kinh doanh (%)

- Doanh nghiệp đã từng sử dụng dịch vụ xúc tiến thương mại (%)

- Doanh nghiệp đã sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư cho dịch vụ xúc tiến thương mại (%)

- Doanh nghiệp có ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ xúc tiến thương mại (%)

- Doanh nghiệp đã từng sử dụng các dịch vụ liên quan đến công nghệ (%)

- Doanh nghiệp đã sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư cho các dịch vụ liên quan đến công nghệ (%)

- Doanh nghiệp có ý định tiếp tục sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư trên cho các dịch vụ liên quan đến công nghệ (%)

- DN đã từng sử dụng dịch vụ đào tạo về kế toán và tài chính(%)

- DN đã sử dụng nhà cung cấp tư nhân cho dịch vụ đào tạo về kế toán và tài chính (%)

- DN có ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ đào tạo về kế toán và tài chính (%)

- DN đã từng sử dụng dịch vụ đào tạo về quản trị kinh doanh (%)

- DN đã sử dụng nhà cung cấp tư nhân cho dịch vụ đào tạo về quản trị kinh doanh (%)

- DN có ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ đào tạo về quản trị kinh doanh (%)

9 Đào tạo lao động

Đo lường các nỗ lực của lãnh đạo tỉnh để thúc đẩy đào tạo nghề và phát triển kỹ năng nhằm hỗ trợ cho các ngành công nghiệp tại địa phương và giúp người lao động tìm kiếm việc làm

- Dịch vụ do các cơ quan Nhà nước tại địa phương cung cấp: Giáo dục phổ thông (% Rất tốt hoặc Tốt)

- Dịch vụ do các cơ quan Nhà nước tại địa phương cung cấp: Giáo dục hướng nghiệp dạy nghề (% Rất tốt hoặc Tốt)

Trang 35

- Doanh nghiệp đã từng sử dụng dịch vụ giới thiệu việc làm (%)

- Doanh nghiệp đã sử dụng dịch nhà cung cấp tư nhân cho dịch vụ tuyển dụng và giới thiệu việc làm (%)

- Doanh nghiệp sẽ tiếp tục sử dụng dịch vụ giới thiệu việc làm (%)

- % tổng chi phí kinh doanh dành cho đào tạo lao động

- % tổng chi phí kinh doanh dành cho tuyển dụng lao động

- Mức độ hài lòng với lao động (% đồng ý rằng lao động đáp ứng được nhu cầu sử dụng của DN)

- Tỉ lệ người lao động tốt nghiệp trường đào tạo nghề/số lao động chưa qua đào tạo (%) (BLĐTBXH)

- Tỉ lệ lao động tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đào tạo nghề ngắn và dài hạn trên tổng lực lượng lao động (%)

- % số lao động của DN đã hoàn thành khóa đào tạo tại các trường dạy nghề

Trang 36

- Số tháng trung vị để giải quyết vụ kiện tại tòa

- % Chi phí chính thức và không chính thức để giải quyết tranh chấp trong tổng giá trị tranh chấp

- Tòa án các cấp của tỉnh xét xử các vụ kiện kinh tế đúng pháp luật (% đồng ý hoặc hoàn toàn đồng ý)

- Tòa án các cấp của tỉnh xử các vụ kiện kinh tế nhanh chóng (% đồng ý hoặc hoàn toàn đồng ý)

- Phán quyết của tòa án được thi hành nhanh chóng (% đồng ý hoặc hoàn toàn đồng ý)

- Các cơ quan trợ giúp pháp lý hỗ trợ doanh nghiệp dùng luật để khởi kiện khi có tranh chấp (% đồng ý)

- Các chi phí chính thức và không chính thức là chấp nhận được (% đồng

ý hoặc hoàn toàn đồng ý)

- Phán quyết của toà án là công bằng (% đồng ý hoặc hoàn toàn đồng ý)

- DN sẵn sàng sử dụng tòa án để giải quyết các tranh chấp (% có)

2.2 Các nghiên cứu trước đây

Tăng trưởng kinh tế và đạt chất lượng tăng trưởng kinh tế cao là mục tiêu hàng đầu của các quốc gia Vấn đề này đã được nhiều tác giả nghiên cứu với nhiều khía cạnh khác nhau:

