1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hạch toán kế toán nguyên, vật liệu tại Công ty Cổ phần dệt 10 -10.pdf

76 302 2
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hạch toán kế toán nguyên, vật liệu tại Công ty Cổ phần dệt 10 -10
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kế toán
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2025
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 700,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hạch toán kế toán nguyên, vật liệu tại Công ty Cổ phần dệt 10 -10

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong một doanh nghiệp sản xuất, vấn đề quan trọng nhất là nguyên vật

liệu (NVL) NVL là đối tượng lao động đước con người tác động vào biến nó

thành sản phẩm có ích Tại doanh nghiệp sản xuất thì vật liệu là tài sản dự trữ,

sản xuất thuộc TSLĐ

Khác với tư liệu lao động, NVL chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất nhất

định Dưới tác động của lao động, chúng bị tiêu hao toàn bộ hoặc thay đổi hình

thái vật chất ban đầu để tạo ra hình thái vật chất của sản phẩm

Công ty Cổ phần Dệt 10-10 là một doanh nghiệp sản xuất, vậy nên NVL là

đối tượng lao động, là một trong ba yếu tố không thể thiếu được của quá trình

sản xuất, là cơ sở vật chất để hình thành nên sản phẩm mới Việc cung cấp NVL

đầy đủ, kịp thời hay không sẽ ảnh hưởng rất lớn đến kế hoạch sản xuất của

doanh nghiệp Sản xuất sẽ không thể tiến hành được nếu không có NVL

Có thể khẳng định NVL có vai trò rất to lớn trong hoạt động sản xuất kinh

doanh Do đó cần phải quản lý NVL trên các mặt như: số lượng, chất lượng, giá

trị, giá cả thu mua Việc tổ chức công tác hạch toán vật liệu là điều kiện không

thể thiếu được để quản lý NVL cần thiết cho sản xuất Nhờ đó kiểm tra được các

định mức dự trữ, tiết kiệm NVL trong sản xuất ngăn ngừa các hiện tượng hư hao

mất mát và lãng phí vật liệu trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất

Trong Công ty Dệt 10-10, NVL là một trong những khâu sản xuất quan

trọng nhất, chiếm một tỷ lệ khá lớn trong gía thành sản phẩm Do đó quản lý tốt

NVL sẽ góp phần đắc lực cho việc hạ giá thành, tăng lợi nhuận và nâng cao hiệu

quả sử dụng vốn lưu động Hạch toán vật liệu là điều kiện quan trọng nhất,

không thể thiếu được trong quản lý vật tư nói riêng và quản lý sản xuất nói

chung của Công ty Cổ phần Dệt 10-10 Hà Nội Qua quá trình thực tập và tìm

hiểu công tác kế toán tại Công ty Cổ phần Dệt 10-10 nên em đã thấy được tầm

Trang 2

quan trọng của NVL Do đó em chọn đề tài “Hạch toán kế toán nguyên vật

liệu tại Công ty Cổ phần Dệt 10-10”

Trang 3

Chuyên đề nghiên cứu của em gồm 3 phần:

- Phần I: Cơ sở lý luận về hạch toán kế toán NVL trong Công ty Cổ phần

Dệt 10-10

- Phần II: Hoàn thiện hạch toán kế toán trong Công ty Cổ phần Dệt 10-10

- Phần III: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hạch toán kế toán NVL trong

Công ty Cổ phần Dệt 10-10

Trang 4

PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HẠCH TOÁN NGUYÊN,

VẬT LIỆU TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT 10-10

1.1 những vấn đề chung:

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm vật liệu (NVL)

NVL là một trong những điều kiện cần thiết để tiến hành sản xuất là đối

tượng lao động NVL là những đối tượng lao động đã được thể hiện dưới

dạng vật hoá Khác với tư liệu lao động, NVL chỉ tham gia vào một chu kỳ

sản xuất nhất định và tham gia vào quá trình sản xuất, dưới tác động của lao

động, chúng bị tiêu hao toàn bộ hoặc thay đổi hình thái vật chất của sản

phẩm Do vậy toàn bộ giá trị vật liệu được chuyển hết một lần vào chi phí

sản xuất kinh doanh trong kỳ

Nguyên vật liệu là những đối tượng lao động được thể hiện dưới dạng vật

hoá như: sắt, thép trong doanh nghiệp cơ khí chế tạo, sợi trong doanh nghiệp dệt,

da trong doanh nghiệp đóng giầy, vải trong doanh nghiệp may mặc

Trong quá trình sản xuất sản phẩm, việc phát sinh chi phí sản xuất là tất

yếu Hoạt động sản xuất chỉ có thể tiến hành khi có đủ ba yếu tố: tư liệu lao

động, đối tượng lao động và sức lao động Sự tham gia của ba yếu tố này vào

quá trình sản xuất, làm hình thành những chi phí tương ứng: chi phí khấu hao tư

liệu lao động, chi phí nguyên, vật liệu, chi phí tiền lương lao động Đó chính là

ba yếu tố cấu thành giá trị sản phẩm

Chi phí về các loại vật liệu thường chiếm các loại tỷ trọng lớn trong toàn

bộ chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất Do

vậy tăng cường công tác quản lý, công tác kế toán vật liệu đảm bảo việc sử dụng

tiết kiệm và hiệu quả vật liệu nhằm hạ thấp chi phí sản xuất và giá thành sản

phẩm có ý nghĩa quan trọng

Trang 5

KILOBOOKS.COM

Trang 6

1.1.2 Phân loại vật liệu

Do vật liệu có nhiều thứ, nhiều loại và thường xuyên biến động trong kỳ,

nên cần phải được hạch toán chi tiết theo từng thứ, từng loại, từng nhóm cả về

hiện vật và giá trị Căn cứ vào vai trò và tác dụng của vật liệu trong sản xuất, vật

liệu được chia thành các loại sau:

- Nguyên vật liệu chính: Là những nguyên, vật liệu mà sau quá trình gia

công chế biến sẽ cấu thành hình thái vật chất của sản phẩm Danh từ nguyên liệu

ở đây dùng để chỉ đối tượng lao độngchưa qua chết biến công nghiệp

- Vật liệu phụ: Là những vật liệu chỉ có tác dụng phụ trợ cho sản xuất kinh

doanh, được sử dụng kết hợp với NVLC để hoàn thiện và nâng cao tính năng,

chất lượng của sản phẩm hoặc được sử dụng để bảo đảm cho công cụ lao động

hoạt động bình thường, hoặc dùng để phục vụ cho nhu cầu kỹ thuật, nhu cầu

quản lý

- Nhiên liệu: Là những thứ vật liệu được dùng để tạo nhiệt năng như than đá,

than bùn, củi, xăng , dầu… Nhiên liệu trong các doanh nghiệp thực chất là một

loại VLP, tuy nhiên nó được tách ra thành một loại riêng vì việc sản xuất và tiêu

dùng nhiên liệu chiếm tỷ trọng lớn và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế

quốc dân, nhiên liệu cũng có yêu cầu và kỹ thuật quản lý hoàn toàn khác với loại

VLP thông thường

- Phụ tùng thay thế: Là loại vật tư được sử dụng cho hoạt động sửa chữa,

bảo dưỡng TSCĐ

- Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: Bao gồm các vật liệu và thiết bị mà

doanh nghiệp mua nhằm mục đích đầu tư cho xây dựng cơ bản

- Vật liệu khác: Là các loại vật liệu đặc chủng của từng doanh nghiệp hoặc phế

liệu thu hồi

Trang 7

Trên cơ sở phân loại NVL, các doanh nghiệp phải tiếp tục chi tiết và hình

thành nên “ Sổ danh điểm vật liệu” Sổ này thống nhất tên gọi, ký mã hiệu, quy

cách, số hiệu, đơn vị tính, giá hạch toán của từng danh điểm NVL

Ký hiệu Tên, nhãn hiệu,

quy cách NVL Đơn vị tính hạch toán Đơn giá Ghi chú Nhóm Danh điểm NVL

1.1.3 Tính giá nguyên, vật liệu

Tính giá vật liệu, về thực chất là xác định giá trị ghi sổ của vật liệu Theo quy

định, vật liệu được tính theo giá thực tế (giá gốc) Giá thực tế của vật liệu trong

các trường hợp cụ thể được tính như sau:

