1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu tình hình kháng kháng sinh của vi khuẩn trong ao nuôi cá tra tại tỉnh cần thơ giai đoạn 2014 2015

66 237 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các loại kháng sinh được sử dụng thông dụng nhất trong nuôi trồng thuỷ sản là: - Nhóm Sulfonamid: bao gồm các tác nhân kháng khuẩn có tác dụng kìm hãm hoạt động của axit folic và có thể

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NÔI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NGHIÊN

CẦN THƠ GIAI ĐOẠN 2014-2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Hà nội – 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NGHIÊN

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn thạc sĩ của mình, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới

TS Phạm Đức Ngọc – Bộ môn Vi sinh vật học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và luôn tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo và các cán bộ Trung tâm Kiểm nghiệm kiểm chứng và Tư vấn chất lượng nông lâm thủy sản – Cục Quản lý chất lượng nông lâm thủy sản đã giúp đỡ, cung cấp cơ sở vật chất và tạo điều thuận lợi cho tôi hoàn thành tốt nghiên cứu của mình Luận văn được thực hiện trong khuôn khổ của Dự án “thí điểm giám sát kháng kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản tại Việt Nam” do Trung tâm Kiểm nghiệm kiểm chứng và Tư vấn chất lượng nông lâm thủy sản làm chủ dự án dưới sự hỗ trợ kinh phí từ Tổ chức y tế thế giới WHO (thông qua Bộ NN&PTNT)

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo các Công ty CP Thủy sản Sông Hậu, Công ty TNHH Hải Sáng, Công ty TNHH Biển Đông, Công ty CP Công nghiệp Thủy sản Miền Nam, Công ty Cổ phần Nam Việt đã hỗ trợ tạo điều kiện cho tôi hoàn thành nghiên cứu của mình

Tôi cũng vô cùng biết ơn các thầy cô Bộ môn Vi sinh vật học và Khoa Sinh học – Trường Đại học Khoa học Tự nhiên đã nhiệt tình chỉ bảo, truyền đạt những kiến thức quý báu và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè đã khích

lệ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và trong cuộc sống

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN 2

1.1 Ngành nuôi trồng thủy sản 2

1.2 Cá tra nuôi 3

1.3 Đặc điểm của một số vi khuẩn thường trú trên cá tra 4

1.4 Kháng sinh và hiện tượng kháng kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản 6

1.5 Hiện trạng kháng kháng sinh hiện nay 10

1.6 Mục tiêu nghiên cứu 12

Chương 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 13

2.1 Vật liệu 13

2.2 Địa điểm nghiên cứu 13

2.3 Phương pháp nghiên cứu 14

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 18

3.1 Kết quả thu thập mẫu 18

3.2 Kết quả phân lập vi khuẩn 18

3.3 Kết quả phân tích kháng sinh đồ 22

3.3.1.Kết quả phân tích tính kháng kháng sinh đối với E.coli 22

3.3.2.Kết quả phân tích tính kháng sinh đối với Aeromonas spp 25

3.3.3.Kết quả phân tích tính kháng sinh đối với Vibrio spp 28

3.3.4.Kết quả phân tích tính kháng sinh đối với Salmonella spp 31

3.3.5 Tổng hợp tỉ lệ kháng kháng sinh ở 04 chủng vi khuẩn nghiên cứu 34

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 36

TÀI LIỆU THAM KHẢO 37

PHỤ LỤC 1: Phương pháp phân lập E coli 40

PHỤ LỤC 2: Phương pháp phân lập Salmonella spp 43

PHỤ LỤC 3: Phương pháp phân lập Aeromonas spp 50

PHỤ LỤC 4: Phương pháp phân lập Vibrio spp 54

PHỤ LỤC 5: Phương pháp khoanh giấy kháng sinh khuếch tán 58

Trang 5

CHỮ VIẾT TẮT

liên hiệp quốc)

thế giới)

tiêu chuẩn hóa quốc tế)

Trang 6

MỞ ĐẦU

Trong những năm gần đây nghề nuôi cá tra ở Việt Nam phát triển nhanh đã góp phần tích cực vào việc nâng cao nguồn thu nhập của cộng đồng và tăng kim ngạch xuất khẩu Song song với sự tăng sản lượng không ngừng thì tình hình dịch bệnh thường xuyên xảy ra và ngày càng phức tạp hơn như bệnh do ký sinh trùng, bệnh đốm đỏ, bệnh trắng da, phù đầu phù mắt, bệnh gan thận mủ do vi

khuẩn Aeromonas, Edwardsiella ictaluri, Pseudomonas và Vibrio gây ra đã gây

thiệt hại nghiêm trọng cho nghề nuôi cá tra vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Do hình thức nuôi thâm canh ngày càng phát triển nên việc sử dụng kháng sinh để điều trị bệnh cá là điều không tránh khỏi Mặt trái của việc lạm dụng thuốc kháng sinh để điều trị bệnh thủy sản nuôi nói chung và cá tra nuôi nói riêng đã phát sinh nguy cơ kháng kháng sinh của các vi khuẩn thường diện diện trên cá tra nuôi

Vi khuẩn kháng kháng sinh trên các đối tượng nuôi cũng đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu Bằng chứng năm 2006 và 2007 các tác giả Akinbowale và Sarter đã phát hiện nhiều loài vi khuẩn gây bệnh trên tôm, cá kháng thuốc Việc kháng thuốc không chỉ trong cùng một loài mà cả các loài vi khuẩn khác, ngay

cả vi khuẩn gây bệnh cho người và các động vật trên cạn Cá tra nuôi là sản phẩm chủ lực của nghề nuôi, vì vậy việc thực hiện đề tài “nghiên cứu tình hình kháng kháng sinh của vi khuẩn trong ao nuôi cá tra tại tỉnh Cần Thơ giai đoạn 2014-2015” là cần thiết nhằm mục tiêu cung cấp thông tin cho việc sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh cá có hiệu quả và đảm bảo an toàn sức khỏe của con người

Trang 7

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Ngành nuôi trồng thủy sản

Ngành thủy sản đóng một vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực, cung cấp dinh dưỡng cho con người cũng như góp phần tạo công ăn việc làm, đóng góp vào nền kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới Theo thống

kê của Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc (FAO), trong năm 2008, gần 81% (115 triệu tấn) sản lượng cá trên thế giới được sử dụng làm thực phẩm cho con người, phần còn lại (27 triệu tấn) được sử dụng cho các mục đích phi thực phẩm như sử dụng làm sản phẩm trang trí (6,4 triệu tấn), sản xuất bột và dầu cá (20,8 triệu tấn) cung cấp thức ăn cho động vật khác hoặc sử dụng làm dược phẩm Trong đó ngành nuôi trồng thủy sản đóng góp tới 46% sản lượng cá trên toàn cầu Trong thời gian từ năm 1976 đến 2008, trung bình hàng năm thương mại thủy sản trên toàn cầu tăng 8,3% tổng sản lượng kim nghạch

Nhu cầu về thuỷ sản trên toàn cầu sẽ tiếp tục gia tăng khi dân số thế giới không ngừng phát triển Trong điều kiện nguồn hải sản tự nhiên không thể gia tăng khi việc khai thác quá mức chưa được kiểm soát, thì hoạt đông nuôi trồng thuỷ sản chính là nguồn cung cho tương lai Nuôi trồng thuỷ sản có thể làm giảm áp lực đối với thuỷ sản tự nhiên và đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội

Tại Việt Nam, trong hơn 15 năm qua, nuôi trồng thuỷ sản đã phát triển mạnh mẽ và hiện nay Việt Nam là một trong những quốc gia sản xuất thuỷ sản lớn nhất trên thế giới Ngành nuôi trồng thủy sản trở thành một phần quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và sự phát triển gần đây đã giúp cải thiện sinh kế cho người dân, đăc biệt tại đồng bằng sông Cửu Long, nơi tập trung hầu hết các hoạt động nuôi trồng thuỷ sản của nước ta

Theo số liệu thông kê của Hiệp hội xuất khẩu thủy sản Vasep (Hình 1.1), tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản tại Việt Nam tăng gần 6 lần, từ 1,3 triệu tấn (năm 1995) lên 6,7 triệu tấn (năm 2017) Đặc biệt trông đó, tỉ lệ nuôi trồng thủy sản ngày càng chiếm tỉ trọng lớn trong tổng sản lượng, từ xấp xỉ 30% (năm 1995) lên tới trên 50% (năm 2017) và sẽ tiếp tục chiếm tỉ trọng lớn trong các năm tiếp theo khi nguồn thủy sản tự nhiên đang dần cạn kiệt

Trang 8

Hình 1.1: Sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản Việt Nam (Vasep, 2017) 1.2 Cá tra nuôi

Phân lớp (subclass) Neopterygii

Liên bộ (superordo) Ostariophysi

Bộ (ordo) Siluriformes

Họ (familia) Pangasiidae

Loài Pangasius hypophthalmus

Cá tra nuôi (Pangasius hypophthalmus) là một loài cá da trơn trong

họ Pangasiidae phân bố ở lưu vực sông Mê kông, có mặt ở cả bốn nước Lào, Việt Nam, Campuchia và Thái lan Đây là loài cá đại diện cho họ cá tra (Pangasiidae) và được nuôi nhiều ở Việt Nam, đặc biệt là vùng đồng bằng Sông Cửu Long

Cá tra có hình dáng thân thon dài về phía sau, lưng xám đen, bụng hơi bạc, miệng rộng, có 2 đôi râu dài Cá tra sống chủ yếu trong nước ngọt, có thể sống

phèn với pH >5, dễ chết ở nhiệt độ thấp dưới 150C, nhưng chịu nóng tới 390

C

Cá tra có số lượng hồng cầu trong máu nhiều hơn các loài cá khác Cá có cơ quan hô hấp phụ và còn có thể hô hấp bằng bóng khí và da nên chịu đựng được

Trang 9

môi trường nước thiếu oxy hòa tan Tiêu hao oxy và ngưỡng oxy của cá tra thấp hơn 3 lần so với cá mè trắng

Cá tra có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, còn nhỏ cá tăng nhanh về chiều dài Từ khoảng 2,5 kg trở đi, mức tăng trọng lượng nhanh hơn so với tăng chiều dài cơ thể Cỡ cá trên 10 tuổi trong tự nhiên (ở Campuchia) tăng trọng rất

ít Cá tra trong tự nhiên có thể sống trên 20 năm Ðộ béo của cá tăng dần theo trọng lượng và nhanh nhất ở những năm đầu, cá đực thường có độ béo cao hơn

cá cái và độ béo thường giảm đi khi vào mùa sinh sản Trước đây, cá giống được bắt từ tự nhiên về nuôi đến 2,5-3 năm tuổi mới thành thục sinh dục, còn cá giống hiện nay được sinh sản nhân tạo và chỉ cần nuôi từ 10-12 tháng tuổi là đã thành thục

Hình 1.2: Cá tra nuôi (Pangasius hypophthalmus)

Trong số các sản phẩm thủy sản nuôi tại Việt Nam, cùng với tôm nước lợ, thì cá tra là một sản phẩm đóng vai trò chủ lực trong ngành thủy sản nuôi Việt Nam Từ việc bắt đầu nuôi cá tra từ năm 1940, cho đến nay sản phẩm cá tra Việt Nam đã xuất khẩu sang hơn 100 quốc gia trên thế giới với các thị trường khó tính như châu Âu, Mỹ và Nga với kim ngạch xuất khẩu hàng năm trên 1,7 tỉ đô, sản lượng trên 1 triệu tấn

1.3 Đặc điểm của một số vi khuẩn thường trú trên cá tra

a Escheriachia coli

Escheriachia coli (E.coli) là một vi khuẩn gram âm, kị khí không bắt buộc,

hình que Vị trí phân loại học của vi khuẩn E.coli như sau:

Trang 10

Ngành (phylum) Proteobacteria

Họ (familia) Enterobacteriacease

Loài (species) E.coli

Hầu hết E coli có tự nhiên trong ruột của con người cũng như động vật và

đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp cơ thể vật chủ tiêu hóa thức ăn Tuy nhiên có một số serotype có thể gây ngộ độc, tiêu chảy, trong đó tiêu biểu nhất

là chủng E coli O157:H7 E coli bị thải ra môi trường qua phân Chúng sinh

trưởng mạnh trong phân tươi ở điều kiện yếm khí trong 3 ngày, nhưng dần suy giảm số lượng dần sau đó

b Aeromonas spp

Aeromonas spp là nhóm vi khuẩn gram âm, kị khí không bắt buộc, hình

que, một số loài có khả năng di động (A hydrophyla, A caviae, A sobria) Vị trí phân loại học của vi khuẩn Aeromonas spp như sau:

Họ (familia) Aeromonadaceae

Vi khuẩn Aoeromonas spp phân bố chủ yếu tại môi trường nước ngọt và nước lợ Trong đó các chủng vi khuẩn có khả năng di động (A hydrophyla, A

caviae, A sobria) là những tác nhân gây bệnh quan trọng Hai bệnh chính liên

quan đến Aoeromonas spp là viêm dạ dày và nhiễm trùng vết hở

c Vibro spp

Vibrio spp là nhóm vi khuẩn gram âm, hình que thẳng hoặc hơi uốn cong

hình dấu phẩy, kị khí tùy nghi, không có khả năng hình thành bào tử và có khả

năng di chuyển nhờ một hoặc nhiều tiên mao Vị trí phân loại học của vi khuẩn

Vibrio spp., như sau:

Trang 11

Ngành (phylum) Proteobacteria

Họ (familia) Vibrionaceae

Phần lớn các chủng Vibrio spp biết đến được phân lập tự nhiên từ môi

trường nước biển và vùng cửa biên Một số chủng thuộc nhóm này được công

bố là tác nhân gây bệnh trên một số đối tượng thủy sản và trên người như bệnh

hoạt tử gan cấp trên tôm do Vibrio parahaemolyticus gây ra, bênh tiêu chảy do

Vibrio Cholerae

d Salmonella spp

họ Enterobacteriaceae (vi khuẩn đường ruột) có dạng hình que, trực khuẩn gram

âm, kị khí tùy nghi không tạo bào tử, di động bằng tiên mao, sinh sống trong đường ruột, có đường kính khoảng 0,7 µm đến 1,5 µm, dài từ 2 µm đến

5 µm và có vành lông rung hình roi Vị trí phân loại học của vi khuẩn

Vi khuẩn Salmonella spp có thể tìm thấy ở khắp nơi, từ môi trường đến

trong cơ thể động vật Các chủng vi khuẩn Salmonella gây ra các bệnh trên

người như thương hàn (do Salmonella typhi), phó thương hàn, nhiễm trùng máu (do Salmonella choleraesuis) và ngộ độc thực phẩm (Salmonellosis) Các triệu

chứng do Salmonella gây ra chủ yếu là tiêu chảy, ói mửa, buồn nôn xuất hiện

sau 12 - 36 giờ sau khi tiêu thụ thực phẩm nhiễm Salmonella

1.4 Kháng sinh và hiện tượng kháng kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản

a Kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản:

Trang 12

Kháng sinh là những hợp chất có thể giúp tiêu diệt hoặc kiềm chế sự tăng trưởng của các vi sinh vật như vi khuẩn, vi rút, nấm mốc hay động vật nguyên sinh (Giguère et al., 2013)

Với nỗ lực tăng nhanh sản lượng thuỷ sản và kim ngạch xuất khẩu, các nước đang phát triển rất chú trọng tới nuôi trồng thuỷ sản Ðể đạt được sản lượng và lợi nhuận cao nhất, nhiều ngư dân hiện đang áp dụng các phương thức nuôi thâm canh Nhưng các vật nuôi lại bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi những áp lực và bệnh tật dẫn đến những vụ dịch bệnh gây chết hàng loạt

Trong số các bệnh của thuỷ sản thì nguyên nhân chủ yếu là do vi khuẩn gây

ra với những vụ dịch bệnh có qui mô lớn Thông thường, người ta sử dụng thuốc kháng sinh để kiểm soát các vi khuẩn gây bệnh

Các loại kháng sinh được sử dụng thông dụng nhất trong nuôi trồng thuỷ sản là:

- Nhóm Sulfonamid: bao gồm các tác nhân kháng khuẩn có tác dụng kìm hãm hoạt động của axit folic và có thể hình thành tác dụng hiệp đồng (synergism) Các kháng sinh nhóm sulfonamid kết hợp trimethoprim được sử dụng rộng rãi trong nuôi trồng thuỷ sản

- Nhóm Tetracycline : là một nhóm gồm nhiều kháng sinh chủ yếu có tác dụng kìm hãm vi khuẩn có trong tự nhiên Chúng làm ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp protein trong cả các vi khuẩn Gram âm (-) và vi khuẩn Gram dương (+) Những kháng sinh này được sử dụng rộng rãi trong nuôi trồng thuỷ sản

- Nhóm Quinolone : Chúng có tác dụng mạnh đối với các vi khuẩn Gram (+) và được sử dụng nhiều tại Nhật Bản Tác dụng kháng khuẩn bao gồm cả tác dụng kìm hãm và tiêu diệt vi khuẩn do chúng ức chế tác dụng của enzyme DNA helicase làm cho hai mạch đơn của DNA không thể duỗi xoắn, qua đó làm ngăn cản quá trình nhân đôi của DNA

- Erythromycin : được sử dụng rộng rãi trong nuôi cá hồi, nó là loại thuốc rất hiệu quả để chữa những bệnh do vi khuẩn gây ra

- Chloramphenicol : được sử dụng rộng rãi tại Hoa Kỳ và Pháp Việc sử dụng chúng trong nuôi trồng thuỷ sản bị hạn chế tại nhiều nước bởi vì nó là một loại thuốc dùng để chữa bệnh cho người

b Hiện tượng kháng kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản:

Do việc sử dụng không đúng cách và quá nhiều các loại thuốc kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản đã gây ra hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc hay kháng

Trang 13

kháng sinh (antibiotic resistence) và tích tụ dư lượng thuốc kháng sinh trong thịt thuỷ sản Một nguyên nhân khác gây ra hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc là việc

sử dụng các loại kháng sinh với hàm lượng nhỏ trong thức ăn của thuỷ sản như một chất kích thích sinh trưởng

Mặc dù thuốc kháng sinh đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc chống lại nhiều bệnh tật cho con người và các loài động vật thuỷ sinh, nhưng việc sử dụng bừa bãi trong nuôi trồng thuỷ sản có thể gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng như gây độc, biến đổi hệ vi khuẩn của người tiêu dùng hoặc làm cho người tiêu dùng cũng bị kháng thuốc

Theo định nghĩa, kháng kháng sinh là khả năng mà một sinh vật có thể chịu được tác động của một hoặc nhiều loại kháng sinh nào đó Thực tế nghiên cứu cho thấy có 4 cơ chế chủ yếu sau gây ra sự kháng thuốc của vi sinh vật:

(1) sản xuất enzyme làm bất hoạt kháng sinh;

(2) thay đổi điểm tiếp nhận làm giảm gắn kết của kháng sinh với điểm tiếp nhận;

(3) giảm hấp thu kháng sinh vào tế bào vi khuẩn;

(4) đẩy kháng sinh ra ngoài bằng bơm thoát dòng, làm giảm nồng độ kháng sinh trong tế bào vi khuẩn

Hình 1.3: Cơ chế đề kháng kháng sinh của vi khuẩn (Andersson, 2004)

Hiện tượng kháng kháng sinh có thể chia làm 2 loại: kháng kháng sinh tự nhiên và kháng kháng sinh thu được

Trang 14

- Kháng kháng sinh tự nhiên: là tình trạng giống hoặc loài vi khuẩn nào đó không nhạy cảm với một hoặc một số loại kháng sinh

Đối với các kháng sinh tự nhiên (do vi sinh vật tạo ra), các gen kháng thuốc thường có sẵn trong các loài vi sinh vật tạo ra kháng sinh nhằm bảo vệ chúng khỏi tác động của chính thuốc kháng sinh này

Ở một số loài vi sinh vật lại có sẵn khả năng chịu được một số loại kháng sinh nhất định Sự kháng thuốc kháng sinh có thể coi như là đặc tính vốn có hoặc có thể được hình thành của các vi sinh vật này

Một số loại kháng sinh nhất định, chẳng hạn như penicillin chỉ tác dụng lên lớp thành tế bào nên không có hiệu quả đối với những vi sinh vật không có

thành tế bào (ví dụ vi khuẩn Mycoplasma)

Có những sinh vật không cho phép một số loại kháng sinh nhất định ngấm vào bên trong, do vậy làm mất tác dụng của kháng sinh đó (ví dụ như một số vi khuẩn Gram âm không cho phép penicillin ngấm vào nên chúng có khả năng kháng penicillin)

Một số vi sinh vật lại có sẵn khả năng kháng kháng sinh như sản sinh ra enzyme làm biến đổi thuốc kháng sinh qua đó làm cho nó mất hoạt tính (Ví dụ :

vi khuẩn Staphylococcus có chứa gen sinh enzym βlactamase làm gãy vòng β lactam của hầu hết các penicillin và làm chúng mất hoạt tính)

Kháng kháng sinh thu được: là kết quả của sự thay đổi trong hệ thống gene bởi đột biến hoặc sự truyền ngang thông tin di truyền từ vi khuẩn khác (Guardabbasi và Couvalin, 2006)

Hiện tượng kháng kháng sinh thu được trong vi sinh vật có thể hình thành thông qua các gen nhiễm sắc thể hoặc thông qua các plasmit

Sự kháng kháng sinh hình thành gián tiếp thông qua các gen nhiễm sắc thể xảy ra do sự đột biến trong các gen nhiễm sắc thể Tần số xuất hiện của loại đột biến này là rất thấp (từ 10-5

đến 10-7) và thường xuất hiện khi vi khuẩn chịu một hàm lượng kháng sinh nhỏ hơn mức có thể tiêu diệt được chúng Hình thức kháng kháng sinh tương tự có thể xẩy ra trong môi trường thuỷ sinh khi vi khuẩn chịu một lượng kháng sinh nhỏ hơn mức có thể tiêu diệt chúng do việc sử dụng kháng sinh không đúng cách và những kháng sinh bị tan ra từ những thức

ăn có trộn thuốc Do biến đổi trong cấu trúc của các gen nhiễm sắc thể sẽ làm thay đổi cấu trúc các phân tử protein hoặc enzym mà chúng tổng hợp ra Nếu các phân tử này là đích tác dụng của một kháng sinh nào đó thì làm cho kháng

Trang 15

sinh này không còn tác dụng nữa vì bị mất đích tác dụng Sự đề kháng này là vững bền và vi khuẩn có thể truyền lại cho các thế hệ sau

Tuy nhiên, sự kháng kháng sinh hình thành gián tiếp thông qua thể plasmit (resistant-plasmid) mới được cho là “vũ khí” nguy hiểm nhất của vi khuẩn chống lại kháng sinh

R-Plasmit là các vòng ADN ngoài nhiễm sắc thể của vi khuẩn Các R-plasmit

là loại plasmid chứa một hay nhiều gen có khả năng sản xuất các loại protein (chủ yếu là các enzym) kháng lại kháng sinh Các R-Plasmit có thể làm trung gian cho sự kháng một hay nhiều loại thuốc kháng sinh thông qua các gen mã hoá theo cơ chế bất hoạt hoá một hay nhiều loại kháng sinh Điểm đặc biệt nhất của các plasmid là có khả năng truyền từ vi khuẩn này sang vi khuẩn khác theo kiểu bơm do thực khuẩn thể (kiểu phage) hoặc hợp nhất 2 vi khuẩn, qua đó chuyển những yếu tố di truyền chứa gen kháng kháng sinh, làm số lượng cũng như chủng loại vi khuẩn kháng kháng sinh tăng mạnh

1.5 Hiện trạng kháng kháng sinh hiện nay

Trong vài năm trở lại đây, tình trạng kháng thuốc kháng sinh đã trở thành

đề tài nóng hổi trên toàn thế giới Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cảnh báo, tình trạng kháng thuốc kháng sinh đang thực sự là một cuộc khủng hoảng toàn cầu

Cụ thể, theo báo cáo năm 2016 phản ánh về các mối đe dọa nền kinh tế trong tương lai từ Ngân hàng Thế giới, từ nay đến năm 2050, hiện tượng kháng thuốc kháng sinh có thể làm tăng chi phí y tế trên thế giới lên đến 1 nghìn tỉ đô

la Mỹ mỗi năm Báo cáo này cũng cho biết, trước thời điểm năm 2050, sự đề kháng đối với kháng sinh có thể đẩy thêm 28,3 triệu người vào cảnh nghèo cùng cực

Còn trong báo cáo rà soát về hiện tượng kháng thuốc kháng sinh năm 2014, chuyên gia kinh tế Jim O’Neil cho biết, đến trước năm 2050, kháng thuốc kháng sinh có thể gây ra cái chết cho 10 triệu người mỗi năm – số lượng này còn cao hơn số lượng người tử vong mỗi năm vì bệnh ung thư

Cũng trong một khảo sát được tiến hành bởi Trung tâm Nghiên cứu Biến động bệnh dịch, Kinh tế và Chính sách (Center for Disease Dynamics, Economics and Policy – CDDEP) năm 2015, số liệu cho thấy trước năm 2030, lượng kháng sinh sử dụng trong ngành nông nghiệp sẽ tăng thêm 2/3 so với năm

2010 Số liệu năm 2010 cho thấy, lượng kháng sinh sử dụng cho động vật là

Trang 16

63.200 tấn, và năm 2030 sẽ là 105.600 tấn – một con số quá lớn cho lượng kháng sinh được sử dụng cho động vật

Tuy nhiên, kiểm soát việc chủ động sử dụng kháng sinh chỉ đóng một vai trò rất nhỏ Bên cạnh việc sử dụng thuốc trực tiếp, việc bị động đưa kháng sinh vào cơ thể qua thức ăn mà cụ thể là thịt động vật mới là nguyên nhân chủ yếu gây ra hiện tượng kháng thuốc kháng sinh

Ngoài ra, ngày nay, nền công nghiệp và thương mại thế giới tạo ra cơ hội

du lịch và vận chuyển cho cả con người, động vật và thực phẩm, mà theo đó, vi khuẩn cũng di chuyển khắp nơi trên thế giới Chính vì thế, hiện tượng kháng thuốc kháng sinh không phải là một vấn đề của riêng một quốc gia hay một khu vực, mà thực sự là một cuộc khủng hoảng toàn cầu cần có sự kết hợp chặt chẽ từ các quốc gia trên thế giới để giải quyết

Nhận thức được tầm quan trọng của gánh nặng ngày một gia tăng cao do sự lây lan của vi sinh vật kháng kháng sinh cũng như đóng góp của việc sử dụng kháng sinh trên động vật nuôi lấy thịt, nhiều chiến lược cấp quốc gia, khu vực và toàn cầu đã được xây dựng nhằm giảm thiểu những nguy cơ phát sinh từ việc sử dụng kháng sinh trong thú y

Ở cấp độ quốc tế, Tổ chức Nông Lương LHQ (FAO) và Tổ chức Thú y Thế giới (OIE), Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã hợp tác bằng một thỏa thuận ba bên, xác định rõ rằng kháng kháng sinh là một trong ba chủ đề ưu tiên cho các hành động phối hợp (theo FAO/OIE/WHO, 2011) và xây dựng một Kế hoạch Hành động Toàn cầu về phòng chống kháng kháng sinh (WHO, 2015)

Tại Việt Nam, tháng 6/2013, Bộ Y tế Việt Nam (MoH) đề ra các hoạt động quốc gia để xử lý kháng kháng sinh với việc công bố Chương trình Hành động Quốc gia về chống kháng thuốc từ 2013 đến 2020 (Bộ Y tế(MoH, 2013) Mục tiêu chung của kế hoạch là tăng cường phòng chống kháng thuốc, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả trong công tác phòng chống dịch bệnh, kiểm soát thuốc và điều trị y tế nhằm bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe người dân

Kế hoạch này gồm 6 mục tiêu cụ thể, trong đó có việc đẩy mạnh việc sử dụng kháng sinh hợp lý trong trồng trọt và chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thủy sản

Tháng 6/2015, Bản ghi nhớ về “Sự tham gia của các bên để phòng chống kháng kháng sinh tại Việt Nam” đã được ký kết bởi Bộ y tế, Bộ NN&PTNT,Bộ Công Thương, Bộ Tài nguyên và Môi trường, và các đối tác phát triển bao gồm WHO, FAO và OUCRU (Nhóm nghiên cứu lâm sàng Đại học Oxford) Tất cả các bên liên quan đều cam kết sẽ thực hiện các hành động nêu trong Kế hoạch

Trang 17

Hành động Quốc gia và sử dụng phương pháp tiếp cận Một Sức khỏe, để xây dựng một hệ thống giám sát kháng kháng sinh quốc gia và sẽ tăng cường giáo dục nhằm nâng cao nhận thức người dân về sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh Để hỗ trợ hơn nữa phương pháp tiếp cận đa ngành nhằm kiểm soát kháng kháng sinh ở Việt Nam, tháng 10/2016, Bộ Y tế đã thành lập Ban Chỉ đạo Quốc gia về ngăn ngừa kháng kháng sinh giai đoạn 2016-2020 (Quyết định số 5888/QD-BYT ban hành ngày 10/10/2016)

1.6 Mục tiêu nghiên cứu

Dưới sự hỗ trợ của Tổ chức y tế thế giới WTO (thông qua Bộ NN&PTNT), nhóm nghiên cứu đã tiến hành thực hiện đề tài “nghiên cứu tình hình kháng kháng sinh của vi khuẩn trong ao nuôi cá tra tại tỉnh Cần Thơ giai đoạn 2014-2015”, với mục đích thống kê tần suất xuất hiện một số vi khuẩn thường trú trên

ao nuôi cá tra và tỉ lệ kháng kháng sinh của chúng đối với một số loại kháng sinh thường được sử dụng Các kết quả thu được sẽ bổ sung thêm vào kho dữ liệu về mức độ kháng kháng sinh của vi sinh vật, tạo định hướng cũng như dữ liệu thống kê cho các nghiên cứu tiếp theo

Trang 18

Chương 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 2.1 Vật liệu

a Đối tượng vi khuẩn nghiên cứu

Trong nghiên cứu này, chúng tôi sẽ tập trung nghiên cứu tính kháng kháng

sinh của 4 vi khuẩn thường trú trên cá tra và môi trường nuôi cá tra là E.coli,

Salmonella spp., Aeromonas spp và Vibrio spp

b Đối tượng kháng sinh nghiên cứu

Để lựa chọn ra các loại kháng sinh phục vụ cho việc nghiên cứu tính kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn phân lập từ cá tra và môi trường nuôi cá tra, nhóm nghiên cứu đã tiến hành một số hoạt động khảo sát, thu thập thông tin, cụ thể:

-Thu thập thông tin từ khảo sát thực tế: Tiến hành khảo sát thực địa thông qua đánh giá hiện trạng và phỏng vấn hộ nuôi, cơ sở sản xuất giống, đại lý bán thuốc thú y, thức ăn để thu thập thông tin về việc sử dụng kháng sinh Đánh giá hiện trạng việc sử dụng kháng sinh trong nuôi cá tra, xác định các loại kháng sinh đang được sử dụng phổ biến trong quá trình nuôi Đánh giá ảnh hưởng của các nguồn lây nhiễm kháng sinh khác từ các khu vực chăn nuôi gia súc, gia cầm tập trung, từ nguồn nước thải bệnh viện, …

-Thu thập thông tin từ Chương trình kiểm soát dư lượng: Xem xét các kết quả phân tích phát hiện kháng sinh trong thuỷ sản nuôi của Chương trình kiểm soát

-Thu thập thông tin từ các đề tài nghiên cứu khoa học về hiện tượng kháng kháng sinh của các chủng vi sinh vật trong nuôi trồng thuỷ sản

- Xem xét danh sách các kháng sinh quan trọng cho sức khỏe con người của WHO

Kết quả đã lựa chọn được 09 loại kháng sinh hiện đang được sử dụng phổ biến để tiến hành nghiên cứu sự kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn phân lập từ cá tra và môi trường nuôi cá tra là: Florphenicol, Oxytetracyline, Enrofloxacine, Norfloxacin, Trimethoprim-sulfamethoxazole, Sulfadimidine, Ampicilline, Amoxycilline, Gentamycine

2.2 Địa điểm nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu được tiến hành trên sáu vùng nuôi trên địa bàn Thành phố Cần thơ, bao gồm:

Trang 19

1) Trang trại 1: Trang tại nuôi cá tra của Công ty CP Thủy sản Sông Hậu, huyện Cờ Đỏ, Tp Cần Thơ Đặc điểm của điểm lấy mẫu này là nằm trong sâu trong đồng ruộng Việc cấp và thoát nước đều trên cùng một kênh

2) Trang trại 2: Trang tại nuôi cá tra của Công ty CP Thủy sản Sông Hậu, Quận Ô Môn, Tp Cần Thơ Đặc điểm của điểm lấy mẫu này là nằm trong sâu trong đồng ruộng Việc cấp và thoát nước đều trên cùng một kênh

3) Trang trại 3: Trang trại cá tra nuôi của Công ty TNHH Hải Sáng, Quận Thốt Nốt, Tp Cần Thơ Nằm trên cồn Tân Lộc, giữa sông Hậu, cấp và thoát nước trực tiếp từ sông Hậu

4) Trang trại 4: Trang trại cá tra nuôi của Công ty TNHH Biển Đông, Quận Thốt Nốt, Tp Cần Thơ Nằm trên cồn Tân Lộc, giữa sông Hậu, cấp và thoát nước trực tiếp từ sông Hậu

5) Trang trại 5: Trang tại cá tra nuôi của Công ty CP Công nghiệp Thủy sản Miền Nam, nằm trên cồn Sơn, Quận Bình Thủy, TP Cần Thơ

6) Trang trại 6: Trang trại cá tra nuôi của Công ty Cổ phần Nam Việt, huyện Vĩnh Thạnh, Tp Cần Thơ Nằm gần sông Hậu, cấp và thoát nước trực tiếp

từ sông Hậu

2.3 Phương pháp nghiên cứu

a Phương pháp lấy mẫu:

Tham khảo theo bộ Tiêu chuẩn Việt nam TCVN 6663 (ISO 5667)

Tiến hành lấy 03 loại mẫu: mẫu nước, mẫu cá và mẫu bùn đáy của ao nuôi tại 03 thời điểm khác nhau trong ngày

Việc lấy mẫu tiến hành trong 13 đợt (5 đợt vào các tháng mùa khô, Từ tháng 11 đến tháng 4; 7 đợt vào các tháng mùa mưa, từ tháng 5 – 10)

Phương pháp lấy mẫu nước:

 Tại mỗi ao nuôi tiến hành lấy mẫu ở 03 điểm trên đường cắt chéo ao, gồm 01 điểm ở giữa ao và 02 điểm cách góc ao từ 3 đến 5 m

 Tại mỗi điểm lấy mẫu nước, cán bộ lấy mẫu dùng gầu chuyên dụng để lấy nước ở độ sâu 1 m so với bề mặt nước ao, rồi đổ 500 ml nước này vào bình thuỷ tinh đựng mẫu

Phương pháp lấy mẫu trầm tích:

 Tại mỗi ao nuôi tiến hành lấy mẫu trầm tích ở 03 điểm trên đường cắt chéo ao, gồm 01 điểm ở giữa ao và 02 điểm cách góc ao từ 3 đến 5 m

Trang 20

 Tại mỗi điểm lấy mẫu trầm tích, cán bộ lấy mẫu dùng dụng cụ múc trầm tích chuyên dụng để lấy 500 gram trầm tích (bao gồm bùn và nước) rồi đổ vào túi PE

Phương pháp lấy mẫu cá:

 Sử dụng lưới quăng hoặc các dụng cụ phù hợp để bắt cá tra sống tại mỗi ao nuôi

 Khối lượng của 01 mẫu cá tra phải đảm bảo tối thiểu là 01 kg và ít nhất

02 cá thể

Mẫu sau khi lấy được bao gói, đánh số nhận diện, bảo quản lạnh bằng đá vảy và vận chuyển đến phòng kiểm nghiệm ngay trong ngày để phân tích

Hình 2.1: Một số hình ảnh lấy mẫu

b Phương pháp phân lập vi khuẩn

Các chủng vi khuẩn được phân lập, định danh bằng cách sử dụng các bộ kít

chuẩn theo các phương pháp tiêu chuẩn: E coli (ISO 7251: 2005), Salmonella spp (ISO 6579: 2002), Aeromonas spp (NWFHS - 2004) và Vibrio spp

(ISO/TS 21872 – 1: 2007)

Trang 21

Quy trình phương pháp phân lập chi tiết xem tại Phụ lục 1, 2, 3, 4

Hình 2.2: Một số hình ảnh phân lập vi khuẩn trên môi trường chọn lọc

c Phương pháp lập kháng sinh đồ

Khả năng kháng kháng sinh của vi khuẩn được xác định theo phương pháp của Kirby – Bauer (1966) Vi khuẩn được phục hồi trên môi trường TSA (CASO Agar; Merck, Đức) hoặc môi trường TSA 2% NaCl (đối với Vibrio spp.) ở 37°C trong vòng 24 giờ Mỗi đợt lập kháng sinh đồ đều có chủng vi khuẩn đối chứng E coli ATCC 25922 Vi khuẩn sau khi phân lập và làm thuần

sẽ được kiểm tra bằng cách quan sát sự đồng nhất về hình dạng, kích thước, màu sắc của khuẩn lạc và nhuộm Gram Các khuẩn lạc ở mỗi đĩa TSA hoặc TSA 2% NaCl sau 24 giờ nuôi cấy được nhặt bằng que cấy và cho vào ống nghiệm có chứa 5ml dung dịch 0.85% NaCl để tạo dung dịch vi khuẩn có độ đục tương ứng với dung dịch chuẩn 0.5 McFarland Pha loãng 100 lần dịch khuẩn có độ đục

vi khuẩn /ml Sau đó, chuyển 1ml dịch khuẩn nồng độ 106 vi khuẩn /ml sang đĩa thạch MHA (Muller Hinton Agar) hoặc MHA 2% NaCl Trải đều dịch mẫu trên bề mặt thạch bằng que cấy thủy tinh hình tam giác Sau 15 phút, 09 loại kháng sinh (bảng 2.1) được đặt trên mặt thạch và ủ 24 giờ ở 28°C Đường kính vòng ức chế vi khuẩn

Trang 22

được đo bằng mm, chủng vi khuẩn trên đĩa MHA tương ứng sẽ được xác định là kháng, nhạy hay trung gian với kháng sinh thử nghiệm dựa theo hướng dẫn của tiêu chuẩn “The Clinical và Laboratory Standards Institute (CLSI), 2010” Phần mềm Microsoft Excel được sử dụng để tính toán và thể hiện các đồ thị tỉ lệ phần trăm các dòng vi khuẩn kháng thuốc

Quy trình phương pháp lập kháng sinh đồ xem tại Phụ lục 5

Bảng 2.1: Các kháng sinh dùng trong thử nghiệm kháng sinh đồ

Tên Kháng sinh Tên viết tắt Hàm lượng

Trang 23

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Kết quả thu thập mẫu

Kết quả thu thập mẫu: nhằm thu thập mẫu phục vụ cho việc khảo sát các vi khuẩn thường gặp trên cá tra, có 575 mẫu gồm cá tra, nước nuôi cá và bùn đáy trong ao nuôi được thu thập tại sáu trang trại nuôi cá tra khác nhau, được trình bày chi tiết tại Bảng 3.1

Bảng 3.1: Thông tin về mẫu khảo sát

3.2 Kết quả phân lập vi khuẩn

Để xác định các vi khuẩn thường gặp trên cá tra, 4 nhóm vi khuẩn được chỉ

định phân lập gồm E.coli, Salmonella spp., Aeromonas spp và Vibrio spp Kết

quả phân tích được trình bày qua Bảng 3.2:

Bảng 3.2: Kết quả phân lập vi khuẩn từ mẫu cá, nước và bùn đáy ao nuôi cá tra

TT Loại mẫu

E.coli Aeromonas spp Vibrio spp Salmonella spp

Pos (*) % Pos (*) % Pos (*) % Pos (*) %

Trang 24

Mức độ phổ biến của hai chỉ tiêu vi khuẩn E.coli và Aeromonas spp trong

cả ba nhóm mẫu cá, nước và bùn đáy ao nuôi là tương đối lớn E.coli hiện diện

100% trong mẫuu cá tra, 99,4% trong mẫu bùn và 99,5% trong mẫu nước

Aeromonas spp cũng hiện diện 98,3% trong mẫu bùn, 91,3% trong mẫu cá và

90,2% trong mẫu nước Tiếp đến là Vibrio spp xuất hiện trong mẫu nước là 63,4

%, mẫu cá là 41,6 % và mẫu bùn là 72,4 % Salmonella spp có tỷ lệ thấp nhất (16 %), trong đó chỉ có 43/205 mẫu nước phát hiện Salmonella spp., 31/185 mẫu

bùn và 18/185 mẫu cá phát hiện vi khuẩn này (chi tiết tại Bảng 3.3)

Như đã biết, E coli là một trong những vi khuẩn đường ruột và Aeromonas

spp (gồm Aeromonas hydrophila, A sobria và A caviae) là một trong những

tác nhân gây bệnh xuất huyết trên cá tra, vì vậy các vi khuẩn này thường xuất hiện trên cá tra với tần suất cao Một số nghiên cứu trước đây của các tác giả

khác cũng cho thấy rằng Aeromonas spp và vi khuẩn nhóm Coliform hiện diện

trên cá tra nuôi với mật số cao (Công và cộng sự, 2009) [19] Trong kết quả

khảo sát này mức độ phổ biến của Vibrio spp trong các đối tượng mẫu khác nhau là không giống nhau và tần suất xuất hiện thấp hơn so với E.coli và

Aeromonas spp Năm 2009, một số tác giả đã tiến hành một cuộc khảo sát trên

cá tra nuôi tại tỉnh Đồng Tháp đã cho thấy Vibrio spp hiện diện trên cá tra nuôi

nhưng có mật độ thấp (Công và cộng sự, 2009) [19]

Trang 25

Bảng 3.3: Mức độ phổ biến của 4 vi khuẩn tại các trang trại khảo sát

Mẫu bùn

Mẫu cá tra

Mẫu nước

ao

Mẫu nước cấp

Mẫu bùn

Mẫu cá tra

Mẫu nước

ao

Mẫu nước cấp

Mẫu bùn

Mẫu cá tra

Mẫu nước ao

Mẫu nước cấp

Mẫu bùn

Mẫu cá tra

Trang 26

Hình 3.1: Biểu đồ tần suất xuất hiện của 4 vi khuẩn ở 6 trang trại

So sánh sự xuất hiện của 4 vi khuẩn tại 06 trang trại khảo sát cho thấy:

Không có sự khác nhau đáng kể về mức độ phổ biến của vi khuẩn E.coli ở

6 trang trại Tỉ lệ phát hiện gần như 100% trong các mẫu bùn, cá tra và nước

Tương tự như vậy, vi khuẩn Aeromonas spp cũng có tần suất xuất hiện rất cao

trong các mẫu bùn, nước, cá tra thu được từ 6 trang trại Cụ thể có 147/149

(98,6%) mẫu ở trang trại 1 phát hiện Aeromonas spp., 122/128 (95,3%) mẫu ở trang trại 2 phát hiện Aeromonas spp., 106/128 (82,8%) mẫu ở trang trại 3 phát hiện Aeromonas spp Trang trại 4 và trang trại 5 có tỉ lệ phát hiện 100% (21/21 mẫu) Aeromonas spp trên các mẫu thu được và 119/128 (92,9%) mẫu ở trang trại 6 phát hiện Aeromonas spp

Ngược lại đối với Vibrio spp có sự biến động về mức độ phổ biến ở 6 trang trại Cụ thể có 88/128 (68,7%) mẫu ở trang trại 6 phát hiện Vibrio spp 90/128 (70,3%) mẫu phát hiện Vibrio spp ở trang trại 2, 84/149 (56,4%) mẫu ở trang trại 1 phát hiện Vibrio spp., 67/128 (52,3%) mẫu phát hiện Vibrio spp ở trang trại 3, 12/21 (57,1%) mẫu ở trang trại 4 phát hiện Vibrio spp và không

phát hiện vi khuẩn này ở trang trại 5

Đối với vi khuẩn Salmonella spp tần suất xuất hiện thấp, ở trang trại 1 phát

hiện 27/149 mẫu thu (18,1%), trang trại 2 có tỷ lệ phát hiện cao nhất: 26/128

mẫu (20,3%) Có 23/128 (17,9%) mẫu phát hiện Salmonella spp ở trang trại 3, 14/128 (10,9%) mẫu phát hiện Salmonella spp ở trang trại 6 Trang trại 4 phát

hiện có 2 mẫu dương tính và vi khuẩn này không hiện diện ở trang trại 5

Trang 27

Hình 3.2: Biểu đồ tần suất xuất hiện của 4 vi khuẩn ở các loại mẫu

So sánh sự xuất hiện của 4 vi khuẩn ở các nền mẫu cho thấy không có sự

khác biệt đáng kể về mức độ phổ biến của vi khuẩn E.coli, tỉ lệ phát hiện gần như 100% Đối với 03 vi khuẩn còn lại (Aeromonas spp., Vibrio spp.,

Salmonella spp.), tỉ lệ xuất hiện có sự sai khác, trong đó tỉ lệ xuất hiện của 3 vi

khuẩn tại mẫu cá có tỉ lệ thấp hơn so với tỉ lệ xuất hiện tại mẫu nước ao và mẫu

bùn

3.3 Kết quả phân tích kháng sinh đồ

Có 9 loại kháng sinh được sử dụng trong thử nghiệm tính kháng kháng sinh

(bảng 2.1)

3.3.1 Kết quả phân tích tính kháng kháng sinh đối với E.coli

Kết quả phân tích được trình bày qua Bảng 3.4:

Bảng 3.4: Kết quả thử nghiệm tính kháng kháng sinh của vi khuẩn E.coli

Mẫu cá (185 chủng)

Mẫu nước (204 chủng) Nước ao

(184 chủng)

Nước cấp (20 chủng)

Trang 28

6 FFC 125 27 32 85 47 53 74 57 53 14 0 6

8 ENR 49 108 27 27 81 77 33 104 47 10 6 4

(*)S:nhạy cảm, I: trung gian, R: kháng

Hình 3.3: Biểu đồ tỉ lệ các chủng E.Coli kháng các loại kháng sinh thử nghiệm

Kết quả phân tích 573 chủng E.coli phân lập được từ 13 đợt lấy mẫu với 9

loại kháng sinh thường dùng trong nuôi thủy sản cho thấy 100% số chủng vi khuẩn thử nghiệm kháng với SDM Các chủng vi khuẩn được thử mẫn cảm với

GN, NOR, FFC và ENR cao hơn so với AMP, AMO, OTX và SXT

Có 92% chủng E.coli được phân lập có khả năng kháng từ hai loại kháng

sinh trở lên, khoảng 75% kháng với ba loại kháng sinh, 55% kháng với 4 loại kháng sinh, 34% kháng với 5 loại kháng sinh, 25% kháng với 6 loại kháng sinh, 14% kháng với 7 loại kháng sinh, 9% kháng với 8 loại kháng sinh và và đặc biệt 2% số chủng vi khuẩn phân lập kháng với cả 9 loại kháng sinh thử nghiệm (bảng 3.5, hình 3.4)

Bảng 3.5 Tỉ lệ các chủng E.coli đơn kháng hoặc đa kháng với nhiều loại kháng

Trang 29

phân lập trong mẫu bùn

Trang 30

Hình 3.5: Biểu đồ tỉ lệ kháng kháng sinh của chủng E.coli phân lập từ các loại

mẫu

3.3.2 Kết quả phân tích tính kháng sinh đối với Aeromonas spp

Kết quả phân tích được trình bày qua Bảng 3.6:

Bảng 3.6: Kết quả thử nghiệm tính kháng kháng sinh của vi khuẩn Aeromonas

Mẫu cá (169 chủng)

Mẫu nước (185 chủng) Nước ao

(170 chủng)

Nước cấp (15 chủng)

Trang 31

Hình 3.6: Biểu đồ tỉ lệ các chủng Aeromonas spp kháng các loại kháng sinh thử

nghiệm

Kết quả phân tích của 536 chủng Aeromonas spp phân lập được từ 13 đợt

lấy mẫu được thử với 9 loại kháng sinh thường dùng trong nuôi thủy sản cho thấy 100% số chủng vi khuẩn thử nghiệm kháng với SDM Các chủng

Aeromonas spp mẫn cảm với GN, NOR, FFC và ENR cao hơn so với AMP,

AMO, OTX và SXT

Xem xét tính đa kháng của các chủng Aeromonas spp Cho thấy có tới 98%

chủng vi khuẩn thử nghiệm có khả năng kháng từ ba loại kháng sinh trở lên, 45% kháng với 4 loại kháng sinh, 24% kháng với 5 loại kháng sinh, 15% kháng với 6 loại kháng sinh, 6% kháng với 7 loại kháng sinh và 1% kháng 8 loại kháng sinh Không tìm thấy chủng vi khuẩn kháng với cả 9 loại kháng sinh thử nghiệm (Bảng 3.7, hình 3.7)

Bảng 3.7: Tỉ lệ các chủng Aeromonas spp đơn kháng hoặc đa kháng với nhiều

Trang 32

Hình 3.7: Biểu đồ tỉ lệ các chủng Aeromonas spp đơn kháng hoặc đa kháng với

nhiều loại kháng sinh

So sánh kết quả phân tích tính kháng sinh của các chủng Aeromonas spp

phân lập tại các loại mẫu khác nhau (hình 14) cho thấy: phần lớn các chủng

Aeromonas spp phân lập ở mẫu nước và mẫu cá tra có tính kháng kháng sinh

cao hơn các chủng E.coli được phân lập trong mẫu bùn, ngoại trừ tính kháng với

GN, NOR (các chủng phân lập từ mẫu cá có tỉ lệ kháng thấp nhất) và STX (các chủng phân lập từ mẫu nước ao có tỉ lệ kháng thấp nhất)

Trang 33

Hình 3.8: Biểu đồ tỉ lệ kháng kháng sinh của chủng Aeromonas spp phân lập từ

các loại mẫu

3.3.3 Kết quả phân tích tính kháng sinh đối với Vibrio spp

Kết quả phân tích được trình bày qua Bảng 3.8:

Bảng 3.8: Kết quả thử nghiệm tính kháng kháng sinh của vi khuẩn Vibrio spp

Mẫu cá (77 chủng)

Mẫu nước (130 chủng) Nước ao

(117 chủng)

Nước cấp (13 chủng)

Ngày đăng: 11/12/2018, 15:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w