Theo Lê Huy Đức (2004) thì nâng cao chất lượng tăng trưởng được đặc trưng ở những yêu cầu chủ yếu như: Phát huy được lợi thế so sánh nhằm tăng trưởng nhanh và đạt hiệu quả kinh tế cao, đẩy mạnh xuất khẩu; tăng nhanh năng lực nội sinh về khoa học – công nghệ; tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ và cải thiện môi trường

Nguyễn Văn Nam và Trần Thọ Đạt (2006) để đánh giá tăng trưởng kinh

tế cần xét trên các phương diện: (1) chuyển dịch cơ cấu kinh tế; (2) hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào, đặc biệt là đóng góp của các nhân tố tổng hợp – TFP

Trang 37

vào tăng trưởng; (3) khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế; (4) phân phối thành quả tăng trưởng; (5) tăng trưởng đi đôi với bảo vệ tài nguyên môi trường

Nguyễn Trọng Hoài và Nguyễn Hoài Bảo (2006) từ khía cạnh vốn nhân lực và vốn xã hội đã chỉ ra được: (i) chất lượng lao động có tác động đến chất lượng tăng trưởng kinh tế và chất lượng lao động phụ thuộc vào hệ thống giáo dục và phát triển nguồn nhân lực của một quốc gia Về mặt định tính, giáo dục

có ngoại tác tích cực là khi người học được thụ hưởng một nền giáo dục thực tiễn và năng động, họ sẽ trở nên khéo léo và có khả năng phát minh nhưng phương pháp sản xuất hiệu quả hơn và có khuynh hướng làm tăng năng suất trung bình trong xã hội Về mặt định lượng, chất lượng giáo dục phải được đo lường bằng chất lượng giảng dạy và chất lượng quá trình học tập chứ không phải

đo lường một cách chung chung như số năm học, tỷ lệ biết chữ, xóa mù, …; (ii) vốn xã hội là tập hợp những tài sản vô hình trong xã hội giúp giảm thiểu chi phí giao dịch và làm cho thị trường hoạt động hiệu quả hơn, đây là loại vốn quan trọng đóng góp cho tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng của một kinh tế Qua

đó, tác giả đã đưa ra một số nhận xét như: tăng trưởng kinh tế Việt Nam có được phần lớn bắt nguồn từ nguồn vốn vật thể do nhà nước chủ động đầu tư; chính sách mà các nhà hoạch định đưa ra lại là xuất khẩu tài nguyên thô, giá trị gia tăng thấp; chất lượng nguồn nhân lực đang là điểm nóng của Việt Nam, chi tiêu cho R&D tại Việt Nam còn quá khiêm tốn, tỷ lệ lao động kỹ năng chỉ chiếm 20% lực lượng lao động, thi trường lao động chậm phát triển, mạng lưới an sinh

xã hội còn hạn chế, tác phong công nghiệp kém, các cơ sở đào tạo nặng tính hàn lâm, thiếu gắn liền với thực tế, dẫn đến việc sử dụng nguồn nhân lực bị lãng phí

và ít hiệu quả

Đỗ Phú Trần Tình (2008) thông qua việc phân tích tổng quát để đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1991-2007 Bằng phương pháp thống kê mô tả, nghiên cứu đã chỉ ra được mặc dù kinh tế

Trang 38

thành phố vẫn tăng trưởng cao về mặt tốc độ, tính bình quân giai đoạn

1991-1995 GDP tăng trưởng 12,6%, giai đoạn 1996-2000 là 10,3% và giai đoạn

2001-2005 đạt mức tăng trưởng là 11% nhưng lại bộc lộ hạn chế về chất lượng tăng trưởng: (i) năng suất lao động so với các nước trong khu vực vẫn còn khá thấp Năm 2007, năng suất lao động bình quân của thành phố Hồ Chí Minh là 79,274 triệu đồng (tương đương 4.800 USD) thì năng suất lao động bình quân của Brunei là 60.588 USD, Singapore 52.268 USD, Malaysia 14.769 USD, Thái Lan 5.704 USD; (ii) hiệu quả sử dụng vốn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh có xu hướng giảm, giai đoạn 1991-1995 hệ số ICOR bình quân đạt 2,1, đến giai đoạn 1996-2000 là 3,35 và giai đoạn 2001-2007 là 3,07; (iii) chất của sự tăng trưởng dựa trên sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn thấp và chưa rõ nét, chiếm tỷ trọng cao nhất và liên tục trong nhiều năm vẫn là nhóm ngành truyền thống, thâm dụng lao động và tài nguyên thiên nhiên, các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao thì vẫn giậm chân tại chỗ; (iv) sức cạnh tranh của thành phố chưa cao do chỉ số minh bạch, chi phí không chính thức, chỉ số về tiếp cận đất đai không cao; (v) tình trạng môi trường sinh thái, môi trường sống ngày càng xuống cấp, ô nhiễm và tình trạng phân hóa giàu nghèo giữa các tầng lớp ngày càng gia tăng