* Tính giá vật liệu nhập kho:

- Với giá vật liệu mua ngoài: Giá thực tế gồm giá mua trên hoá đơn của người

bán trừ (- ) các khoản triết khấu thương mại và giảm giá hàng mua được hưởng

cộng (+) các loại thuế không được hoàn lại ( nếu có) và cộng (+) các chi thu mua

thực tế ( chi phí vận chuyển, bốc dỡ, chi phí bao bì, chi phí của bộ phận thu độc

lập; chi phí thuê kho, thuê bãi, tiền phạt lưu kho, lưu hàng, lưu bãi…)

Như vậy, đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu

trừ, trong gía thực tế của vật liệu không bao gồm thuế GTGT đầu vào được khấu

trừ Ngược lại, đối với các doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực

tiếp, trong giá thực tế vật liệu còn bao gồm cả thuế GTGT đầu vào Các khoản

thuế không được hoàn lại như thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có)

cũng được tính vào giá thực tế của vật liệu mua ngoài ( thu mua trong nước và

nhập khẩu)

Trang 8

- Với vật liệu tự sản xuất: Tính theo giá thành sản xuất thực tế

- Với vật liệu thuê ngoài gia công, chế biến: Giá thực tế gồm giá trị vật

liệu xuất chế biến cùng các chi phí liên quan (tiền thuê gia công, chế biến, chi

phí vận chuyển, bốc dỡ, hao hụt trong định mức…)

- Với phế liệu: Giá thực tế là giá ước tính có thể sử dụng được hay giá trị

thu hồi tối thiểu

- Với vật liệu được tặng, thưởng: Giá thực tế tính theo giá thị trường tương

đương cộng (+) chi phí liên quan đến việc tiếp nhận

* Tính giá vật liệu xuất kho:

Để tính giá thực tế vật liệu xuất dùng trong kỳ, tuỳ theo đặc điểm hoạt

động của từng doanh nghiệp, yêu cầu quản lý và trình độ nghiệp vụ của các kế

toán, có thể sử dụng một trong các phương pháp sau đây theo nguyên tắc nhất

quán trong hạch toán:

- Giá thực tế đích danh (tính trực tiếp): Phương pháp này thích hợp với những

doanh nghiệp có điều kiện bảo quản riêng từng lô NVL nhập kho, vì vậy khi xuất

kho lô nào thì tính theo giá thực tế xuất kho đích danh của lô đó Phương pháp

này cố ưu điểm là công tác tính giá NVL xuất kho, kế toán có thể theo dõi được

thời hạn bảo quản của từng lô NVL Tuy nhiên, để áp dụng phương pháp này, thì

điều kiện cốt yếu là hệ thống kho tàng của doanh nghiệp cho phép bảo quản

riêng từng lô NVL nhập kho

- Phương pháp nhập trước – xuất trước: NVL được tính giá xuất kho trên cơ sở

giả định là lô NVL nào nhập vào kho trước sẽ được xuất dùng trước, vì vậy

lượng NVL xuất kho thuộc lần nhập nào thì tính giá theo giá thực tế của lần nhập

đó Phương pháp này có ưu điểm là cho phép kế toán có thểtính giá NVL xuất

kho kịp thời mỗi lần xuất Nhược điểm của phương pháp là phải tính giá theo

từng danh điểm NVL và phải hạch toán chi tiết NVL tồn kho theo từng loại giá

nên tốn nhiều công sức Ngoài ra, phương pháp này làm cho chi phí kinh doanh

Trang 9

của doanh nghiệp không phản ứng kịp thời với giá cả thị trường của NVL Tuy

vậy, nếu giá cả có xu hướng giảm thì phương pháp tính giá xuất kho này có lợi

cho doanh nghiệp do giảm rủi ro tiềm tàng ẩn chứa trong số vật tư tồn kho cuối

kỳ Phương phàp này chỉ thích hợp với những doanh nghiệp có ít danh điểm

NVL, số lần nhập kho của mỗi danh điểm không nhiều

- Phương pháp Nhập sau – Xuất trước: Theo phương pháp này, NVL được tính

giá thực tế xuất kho trên cơ sở giả định là lô NVL nào nhập vào kho sau sẽ được

xuất dùng trước, vì vậy việc tính giá xuất của NVL được làm ngược lại với

phương pháp Nhập trước -Xuất trước Về cơ bản ưu, nhược điểm và điều kiện

vận dụng cuả phương pháp này cũng giông như phương pháp Nhập sau – Xuất

trước giúp cho chi phí kinh doanh của doanh nghiệp phản ứng kịp thời với giá cả

thị trường của NVL Khi giá cả vật tư nhập có xu hướng tăng thì phương pháp

Nhập sau – Xuất trước làm cho giá trị vật tư xuất tăng và giá trị vật tư tồn kho sẽ

giảm

- Phương pháp giá thực tế bình quân cả kỳ dự trữ: Phương pháp này thích hợp

với những doanh nghiệp có ít doanh điểm NVL nhưng số lần nhập, xuất của mỗi

danh điểm nhiều Theo phương pháp này, căn cứ vào giá thực tế của NVL tồn

đầu kỳ và nhập trong kỳ, kế toán sác định được giá bình quân của một dơn vị

NVL Căn cứ vào lượng NVL xuất trong kỳ và giá đơn vị bình quân để xác định

giá thực tế xuất trong kỳ Phương pháp giá bình quân cả kỳ dự trữ có ưu điểm là

giảm nhẹ được việc hạch toán chi tiết NVL so với phương pháp Nhập trước –

Xuất trước và Nhập sau – Xuất trước, không phụ thuộc vào số lần nhập, xuất của

từng danh điểm NVL Nhược điểm của phương pháp này là dồn công việc tính

giá NVL xuất kho vào cuối kỳ báo cáo nên ảnh hưởng đến tiến độ của các khâu

kế toán khác, đồng thời sử dụng phương pháp này cũng phải tiến hành tính giá

theo từng danh điểm NVL

Trang 10

- Phương pháp giá thực tế bình quân sau mỗi lần nhập: Sau mỗi lần nhập,

kế toán phải xác định giá bình quân của từng danh điểm NVL Căn cứ vào giá

đơn vị bình quân và lượng NVL xuất kho giữa hai lần nhập kế tiếp để kế toán

xác định giá thực tế NVL xuất kho Phương pháp này cho phép kế toán tính giá

NVL xuất kho kịp thời nhưng khối lượng công việc tính toán nhiều và phải tiến

hành tính giá theo từng danh điểm NVL Phương pháp này chỉ sử dụng được ở

những doanh nghiệp có ít danh điểm NVL và số lần nhập của mỗi loại không

nhiều

- Phương pháp giá đơn vị bình quân cuối kỳ trước: Kế toán xác định giá dơn vị

bình quân dựa trên giá thực tế và lượng NVL tồn kho cuồi kỳ trước Dựa vào giá

đơn vị bình quân nói trên và lượng NVL xuất kho trong kỳ để kế toán xác định giá

thực tế NVL xuất kho theo từng danh điểm Phương pháp này cho phép giảm nhẹ

khối lượng tính toán của kế toán, nhưng độ chính xác của công việc tính giá phụ

thuộc vào tình hình biến động giá cả NVL, trường hợp giá cả thị trường NVL có sự

biến động lớn thì việc tính giá NVL xuất kho theo phương pháp này trở nên thiếu

chính xác và có trường hợp gây ra bất hợp lý (giá trị tồn kho là số tiền âm)

- Phương pháp trị giá hàng tồn cuồi kỳ: Để tính được giá thực tế NVL xuất kho

đòi hỏi kế toán phải xác định được lượng NVL xuất kho căn cứ vào các chứng từ

xuất Tuy nhiên, trong thực tế có những doanh nghiệp có nhiều chủng loại NVL

với mẫu mã khác nhau, giá trị thầp, lại được xuất dùng thường xuyên thì sẽ

không có điều kiện để kiểm kê từng nghiệp vụ xuất kho Trong điều kiện đó,

doanh nghiệp phải tính giá cho số lượng NVL tồn kho cuối kỳ này, sau đó mới

xác định được giá thực tế của NVL xuất kho trong kỳ

Gtt NVL tồn

kho cuồi kỳ =

Số lượng NVL tồn kho cuối kỳ *

Đơn giá NVL nhập kho lần cuối

Trang 11

- Phương pháp giá hạch toán: Đối với các doanh nghiệp có nhiều loại vật liệu,

giá cả thường xuyên biến động, nghiệp vụ nhập – xuất vật liệu diễn ra thường

xuyên thì việc hạch toán theo giá thực tế trở nên phức tạp, tốn nhiều công sức và

trong nhiều trường hợp không thể thực hiện được Khi đó kế toán có thể sử dụng

giá hạch toán để tính giá trị NVL xuất hàng ngày, sau đó cuối kỳ điều chỉnh về

giá thực tế nhờ hệi số giá Giá hạch toán là loại giá ổn định , doanh nghiệp có thể

sử dụng trong thời gian dài để hạch toán nhập, xuất, tồn kho vật liệu trong khi

chưa tính được giá thực tế của nó Phương pháp hệ số giá cho phép kết hợp chặt

chẽ hạch toán chi tiết và hạch toán tổng hợp về NVL trong công tác tính giá, nên

công việc tính giá được tiến hành nhanh chóng và không bị phụ thuộc vào số

lượng danh điểm NVL, số lần nhập, xuất của mỗi loại nhiều hay íthay những chi

phối công việc tính giá khác

1.2 hạch toán chi tiết nguyên, vật liệu

Hạch toán chi tiết vật liệu đòi hỏi phải hạch toán cả về giá trị, số lượng,

chất lượng của từng thứ vật liệu theo từng kho và từng người phụ trách vật chất

Có ba phương pháp hạch toán chi tiết vật liệu sau:

- Phương pháp thẻ song song

- Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển

- Phương pháp sổ số dư

1.2.1 Phương pháp thẻ song song:

Phương pháp này thủ kho phải căn cứ vào các chứng từ nhập, xuất

NVL để ghi “Thẻ kho” Kế toán NVL cũng dựa trên chứng từ nhập, xuất vật

liệu để ghi số lượng và tính thành tiền NVL nhập , xuất vào “ Thẻ kế toán

chi tiết vật liệu” Cuối kỳ, kế toán tiến hành đối chiếu số liệu trên “ Thẻ kế

toán chi tiết vật liệu” với “Thẻ kho” tương ứng do thủ kho chuyển đến, đồng

thời từ “ Sổ kế toán chi tiết vật liệu”, kế toán lấy số liệu để ghi vào “ Bảng

Trang 12

tổng hợp ngập – xuất – tồn vật liệu” theo từng danh điểm, từng loại NVL để

đối chiếu với số liệu kế toán ttổng hợp nhập, xuất vật liệu

Phương pháp này rất đơn giản trong khâu ghi chép, đối chiếu số liệu và phát

hiện sai sót, đồng thời cung cấp thông tin nhập, xuất và tồn kho của từng

danh điểm NVL kịp thời, chính xác Tuy nhiên, phương pháp này chỉ sử

dụng được khi doanh nghiệp có ít danh điểm NVL

Trang 13

Ghi chú: Ghi hàng ngày:

Ghi cuối tháng:

Đối chiếu :

1.2.2 Phương pháp đối chiếu luân chuyển:

Đối với những doanh nghiệp có nhiều danh điểm NVL và số lượng chứng từ

nhập, xuất NVL không nhiều thì phương pháp thích hợp đẻ hạch toán chi tiết

NVL là phương pháp đối chiếu luân chuyển

Phương pháp này, kế toán chỉ mở “Sổ đối chiếu luân chuyển NVL” theo

từng kho, cuồi kỳ trên cơ sở phân loại chứng từ nhập, xuất theo từng danh điểm

NVL và theo từng kho, kế toán lập “Bảng kê nhập vật liệu”, “Bảng kê xuất vật

liệu” và dựa vào bảng kê này để ghi vào “Sổ luân chuyển NVL” Khi nhận dược

tiết vật liệu

Bảng tổng hợp nhập - xuất - tồn kho vật liệu

Trang 14

thẻ kho, kế toán tiến hành đối chiếu tổng lượng nhập, xuất của từng thẻ kho với

sổ luân chuyển NVL, đồng thời từ “Sổ đối chiếu luân chuyển NVL” để đối chiếu

với số liệu kế toán tổng hợp vật liệu Như vậy, phương pháp này giảm nhẹ khối

lượng công việc ghi chép của kế toán, nhưng vì dồn công việc ghi sổ, kiểm tra

đối chiếu vào cuồi kỳ, nên trong trường hợp số lượng chứng từ nhập xuất của

từng danh điểm NVL khá nhiều thì công việc kiểm tra, đối chiếu sẽ gặp nhiều

khó khăn và hơn nữa là ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các khâu kế toán khác

SỐ 1.2

SƠ ĐỒ HẠCH TOÁN CHI TIẾT NVL THEO PHƯƠNG PHÁP

ĐỐI CHIẾU LUÂN CHUYỂN

Phiếu

xuất kho xuất vật liệu Bảng kê

Ghi chú: Ghi hàng ngày:

Ghi cuối tháng:

Đối chiếu:

Bảng tổng hợp nhập - xuất và tồn kho vật liệu

Sổ kế toán tổng hợp

về vật liệu

Trang 15

1.2.3 Phương pháp sổ số dư:

Với những doanh nghiệp có nhiều danh điểm NVL và đồng thời số

lượng chứng từ nhập xuất của mỗi loại khá nhiều thì phương pháp hạch toán

chi tiết NVL thích hợp nhất là phương pháp số dư

Phương pháp này, thủ kho ngoài việc ghi” thẻ kho” như các phương pháp

trên thì cuối kỳ còn phải ghi lượng NVL tồn kho từ “ thẻ kho” vào “ Sổ số dư “

Kế toán dựa vào số lượng nhập, xuất của từng danh điểm NVL được tập hợptừ

các chứng từ nhập,xuất mà kế toán nhận được khi kiểm tra các kho theo định kỳ

3, 5 hoặc 10 ngày một lần và giá hạch toánđể trị giá thành tiền NVL nhập xuất

theo từng danh điểm, từ đó ghi vào “ Bảng luỹ kế nhập, xuất, tồn” Cuối kỳ tiến

hành tính tiền trên “ Sổ số dư” do thủ kho chuyển đến và đối chiếu tồn kho từng

danh điểm NVL trên “ Sổ số dư” với tồn kho trên” Bảng luỹ kế nhập, xuất, tồn “

Từ “ Bảng luỹ kế nhập, xuất, tồn” kế toán lập bảng tổng hợp nhập, xuất, tồn vật

liệu để đối chiếu với sổ kế toán tổng hợp về vật liệu Phương pháp này chánh

được việc ghi chép trùng lắp và dàn đều công việc ghi sổ trong kỳ, nên không bị

dồn việc vào cuối kỳ, nhưng việc kiểm tra, đối chiếu và phát hiện sai sót gặp

nhiều kho khăn, vì vậy, phương pháp này đòi hỏi nhân viên kế toán và thủ kho

phải có trình độ chuyên môn cao

Trang 16

Phiếu

xuất

kho

Phiếu giao nhận chứng từ xuất

Ghi chú: Ghi trong tháng:

Phương pháp kê khai thường xuyên là phương pháp theo dõi và phản ánh

tình hiện có, biến động tăng, giảm hàng tồn kho một cách thường xuyên, liên tục

trên các tài khoản phản ánh từng loại hàng tồn kho Trong trường hợp áp dụng

phương pháp KKTX thì các tài khoản hàng tồn kho nói chung và tài khoản NVL

Sổ kế toán tổng hợp về vật liệu

Trang 17

nói riêng được phản ánh số hiện có tình hình biến động tăng, giảm của vật tư,

hàng hoá Vì vậy, giá trị vật tư, hàng hoá trên sổ kế toán có thể xác định ở bất cứ

thời điểm nào trong kỳ hạch toán Cuối kỳ hạch toán, căn cứ vào số liệu kiểm kê

thực tế vật tư, hàng hoá tồn kho,so sánh đối chiếu với số liệu tồn trên sổ kế toán

để xác định số lượng vật tư thừa, thiếu và truy tìm nguyên nhânđể có giải pháp

kịp thời

Phương pháp KKTX áp dụng thích hợp trong các doanh nghiệp sản xuất

và các đơn vị thương nghiệp kinh doanh mặt hàng có giá trị lớn Sau đây là TK

sử dụng:

* Tài khoản 152: Nguyên vật liệu

Tài khoản dùng để ghi chép số hiện có và tình hình tăng giảm nguyên vật

liệu theo giá thực tế Kết cấu của TK 152:

Bên Nợ: - Giá thực tế NVL nhập kho do mua ngoài, tự chế,thuê ngoài gia

công, nhận góp vốn liên doanh, được cấp hoặc nhập từ các nguồn khác

- Trị giá nguyên, vật liệu thừa khi kiểm kê

Bên Có: - Giá thực tế NVL xuất kho để sản xuất, để bán, thuê ngoài gia

công chế biến, hoặc góp vốn liên doanh

- Trị giá NVL được giảm giá, chiết khấu thương mại hoặc trả lại

người bán

- Trị giá NVL thiếu hụt phát hiện khi kiểm kê

Số dư Nợ: Giá thực tế nguyên, vật liệu tồ kho

* Tài khoản 151: Hàng mua đi đường

Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị các loại vật tư, hàng hoá mà doanh

nghiệp đã mua, đã chấp nhận thanh toán với người bán nhưng chưa về nhập

khodoanh nghiệp và tình hình hàng về Kết cấu TK 151:

Bên Nợ: Giá trị hàng hoá, vật tư đang đi đường

Trang 18

Bên Có: Giá trị hàng hoá, vật tư đang đi đường đã về nhập kho hoặc

chuyển giao cho các đối tượng sử dụng hay khác hàng

Số dư Nợ: Giá trị hàng đi đường chưa về nhập kho

1.3.2 Hạch toán nghiệp vụ tăng nguyên, vật liệu:

* Nguyên, vật liệu mua nhập kho: Trong nghiệp vụ thu mua, nhập kho

NVL thì doanh nghiệp phải có 2 loại chứng từ bắt buộc đó là “ Hoá đơn bán

hàng” và “phiếu nhập kho”, trường hợp NVL là nông, lâm thuỷ, hải sản mua trực

tiếp của người sản xuất thì doanh nghiệp lập “Bảng kê mua hàng” thay cho hoá

đơn Ngoài ra, trong các trường hợp đặc biệt, doanh nghiệp còn phải lập một số

laọi chứng từ khác như “Biên bản kiểm nghiệm vật tư “, “Biên bản xử lý vật tư

thiếu”… Việc ghi chép nghiệp vụ thu mua và nhập kho NVL của kế toán phụ

thuộc vào tình hình thu nhận từ các chứng từ trên

- Trường hợp hàng và hoá đơn cùng về: Căn cứ vào hoá đơn, phiếu nhập

và các chứng từ có liên quan, kế toán ghi:

Nợ TK 152: Phần ghi vào giá NVL nhập kho

Nợ TK 133: Thuế GTGT được khấu trừ

Có TK 331: Hoá đơn chưa trả người bán

Có TK 111,112,311…: Hoá đơn đã thanh toán cho người bán

- Trường hợp hàng đi đường: Hoá đơn nhận trước, nhưng chưa nhận được

phiếu nhập kho thì lưu hoá đơn vào cặp hồ sơ “hàng đang đi đường” Nếu trong

tháng hàng về thì ghi bình thườngnhư trường hợp trên , nhưng nếu cuối tháng,

hàng vẫn chưa về thì căn cứ vào hoá đơn và các chứng từ có liên quan, kế toán

ghi:

Nợ TK 151: Phần được tính vào giá NVL

Nợ TK 133: Thuế GTGT được khấu trừ

Có TK 331: Hoá đơn chưa trả tiền cho người bán

Trang 19

Có TK 111,112,311…: Hoá đơn đã thanh toán

Tháng sau, số hàng trên về kho, kế toán căn cứ vào phiếu nhập kho ghi:

Nợ TK 152

Có TK 151

- Trường hợp hàng về chưa có hoá đơn: Kế toán chỉ nhận được phiếu

nhập, chưa nhận được hoá đơn thì căn cứ vào lượng NVL thực tế nhập kho và

giá tạm tính để ghi:

Nợ TK 152

Có TK 331

Khi nhận được hoá đơn, kế toán dùng bút toán ghi bổ sung, hoặc ghi số

âm để điều chỉnh giá tạm tính thành giá hoá đơn và phản ánh số thuế GTGT

được khấu trừ Chẳng hạn, khi giá hoá đơn lớn hơn giá tạm tính, kế toán ghi bút

toán bổ xung:

Nợ TK 152: Giá nhập thực tế trừ (-) giá tạm tính

Nợ TK 133: Thuế GTGT được khấu trừ

Có TK 331: Giá thanh toán trừ (-) giá tạm tính

- Trường hợp doanh nghiệp ứng trước tiền hàng cho người bán:

Khi ứng trước tiền, căn cứ vào chứng từ thanh toán, kế toán ghi:

Nợ TK 331

Có TK 111,112,311

Khi người bán chuyển hàng cho doanh nghiệp, căn cứ vào hoá đơn, phiếu

nhập kho, kế toán ghi:

Nợ TK 152: Phần được ghi vào giá nhập kho

Nợ TK 133: Thuế GTGT được khấu trừ

Có TK 331: Giá thanh toán theo hoá đơn

- Phản ánh chi phí phát sinh trong quá trình thu mua NVL:

Nợ TK 152: Phần được tính vào giá NVL

Trang 20

Nợ TK 133: Thuế GTGT được khấu trừ

Có TK 111,112,331…

- Nếu nhập kho phát hiện thấy NVL thiếu so với hoá đơn, thì tuỳ theo

nguyên nhân, kế toán ghi:

Nợ TK 138 (1381): Chờ xử lý

Nợ TK 138 ( 1388): Yêu cầu bồi thường

Có TK 111,112,311,331: Giá thanh toán của số NVL thiếu

- Nếu nhập kho phát hiện thấy NVL thừa so với hoá đơn thì kế toán có thể

ghi thừa vào tài khoản 002 “ Vật tư hàng hoá giữ hộ” hoặc kế toán có thể ghi:

Nợ TK 152

Có TK 338 (3388)

Trường hợp khi nhận được “Hoá đơn GTGT “, “Hoá đơn bán hàng” … mà

doanh nghiệp đã thanh toán một phần, số còn lại doanh nghiệp nhận nợ với

người bán thì kế toán căn cứ hoá đơn ghi:

Nợ TK 151,152: Giá không có thuế GTGT

Nợ TK 133: Thuế GTGT được khấu trừ

Có TK 331: Giá thanh toán ghi trên hoá đơn

Phản ánh số tiền đã thanh toán, kế toán ghi:

Nợ TK 331

Có TK 111, 112, 141, 331…

- Nếu nhập kho NVL mua ngoài, kế toán ghi :

Nợ TK 152: Nguyên liệu, vật liệu

Có TK 111,112,312,331,461,462…

Đồng thời có bút toán

Có TK 008: Dự toán chi hoạt động

Có TK 009: Dự toán chi trương trình dự án

Trang 21

- Nguyên liệu, vật liệu sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh hàng

hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ:

Nợ TK 152: NVL ( giá chưa thuế)

Nợ TK 631: Chi hoạt động sản xuất kinh doanh

Nợ TK 3113: GTGT được khấu trừ

Có TK 111,112,331,… tổng giá thanh toán

- Nhập khẩu NVL dùng cho sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ không

chịu thuế hoặc GTGT theo phương pháp trực tiếp:

Nợ TK 152: nguyên liệu, vật liệu

Có TK 3337: Thuế khác

Có TK 111,112,331…

- Nhập khẩu NVL do được nhà nước cấp kinh phí, hoặc cấp vốn hoặc được

kho bạc cho ứng trước kinh phí mua:

Nợ TK 152: Nguyên liệu, vật liệu

Có TK 441: Nguồn kinh phí đầu tư XDCB

Có TK 461: Nguồn kinh phí hoạt động

Có TK 462: Nguồn kinh phí dự án

Có TK 465: Nguồn kinh phí theo đơn đặt hàng Nhà nước

Có TK 411: Nguồn vốn kinh doanh

Có TK 336: Tạm ứng kho bạc

* Nhập kho nguyên, vật liệu từ các nguồn khác: Như nhập kho NVL tự

chế, gia công xong, do nhận vốn kinh doanh bằng giá trị NVL… phản ánh

nghiệp vụ trong các trừng hợp này kế toán ghi:

Trang 22

Có TK 338: NVL vay mượn tạm thời của đơn vị khác

Có TK 711: Phế liệu thu hồi từ hoạt động thanh lý TSCĐ

- Nguyên liệu, vật liệu đã xuất nhưng không sử dụng hết nhập trả lại kho:

Nợ TK 152: Nguyên liệu, vật liệu

Có TK 241,631,661,662,635

1.3.3 Hạch toán nghiệp vụ giảm nguyên, vật liệu:

Nếu doanh nghiệp sử dụng phương pháp kê khai thường xuyên thì khi xuất

kho NVL phải lập “phiếu xuất kho” hoặc “ phiếu xuất kho theo hạn mức”,

thủ kho và người nhận NVL phải làm thủ tục kiểm nhận lượng NVL xuất

kho theo phiếu xuất

- Kế toán tổng hợp các phiếu xuất NVL cho từng bộ phận sử dụng, xác định

giá trị thực tế xuất kho để phân bổ giá trị NVL xuất dùng vào chi phí sản

xuất – kinh doanh và ghi:

Nợ TK 621: Giá thực tế NVL sử dụng để chế biến sản phẩm

Nợ TK 627: Giá thực tế NVL phục vụ chung cho bộ phận sản xuất

Nợ TK 641: Giá thực tế NVL phục vụ cho bán hàng

Nợ TK 642: Giá thực tế NVL phục vụ cho Quản lý doanh nghiệp

Có TK152: Giá thực tế NVL xuất kho

- Trường hợp doanh nghiệp xuất NVL để góp vốn liên doanh, hoặc trả vốn

góp liên doanh căn cứ vào phiếu xuất kho và biên bản giao nhận vốn, kế toán

ghi:

Nợ TK 222: Góp vốn liên doanh (theo giá thoả thuận)

Nợ TK 411: Trả vốn góp liên doanh (theo giá thoả thuận)

Nợ (Có) TK 412: Chênh lệch giá ( nếu có)

Có TK152: Ghi theo giá thực tế xuất kho

Trang 23

- Trường hợp doanh nghiệp xuất kho NVL để gia công chế biến thêm

trước khi sử dụng, căn cứ vào giá thực tế của NVL xuất kho, kế toán ghi:

Nợ TK 154: Chi phí SXKD dở dang

Có TK 152: Nguyên liệu, vật liệu

- Tập hợp chi phí phát sinh trong quá trình gia công, hoặc tự chế NVL,

kế toán ghi:

Nợ TK 154: Chi phí SXKD dở dang

Nợ TK 133: Thuế GTGT được khấu trừ ( nếu có)

Có TK 334,338: Chi phí nhân viên

Có TK 331: Tiền thuê gia công

- Trường hợp doanh nghiệp xuất kho NVL để bán thì căn cứ vào giá thực

tế kế toán ghi:

Nợ TK 632: Giá vốn hàng bán

Có TK 152: Nguyên liệu, vật liệu

Tiền thu được việc nhượng bán NVL, kế toán ghi:

Nợ TK 111, 112, 131: Số tiền thu được

Có TK 711: Thu nhập khác

Có TK 3331: Thuế GTGT phải nộp

- Trường hợp NVL đã nhập kho nhưng do chất lượng kém và đang trong

thời hạn bảo hành thì doanh nghiệp phải làm thủ tục xuất kho số NVL đó trả lại

cho người bán Căn cứ vào hoá đơn của số vật liệu này, kế toán ghi:

Nợ TK 111,112,331: Theo giá thanh toán

Có TK 152: Theo giá mua đích danh

Có TK 133: Thuế GTGT được khấu trừ

- Trường hợp doanh nghiệp được hưởng triết khấu thương mại, giảm giá

hàng mua thì kế toán ghi giảm giá NVL nhập kho trong kỳ:

Trang 24

Nợ TK 111, 112, 331:Theo giá thanh toán

Có TK 152: Nguyên liệu, vật liệu

Có TK 133: Thuế GTGT được khấu trừ

1.3.4 Hạch toán kết quả kiểm kê kho NVL:

Định kỳ hoặc đột xuất, doanh nghiệp có thể tiến hành kiểm kê kho NVL nói

riêng và các loại hàng tồn kho khác nói chung để xác định lượng hàng tồn

kho của từng danh điểm, từ đó đối chiếu với số liệu trên sổ sách kế toán và

xác định số thừa thiếu

- Trường hợp khi kiểm kê phát hiện NVL thiếu, căn cứ vào biên bản kiểm kê

xác định NVL mất mát, hao hụt, kế toán ghi:

Nợ TK 1381: Tài sản thiếu chờ xử lý

Có TK 152: Giá thực tế của NVL thiếu

Căn cứ vào biên bản xử lý về giá trị NVL hao hụt, mất mát, kế toán ghi:

Nợ TK 111, 112, 334…(phần phải bồi thường)

Nợ TK 632: Giá vốn hàng bán (giá trị mất mát, hao hụt, số phải bồi

thường)

Có TK 1381: Tài sản thiểu chờ xử lý

- Khi kiểm kê phát hiện NVL thừa so với sổ sách kế toán, doanh nghiệp phải

xác định số NVL thừa là của mình hay phải trả cho đơn vị hay cá nhân khác

Nếu NVL thừa xác định là của doanh nghiệp, kế toán ghi:

Nợ TK 152: Nguyên liệu, vật liệu

Có TK 711: Thu nhập khác

Nếu NVL thừa xác định xẽ trả cho đơn vị khác thì kế toán ghi đơn vào bên

Nợ TK 002 Nếu doanh nghiệp quyết định mua số vật liệu thừa thì cần thông

báo cho bên bán Căn cứ vào hoá đơn lập bổ sung nhận từ người bán, kế toán

ghi:

Trang 26

Số 1.3

SƠ ĐỒ HẠCH TOÁN TỔNG HỢP NVL THEO PHƯƠNG PHÁP

KÊ KHAI THƯỜNG XUYÊN

TK 151

Nguyên, vật liệu xuất thuê ngo i gia công

TK 412

TK 133 Thuế GTGT đầu v o Xuất nguyên, vật liệu

thiếu khi kiểm kê

TK 111, 112, 331 Giảm giá h ng mua hoặc

trả lại NVL cho người

Trị giá nguyên, vật liệu thừa khi kiểm kê kho

Trang 27

1.4 Hạch toán tổng hợp NVL theo phương pháp kiểm kê định kỳ

1.4.1 Tài khoản sử dụng:

Phương pháp kiểm kê định kỳ là phương pháp hạch toán căn cứ vào kết quả

kiểm kê thực tế để phản ánh giá trị hàng tồn kho cuồi kỳ trên sổ kế toán tổng

hợp và từ đó tính ra trị giá vật tư, hàng hoá đã xuất trong kỳ theo công thức:

+

Trị giá vật tư, Hàng hoá tồn đầu kỳ

-

Trị giá vật tư, hàng hoá tồn cuồi kỳ

Theo phương pháp KKĐK, mọi biến động vật tư, hàng hoá không theo dõi,

phản ánh trên các TK hàng tồn kho Giá trị vật tư, hàng hoá mua và nhập kho

được phản ánh trên một tài khoản riêng (Tài khoản mua hàng)

Công tác kiểm kê vật tư, hàng hoá mua và nhập kho được tiến hành cuối mỗi

kỳ hạch toán để xác định giá trị vật tư, hàng hoá tồn kho thực tế, trên cơ sở

đó kế toán phản ánh vào các tài khoản hàng tồn kho Như vậy, khi áp dung

phương pháp KKĐK, các tài khoản hàng tồn kho chỉ sử dụng đầu kỳ hạch

toán (để kết chuyển số dư đầu kỳ) và cuối kỳ hạch toán (để kết chuyển số dư

cuối kỳ)

Phương pháp KKĐK thường được áp dụng ở những doanh nghiệp có nhiều

chủng loại vật tư, hàng hoá với quy cách mẫu mã khác nhau, giá trị thầp và

được xuất thường xuyên

Phương pháp KKĐK hàng tồn kho có ưu điểm là giảm nhẹ khối lượng công

việc hạch toán, nhưng độ chính xác về vật tư, hàng hoá xuất dùng cho các

mục đích khác nhau phụ thuộc vào chất lượng công tác quản lý tại kho,

quầy, bến, bãi,…

Tài khoản 611: Mua hàng

Tài khoản này dùng để phản ánh giá thực tế của số vật tư, hàng hoá mua vào,

xuất trong kỳ Kết cấu của TK như sau:

Trang 28

- Trị giá vật tư, hàng hoá, trả lại cho người bán hoặc được giảm giá, triết

khấu thương mại

- Trị giá thực tế hàng hoá, NVL, CCDC tồn cuối kỳ

TK 611 không có số dư cuối kỳ và được chi tiết thành các TK cấp 2:

TK 6111: Mua nguyên liệu, vật liệu

Giá thực tế NVL mua vào trong kỳ, căn cứ vào háo đơn và các chứng từ có

liên quan, kế toán ghi:

Nợ TK 611

Nợ TK 133: Thuế GTGT được khầu trừ ( nếu có)

Có TK 111, 112 311, 331…: Theo giá thanh toán

Phản ánh chiết khấu thương mại, giảm giá được hưởng hoặc trả lại NVL cho

nhà cung cấp, kế toán ghi:

Trang 29

SƠ ĐỒ HẠCH TOÁN TỔNG HỢP NVL THEO

PHƯƠNG PHÁP KIỂM KÊ ĐỊNH KỲ

( Tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ)

TK 611 Kết chuyển NVL

tồn đầu kỳ

Kết chuyển NVL tồn cuối kỳ

Trị giá NVL mua v o trong

kỳ

TK 111, 112,

311, 331, …

TK 151, 152 Giảm giá h ng mua hoặc

trả lại NVL cho người

TK 151, 152 Trị giá NVL

sử dụng trong kỳ

Trang 30

Kokét sản xuất vải valize, tuyn trên cơ sở các trang thiết bị của cộng hoà dân chủ

Đức Sau thời gian nghiên cứu, đầu tư, sở công nghiệp đề nghị Hà Nội đề nghị

UBND Thành phố tiến hành đầu tư thêm cơ sở vật chất và ra quyết định chính

thức thành lập Xí nghiệp ngày 25/12/1973 theo quyết định số 262/CN Giai đoạn

này Xí nghiệp Dệt 10-10 mới chỉ có hai địa điểm sản xuất chính, đó là:

- Cơ sở 1: Số 6 Ngô Văn Sở bao gồm: Xưởng cắt, may, hoàn thành sản

phẩm cuối cùng và khối văn phòng

- Cơ sở 2: Số 26 Trần Quý Cáp đặt phân xưởng văng sấy

* Giai đoạn 2: (T7/1975- 1999)

Có thể nói, đây là giai đoạn bước vào sản xuất kinh doanh, thực hiện các

chỉ tiêu kế hoạch của nhà nước Tháng 7 năm 1975 Xí nghiệp chính thức nhận

các chỉ tiêu kế hoạch do nhà nước giao

Trong giai đoạn này, xí nghiệp mở thêm một cơ sở mới đặt tại số 253

Minh Khai để chưa NVL Với toàn bộ vật tư, nguyên vật liệu do nhà nước cung

cấp xí nghiệp luôn nỗ lực vượt kế hoạch và giao nộp đúng kỳ hạn

Ngày 1993, Xí nghiệp Dệt 10 đổi tên thành “ Công ty Dệt

10-10” theo quyết định số 2580/QĐ-UB thành phố Hà Nội duyệt

Có thể nói trong giai đoạn này, công ty đã có nhiều thay đổi, được các tổ

chức công nhận và được trao tặng huy chương vàng tai các cuộc triển lãm, được

nhà nước và Sở công nghiệp Hà Nội tặng nhiều bằng khen:

Trang 31

- Năm 1983: Được tặng huân chương lao động hạng Hai

- Năm 1991: Được tặng huân chương lao động hạng Nhất

* Giai đoạn 3: (T1/2000 đến nay):

Theo đường lối, chủ trương của công cuộc đổi mới đất nước, công ty đã

tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp, nhằm tăng cường hiêu quả sản xuất kinh

doanh và phù hợp với yêu cầu của thời đại mới

Trong giai đoạn này, Công ty tiếp tục khặng định uy tín của mình trên thị

trường Công ty đặc biệt chú trọng vào công tác xuất nhập khẩu và coi đây là

mũi nhọn của mình Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu ở giai đoạn này chiếm 60%

công ty cũng rất chú ý tới thị trường nội địa và chiếm 30% thị phần trong nước,

dẫn đầu về doanh số bán ra so với các doanh nghiệp khác về sản xuất các sản

phẩm làm từ màn tuyn

Đầu năm 2003, Công ty đã chuyển bộ máy lãnh đạo cùng khối văn phòng

về 253 Minh Khai Là một doanh nghiệp nhỏ nhưng ý chí vươn lên, cộng với sự

nhiệt tình gắn bóvà tinh thần hăng say lao động, từ chỗ doanh nghiệp chỉ có 14

người lao động đến nay đã gần 900 người Vốn pháp định lên tới 8 tỷ đồng

2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Công ty cổ phần Dệt 10-10

- Chức năng: Công ty cổ phần dệt 10-10 là một doanh nghiệp có chức

năng sản xuất và cung cấp cho thị trường những sản phẩm dệt như vải tuyn, màn

tuyn và rèm cửa…

- Nhiệm vụ chính của Công ty Dệt 10-10 là: Phải quản lý và sử dụng vốn

đúng theo chế độ hiện hành Phải tự trang trải về tài chính để đảm bảo kinh

doanh có lãi Có trách nhiệm đóng góp vào sự phát triển của nghành dệt may

Việt Nam và nền kinh tế quốc dân Tạo công ăn việc làm cho người lao động,

góp phần làm giảm các tệ nạn xã hội do tình trạng thất nghiệp gây ra

Trang 32

- Vị trí của đơn vị: Doanh nghiệp có vị trí quan trọng trong dệt may trong

nước nói riêng và nước ngoài nói chung Sản phẩm của công ty ngày một đáp

ứng được nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng

2 1.3 Lĩ

nh vự

c kin

h doanh và tình hình hoạt động kinh doanh:

Công ty cổ phần Dệt 10-10 là một doanh nghiệp sản xuất và cung cấp cho

thị trường những sản phẩm dệt như vải tuyn, màn tuyn, rèm cửa

2.1.4 Cơ cấu bộ máy tổ chức của Công ty

Bộ máy quản lý theo mô hình trực tuyến chức năng

Chỉ Tiêu Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004

MứcTăng Trưởng b/q

Doanh thu( tỷ đồng) 39,08 78,8 75 28,45

Tổng nộp ngân sách (Tỷ đồng) 0,593 1,76 1,774 18,2

Lợi nhuận sau thuế (Tỷ đồng) 1.033,9 1.560 2,030 289,8

Lợi tức chia cho Cổ đông(% tháng) 0,8 1,25 1,5 17

Thu nhập bình quân (Triệu đồng) 1,043 1,262 1,355

Lao động bình quân( người) 454 591 689 2,65

Tỷ suất lợi nhuận sau thuế/ vốn điều lệ 12,92 19,5 25,37

Trang 33

2.1.4.1: Chức năng nhiệm vụ:

- Phòng Kế hoạch sản xuất: Có nhiệm vụ xây dựng các kế hoạch ngắn hạn,

dài hạn trình lên Ban giám đốc và Hội đồng quản trị Tổ chuắc lao động, vật tư

đáp ứng nhanh chóng và đầy đủ nhu cầu cho sản xuất Xây dựng chiến lược phát

triển mặt hàng mới, đầy đủ công nghệ để không ngừng mở rộng phát triển sản

xuất Tiếp nhận các đơn đặt hàng của các đối tác nước ngoài, đôn đốc các bộ

phận thực hiện tốt kế hoạch đó

- Phòng Kỹ thuật cơ điện: Có nhiệm vụ xây dựng, bổ sung,hoàn thiện quy

trình kỹ thuật công nghệ đó cho quy trình sản xuất.Tổ chức vận hành thiết bị tốt

Tổ chức việc thực hiện quy trình đó, xây dựng chương trình tiến bộ kỹ thuật

hàng năm, xây dựng bổ xung hoàn thiện các định mức kỹ thuật, xác định mức

tiêu hao vật tư và đề xuất các giải pháp nâng cao các khả năng vận hàng máy

móc thiết bị để phục vụ cho sản xuất

- Phòng Tài vụ: Có nhiệm vụ thực hiện nghiệp vụ tài chính kế toán đúng

theo chế độ, chính sách của nhà nước trong toàn bộ các khâu kinh doanh của

công ty Kế toán thực hiện quy chế, quy định về chế độ, thể lệ, chỉ tiêu, quản lý,

điều hành và phục vụ cho công tác quyết toán tài chính, tính toán và xây dựng

giá thành sản phẩm

- Phòng Kinh doanh: Có chức năng cung ứng vật tư, nguyên liệu kịp thời,

đảm bảo chất lượng, số lượng, đảm bảo giá cả hợp lý.Tổ chức bán hàng tại công

ty, tại cửa hàng giới thiệu sản phẩm với mục tiêu hoàn thành kế hoạch doanh thu

đã đặt ra Đẩy mạnh tiếp thị quảng cáo, giới thiệu sản phẩm nâng cao hiệu quả

kinh doanh

- Phòng Tổ chức bảo vệ: Xây dựng quy chế khen thưởng, kỷ luật Xây

dựng kế hoạch tiền lương, xây dựng phương án trả lương Tổ chức công tác bảo

vệ, đảm bảo an toàn về người, tài sản của công ty Quản lý hồ sơ của nhâ viên,

chấm công lao động, tính bảo hiểm xã hội để thanh toán lương hàng tháng

Trang 34

- Phòng Đảm bảo chất lượng: Nghiên cứu soạn thảo những văn bản liên

quan đến hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO, lưu trữ vân bản tài

liệu liên quan ISO trong máy Tổ chức công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm để