Ông Nguyên Chương và Trần Như Quỳnh (2011) phân tích các chỉ tiêu kinh tế như: tỷ lệ tăng trưởng kinh tế, mức độ chuyển dịch kinh tế, yếu tố vốn, yếu tố lao động, chỉ số năng lực cạnh tranh để phân tích và đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế của Đà Nẵng trong giai đoạn 1997-2009 Nghiên cứu đã chỉ

ra được: (i) tăng trưởng GDP của thành phố vẫn được duy trì ổn định ở mức cao, trung bình giai đoạn 1997-2000 tăng 9,4%/năm, giai đoạn 2001-2005 tăng 13,2%/năm và giai đoạn 2006-2009 tăng 9,8%/năm, GDP bình quân đầu người của Đà Nẵng được cải thiện đáng kể, năm 2009 đạt 27,7 triệu đồng/năm, gấp 1,5 lần so với cả nước; (ii) cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực với dịch

vụ chiếm khoảng 50%, công nghiệp chiếm từ 35 – 44% cả về tỷ lệ đóng góp vào

Trang 39

GDP và cơ cấu lao động; (iii) hiệu quả sử dụng vốn luôn thấp hơn so với cả nước, trung bình giai đoạn 1997-2009 đạt 3,3 Năng suất lao động tăng đều từ 11,88 triệu đồng/năm năm 1997 lên 23,34 triệu đồng/năm năm 2007 và luôn cao hơn gấp đôi so với cả nước; (iv) năng lực cạnh tranh của thành phố Đà Nẵng luôn được đánh giá cao so với cả nước, Đà Nẵng liên tục thuộc nhóm các địa phương dẫn đầu về môi trường kinh doanh Kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng tăng trưởng của thành phố được cải thiện, năng suất yếu tố tổng hợp được cải thiện với tỷ lệ trung bình đạt 15,05%

Nguyễn Quang Hiệp (2013) sử dụng phương pháp hồi quy theo hàm sản xuất Cobb-Douglas và dữ liệu thống kê của tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2005-2012

để phân tích các nguồn tăng trưởng kinh tế của tỉnh Hưng Yên GDP của tỉnh Hưng Yên đã tăng hơn 2 lần từ 5.312,2 tỷ đồng năm 2005 lên 11.128,3 tỷ động năm 2012 và tốc độ tăng trưởng GDP hằng năm của tỉnh luôn đạt cao hơn so với

cả nước, trong đó đóng góp chủ yếu là khu vực Công nghiệp-Xây dựng và Dịch

vụ Hiệu quả sử dụng vốn của tỉnh Hưng Yên thấp do một lượng vốn rất lớn đầu

tư để chuẩn bị cho tỉnh Hưng Yên đảm nhận vai trò quan trọng cho cả vùng kinh

tế Đồng bằng sông Hồng nhưng số lượng vốn để tạo ra hàng hóa, dịch vụ thì chỉ chiếm một phần nhỏ Kết quả nghiên cứu chỉ ra động lực chính trong tăng trưởng GDP của tỉnh giai đoạn 2005-2012 là yếu tố vốn, yếu tố lao động đóng góp khá thấp, còn TFP thì chỉ bắt đầu góp phần vào tăng trưởng GDP từ năm

2010 đến năm 2012 Do dữ liệu sử dụng của mô hình hồi qui chỉ có 8 năm, nên kết luận chưa thực sự đáng tin cậy

Tại Khánh Hòa, Đặng Nguyên Duy và Lê Kim Long (2015) đã dùng phương pháp hồi quy theo hàm Cobb-Douglas gồm hai yếu tố đầu vào là vốn, lao động và yếu tố đầu ra là tổng sản phẩm nội địa của tỉnh Khánh Hòa để thực hiện nghiên cứu về năng suất các yếu tố tổng hợp và tăng trưởng kinh tế của tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 1996-2012 Yếu tố vốn được ước lượng từ vốn đầu tư hằng năm bằng phương pháp tích lũy vốn đầu tư hằng năm với tỉ lệ khấu hao là