đảm bảo uy tín với khách hàng

- Phòng Hành chính y tế: Tổ chức công tác văn thư, văn phòng, tiếp nhận

công văn….Quản lý con dấu, giấy tờ Trang trí các khẩu hiệu, kẻ bảng tuyên

truyền vào các dịp lễ tết hoặc các sự kiện chính trị của nhà nước và công ty

Chăm sóc toàn bộ sức khoẻ cho cán bộ công nhân viên trong công ty

- Phòng Kỹ thuật công nghệ: Nghiên cứu đưa ra mẫu mã về sản phẩm tuyn

hoa mới, đáp ứng nhu cầu thị trường ngày càng cao về mẫu mã và kiểu dáng

mới Nghiên cứu về công nghệ hoá chất tẩm sấy để đưa vào thị trường Châu Phi

để chống các loại côn trùng mà không làm hại đến con người

Trang 35

VỆ

PHÒNG QUẢN

LÝ CHẤT LƯỢNG

PHÒNG

KỸ THUẬT

CƠ ĐIỆN

PH N

XƯỞNG

DỆT 1

PH N XƯỞNG DỆT 2

GI M ĐỐC

PH N XƯỞNG CẮT 1,2

PH N XƯỞNG VĂNG SẤY 1,2,3

PH N XƯỞNG MAY 2

PH N XƯỞNG MAY 1

BAN KIẾN THIẾT

CƠ BẢN

PHÒNG

KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ

Trang 36

2.1.4.3 Cơ cấu nhân sự của Công ty:

Năm lao động Tổng số Trực tiếp Gián tiếp

- Trước kia, khi chưa có chế độ lao động hợp đồng, lao động trong công ty

đều thuộc biên chế nhà nước Việc tuyển dụng lao động sản xuất đều do cấp trên

quyết định Hàng năm căn cứ vào chỉ tiêu về lượng người lao động theo biên chế

công ty tổ chức tiếp nhận lao động do Sở công nghiệp Hà Nội phân Chính vì

vậy, nguồn lao động còn hạn chế về tay nghề cũng như về trình độ quản lý

- Từ khi cổ phần hoá, cơ chế đã có nhiều thay đổi, công ty nhận thức rõ

nhân tố con người lao động trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm Công

nhân được tuyển dụng chặt chẽ qua việc thử tay nghề, đối với cán bộ quản lý thì

phải có ít nhất một bằng dại học và có kinh nghiệm làm việc

- Đặc trưng của ngành dệt là kết hợp máy móc thiết bị với lao động thủ

công Do vậy, lực lượng công nhân sản xuất chính là phụ nữ Họ có đôi tay khéo

léo , chịu khó làm việc Tuy nhiên, do tỷ lệ lao động nữ chiếm khá cao trong

Công ty, khoảng 77%, đã làm ảnh hưởng lớn tới năng suất lao động cũng như

chất lượng sản phẩm và công tác quản lý lao động Họ có chế độ ngày nghỉ cao:

nghỉ đẻ, nghỉ ốm, con ốm… Trong giai đoạn đó, công ty buộc phải tìm người

thay thế Người được thay thế có khi phải đào tạo lại hoàn toàn hoặc phải học

thêm mới có thể làm việc được, do đó chất lượng sản phẩm không đảm bảo bằng

người lao động chính Hơn nữa, những công nhân sau khi đẻ quay trở lại làm

việc tay nghề không còn linh hoạt, ổn định dễ dẫn đến không làm đúng quy cách

hay không đạt tiêu chuẩn

Trang 37

- Chính vì vậy, công ty tập trung, chú trọng vào việc đào tạo công nhân

nhằm nâng cao tay nghề và tăng cường đội ngũ nhân viên hoạt động cả đầu vào

và đầu ra cho doanh nghiệp

- Nhìn chung, trình độ tay nghề và sức khoẻ của công nhân viên trong

công ty tính tại thời điểm này tương đối tốt Sẵn sàng đáp ứng nhu cầu sản xuất

của công ty

2.1.5 Đặc điểm về NVL, sản phẩm, quy trình công nghệ sản xuất sản

phẩm và Tổ chức hoạt động kinh doanh tại Công ty:

2.1.5.1: Đặc điểm về NVL:

Hầu hết NVL đều do Công ty mua và vận chuyển về từng kho, đúng

chủng loại, đồng bộ kích thước

- Sợi: Nhìn chung là đủ về số lượng, vệ sinh công nghiệp và chất lượng

Đôi khi gặp vấn đề liên quan đến chất lượng, mẫu mã cần phải thương lượng với

khách hàng Những lô hàng như vậy, công ty đã kiểm tra kỹ càng và cố biện

pháp xử lý chặt chẽ như biên bản, đồng thời thương lượng khách hàng đồng ý

sản xuất thì nhập hoặc trả lại số nguyên phụ liệu ấy…

- Chỉ: Công ty kiểm tra các quận chỉ phải dai, không bục, đạt yêu cầu kỹ

thuật Chỉ may, chỉ dùng để vắt sổ…

2.1.5.2: Đặc điểm về sản phẩm

Sản phẩm chủ yếu của Công ty là màn tuyn và sản phẩm này có liên

quan đến sức khoẻ

Sản phẩm chỉ phát huy tác dụng tốt khi bản thân nó được sử dụng đúng

thời gian và đúng quy định

- Không có sản phẩm thay thế

- Gọn nhẹ dễ vận chuyển

- Khối lượng nhỏ

Trang 38

Phòng kinh doanh Phân xưởng dệt I,II Phòng chất lượng

- Nhìn vào sơ đồ Tổ chức hoạt động ta thấy công ty tổ chức một cách hợp

lý Từng công nhân, bộ phận được hướng dẫn nội dung công việc một cách cụ

thể có gắn với trách nhiệm Trong quá trình sản xuất có rất nhiều khâu sản phẩm

được kiểm tra kỹ càng đảm bảo đạt tiêu chuẩn chất lượng Việc tổ chức sản xuất

như vậy đã góp phần to lớn trong việc đảm bảo nâng cao chất lượng sản phẩm

cho công ty

TẨM XUẤT KHẨU

Phân xưởng May I, II v đơn vị gia công

PX văng sấy

PX cắt

KCS vải

Bán nội địa KCS

Ngày đăng: 19/10/2012, 16:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  tông  „ - Hạch toán kế toán nguyên, vật liệu tại Công ty Cổ phần dệt 10 -10.pdf
ng tông „ (Trang 14)
Bảng  tông  hợp4------  >  SO  cai  chi  tiét - Hạch toán kế toán nguyên, vật liệu tại Công ty Cổ phần dệt 10 -10.pdf
ng tông hợp4------ > SO cai chi tiét (Trang 43)
Hình  thức  thanh  toán: - Hạch toán kế toán nguyên, vật liệu tại Công ty Cổ phần dệt 10 -10.pdf
nh thức thanh toán: (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w