Trang 40

5% Trong bài nghiên cứu, tác giả đã chỉ ra tỉnh Khánh Hòa mặc dù không đạt chỉ tiêu tăng trưởng GDP theo kế hoạch nhưng tỉnh vẫn đang duy trì được tốc độ tăng trưởng GDP cao, là một trong 10 tỉnh dẫn đầu cả nước về tốc độ tăng trưởng kinh tế, trong đó công nghiệp – xây dựng tăng bình quân 11,6%/năm, nông-lâm-ngư nghiệp tăng 4,05%/năm, 11,5%/năm Tăng trưởng kinh tế của tỉnh vẫn chủ yếu dựa vào yếu tố vốn Giai đoạn 1998-2012, bình quân yếu tố đóng góp vào tăng trưởng GDP đạt 50,41%, yếu tố lao động đóng góp 39,46%, yếu tố TFP đóng góp thấp và có nhiều năm còn âm Nguyên nhân theo tác giả chỉ ra là do năng suất vốn và lao động tại Khánh Hòa thấp Chỉ số ICOR trung bình giai đoạn 2001-2004 là 2,96, giai đoạn 2005-2008 là 3,55 và giai đoạn 2008-2011 là 5,9 còn năng suất lao động thì chưa được quan tâm và cải thiện Tuy nhiên, tác giả ước lượng yếu tố TFP gián tiếp qua yếu tố vốn và yếu tố lao động, do đó việc xem xét khía cạnh chất lượng tăng trưởng kinh tế tại Khánh Hòa vẫn chưa được đánh giá đầy đủ và chi tiết

Nguyễn Thị Cành (2016) kết hợp cả phân tích định tính và định lượng, áp dụng mô hình Solow với bảng cân đối liên ngành (I/O) để xác định các yếu tố đóng góp vào tăng trưởng kinh tế thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2006-2010

và 2011-2015 Kết quả cho thấy, yếu tố vốn vẫn giữ vai trò quan trọng, đóng góp cao vào tăng trưởng kinh tế TP HCM Tuy nhiên, yếu tố năng suất nhân tố tổng hợp đã được cải thiện và dần rút ngắn khoảng cách biệt so với yếu tố vốn Ngược lại, yếu tố lao động có tỉ trọng đóng góp trong tăng trưởng giảm, nhường

vị trí cho yếu tố TFP Dù tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2011-2015 có giảm so với giai đoạn trước, nhưng mô hình tăng trưởng được cải thiện về chất lượng

Qua các nghiên cứu trên, hầu hết tác giả đều sử dụng phương pháp định lượng để nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế cũng như chất lượng tăng trưởng kinh

tế Trong đó, hầu hết tác giả sử dụng các chỉ tiêu đo lường tăng trưởng kinh tế để xem xét gián tiếp khía cạnh chất lượng tăng trưởng kinh tế, dẫn đến việc xem xét chưa thực sự chi tiết

Ngày đăng: 12/12/2018, 23:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Nguyễn Thị Cành (2016). Các yếu tố đóng góp vào tăng trưởng kinh tế thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Phát triển kinh tế, 27(3), pp. 02-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Phát triển kinh tế
Tác giả: Nguyễn Thị Cành
Năm: 2016
4. Nguyên Chương và Trần Như Quỳnh (2011). Chất lượng tăng trưởng kinh tế thành phố Đà Nẵng. Tạp chí Phát triển Kinh tế, 244 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Phát triển Kinh tế
Tác giả: Nguyên Chương và Trần Như Quỳnh
Năm: 2011
5. Đăng Nguyên Duy và Lê Kim Long (2015). Năng suất các yếu tố tổng hợp và tăng trưởng kinh tế: Nghiên cứu cho trường hợp tỉnh Khánh Hòa. Tạp chí Phát triển kinh tế, 26(9), pp. 86-100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Phát triển kinh tế
Tác giả: Đăng Nguyên Duy và Lê Kim Long
Năm: 2015
7. Nguyễn Quang Hiệp (2013). Các nguồn tăng trưởng kinh tế của tỉnh Hưng Yên. Tạp chí Phát triển kinh tế, 275, pp. 28-39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Phát triển kinh tế
Tác giả: Nguyễn Quang Hiệp
Năm: 2013
11. Nguyễn Trọng Hoài (2013). Các chủ đề phát triển chọn lọc: Khung phân tích và bằng chứng thực nghiệm cho Việt Nam. NXB. Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các chủ đề phát triển chọn lọc: Khung phân tích và bằng chứng thực nghiệm cho Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Trọng Hoài
Nhà XB: NXB. Kinh tế TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2013
12. Nguyễn Trọng Hoài và Nguyễn Hoài Bảo (2006). Chất lượng tăng trưởng: Nhận định ban đầu về vốn nhân lực và vốn xã hội. Tạp chí Phát triển Kinh tế, 184 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Phát triển Kinh tế
Tác giả: Nguyễn Trọng Hoài và Nguyễn Hoài Bảo
Năm: 2006
13. Mankiw.N.G (2000). Kinh tế vĩ mô (bản dịch tiếng Việt). NXB. Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế vĩ mô (bản dịch tiếng Việt)
Tác giả: Mankiw.N.G
Nhà XB: NXB. Thống kê
Năm: 2000
14. Nguyễn Văn Nam và Trần Thọ Đạt (2006). Tốc độ và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. NXB. Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tốc độ và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Nam và Trần Thọ Đạt
Nhà XB: NXB. Đại học Kinh tế Quốc dân
Năm: 2006
15. Phan Ngọc Trung (2006). Chất lượng tăng trưởng kinh tế: Vấn đề đặt ra với nền kinh tế Việt Nam. Tạp chí Phát triển Kinh tế, 184 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Phát triển Kinh tế
Tác giả: Phan Ngọc Trung
Năm: 2006
16. Đỗ Phú Trần Tình (2008). Chất lượng tăng trưởng kinh tế trên địa bàn TP.HCM - Những đánh giá ban đầu. Tạp chí Phát triển Kinh tế, 217 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Phát triển Kinh tế
Tác giả: Đỗ Phú Trần Tình
Năm: 2008
23. Solow (1956). A Contribution to the Theory of Economic Growth. The Quarterly Journal of Economics, 70(1), pp. 65-94 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Quarterly Journal of Economics
Tác giả: Solow
Năm: 1956
24. Thomas, V., Dailami, M., Dhareshwar, A., Kaufmann, D., Kishor, N., Lopez, R., và Wang, Y. (2000). The Quality of Growth. New York: NY, Oxford University Press. Published for the World Bank Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Quality of Growth
Tác giả: Thomas, V., Dailami, M., Dhareshwar, A., Kaufmann, D., Kishor, N., Lopez, R., và Wang, Y
Năm: 2000
25. WEF (World Economy Forum) (2010). The Global Competitiveness Report 2010-2011.http://www3.weforum.org/docs/WEF_GlobalCompetitivenessReport_2010-11.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Global Competitiveness Report 2010-2011
Tác giả: WEF (World Economy Forum)
Năm: 2010
6. Lê Huy Đức (2004). Chất lượng tăng trưởng kinh tế và các tiêu chí đánh giá. Tạp chí Kinh tế và Dự báo Khác
8. Hội đồng nhân dân tỉnh Khánh Hòa (2011). Nghị quyết số 20/NQ-HĐND ngày 22/7/2011 của Hội đồng nhân dân tỉnh Khánh Hòa về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2011-2015 Khác
9. Hội đồng nhân dân tỉnh Khánh Hòa (2013). Nghị quyết số 04/NQ-HĐND ngày 11/7/2013 của Hội đồng nhân dân tỉnh Khánh Hòa về việc sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 20/NQ-HĐND ngày 22/7/2011 của Hội đồng nhân dân tỉnh về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2011-2015 Khác
10. Hội đồng nhân dân tỉnh Khánh Hòa (2015). Báo cáo số 104/BC-HĐND ngày 02/12/2015 của Hội đồng nhân dân tỉnh Khánh Hòa về việc giám sát về bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa Khác
17. Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Khánh Hòa (2018). Thông báo số 340/TB-STNMT ngày 15/8/2018 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Khánh Hòa về kết quả quan trắc môi trường tỉnh Khánh Hòa tháng 7/2018 Khác
20. Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa (2015). Báo cáo số 179/BC-UBND ngày 31/8/2015 của UBND tỉnh Khánh Hòa về việc Sơ kết công tác cải cách hành chính nhà nước giai đoạn I (2011 – 2015) và phương hướng, nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước giai đoạn II (2016 – 2020) của tỉnh Khánh Hòa Khác
21. Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa (2016). Báo cáo số 32/BC-UBND ngày 11/3/2016 của UBND tỉnh Khánh Hòa về việc kết quả thực hiện Nghị quyết số 20/NQ-HĐND ngày 22/7/2011 của HĐND tỉnh Khánh Hòa về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2011 – 2015 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm