1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá kinh tế sinh thái hệ thống sử dụng đất phục vụ quản lý đất đai trong nông nghiệp khu vực phía đông và trung tâm huyện bắc hà, tỉnh lào cai

118 126 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 3,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc so sánh, lựa chọn các loại hình sử dụng đất khác nhau phù hợp với điều kiện của đất đai là vấn đề quan tâm của người sử dụng đất, các nhà quy hoạch, để từ đó có thể giải đáp những c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Đỗ Ngọc Mai

ĐÁNH GIÁ KINH TẾ - SINH THÁI HỆ THỐNG SỬ DỤNG ĐẤT PHỤC

VỤ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI TRONG NÔNG NGHIỆP KHU VỰC PHÍA ĐÔNG VÀ TRUNG TÂM HUYỆN BẮC HÀ, TỈNH LÀO CAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội – 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Đỗ Ngọc Mai

ĐÁNH GIÁ KINH TẾ - SINH THÁI HỆ THỐNG SỬ DỤNG ĐẤT PHỤC

VỤ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI TRONG NÔNG NGHIỆP KHU VỰC PHÍA ĐÔNG VÀ TRUNG TÂM HUYỆN BẮC HÀ, TỈNH LÀO CAI

Chuyên ngành: Quản lý đất đai

Mã số: 60850103

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Cao Huần

Hà Nội – Năm 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng toàn bộ những nội dung và số liệu trong luận văn này do tôi tự nghiên cứu, khảo sát và thực hiện không trùng với bất kỳ luận văn, đề tài nào đã công bố Nếu có gì sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Đỗ Ngọc Mai

Trang 4

Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến Giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Cao Huần người đã dành nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tác giả xin chân thành cảm ơn UBND huyện Bắc Hà, UBND các xã Tà Chải, xã Thải Giàng Phố, xã Nậm Mòn, xã Bản Liền, xã Bản Phố và bà con các thôn thuộc địa bàn nghiên cứu đã giúp đỡ về nguồn tài liệu cũng như trong quá trình thực địa, điều tra phục vụ đề tài

Cuối cùng, tôi xin được tỏ lòng biết ơn đối với những tình cảm, sự động viên và ủng hộ tốt nhất về vật chất và tinh thần mà gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã dành cho tôi trong suốt thời gian nghiên cứu của mình

Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết chọn đề tài 1

2 Mục tiêu, nội dung nghiên cứu 2

3 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Cơ sở tài liệu thực hiện luận văn 3

5 Kết quả và ý nghĩa 3

6 Cấu trúc luận văn 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5

1.1 Tổng quan các công trình liên quan đến đề tài 5

1.1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về hệ thống sử dụng đất 5

1.1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu về đánh giá kinh tế - sinh thái 11

1.1.3 Tổng quan các công trình liên quan đến lãnh thổ nghiên cứu 13

1.2 Cơ sở lý luận về đánh giá kinh tế - sinh thái hệ thống sử dụng đất cho phát triển nông nghiệp bền vững 15

1.2.1 Hệ thống sử dụng đất 15

1.2.2 Đánh giá kinh tế - sinh thái hệ thống sử dụng đất nông nghiệp 18

1.3 Quan điểm, phương pháp và các bước nghiên cứu 20

1.3.1 Quan điểm nghiên cứu 20

1.3.2 Các phương pháp nghiên cứu 21

1.3.3 Các bước nghiên cứu 22

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CÁC HỆ THỐNG SỬ DỤNG ĐẤT KHU VỰC PHÍA ĐÔNG VÀ TRUNG TÂM HUYỆN BẮC HÀ, TỈNH LÀO CAI 24

2.1 Khái quát chung về huyện Bắc Hà và khu vực nghiên cứu 24

2.2 Đặc điểm và vai trò của các điều kiện tự nhiên đối với sự hình thành hệ thống sử dụng đất khu vực nghiên cứu 25

2.2.1 Địa chất, địa mạo 25

2.2.2 Khí hậu – Thủy văn 28

2.2.3 Thổ nhưỡng – Thực vật 29

Trang 6

2.2.4 Vai trò của các điều kiện tự nhiên trong thành tạo hệ thống sử dụng đất khu vực

nghiên cứu 34

2.3 Đặc điểm và vai trò của các hoạt động sử dụng đất đối với sự hình thành hệ thống sử dụng đất đai khu vực nghiên cứu 35

2.3.1 Dân số - Lao động 35

2.3.2 Tình hình quản lý, sử dụng đất 35

2.3.3 Đặc điểm và vai trò của các hoạt động nhân sinh đối với sự hình thành hệ thống sử dụng đất 40

2.4 Đặc điểm các hệ thống sử dụng đất tại lãnh thổ nghiên cứu 42

2.4.1 Đặc điểm các đơn vị đất đai 42

2.4.2 Đặc điểm các loại hình sử dụng đất 49

2.4.3 Đặc điểm các hệ thống sử dụng đất khu vực nghiên cứu 51

CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ KINH TẾ - SINH THÁI CÁC HỆ THỐNG SỬ DỤNG ĐẤT CHO PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG 61

3.1 Quy trình đánh giá kinh tế - sinh thái hệ thống sử dụng đất nông nghiệp 61

3.1.1 Đánh giá thích nghi các hệ thống sử dụng đất 61

3.1.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế của hệ thống sử dụng đất 63

3.1.3 Đánh giá ảnh hưởng về môi trường và xã hội 64

3.2 Đánh giá thích nghi sinh thái các hệ thống sử dụng đất cho phát triển nông nghiệp khu vực nghiên cứu 65

3.2.1 Nhu cầu sinh thái của một số cây trồng trong hệ thống sử dụng đất 65

3.2.2 Lựa chọn và phân cấp các yếu tố đánh giá 66

3.2.3 Kết quả đánh giá mức độ thích nghi các hệ thống sử dụng đất 67

3.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của một số hệ thống sử dụng đất 73

3.3.1 Đánh giá hiệu quả kinh tế 73

3.3.2 Đánh giá hiệu quả xã hội 77

3.3.3 Đánh giá hiệu quả môi trường 79

3.4 Định hướng không gian sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và giải pháp quản lý đất đai phục vụ phát triển nông nghiệp khu vực nghiên cứu 84

3.4.1 Quan điểm và căn cứ định hướng 84

3.4.2 Một số định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và giải pháp quản lý đất đai phục vụ phát triển nông nghiệp 86

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BVMT: Bảo vệ môi trường

ĐKTN: Điều kiện tự nhiên

ĐVĐĐ: Đơn vị đất đai

FAO: Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc GIS (Geographic Information System): Hệ thông tin địa lý HTSDĐ: Hệ thống sử dụng đất

KT-XH: Kinh tế - xã hội

LU: Land Unit (đơn vị đất đai)

LUT: Land Use Type (loại hình sử dụng đất)

TNTN: Tài nguyên thiên nhiên

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU

Trang 9

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ

Hình 3.4 Bản đồ định hướng sử dụng các hệ thống sử dụng đất đai cho phát

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết chọn đề tài

Đối với lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, vấn đề sử dụng đất hợp lý phải được đặt lên hàng đầu Mỗi loại hình sử dụng đất trong nông nghiệp đều có những yêu cầu nhất định mà đất đai cần phải đáp ứng Việc so sánh, lựa chọn các loại hình sử dụng đất khác nhau phù hợp với điều kiện của đất đai là vấn đề quan tâm của người sử dụng đất, các nhà quy hoạch, để từ đó có thể giải đáp những câu hỏi quan trọng trong thực tiễn sản xuất nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao và phát triển bền vững trong nông nghiệp

Trong điều kiện kinh tế - xã hội càng phát triển, dân số tăng nhanh kéo theo những đòi hỏi ngày càng tăng về lương thực thực phẩm, chỗ ở cũng như các nhu cầu

về văn hóa, xã hội Con người đã tìm mọi cách để khai thác đất đai nhằm thỏa mãn những nhu cầu ngày càng tăng đó Như vậy đất đai, đặc biệt là đất nông nghiệp không những có hạn về diện tích, mà còn có nguy cơ bị suy thoái dưới tác động của thiên nhiên và sự thiếu ý thức của con người trong quá trình sản xuất Đó còn chưa kể đến

sự suy giảm về diện tích đất nông nghiệp do quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh

mẽ, trong khi khả năng khai hoang mở rộng diện tích lại rất hạn chế Do vậy, việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, từ đó lựa chọn các loại hình sử dụng đất

có hiệu quả, để sử dụng hợp lý theo quan điểm kinh tế - sinh thái và phát triển bền vững đang trở thành vấn đề mang tính chất toàn cầu, được các nhà khoa học trên thế giới cũng như các nhà khoa học ở Việt Nam quan tâm

Bắc Hà là huyện vùng cao nằm ở phía đông bắc tỉnh Lào Cai với nhiều tiềm năng thế mạnh về điều kiện tự nhiên, thuận lợi phát triển cây trồng nông nghiệp, đặc biệt là khu vực phía đông và trung tâm huyện Bắc Hà với khí hậu ôn hòa, đất đai đa dạng về chủng loại, trong đó đất nông nghiệp chiếm tới 53% tổng diện tích tự nhiên (đất nông nghiệp 13.062,24 ha) Tuy nhiên diện tích đất chưa sử dụng còn tương đối lớn (10.694,08 ha chiếm 43,38 % diện tích đất tự nhiên), chủ yếu là đất dốc, địa hình phức tạp, kèm theo trình độ dân trí chưa cao nên khả năng khai thác nguồn tài nguyên đất nói chung và đất nông nghiệp nói riêng phục vụ sản xuất còn hạn chế Sản xuất kém phát triển, hiệu quả kinh tế không cao, trong khi nguồn thu nhập chính của người dân nơi đây phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp với 88,54 % lao động đang hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp Bắc Hà được xếp vào một trong 3 huyện nghèo của tỉnh

Trang 11

Lào Cai, nông lâm nghiệp mặc dù là ngành kinh tế chủ đạo nhưng hiệu quả đóng góp cho nền kinh tế còn thấp: Thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt 14 triệu/ người/năm, thấp hơn mức thu nhập bình quân đầu người chung toàn tỉnh (14,14 triệu đồng); tỷ lệ

hộ nghèo ở đây còn cao, chiếm 28,52% tổng số hộ trên địa bàn huyện

Do đó, để xây dựng cơ cấu sử dụng đất hợp lý, hiệu quả và bền vững cho một huyện miền núi có nhiều dân tộc thiểu số, trình độ dân trí thấp thì cần thực thi đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó đánh giá tiềm năng đất đai theo hướng kinh tế - sinh thái đồng thời áp dụng những biện pháp hữu hiệu chống thoái hoá, bảo vệ đất dốc là một việc làm hết sức cần thiết

Xuất phát từ những lý do nêu trên, đề tài luận văn “Đánh giá kinh tế - sinh thái

hệ thống sử dụng đất phục vụ quản lý đất đai trong nông nghiệp khu vực phía đông

và trung tâm huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai” đã được lựa chọn nghiên cứu và hoàn thành

2 Mục tiêu, nội dung nghiên cứu

* Mục tiêu

Xác lập cơ sở khoa học và thực tiễn dựa trên kết quả phân tích, đánh giá kinh tế

- sinh thái hệ thống sử dụng đất đai phục vụ định hướng không gian sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và quản lý đất đai trong nông nghiệp khu vực phía đông và trung tâm huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai

* Nội dung

Để hoàn thành được mục tiêu trên, các nội dung chính sau cần được thực hiện:

- Tổng quan các công trình trên thế giới và trong nước có liên quan tới hướng nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu của đề tài

- Xác lập cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đánh giá kinh tế - sinh thái

hệ thống sử dụng đất nông nghiệp áp dụng cho khu vực nghiên cứu

- Phân tích đặc điểm và sự phân hóa điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, đặc điểm các hệ thống sử dụng đất khu vực nghiên cứu

- Đánh giá các hệ thống sử dụng đất chính theo các khía cạnh về mức độ thích nghi sinh thái, hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường cho phát triển nông nghiệp khu vực nghiên cứu

Trang 12

- Định hướng không gian phân bố các hệ thống sử dụng đất, đề xuất điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất và nâng cao hiệu quả các giải pháp quản lý đất đai trong nông nghiệp

3 Phạm vi nghiên cứu

* Phạm vi không gian: Khu vực được lựa chọn nghiên cứu bao gồm khu vực

phía đông và trung tâm huyện Bắc Hà, gồm 9 xã: Lầu Thí Ngài, Thải Giàng Phố, Nà Hối, Tà Chải, Thị trấn Bắc Hà, Bản Phố, Nậm Mòn, Bản Liền, Tà Cu Tỷ Tổng diện tích đất tự nhiên của khu vực là 26,412.0 ha, trong đó diện tích đất sử dụng cho nông nghiệp là 13,274.31 ha (chiếm 50% diện tích đất tự nhiên)

* Phạm vi khoa học: Với mục tiêu và nội dung đã đặt ra, luận văn giới hạn

phạm vi nghiên cứu những vấn đề sau:

- Xây dựng cơ sở lý luận và lựa chọn phương pháp nghiên cứu thích hợp cho đối tượng là hệ thống sử dụng đất nông nghiệp miền núi

- Nghiên cứu và đánh giá các hệ thống sử dụng đất theo các khía cạnh thích nghi sinh thái, hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường cho phát triển nông nghiệp

- Định hướng không gian sử dụng các hợp lý tài nguyên đất, bảo vệ môi trường

và giải pháp quản lý đất đai trong sản xuất nông nghiệp dựa trên các HTSDĐ khu vực nghiên cứu

4 Cơ sở tài liệu thực hiện luận văn

- Nhóm tư liệu bản đồ: bản đồ địa hình, bản đồ địa mạo, bản đồ thổ nhưỡng,

bản đồ hiện trạng sử dụng đất của khu vực nghiên cứu

- Nhóm tư liệu về cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu: về đánh giá kinh

tế - sinh thái hệ thống sử dụng đất nông nghiệp trong và ngoài nước

- Nhóm tư liệu về khu vực nghiên cứu:

 Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai;

 Quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH huyện Bắc Hà đến năm 2020;

 Số liệu thống kê, kiểm kê đất đai từ năm 2011 – 2016;

 Kết quả điều tra khảo sát thực địa, điều tra xã hội học đối với người dân địa

phương

5 Kết quả và ý nghĩa

* Kết quả

Trang 13

- Hệ thống bản đồ chuyên đề: bản đồ vị trí khu vực nghiên cứu, bản đồ địa chất,

địa mạo, thổ nhưỡng, bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ hệ thống sử dụng đất, bản

đồ phân hạng thích nghi đất đai, bản đồ định hướng không gian sử dụng hợp lý các HTSDĐ phục vụ phát triển nông nghiệp

- Định hướng không gian sử dụng hợp lý tài nguyên đất và bảo vệ môi trường trong sản xuất nông nghiệp khu vực nghiên cứu

* Ý nghĩa

- Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ

quan điểm, vấn đề lý luận, phương pháp nghiên cứu và đánh giá các hệ thống sử dụng

đất đai trong phát triển nông nghiệp

- Ý nghĩa thực tiễn: hệ thống cơ sở dữ liệu, các kết luận nghiên cứu và tập bản

đồ chuyên đề của luận văn là cơ sở khoa học có giá trị tham khảo cho các nhà quản lý trung ương và địa phương ra quyết định hoạch định phát triển nông nghiệp nông thôn

miền núi huyện Bắc Hà

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu

Chương 2: Đặc điểm các hệ thống sử dụng đất đai khu vực phía đông và trung

tâm huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai

Chương 3: Đánh giá kinh tế - sinh thái các hệ thống sử dụng đất cho phát triển

nông nghiệp bền vững khu vực phía đông và trung tâm huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai

Trang 14

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan các công trình liên quan đến đề tài

1.1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về hệ thống sử dụng đất

Trong phạm vi nghiên cứu về sử dụng đất các nhà đánh giá đất nhìn nhận đất đai là một nhân tố sinh thái (theo FAO 1976, bao gồm các thuộc tính sinh học và tự nhiên tác động đến sử dụng đất)[42] Học thuyết sinh thái học cảnh quan ra đời và quan niệm đất đai như là những vật mang của các hệ sinh thái, bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất

Theo Christian và Stewart 1968, Brinkman và Smith 1973: “Một vùng đất

được xác định về mặt địa lý có các thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi có tính chất chu kỳ có thể dự đoán được của sinh quyển bên trên, bên trong và bên dưới nó như là: khí hậu, đất (soil), điều kiện địa chất, điều kiện thuỷ văn, thực vật và động vật cư trú, những hoạt động trước đây và hiện nay của con người, ở chừng mực

mà ảnh hưởng của những thuộc tính này có ý nghĩa tới việc sử dụng vùng đất đó của con người hiện tại và trong tương lai”[40]

Như vây, có thể hiểu: Đất đai là một vùng đất có ranh giới, vị trí cụ thể và có các thuộc tính tổng hợp của các yếu tố tự nhiên, kinh tế và xã hội như: thổ nhưỡng, khí hậu, địa hình, địa mạo, địa chất, thủy văn, động thực vật và hoạt động sản xuất của con người

Theo FAO năm 1976 đơn vị đất đai được định nghĩa như sau: “Đơn vị đất đai

là một vùng hay một vạt đất trong đó có sự đồng nhất của các yếu tố tự nhiên và có sự phân biệt của một hoặc nhiều yếu tố tự nhiên so với các vùng lân cận.”

Trong cuốn “Cẩm nang sử dụng đất nông nghiệp, Tập 2: Phân hạng đánh giá

đất” của Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp (2009), định nghĩa: “Đơn vị đất đai

là một khoanh/vạt đất được xác định trên bản đồ đơn vị đất đai với những đặc tính và tính chất đất đai riêng biệt thích hợp cho từng loại hình sử dụng đất, có cùng điều kiện quản lý đất, cùng một khả năng sản xuất và cải tạo đất Mỗi đơn vị đất đai có chất lượng riêng và nó thích hợp với một loại hình sử dụng đất nhất định” [40]

Đánh giá đất là quá trình xem xét khả năng thích hợp của đất đai với những loại hình sử dụng đất khác nhau nhằm cung cấp những thông tin về sự thuận lợi và khó

Trang 15

khăn của việc sử dụng đất làm căn cứ cho việc đưa ra những quyết định về việc sử dụng đất một cách hợp lý Như vậy, thực chất công tác đánh giá đất đai là quá trình đối chiếu giữa chất lượng đất đai với các yêu cầu sử dụng đất

a Đánh giá phân hạng đất trên thế giới

Ngay từ những năm 50 của thế kỷ XX, nhiều nước có nền nông nghiệp phát triển như Hoa Kỳ và một số nước Châu Âu đã bắt tay vào việc phân loại các mục tiêu

sử dụng đất và xác định một số tiêu chuẩn đánh giá phân hạng đất đai dựa trên khả năng đáp ứng của nó đối với các mục tiêu kinh tế của người sử dụng Ở Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu cũng bắt đầu xem xét đến yếu tố kinh tế đất trong quá trình phân hạng đánh giá đất đai nông nghiệp Xuất phát từ nghiên cứu riêng lẻ của từng quốc gia, công tác đánh giá phân hạng đất trên thế giới hiện nay phổ biến với các hệ thống phân hạng đất sau:

- Hệ thống phân hạng đất phát sinh (Liên Xô cũ)

Hệ thống phân hạng đất của Liên Xô (cũ) được hình thành từ đầu năm 1950 và sau đó được hoàn thiện vào năm 1986; với đại diện tiêu biểu là phương pháp đánh giá của nhà bác học Nga V.V Docutrev Theo quan điểm của V V Docuchaev, Phân hạng đất bao gồm 3 bước: Đánh giá lớp phủ thổ nhưỡng (so sánh các loại thổ nhưỡng theo tính chất tự nhiên); Đánh giá khả năng sản xuất của đất đai (yếu tố được xem xét kết hợp với khí hậu, độ ẩm, địa hình), Đánh giá đất đai dựa vào kinh tế (chủ yếu đánh giá khả năng sản xuất hiện tại của đất đai) [10]

Đối với các loại hình sử dụng đất nông nghiệp, việc phân hạng thích hợp đất đai mới chỉ tập trung chủ yếu vào đánh giá các yếu tố tự nhiên của đất đai và chưa xem xét

kỹ đến khía cạnh kinh tế - xã hội, môi trường [14]

Công tác điều tra đánh giá đất ở Liên Xô cũ phát triển rất sớm từ thế kỷ XVIII nhưng mãi đến năm 1967 Liên Xô mới xuất bản cuốn “Phân hạng đất toàn Liên Bang” Theo quyết định của Chính phủ, công tác đánh giá đất đai được tiến hành trên toàn Liên Bang và do Bộ Nông Nghiệp chủ trì (Bộ Nông nghiệp Liên Xô, 1980)

- Hệ thống phân hạng đất của Mỹ

Tại Mỹ hiện nay đang ứng dụng rộng rãi hai phương pháp: phương pháp tổng hợp và phương pháp yếu tố, chủ yếu dựa trên khả năng khai thác và hiệu quả kinh tế

sử dụng đất

Trang 16

- Phương pháp tổng hợp: Phân chia lãnh thổ tự nhiên và đánh giá đất thông qua năng suất cây trồng nhiều năm (10 năm)

- Phương pháp yếu tố: Thống kê các yếu tố tự nhiên, xác định tính chất đất và phương hướng cải tạo Các yếu tố đánh giá là: Độ dày tầng đất, thành phần cơ giới, độ thẩm thấu, chất lẫn vào, hàm lượng các độc tố, muối, địa hình, mức độ xói mòn và khí hậu Việc đánh giá đất này không chỉ dựa trên năng suất cây trồng trên các loại đất mà còn thống kê các chi phí và thu nhập Trong trường hợp này lợi nhuận tối đa được chọn làm mốc so sánh cho các loại hình khác nhau trên cùng một loại đất

Ngoài ra, ở các nước khác như Anh, Canada, Ấn Độ,… hệ thống phân hạng đất đai chủ yếu dựa trên yếu tố thổ nhưỡng để phân cấp đất đai cho các mục tiêu sử dụng đất

- Hệ thống phân hạng đất theo FAO

Vào những năm 70, song song với tiến trình thống nhất quan điểm phân loại thổ nhưỡng, FAO đã tài trợ những chương trình nghiên cứu có tính toàn cầu về đánh giá đất và sử dụng đất theo quan điểm hiệu quả và lâu bền Kết quả của những nỗ lực quốc

tế là sự ra đời của bản dự thảo đầu tiên về phương pháp đánh giá đất vào năm 1972

Dự thảo đã được nhiều quốc gia thử nghiệm và góp ý bổ sung Tại hội nghị Rome

1975, các chuyên gia hàng đầu về đánh giá đất của FAO và các quốc gia khác đã tổng hợp kinh nghiệm của nhiều nước, bổ sung và biên soạn lại để hình thành Đề cương đánh giá đất đai (A framework for Land Avaluation) được công bố vào năm 1976 [42]

Bên cạnh việc đánh giá đất đai tự nhiên, FAO (1976) còn xem xét thêm yếu tố kinh tế nhưng chưa đi sâu nghiên cứu đánh giá tổng hợp cả điều kiện tự nhiên, kinh tế,

xã hội và môi trường Bên cạnh đề cương tổng quát 1976 là hàng loạt các hướng dẫn đánh giá đất đai cho các đối tượng cụ thể được ban hành như: Đánh giá đất đai cho nền nông nghiệp nhờ nước mưa (Land evaluation for rained agriculture, 1983, [43]), đánh giá đất đai cho nền nông nghiệp được tưới (Land evaluation for irrigated agriculture,

1985 [44]), đánh giá đất đai cho đồng cỏ quảng canh (Land evaluation for extensive gazing, 1989 [45]), đánh giá đất đai cho mục tiêu phát triển (Land evaluation for development, 1990 [46]), đánh giá đất đai và phân tích hệ thống canh tác cho việc sử dụng đất (Land evaluation and farming system analysis for land use planning, Framework for land evaluating sustainable management, 1993 [47]) Đến năm 2007,

Trang 17

FAO cũng với sự phát triển công nghệ một lần nữa khẳng định vai trò đánh giá đất đai bền vững trong quản lý đất đai (Land evaluation towards a revised framework, 2007) [48] Bên cạnh việc đánh giá tiềm năng đất đai còn đề cập đến các thông tin về kinh tế,

xã hội và kỹ thuật canh tác của từng loại hình sử dụng đất cụ thể, cung cấp thông tin cho nhà quy hoạch lựa chọn các phương pháp sử dụng đất hợp lý

Đề cương và các tài liệu hướng dẫn đánh giá đất theo FAO mang tính khái quát toàn bộ những nguyên tắc và nội dung cũng như các bước tiến hành theo quy trình đánh giá đất cùng với những gợi ý và ví dụ minh họa đã giúp cho các nhà khoa học đất

ở các nước khác nhau tham khảo Tùy vào điều kiện sinh thái, đất đai và sản xuất của từng nước, họ có thể vận dụng những tài liệu của FAO cho phù hợp và có kết quả tại nước mình [32] Như vậy, đánh giá đất theo FAO phải được xem xét trên phạm vi rộng lớn, bao gồm cả không gian, thời gian, cần xem xét cả tự nhiên, kinh tế và xã hội [32] Các tài liệu đánh giá đất đai của FAO kể từ khi ra đời đã được thế giới quan tâm thử nghiệm, vận dụng và chấp nhận là phương pháp hợp lý để đánh giá tiềm năng đất đai

* Một số nhận xét chung:

Hầu hết các nước trên thế giới đều tiến hành đánh giá phân hạng đất đai Quá trình điều tra đánh giá tài nguyên đất đai đều dựa trên nền tảng căn bản là sức sản xuất của đất thể hiện bằng các chỉ tiêu tự nhiên: Thành phần cơ giới, độ chua, tính chất hoá học, độ phì nhiêu, độ dày tầng đất, chất lẫn vào (kết von, sỏi sạn,…), về điều kiện tự nhiên khác như địa hình, khí hậu, chế độ nước,…Các đánh giá đất đều dựa trên mức

độ thích hợp hay yếu tố hạn chế của từng loại đất để phân hạng

Trong đánh giá đất đai có sự khác nhau trong việc đánh giá vai trò của các chỉ tiêu kinh tế như năng suất cây trồng, hiệu quả kinh tế, đầu tư và thu nhập Tại các nước

Xã hội Chủ nghĩa cũ (nền kinh tế bao cấp) coi trọng các chỉ tiêu tự nhiên trong công tác đánh giá đất đai của mình và coi nhẹ hoặc có khi không quan tâm đến năng suất cây trồng, hiệu quả kinh tế và nếu có chỉ là yếu tố thứ yếu Ngược lại các nước Tư bản Chủ nghĩa (nền kinh tế thị trường), ngoài việc đề cao sức sản xuất của đất còn rất coi trọng các yếu tố như năng suất cây trồng nhiều năm, mức độ đầu tư, tổng thu nhập, lãi thuần và hiệu quả đồng vốn

Trang 18

Trong nền kinh tế thị trường giá trị đất đai được phản ánh rõ nét qua giá trị sử dụng và cuối cùng là hiệu quả kinh tế Sẽ là sai lầm rất lớn nếu đánh giá đất đai chỉ dựa vào các yếu tố điều kiện tự nhiên mà coi nhẹ các chỉ tiêu kinh tế Một tồn tại chung là việc đánh giá đất đai ở nhiều nước là đánh giá đất đai chỉ đánh giá cho một loại cây trồng hay một nhóm cây Việc này làm hạn chế việc đề xuất các biện pháp hợp lý của các nhà quy hoạch và các nhà quản lý

b Đánh giá, phân hạng đất ở Việt Nam

Ở Việt Nam khái niệm đánh giá, phân hạng đất đã có từ lâu qua việc phân chia

“Tứ hạng điền, lục hạng thổ” Công tác đánh giá được nhiều cơ quan khoa học nghiên cứu và thực hiện Từ những bước sơ khai, ngành khoa học đánh giá đất đai đã dần dần hình thành và hoàn thiện cơ sở lý luận cả về khoa học và thực tiễn

Giai đoạn trước 1975 là thời kỳ xây dựng cơ sở lý luận cho khoa học thổ nhưỡng Việt Nam Từ 1975 đến 1980 đã tiến hành một số công trình nghiên cứu phân loại, xây dựng bản đồ đất và bắt đầu nghiên cứu ứng dụng các phương pháp đánh giá đất tổng hợp cho các mục tiêu sử dụng đất Tuy nhiên chỉ từ sau 1980 đến nay, việc nghiên cứu đánh giá đất mới thực sự sôi động với việc ứng dụng phương pháp của FAO vào đánh giá đất tại Việt Nam

Phân loại khả năng thích hợp đất của FAO đã được áp dụng đầu tiên ở Việt Nam trong nghiên cứu “Đánh giá và quy hoạch sử dụng đất hoang Việt Nam” (Bùi Quang Toản và nnk, 1985) [35] Đánh giá phân hạng đất khái quát toàn quốc (Tôn Thất Chiểu và nnk, 1986) được thực hiện ở tỷ lệ 1/500.000 dựa trên phân loại khả năng đất đai của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, chỉ tiêu sử dụng là đặc điểm thổ nhưỡng và địa hình [7]

Phương pháp đánh giá đất của FAO đã được nhiều nhà khoa học đất Việt Nam vận dụng thử nghiệm và đã có những kết quả đóng góp để hoàn thiện từng bước như các công trình nghiên cứu của Nguyễn Khang và Phạm Ưng (1995) [21]; Trần An Phong (1992) [8] Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung nghiên cứu tiêu chí về thổ nhưỡng, khí hậu để phân hạng đất cho từng loại cây trồng khác nhau, các yếu tố về về điều kiện kinh tế - xã hội, thủy văn, vẫn chưa được đề cập tới

Năm 1993, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp đã chỉ đạo thực hiện công tác đánh giá đất đai trên 09 vùng sinh thái của cả nước điển hình là các nghiên cứu:

Trang 19

Vùng đồng bằng sông Hồng của Vũ Thị Bình (1995); Vùng đồng bằng sông Cửu Long có Trần An Phong, Nguyễn Văn Nhân, Tôn Thất Chiểu, Nguyễn Công Pho, Phạm Quang Khánh (1992) [8]; Vùng gò đồi Tây Bắc và trung du phía Bắc có Lê Văn Khoa (1993) [22], Lê Thái Bạt (1995) [3]; Vùng Tây Nguyên có Nguyễn Khang, Phạm Dương Ưng [21], Nguyễn Văn Tân, Đỗ Đình Đài, Nguyễn Văn Tuyển (1995)[38] Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào các tỷ lệ từ 1/500.000 đến 1/250.000 cho các loại đất khác nhau có thể khai thác vào sản xuất nông nghiệp Kết quả bước đầu đã xác định được tiềm năng đất đai của các vùng, khẳng định việc vận dụng nội dung và phương pháp của FAO là phù hợp

Năm 1995, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp cũng thông qua phương pháp tổng hợp các yếu tố đất đai và sử dụng bản đồ đất tỷ lệ 1/250.000 của các vùng sinh thái nông nghiệp lên bản đồ tỷ lệ 1/500.000 của toàn quốc, xây dựng và hoàn thành bản đồ đơn vị đất đai các loại hình sử dụng đất chính ở Việt Nam theo FAO để làm cơ sở cho chiến lược khai thác và sử dụng tiềm năng đất [39] Trong công trình nghiên cứu "Kết quả bước đầu đánh giá tài nguyên đất Việt Nam", các tác giả đã xác định được trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam có 372 đơn vị đất đai Toàn quốc có 90 loại hình sử dụng đất và phân chia 41 loại thích hợp đất đai cho 9 vùng sinh thái khác nhau trên phạm vi toàn quốc (Lê Văn Khoa và cộng sự, 1999) [23]

Việc đánh giá đất đai ở cấp độ nhỏ hơn (tỉnh, huyện, xã) cũng được quan tâm thực hiện nhằm cụ thể hoá kết quả của công tác đánh giá đất làm cơ sở cho việc xây dựng định hướng sử dụng đất hiện tại cũng như trong tương lai Có rất nhiều nghiên cứu ở cấp độ này trong đánh giá tài nguyên đất đai như: Vũ Thị Bình (1995) [4], nghiên cứu đánh giá đất đai của huyện Gia Lâm, dựa trên bản đồ tỷ lệ 1/25.000 đã xác định được 20 đơn vị đất đai và 10 loại hình sử dụng đất; Nguyễn Đình Bồng (1995) [5] đã vận dụng phương pháp đánh giá thích hợp đất của FAO để đánh giá tiềm năng sản xuất nông, lâm nghiệp cho đất đồi núi trọc ở tỉnh Tuyên Quang; Đỗ Nguyên Hải (2000) [14] đã đánh giá khả năng sử dụng đất và hướng sử dụng đất bền vững trong sản xuất nông nghiệp của huyện Tiên Sơn (cũ), tỉnh Bắc Ninh

Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu đã kết hợp phương pháp đánh giá đất của FAO với công nghệ thông tin địa lý (GIS) vào trong đánh giá đất đai như: Nguyễn Văn Nhân (1996) [26] đã ứng dụng kỹ thuật GIS và việc đánh giá đất thích hợp của FAO

Trang 20

trên phạm vi toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long với tỷ lệ 1/250.000; Nguyễn Văn

Cư và cộng sự (2003) [11] với nghiên cứu điều tra cơ bản tổng hợp có định hướng điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên các huyện của tỉnh Thừa Thiên Huế Kết quả nghiên cứu đã thành lập được bản đồ đất theo quan điểm của FAO và các loại bản đồ chuyên đề khác như bản đồ thảm thực vật, bản đồ tổn thương, kết hợp với GIS ở tỷ

lệ /25.000 để làm cơ sở định hướng sử dụng đất hiệu quả trong tương lai các huyện của tỉnh Thừa Thiên Huế

1.1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu về đánh giá kinh tế - sinh thái

Đánh giá kinh tế - sinh thái là một hướng đánh giá tổng hợp trong nghiên cứu

sử dụng đất, với yêu cầu trong bất kỳ trường hợp nào khi sử dụng đất đai cần phải xem xét tính thích nghi sinh thái, tính bền vững môi trường, tính hiệu quả kinh tế và tính bền vững xã hội

Trên thế giới: các nguyên tắc, phương pháp và quy trình đánh giá tổng hợp thể

tự nhiên phục vụ các mục đích thực tiễn được trình bày một cách khá đầy đủ và logic trong công trình của L.I.Mukhina (1973) Tiếp đó, một loạt các nghiên cứu đánh giá tổng hợp cho các vùng lãnh thổ khác nhau như đánh giá KT - XH của Kunhixki (1973), đánh giá tổng hợp các ĐKTN, TNTN cộng hòa Ucraina của A.M.Marinhic (1976)

Khi yêu cầu của thực tiễn đặt ra nhiều hơn về các khía cạnh đánh giá đất đai phục vụ sản xuất - đời sống, đòi hỏi các nội dung và phương pháp đánh giá cần phải toàn diện hơn Do đó, ngoài đánh giá thích nghi sinh thái, các phương pháp khác cũng

đã được vận dụng trong nghiên cứu đánh giá đất đai: như đánh giá hiệu quả kinh tế bằng phương pháp phân tích chi phí - lợi ích (Alfred Mashall và K.B Zvoruvkin 1968), đánh giá ảnh hưởng môi trường (Leopold, 1972; Hudson, 1984; Petermann, 1996;…) hoặc tổ hợp giữa chúng (P.G Shishenko, 1988) Nghiên cứu đánh giá một cách tổng hợp và toàn diện hơn từ tự nhiên đến KT- XH, môi trường được đề cập trong các công trình của FAO về đánh giá đất đai từ những năm 1980 đến nay (FAO, 1993) Tuy nhiên, các công trình của FAO mới chỉ đánh giá cho các loại hình sử dụng đất nông nghiệp [9, 28]

Bên cạnh các phương pháp đánh giá đất đai truyền thống còn có các phương pháp ứng dụng công nghệ như phương pháp tích hợp đất đai tự động (ALES) và hệ

Trang 21

thống thông tin địa lí (GIS) Tuy nhiên, phần lớn các công trình về đánh giá đất mới chỉ đi sâu nghiên cứu đánh giá thích nghi sinh thái của các loại hình sử dụng đất cho các mục đích cụ thể mà chưa đi vào đánh giá tính hiệu quả KT - XH, cũng như là mức

độ bền vững môi trường

Ở Việt Nam: Các nhà khoa học đã gắn kết các nghiên cứu cơ bản với nghiên

cứu ứng dụng, nghiên cứu đặc tính đất đai với đánh giá đất đai theo quan điểm kinh tế

- sinh thái (thừa kế khung đánh giá đất đai của FAO công bố năm 1976), chú trọng tới khía cạnh phát triển bền vững trong sử dụng đất Đúc rút cơ sở lý luận của một số học giả trên thế giới và kết quả nghiên cứu điển hình tại các một số khu vực của Việt Nam, Nguyễn Cao Huần (2005) đã đề xuất quy trình đánh giá theo tiếp cận kinh tế - sinh thái, bao gồm đánh giá thích nghi sinh thái, phân tích hiệu quả kinh tế, phân tích tác động xã hội, phân tích ảnh hưởng môi trường và đánh giá tổng hợp đất đai [20]

Theo đó, ngày càng nhiều các công trình phân tích, đánh giá các hệ thống sử dụng đất theo hướng kinh tế - sinh thái được thực hiện ở các cấp lãnh thổ khác nhau, nhất là cấp tỉnh, huyện, xã để phục vụ các mục đích thực tiễn cụ thể như: phát triển nông - lâm nghiệp du lịch, bảo tồn ĐDSH, quy hoạch BVMT… Song tựu chung lại, chúng đều hướng tới mục đích sử dụng hợp lí tài nguyên gắn với BVMT các vùng lãnh thổ

Đánh giá thích nghi sinh thái được thể hiện trong nhiều công trình phục vụ các mục đích khác nhau: quy hoạch trồng cây công nghiệp dài ngày (Nguyễn Cao Huần, 2002) [16], các loại hình sử dụng đất trồng cây ăn quả huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn (Phạm Quang Tuấn, 2006) [36] hay cho mục đích phát triển nông, lâm nghiệp và

du lịch (Trương Quảng Hải và nnk, 2010 [15], Nguyễn An Thịnh, 2012 [31]), Bùi Thị Thu, 2014 [33]) Trên cơ sở phân tích, đánh giá đất đai cho một số loại hình sản xuất nông lâm nghiệp, các nghiên cứu trên đã đưa ra định hướng sử dụng hợp lý lãnh thổ cho các loại hình này

Đánh giá kinh tế cũng được nhiều tác giả thực hiện bằng phương pháp phân tích chi phí - lợi ích: Qiangyi Yu (2011) [50], Orawan Srisompun (2012) [49], Bùi Nữ Hoàng Anh (2013) [2], Vũ Thị Thương (2013) [34] Trong đó, các chỉ tiêu được lựa chọn để đánh giá hiệu quả kinh tế gồm: giá trị hiện thời (PV), giá trị hiện ròng (NPV),

Trang 22

tỉ suất chi phí – lợi ích (BCR), Hiệu quả kinh tế là một trong những cơ sở quan trọng định hướng sử dụng hợp lý đất đai

Đánh giá ảnh hưởng của môi trường được thực hiện thông qua việc xác định và

dự báo mức độ ảnh hưởng của các hoạt động sử dụng đất đai tới môi trường, cả nguy

cơ gây ô nhiễm môi trường và khả năng cải thiện môi trường [6] Những nghiên cứu đánh giá tổng quát về vấn đề môi trường và hiện tượng suy thoái đất có liên quan đến điều kiện tự nhiên và quá trình sử dụng đất (Tôn Thất Chiểu, 1992) [9], (Trần An Phong, 1995) [27] Trong nghiên cứu, đánh giá đất đai phục vụ bảo vệ đất đồi núi, vấn

đề chống xói mòn đất được quan tâm, như: "Xói mòn đất hiện đại" (Nguyễn Quang

Mỹ [25]), "Quản lý và sử dụng đất dốc bền vững ở Việt Nam" (Nguyễn Công Vinh [41])

Đánh giá tính bền vững xã hội căn cứ vào những chỉ tiêu liên quan đến mức sống, thu nhập, sức khỏe của dân cư trong vùng đánh giá ảnh hưởng bởi các hoạt động

sử dụng đất Hướng đánh giá này được thực hiện trong các nghiên cứu của Lê Đức An

và nnk [1], Phạm Quang Tuấn [36], …Một số nghiên cứu xem xét một số vấn đề khác: khả năng tạo việc làm, giá trị ngày công lao động, chuyển giao KHKT, cung ứng sản phẩm cho thị trường, (Bùi Thị Thu, 2014 [33])

Từ tổng quan các công trình nghiên cứu trên có thể rút ra nhận xét:

- Nghiên cứu đánh giá đất đai đã đạt được nhiều thành tựu cả về lý thuyết và ứng dụng, nội dung, phương pháp nghiên cứu ngày càng đa dạng Trong đó, hướng đánh giá kinh tế - sinh thái phục vụ định hướng không gian phát triển nông lâm nghiệp, quy hoạch, sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đang ngày càng được ứng dụng rộng rãi

- Các nghiên cứu theo hướng đánh giá kinh tế - sinh thái ngày càng mang tính chất định lượng nhiều hơn, giúp giảm thiểu tính chủ quan trong đánh giá, vì thế kết quả đánh giá và định hướng không gian sử dụng cho các mục đích, các lãnh thổ có tính chính xác và hiệu quả hơn

1.1.3 Tổng quan các công trình liên quan đến lãnh thổ nghiên cứu

Khu vực phía đông và trung tâm huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai với điều kiện tự nhiên đa dạng, phức tạp, nhưng các nghiên cứu về tự nhiên tại đây còn rất ít, mà chủ yếu là nghiên cứu về tỉnh Lào Cai, trong đó có huyện Bắc Hà

Trang 23

a Các công trình nghiên cứu ở quy mô cấp tỉnh liên quan đến huyện Bắc Hà

- Nghiên cứu địa lý tự nhiên: Vũ Tự Lập và nnk trong cuốn “Cảnh quan Địa lý

miền Bắc Việt Nam” xác dịnh Lào Cai thuộc 2 khu địa lý tự nhiên là khu Việt Bắc và khu Fanxipan – Puluong [24] Phạm Hoàng Hải (1993) trong nghiên cứu “Đánh giá tổng hợp các ĐKTN, TNTN lãnh thổ nhiệt đới ẩm gió mùa Viêt Nam cho mục đích phát triển sản xuất và bảo vệ môi trường” [13] đã xây dựng bản đồ cảnh quan sinh thái theo ở tỷ lệ 1/1.000.000 và phân vùng ở tỷ lệ 1/2.000.000, trong đó chỉ rõ Lào Cai thuộc 3 vùng: vùng núi Fanxipan, vùng thung lũng sông Hồng và vùng thượng nguồn sông Chảy Các kết quả nghiên cứu trên vẫn còn mang tính khái quát cao, chưa thể hiện được những đặc thù riêng biệt về điều kiện tự nhiên ở Lào Cai

- Nghiên cứu tài nguyên - môi trường và sử dụng đất: nghiên cứu của Phạm Chí

Thành, Nguyễn Bá Hoạt (1996) về khai thác tài nguyên đất dốc cho thấy tại Lào Cai

có nhiều nguyên nhân gây ra xói mòn, rửa trôi đất Do nằm trong khu vực có nền địa chất và địa hình núi phức tạp, chia cắt sâu và ngang mạnh, lại được tăng cường bởi diễn biến thời tiết phân hóa theo mùa đã tạo điều kiện thúc đấy các quá trình động lực ngoại sinh diễn ra mạnh mẽ tại Lào Cai [29] Đến năm 2010, Trần Thanh Hà đã thực hiện nghiên cứu địa mạo phục vụ giảm nhẹ thiệt hại do tai biến trượt lở đất, lũ bùn đá tỉnh Lào Cai [12], xác định các dấu hiệu địa mạo cảnh báo trượt lở đất – lũ bùn đá và đánh giá nguy cơ thiệt làm cơ sở cho việc phân vùng tai biến ở tỉnh Lào Cai Trong báo cáo "Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường phục vụ lập quy hoạch bảo vệ môi trường tỉnh Lào Cai", Bắc Hà đã được nhận định có chức năng môi trường chính là: điều tiết dòng chảy,trồng rừng, tổ chức sản xuất nông - lâm nghiệp, thuỷ lợi, du lịch; cung cấp năng lượng thuỷ điện

- Nghiên cứu tổng hợp kinh tế- văn hóa: Theo Nguyễn Cao Huần (2003) trong

nghiên cứu “Tiếp cận địa lí trong nghiên cứu phát triển nông thôn miền núi (ví dụ xã Mường Vi, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai”, “Nghiên cứu hoạch định tổ chức không gian phát triển kinh tế và sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường cấp tỉnh Lào Cai 2004” [18,19] đã cho thấy diện tích đất nông nghiệp ở Lào Cai còn ít, khó có thể giải quyết lương thực tại chỗ cho đồng bào Kinh tế nương rẫy vẫn còn là vấn đề thách thức trong nghiên cứu các giải pháp kinh tế, kỹ thuật canh tác trên đất dốc có hiệu quả

và gây sức ép lớn đến diện tích rừng hiện còn

Trang 24

b Các công trình nghiên cứu riêng về huyện Bắc Hà và khu vực nghiên cứu

- Nghiên cứu tổng hợp về địa lý tự nhiên, dân cư, kinh tế, văn hóa dân tộc:

Trong nghiên cứu mối quan hệ giữa văn hóa truyền thống và kinh tế (Từ thực tiễn huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai), Lê Ngọc Thắng đã đề cập đến những đặc trưng văn hóa tiêu biểu thông qua việc tổ chức đời sống văn hóa cộng đồng cũng như lao động sản xuất của 2 dân tộc có dân số đông nhất huyện Bắc Hà là H’mong và Dao [30] Ngoài

ra, ở huyện Bắc Hà còn có các báo cáo của huyện về quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương

Qua phân tích, xem xét các tài liệu liên quan đến đề tài và địa bàn nghiên cứu

có thể rút ra một số nhận xét sau:

- Những tài liệu trên là những cơ sở khoa học có giá trị cả về mặt lý luận và ứng dụng thực tiễn, đây là tiền đề để tác giả hình thành hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu phù hợp

- Các công trình nêu trên chủ yếu mới dừng ở mức nghiên cứu khái quát trên quy mô toàn tỉnh Lào Cai hoặc lãnh thổ cấp lớn hơn, các nghiên cứu về huyện Bắc Hà

và khu vực phía đông và trung tâm huyện chủ yếu nằm trong nghiên cứu, dự án phát triển chung của cả tỉnh, các nghiên cứu riêng còn hạn chế

- Khu vực nghiên cứu còn rất thiếu những công trình tổng hợp phục vụ mục tiêu cụ thể, cần thiết phải có một công trình nghiên cứu tổng hợp, phân tích đánh giá đồng bộ theo hướng tiếp cận kinh tế - sinh thái, để nhìn nhận một cách đầy đủ và chính xác hơn về thích nghi tự nhiên, hiệu quả kinh tế, xã hội và hệ quả môi trường

1.2 Cơ sở lý luận về đánh giá kinh tế - sinh thái hệ thống sử dụng đất cho phát triển nông nghiệp bền vững

1.2.1 Hệ thống sử dụng đất

a Mô hình khái niệm hệ thống sử dụng đất

Khái niệm hệ thống sử dụng đất được các nhà khoa học đất xây dựng trên cơ sở

lý thuyết về hệ thống do L.Vonbertanlanfy đề xướng vào đầu thế kỷ XX Khái niệm hệ

thống được hiểu như sau: “Hệ thống là một tổng thể có trật tự của các yếu tố khác

nhau có quan hệ và tác động qua lại Một hệ thống được xác định như một tập các đối tượng hay các thuộc tính được liên kết bằng nhiều mối tương tác”

Trang 25

Theo định nghĩa của FAO (1993) hệ thống sử dụng đất đai là sự kết hợp của loại hình sử dụng đất với điều kiện đất đai tạo thành hai hợp phần tác động lẫn nhau,

từ tương tác này sẽ quyết định các đặc trưng về mức độ và các loại chi phí đầu tư, mức

độ và loại cải tạo đất đai và năng suất, sản lượng của loại sử dụng đất [47]

Nói một cách rõ hơn, hệ thống sử dụng đất đai là hệ thống tự nhiên – nhân tác, bao gồm hai bộ phận cấu thành như hai phụ hệ thống tác động qua lại lẫn nhau bởi dòng vật chất và năng lượng

+ Phụ hệ thống tự nhiên – đơn vị đất đai (tổng hợp thể lãnh thổ không đầy đủ)

là phức hợp tương tác các yếu tố địa hình, độ dốc, đất, thành phần cơ giới của đất trong sự đồng nhất về chế độ nhiệt ẩm của khí hậu địa phương

+ Phụ hệ thống nhân tác – loại hình sử dụng đất phản ảnh các thuộc tính sinh học, thuộc tính kỹ thuật và quản lý sản xuất, thuộc tính kinh tế xã hội,… (Hình 1.1)

Hình 1.1 Mô hình khái niệm hệ thống sử dụng đất đai và các bộ phận cấu thành

Các đặc tính của đơn vị đất đai và các thuộc tính của loại hình sử dụng đất đều phản ánh tính chất tổng hợp của đơn vị hệ thống sử dụng đất đai Sự tương tác chặt chẽ giữa đặc tính đất đai và loại hình sử dụng đất trong một hệ thống sử dụng đất quyết định đến số lượng và chất lượng của sản phẩm đầu ra của hệ thống.Vì vậy trong đánh giá đất đai không đánh giá đơn vị đất đai hay loại hình sử dụng đất mà phải đánh giá

hệ thống sử dụng đất

Theo quan điểm cảnh quan học, hệ thống sử dụng đất đai tương đồng với cảnh quan nhân sinh trong địa lý Các tiêu chí xác định hệ thống sử dụng đất, đơn vị đất đai

và các loại hình sử dụng đất được nêu rõ hơn ở chương 2

b Cấu trúc hệ thống sử dụng đất nông nghiệp

Hệ thống sử dụng đất của một lãnh thổ cụ thể khá đa dạng phụ thuộc vào tính

đa dạng của các loại hình sử dụng đất, nhưng đối với phát triển nông nghiệp chỉ xem

Đơn vị đất đai – LU (Phụ hệ tự nhiên)

Loại hình sử dụng đất – LUT (Phụ hệ nhân tác)

Hệ thống sử dụng đất đai - LUS

Trang 26

xét các hệ thống sử dụng đất trong nông nghiệp (có thể gọi tắt là hệ thống sử dụng đất nông nghiệp)

Khác với hệ thống sử dụng đất đô thị và công nghiệp, hệ thống sử dụng đất nông nghiệp có tính đặc thù trong cấu trúc, nhất là phụ hệ thống nhân tác liên quan đến các loại hình sử dụng đất nông nghiệp với dòng năng lượng, vật chất ở đầu vào và sản phẩm đầu ra

Tham khảo sơ đồ cấu trúc cảnh quan nhân sinh (Nguyễn Cao Huần, Trần Anh Tuấn , 2002) và sơ đồ cấu trúc hệ thống sử dụng đất đai (Trần Văn Tuấn và cộng sự, 2016), cấu trúc hệ thống sử dụng đất nông nghiệp với các bộ phận cấu thành và nguồn vật chất , năng lượng tự nhiên; nguồn vật chất và năng lượng nhân tạo, khoa học kỹ thuật, chính sách… ở đầu vào; các sản phẩm kinh tế, sản phẩm xã hội và sinh thái, môi trường ở đầu ra

Hình 1.2 Mô hình cấu trúc hệ thống sử dụng đất nông nghiệp

(Mô phỏng theo Nguyễn Cao Huần, Trần Anh Tuấn, 2002)

Như vậy, sản phẩm đầu ra của hệ thống sử dụng đất nông nghiệp tốt hay xấu phụ thuộc vào thuộc tính tự nhiên liên quan đến đơn vị đất đai và thuộc tính nhân sinh

Cải thiện, phục hồi / suy thoái ô nhiễm môi trường

Loại hình sử dụng đất

(Phụ hệ nhân tác)

Nguồn vật chất và năng lượng tự nhiên

(nhiệt, ẩm, dinh dưỡng )

Nguồn vật chất và năng lượng nhân tác

(khoa học kỹ thuật, chính sách, giống, phân bón )

Trang 27

gắn với con người và các hoạt động khai thác, sử dụng và quản lý tài nguyên đất đai Thuộc tính nhân tác quyết định đến khả năng làm ổn định hoặc biến đổi hệ thống sử dụng đất Trong phụ hệ nhân tác, loại hình sử dụng đất nếu được bố trí hợp lý phù hợp với các đơn vị đất đai sẽ có tác động tích cực và cải thiện môi trường sinh thái Ngược lại, nếu bố trí không hợp lý sẽ dẫn đến hậu quả xấu về xã hội, môi trường và ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển nông nghiệp bền vững

Sự kết hợp, sử dụng hợp lý đơn vị đất đai và loại hình sử dụng đất phụ thuộc vào phương thức tổ chức khai thác, sử dụng của con người, của cộng đồng dân cư, dân tộc trên từng địa bàn nhằm đảm bảo hài hòa ba lợi ích: kinh tế, xã hội và môi trường

1.2.2 Đánh giá kinh tế - sinh thái hệ thống sử dụng đất nông nghiệp

Trong nông nghiệp, yếu tố quan trọng nhất đó chính là đất đai Nó vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa là sản phẩm của lao động Nhiệm vụ cơ bản của nông nghiệp bền vững là quản lý tốt đất đai: sử dụng hợp lý, bảo vệ và không ngừng bồi dưỡng đất đai, làm cho đất đai ngày càng màu mỡ Tuy nhiên, hiện này trong điều kiện nguồn tài nguyên đất đai hạn chế và sức ép khai thác sử dụng ngày càng lớn, yêu cầu đảm bảo sử dụng đất nông nghiệp hợp lý và bền vững ngày càng trở nên cấp thiết

Trong điều kiện ở huyện Bắc Hà và cụ thể là tại khu vực phía Đông và trung tâm huyện, địa hình rất phức tạp, quỹ đất đai phần lớn là đất dốc, có những nơi hơn 70% diện tích là đất có độ dốc > 25° nên việc giải quyết mối quan hệ giữa bảo vệ môi trường và các mục đích kinh tế, xã hội như đảm bảo lương thực, xóa đói giảm nghèo là vấn đề mang tính mâu thuẫn, xung đột Tuy nhiên, mâu thuẫn này có thể từng bước được giải quyết trên cơ sở đưa ra phương án sử dụng đất hợp lý đảm bảo hài hòa 3 lợi ích: kinh tế, xã hội và môi trường, cụ thể phải đạt được 3 yêu cầu cơ bản sau:

- Về mặt kinh tế: sử dụng đất cho hiệu quả kinh tế tương đối cao, được thị trường chấp nhận;

- Về mặt xã hội: Thu hút được lao động, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống của người dân;

- Về môi trường: giảm thiểu và cơ bản ngăn chặn được sự thoái hóa, ô nhiễm đất; cải thiện môi trường

Để đạt được mục tiêu sử dụng đất hợp lý hướng tới bền vững thì việc tổ chức các hệ thống sử dụng đất trên quan điểm kinh tế - sinh thái (hay chính là đánh giá kinh

Trang 28

tế - sinh thái các HTSDĐ) là một hướng sử dụng lãnh thổ có hiệu quả cao Theo đó, để đánh giá hệ thống sử dụng đất đai cho phát triển nông nghiệp bền vững cần nghiên cứu đặc điểm, sự phân hóa cũng như mối liên hệ giữa các hợp phần tự nhiên đất đai với các loại hình sử dụng đất từ đó đánh giá mức độ thích hợp của các hệ thống sử dụng đất

Nội dung đánh giá kinh tế - sinh thái HTSDĐ bao gồm đánh giá thích nghi sinh thái, đánh giá hiệu quả môi trường, đánh giá hiệu quả kinh tế và đánh giá hiệu quả xã hội (Hình 1.3)

Hình 1.3 Sơ đồ đánh giá kinh tế - sinh thái hệ thống sử dụng đất nông nghiệp

(Mô phỏng theo sơ đồ của Nguyễn Cao Huần, Nguyễn Anh Tuấn, 2002)

+ Đánh giá thích nghi sinh thái các hệ thống sử dụng đất là: xác định mức độ phù hợp của các đơn vị đất đai đối với loại hình sử dụng đất Kết quả đánh giá thích nghi sinh thái được thể hiện ở dạng bản đồ đánh giá thích nghi Như vậy, đánh giá thích nghi sinh thái là tài liệu cơ sở quan trọng nhất để xây dựng các phương án sử dụng các hệ thống sử dụng đất phù hợp với tự nhiên

+ Đánh giá hiệu quả kinh tế: Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất Đầu vào của đánh giá kinh tế là các số liệu liên quan tới chi phí, lợi ích thu được bằng tiền trên đơn vị diện tích và đơn vị thời gian do loại hình sử dụng đất mang lại Sản phẩm đầu ra là các bảng biểu phản ánh hiệu quả kinh tế của loại hình sử dụng đất

+ Đánh giá hiệu quả xã hội: được phân tích dựa vào tập quán sử dụng đất đai, khả năng tiếp thu trình độ khoa học kỹ thuật của cộng đồng và những định hướng phát triển kinh tế của nhà nước

Đánh giá thích nghi

sinh thái của HTSDĐNN

Đánh giá hiệu quả

môi trường của HTSDĐNN

Đánh giá hiệu quả

KT- XH của HTSDĐNN

Mức độ thích nghi

Mức độ cải thiện/suy thoái MT

Hiệu quả KT- XH

Đánh giá tổng hợp

Lựa chọn HTSDĐNN tối ưu

Trang 29

+ Đánh giá hiệu quả môi trường là: xác định và dự báo mức độ ảnh hưởng tốt hoặc xấu của các hoạt động sử dụng đất tới môi trường, đồng thời cũng xác định khả năng chịu tải và độ bền vững của hệ thống sử dụng đất đối với các hoạt động này

Tóm lại, hoạt động sản xuất nông nghiệp của con người diễn ra hết sức đa dạng trên nhiều vùng đất khác nhau, đất đai trong sản xuất nông nghiệp chỉ được gọi là sử dụng bền vững khi dựa trên cơ sở duy trì các chức năng chính của đất là đảm bảo khả năng sản xuất của cây trồng một cách ổn định, không làm suy giảm về chất lượng tài nguyên đất theo thời gian và việc sử dụng đất không gây ảnh hưởng đến môi trường sống của con người và sinh vật Theo quan điểm kinh tế - sinh thái, để phát triển nông nghiệp bền vững phải quan tâm tới cả 4 vấn đề nêu trên đó là: tính thích nghi sinh thái, hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của các hệ thống sử dụng đất

1.3 Quan điểm, phương pháp và các bước nghiên cứu

1.3.1 Quan điểm nghiên cứu

a Quan điểm tổng hợp và hệ thống

Xét theo quan điểm hệ thống, hệ thống sử dụng đất đai là một hệ thống tự nhiên – nhân tác gồm 2 phụ hệ thống: Đơn vị đất đai và loại hình sử dụng đất tác động qua lại lẫn nhau qua dòng vật chất và năng lượng

Dựa trên quan điểm này, đề tài đã phân cấp lãnh thổ nghiên cứu theo các hệ thống sử dụng đất đai (tổ hợp của đơn vị đất đai và loại hình sử dụng đất) Trong đó, mỗi hệ thống sử dụng đất đai có sự đồng nhất tương đối về các điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội, thể hiện chỉ tiêu tổng hợp gắn liền với khả năng đất đai

b Quan điểm phát triển nông nghiệp bền vững

Đối với bất kể vùng lãnh thổ nào khi khai thác tiềm năng phục vụ phát triển kinh tế xã hội, nguyên tắc phát triển bền vững phải được đặt lên hàng đầu Sự kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường là mục tiêu của phát triển bền vững Sử dụng đất đai nông nghiệp vì mục tiêu phát triển bền vững không chỉ dựa vào đặc điểm của tự nhiên mà còn dựa vào đặc điểm kinh tế - xã hội, hiện trạng sử dụng đất đai của khu vực cũng như những định hướng chiến lược của huyện, của tỉnh Trong đó, việc đánh giá xem xét tới các khía cạnh thích nghi tự nhiên, hiệu quả môi trường, hiệu quả kinh tế và xã hội Từ đó xác định khả năng đất đai nhằm

Trang 30

bố trí những loại hình sử dụng đất phù hợp về yêu cầu sinh thái, môi trường, kinh tế và

xã hội

c Quan điểm kinh tế - sinh thái

Trong đánh giá hệ thống sử dụng đất, bên cạnh việc lựa chọn các chỉ tiêu mang tính chất tự nhiên, các chỉ tiêu về sinh thái môi trường, tình trạng khai thác lãnh thổ, đặc điểm văn hoá dân tộc, cũng là những chỉ tiêu quan trọng để xác định khả năng sử dụng đất Các hệ thống sử dụng đất trong sản xuất nông nghiệp là những hệ thống kinh

tế - sinh thái được thể hiện thông qua các hợp phần tự nhiên là các đơn vị đất đai (với những đặc trưng về loại đất, địa hình, tầng dày, điều kiện tưới tiêu, ) và yếu tố kinh tế nằm trong mục tiêu của sản xuất nông - lâm nghiệp Điều đó có nghĩa là trong nghiên cứu phải xác định địa điểm phân bố cây trồng, các hệ thống sử dụng đất phù hợp để đạt hiệu quả cao, phát triển ổn định và bảo vệ môi trường

1.3.2 Các phương pháp nghiên cứu

a Phương pháp phân tích, tổng hợp dữ liệu

Căn cứ vào mục tiêu và nội dung nghiên cứu, tác giả luận văn đã tiến hành thu thập có chọn lọc nhiều tài liệu liên quan đến lãnh thổ nghiên cứu Các tài liệu thu thập được bao gồm: giáo trình, sách về kinh tế - sinh thái và đánh giá đất đai, tài liệu lưu trữ của khu vực nghiên cứu (các đề tài, dự án, các báo cáo hiện trạng và quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH qua các giai đoạn), tài liệu bản đồ (bản đồ địa hình, địa chất, địa mạo, đất, sinh khí hậu, thảm thực vật, bản đồ hiện trạng sử dụng đất), tài liệu từ kết quả khảo sát, điều tra thực địa

Do các tài liệu được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau nên được tác giả đã chuẩn hoá để đảm bảo tính đồng bộ về thời gian, số liệu (đối với dạng tài liệu văn bản,

số liệu thống kê) và nội dung, tỉ lệ (đối với bản đồ), nhằm chỉ ra sự phân hóa lãnh thổ

về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, văn hóa, phong tục tập quán, các vấn

đề xã hội và môi trường nhằm phục vụ cho mục tiêu của luận văn

b Phương pháp khảo sát thực địa: Áp dụng phương pháp điều tra, khảo sát

thực địa nhằm tìm hiểu hiên trạng sử dụng đất đai trong sản xuất nông nghiệp, khảo sát các mô hình sử dụng đất đai, kiểm tra đối chiếu các tài liệu về tự nhiên và KT-XH ở trên thực địa Trong quá trình thực địa tác giả tiến hành lấy mẫu đất tại địa bàn nghiên cứu và điều tra phỏng vấn nông dân theo phương pháp đánh giá nhanh nông thôn

Trang 31

(PRA) nhằm đánh giá hiện trạng sử dụng đất và hiệu quả sử dụng đất thông qua phiếu điều tra nông hộ, với các nội dung chính: tình hình sử dụng đất nông nghiệp, chi phí sản xuất – thu nhập, tình hình tiêu thụ sản phẩm, vấn đề môi trường trong nông nghiệp

d Phương pháp đánh giá kinh tế - sinh thái

Trong đánh giá thích nghi sinh thái sử dụng phương pháp đánh giá thích nghi trong địa lý và phương pháp đánh giá thích nghi của FAO, áp dụng phương pháp cho điểm trọng số

Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế các HTSDĐ nông nghiệp sử dụng phương pháp phân tích chi phí – lợi ích

Phương pháp đánh giá hiệu quả môi trường được thực hiện thông qua đánh giá tác động môi trường các hoạt động sử dụng đất với các chỉ tiêu: mức sử dụng phân bón, mức sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, mức độ che phủ, khả năng phòng hộ

Phương pháp đánh giá xã hội của các HTSDĐ nông nghiệp được tác giả sử dụng phương pháp đánh giá định tính so sánh một số chỉ tiêu: mức độ thu hút lao động, khả năng đáp ứng nhu cầu trước mắt, khả năng đầu tư và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, khả năng tiêu thụ sản phẩm, kế hoạch phát triển trong tương lai

1.3.3 Các bước nghiên cứu

Qua quá trình tổng quan tài liệu, tác giả đã rút ra được các quan điểm và phương pháp đánh giá làm cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc nghiên cứu Luận văn đã tham khảo và vận dụng quy trình đánh giá hệ thống sử dụng đất của các tác giả Trần Văn Tuấn, Nguyễn Cao Huần và nnk, 2015 [37] làm quy trình đánh giá kinh tế - sinh thái hệ thống sử dụng đất phục vụ quản lý đất đai trong nông nghiệp (hình 1.4) Quy trình thực hiện luận văn gồm các bước như sau:

Trang 32

Bước 1: Xây dựng cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu, đánh giá KTST

các HTSDĐ cho phát triển nông nghiệp

Bước 2: Phân tích đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội, các HTSDĐ tại khu vực

nghiên cứu

Bước 3: Đánh giá kinh tế - sinh thái các HTSDĐ cho phát triển bền vững nông

nghiệp khu vực nghiên cứu

Hình 1.4 Sơ đồ quy trình nghiên cứu đề tài

1.2 Cơ sở lý luận

1.3 Phương pháp và quy trình nghiên cứu

2.1 Điều kiện tự nhiên

2.2 Đặc điểm KT - XH

2.3 Đặc điểm các hệ thống sử dụng đất

3.1 Đánh giá KTST các hệ thống sử dụng đất

tnông nghiệp

3.2 Định hướng không gian phát triển nông nghiệp

và giải pháp quản lý đất đai

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu

Đánh giá hiệu quả kinh tế

Đánh giá hiệu quả

xã hội

Đánh giá hiệu quả môi trường

Phân tích các quy hoạch

có liên quan Đề xuất điều chỉnh quy hoạch không gian và các giải pháp quản lý nông nghiệp

Trang 33

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CÁC HỆ THỐNG SỬ DỤNG ĐẤT KHU VỰC PHÍA ĐÔNG VÀ TRUNG TÂM HUYỆN BẮC HÀ, TỈNH LÀO CAI 2.1 Khái quát chung về huyện Bắc Hà và khu vực nghiên cứu

- Huyện Bắc Hà:

Bắc Hà là huyện vùng cao, nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Lào Cai, cách thành phố Lào Cai khoảng 70 km, có toạ độ địa lý từ 22019’ đến 22024’ vĩ độ Bắc và 10409’ đến 104028’ kinh độ Đông Tổng diện tích tự nhiên là 68.176,40 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp 33.183,52 ha Toàn huyện có 20 xã, 01 thị trấn

Huyện Bắc Hà thuộc cao nguyên đá vôi gồm nhiều dãy núi nằm kề nhau chạy theo hướng Bắc Nam, đan xen là những lòng chảo nhỏ hẹp, những khe vực, suối, sông

làm cho địa hình Bắc Hà trở nên đa dạng Bắc Hà có địa hình núi cao, bị chia cắt

mạnh, chênh lệch về độ cao rất lớn, độ cao trung bình từ 1000 m đến 1500 m so với mực nước biển, độ dốc trung bình 240-280 Hiện tượng karst xảy ra tạo thành các hố sâu, các khe suối ngầm, tạo địa thế núi non càng thêm hiểm trở

Bắc Hà có khí hậu ôn hòa, độ ẩm không khí trung bình 75-80% Khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, chiếm 80% lượng mưa cả năm, mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, lượng mưa chỉ chiếm 20% Lượng mưa trung bình năm từ 1.650-1.850mm Nhiệt độ trung bình năm 18,70C, nhiệt độ cao nhất 340C, thấp nhất 30C, cá biệt có những năm xuống dưới -10

C

- Khu vực nghiên cứu phía đông và trung tâm huyện Bắc Hà

Khu vực phía đông và trung tâm huyện Bắc Hà gồm 9 xã: Lầu Thí Ngài, Thải Giàng Phố, Nà Hối, Tà Chải, Thị trấn Bắc Hà, Bản Phố, Nậm Mòn, Bản Liền, Tà Cu

Tỷ Tổng diện tích đất tự nhiên của khu vực là 24650 ha chiếm 36,15% tổng diện tích

tự nhiên của huyện Bắc Hà

- Phía bắc khu vực nghiên cứu giáp xã Lũng Phình, xã Bản Già,

- Phía nam khu vực nghiên cứu giáp xã Nậm Khánh, xã Nậm Đét,

- Phía đông khu vực nghiên cứu giáp tỉnh Hà Giang,

- Phía tây khu vực nghiên cứu giáp xã Cốc Ly, Hoàng Thu Phố

Dân số trung bình của Bắc Hà năm 2016 là 24.830 người, mật độ dân số thấp và phân bố không đều Lãnh thổ nghiên cứu có lực lượng lao động khá dồi dào chủ yếu

Trang 34

tập trung trong lĩnh vực nông lâm nghiệp và thủy sản Nguồn lao động dồi dào là nguồn lực lớn cho quá trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương

Khu vực nghiên cứu hầu hết là các xã vùng cao của huyện Băc Hà, đời sống của nhân dân còn khó khăn, trình độ sản xuất còn thấp, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp với hai ngành chính là trồng trọt và chăn nuôi Cơ cấu kinh tế giữa các ngành và trong nội bộ từng ngành chuyển dịch còn chậm và thể hiện sự lạc hậu trong phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Kinh tế phát triển theo hướng nông lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tiến tới chú trọng phát triển dịch vụ, du lịch thương mại làm mũi nhọn

2.2 Đặc điểm và vai trò của các điều kiện tự nhiên đối với sự hình thành hệ thống sử dụng đất khu vực nghiên cứu

2.2.1 Địa chất, địa mạo

Khu vực phía đông và trung tâm Bắc Hà chủ yếu là địa hình đồi núi, độ cao trung bình từ 600 - 1100m so với mực nước biển (nơi có độ cao tuyệt đối thấp nhất

332 m, độ cao tuyệt đối cao nhất là 1893m), bị chia cắt mạnh, chênh lệch về độ cao rất lớn, độ dốc trung bình 200-260 Quá trình ngoại sinh thống trị là quá trình bóc mòn, xâm thực các dãy núi nằm kề nhau chạy theo hướng bắc nam, đan xen là những lòng

Trang 35

chảo nhỏ hẹp, những khe vực, suối, sông Cấu tạo địa chất của khu vực nghiên cứu gồm các đá có thành phần khác nhau, trong đó các đá macma axit phân bố ở địa hình cao và hiểm trở nhất; các đá phiến sét và trầm tích bở rời trên địa hình thấp tạo nên các bậc địa hình được phân biệt khá rõ Trong khu vực nghiên cứu nổi bật với 3 kiểu địa hình chính sau:

- Kiểu địa hình núi: khá phổ biến và tiêu biểu cho địa hình của khu vực phía đông và trung tâm huyện Bắc Hà bao gồm:

+ Kiểu địa hình núi cao trên 1600m: tập trung tại khu vực phía đông xã Tả Củ

Tỷ với một số đỉnh núi rất cao như: đỉnh núi Ngài Lôm 1.893m, đỉnh núi Bò Ngai 1852m, ngoài ra còn có núi Coóc Kẹo 1.682m, núi Đoỏng Chứ 1.194m Địa hình bị chia cắt bởi hệ thống khe suối, dông núi và dốc hiểm, các dãy núi chính chạy theo hướng đông bắc - tây nam và giảm dần độ cao về hướng tây

+ Kiểu địa hình núi trung bình từ 700 – 1600m phân bố khá rộng, phía đông sông Chảy thuộc các xã Lầu Thí Ngài, Nà Hối, Tà Chải, Thị trấn Bắc Hà, Nậm Mòn, Thài Giàng Phố Địa hình bị chia cắt mạnh, độ dốc lớn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra các quá trình sườn như đổ vỡ, sập lở

+ Kiểu địa hình núi thấp dưới 700m gồm các dãy, khối núi có nguồn gốc bóc mòn, cấu trúc dạng vòm, địa lũy hoặc khối tảng, mức độ chia cắt địa hình từ mạnh đến trung bình, sườn dốc với quá trình thống trị là bóc mòn, rửa trôi, trượt lở khu vực Nậm Mòn, Bản Liền

- Kiểu địa hình karst: được hình thành do quá trình xâm thực chủ yếu của nước đối trên các đá dễ hòa tan, phân bố ở xã Tà Chải, Nậm Mòn Địa hình phân cách mạnh, nhiều sườn dốc đứng, nhiều đỉnh nhọn cao hiểm trở

- Kiểu địa hình thềm tích tụ và bãi bồi ven lòng: có diện tích khá nhỏ nằm chủ yếu ở ở thị trấn Bắc Hà, Tà Chải với bề mặt tương đối bằng phẳng, độ cao thường không vượt quá 15m, được bồi đắp bằng phù sa suối Bắc Hà, suối Bản Phố, suối Nậm Cáy xen kẽ giữa các núi đá vôi Đây là dạng địa hình thuận lợi cho sản xuất và sinh hoạt, vì vậy đây cũng là khu vực dân cư tập trung đông nhất trên lãnh thổ nghiên cứu

Trang 37

2.2.2 Khí hậu – Thủy văn

a Khí hậu

Khí hậu huyện Bắc Hà nói chung và khu vực nghiên cứu nói riêng nằm trong miền khí hậu phía Bắc mang tính chất của khí hậu nhiệt đớt gió mùa có mùa đông lạnh

- Chế độ bức xạ và nắng: Khu vực nghiên cứu nằm hoàn toàn trong khu vực nội

chí tuyến bán cầu Bắc gần với chí tuyến Bắc nên có chế độ bức xạ, nắng khá dồi dào Lượng bức xạ tổng cộng trung bình đạt khoảng 100 kcal/cm2/năm, được xếp vào loại trung bình Chế độ bức xạ có sự thay đổi rõ nét theo các tháng, tạo nên chế độ mùa của bức xạ đồng thời cũng có sự thay đổi theo độ cao rõ rệt Tổng xạ cao nhất vào mùa hạ, thấp nhất vào mùa đông

năm biến đổi phức tạp, phân hóa thành 2 mùa tương đối rõ rệt, mùa hè có nền nhiệt cao, mùa đông có nền nhiệt thấp, biên độ ngày của nhiệt độ lớn, chênh lệnh nhiệt độ giữa các tháng mùa đông và mùa hè trung bình từ 10-120

C Đặc biệt, nhiệt độ có sự phân hóa rất lớn theo độ cao địa hình, càng lên cao tổng nhiệt và nhiệt độ trung bình năm càng thấp

Bảng 2.1 Nhiệt độ và lượng mưa trung bình tháng tại trạm Bắc Hà

mưa TB 25.3 29.7 53.7 124.8 191.4 237.8 277.5 336.4 208.3 118.2 61.3 24.7 1688.9

Về mùa đông, do có sự chênh lệch của khối khí lạnh khô cực đới và sự giảm phần thu của cán cân bức xạ nhiệt nên nhiệt độ giảm thấp, nhiệt độ trung bình tháng 1 dưới 180C, một số vùng núi cao có thời điểm xuống 30C Về mùa hè, nhiệt độ trung bình khá cao, trung bình 220C, các vùng thấp có nơi lên tới 340C

- Chế độ khô ẩm

+ Lượng mưa: Lượng mưa trung bình năm từ 1.450 - 1.650mm, chia làm 2 mùa

rõ rệt, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, chiếm 80% lượng mưa cả năm, mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Những tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng VI, VII, VIII ; những tháng có lượng mưa thấp nhất là I, II, XII và thường dưới mức tháng khô (50mm/tháng) (bảng 2.1)

Trang 38

+ Độ ẩm: Độ ẩm trong không khí khá cao, trung bình từ 80-85%, tháng có độ ẩm tương đối cao đạt 90% Tuy nhiên, độ ẩm tương đối thấp lại có thể xuống rất thấp, có nơi xuống tới 22%, ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống của con người, vật nuôi và cây trồng Độ ẩm tương đối lớn dễ gây ra mưa phùn và sương mù nên khu vực nghiên cứu thường xuyên xảy ra hiện tượng sương mù

- Chế độ gió: hướng gió không phản ánh đầy đủ điều kiện hoàn lưu mà mang

tính chất địa phương sâu sắc Hướng gió phụ thuộc nhiều vào điều kiện địa lý, quan trọng nhất là địa hình, đồng thời hướng gió ở đây không thay đổi theo mùa Tốc độ gió trung bình không lớn, trung bình năm 1,2 m/s, trong cùng một khu vực gió tăng theo chiều cao của địa hình

- Các hiện tượng thời tiết đặc biệt: sương muối, sương mù, mưa đá, giông, băng,

tuyết, gió khô nóng… là những hiện tượng xảy ra với tần suất không nhiều, có hiện tượng chỉ xảy ra một lần trong năm, nhưng lại ảnh hưởng rất lớn đến đời sống thực vật, năng suất cây trong và đời sống của con người

b Thủy văn

Lãnh thổ nghiên cứu có hệ thống suối ngòi khá dày đặc: suối Bắc Hà, suối Bản Liền, Tà Pùng, Ngòi Đô, Bản Phố, Nậm Cáy…Tuy nhiên đều là các suối nhỏ, hướng chảy chung là bắc – nam Hầu hết các suối ở đây có dòng chảy quanh co, uốn khúc theo các nếp uốn của địa hình, độ dốc lớn, lòng sông hẹp, hoạt động karst còn tạo ra các khe lạch nhỏ, mức độ tập trung nước kém

Trữ lượng nước mặt phân bố không đều theo cả không gian và thời gian phụ thuộc vào địa hình, mùa mưa, bề mặt đệm Địa hình núi tạo nên sự phân bố không đều theo không gian (nước tập trung chủ yếu ở khu vực đất thấp) và thời gian (mùa mưa là thời kỳ thừa nước, chiếm 70 – 85% lượng mưa cả năm) Với lượng nước dư thừa này sẽ gây ra ngập úng và các hiện tượng lũ quét, lũ bùn đá,…gây thiệt hại cho dân cư và sản xuất trong vùng Ngược lại, vào mùa khô thường xuyên xảy ra tình trạng thiếu nước, đặc biệt là các đồng bào vùng cao

2.2.3 Thổ nhưỡng – Thực vật

a Thổ nhưỡng

Quá trình tương tác giữa nền tảng vật chất rắn (địa hình, vỏ phong hóa) và đặc điểm khí hậu đã tạo nên nét đặc thù của thổ nhưỡng khu vực nghiên cứu thể hiện ở sự

Trang 39

phân hóa theo quy luật đai cao rõ nét với 3 đai đất: đất feralit đỏ vàng núi thấp (<700m), đất mùn đỏ vàng núi trung bình (700-1600m), đất mùn alit núi cao (1.600-2.800m) Cùng với sự tác động tương hỗ của các nhân tố tự nhiên và con người thông qua quá trình khai thác, sử dụng đã tạo nên lớp phủ thổ nhưỡng đa dạng, gồm 4 nhóm

và 10 loại đất như sau:

(1) Nhóm đất mùn trên núi cao (>1600m)

- Đất mùn alit trên đá magma axit (HA): Đất này hình thành và phát triển chủ

yếu trên đá granit và đát biến chất, phân bố ở độ cao >1600m chỉ có ở khu vực xã Tả

Củ Ty Trong điều kiện khí hậu lạnh, cường độ quá trình phong hoá rất yếu nên độ dày tầng đất thường mỏng, lẫn nhiều đá chưa phong hoá, hàm lượng hữu cơ rất cao nhưng

độ phân giải kém, tầng tích tụ không phát triển hoặc không có, tầng đất mặt thường màu đen, đen xám chuyển tiếp xuống tầng đá gốc màu trắng, đồng thời trên mặt xuất hiện tầng hữu cơ thô chưa phân giải Đất có phản ứng chua (pHKCl  4), thành phần cơ giới thịt nhẹ; tầng mặt giàu mùn và chất dinh dưỡng (OM >5,5%) do tích lũy sinh học

từ tầng thảm mục phân giải yếu

(2) Nhóm đất mùn đỏ vàng trên núi trung bình (700 - 1600m)

- Đất mùn vàng xám trên đá macma axit (HFa): phân bố trên dạng địa hình núi

trung bình, thuộc phần lớn lãnh thổ 2 xã Tả Củ Ty, Bản Liền Độ dày tầng đất còn tương đối tốt, đặc biệt tại khu vực có thảm thực vật rừng kín cây lá rộng thường xanh á nhiệt đới ẩm hoặc trảng cỏ cây bụi dày thứ sinh có độ che phủ trên 70%, tầng đất chủ yếu từ 70-100cm Tại những khu vực đất trống, trảng cỏ, cây bụi tái sinh sau khai thác, quá trình bào mòn rửa trôi bề mặt đã làm cho tầng dày đất giảm mạnh < 50cm Loại đất HFa có độ phì ở mức trung bình và phần lớn có độ dốc trên 20° nên thích hợp cho việc phát triển lâm nghiệp, trồng một số cây dược liệu và cây ăn quả á nhiệt đới theo

mô hình nông - lâm nghiệp kết hợp

- Đất mùn vàng đỏ trên đá phiến sét (HFs): là loại đất chiếm ưu thế tại khu vực

nghiên cứu với thành phần cơ giới thịt trung bình đến thịt nhẹ ở tầng mặt, nhưng ở các tầng dưới của phẫu diện tỷ lệ cấp hạt sét tăng, đất thường là thịt trung bình đến thịt nặng Đất HFs trong khu vực có tiềm năng dinh dưỡng đạt trung bình khá, tầng dày đất khá, những khu vực trên dạng địa hình vai, giông núi có độ dốc địa hình nhỏ hơn 15°

Trang 40

cần được khai thác phát triển các loại cây trồng dài ngày có giá trị kinh tế cao như: đào, lê, táo xanh, mận

- Đất mùn nâu đỏ trên đá vôi (HFv): Đây là loại đất phát triển trên các sườn

tích tụ sản phẩm đổ lở đá vôi, tập trung chủ yếu ở xã Nậm Mòn, Na Hối, tầng đất mỏng hơn 50cm với thảm thực vật rừng thứ sinh và trảng cỏ cây bụi thứ sinh Tại nơi

có độ dốc thoải tầng đất dày 50-70cm và hiện đang được khai thác vào mục đích phát triển nông nghiệp với hệ thống cây ngắn ngày ngô, lạc, một vài loại cây ăn quả Loại đất này có thành phần cơ giới thịt trung bình đến thịt nặng Nhìn chung loại đất này có

độ phì đạt mức trung bình, nhưng có nhiều đá lộ đầu gây hạn chế trong quá trình sử dụng

(3) Nhóm đất đỏ vàng trên núi thấp (<700m)

- Đất đỏ vàng trên đá phiến sét (Fs): Đất được hình thành trên sản phẩm phong

hóa của đá mẹ phiến sét phân bố trên địa hình núi thấp tại các xã Bảo Liền, Nậm Mòn, Bản Phố, thảm thực vật rừng hoặc cây bụi Đất có phản ứng chua, thành phần cơ giới

từ thịt trung bình đến sét, khả năng giữ nước, giữ phân bón khá, hàm lượng hữu cơ và đạm tổng số ở lớp đất mặt trung bình

- Đất nâu đỏ trên đá vôi (Fv): Loại đất này được hình thành trên sản phẩm

phong hóa của đá vôi, có diện tích không lớn thuộc xã Tả Chải, Bảo Nhai Đất thường

có màu nâu đỏ là chủ đạo, lớp đất mặt thường có màu nâu thẫm hoặc xám đen Cấu trúc lớp đất mặt viên hoặc cục nhỏ, khá tơi xốp Thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nặng, tỷ lệ sét tăng theo chiều sâu của phẫu diện Đất đỏ nâu có phản ứng ít chua ở tầng mặt (pHKCL 5,45), hàm lượng hữu cơ và đạm tổng số ở lớp đất mặt trung bình xuống sâu các tầng dưới hàm lượng chất hữu cơ và đạm tổng số giảm đột ngột Đây là loại đất có độ phì khá, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp

- Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa (Fl): phân bố rải rác trên các sườn thoải hay

trên địa hình ruộng bậc thang như tại xã Bản Liền Phẫu diện có sự phân hóa rõ rệt theo tầng Tầng đất mặt do ngập nước định kỳ và cầy bừa thường xuyên nên mất cấu trúc, cơ giới thường thô nhẹ, nhiều phẫu diện hình thành tầng cát thạch anh, thoát nước mạnh, khả năng giữ nước giữ phân kém Tầng đất sâu thường từ 40cm - 50cm, hầu hết còn giữ nguyên đặc tính của đất feralit vàng đỏ trên đá macma axit, kiến trúc dạng viên hạt hay cục nhỏ, phản ứng chua, dung tích hấp thu thấp, nghèo mùn và các chất

Ngày đăng: 11/12/2018, 15:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Lê Đức An và nnk (2000), Sổ tay hướng dẫn đánh giá tác động môi trường chung các dự án phát triển, Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quôc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay hướng dẫn đánh giá tác động môi trường chung các dự án phát triển
Tác giả: Lê Đức An và nnk
Năm: 2000
[2]. Bùi Nữ Hoàng Anh (2013), Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp tại Yên Bái giai đoạn 2012-2020, Luận án tiến sĩ nông nghiệp, trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp tại Yên Bái giai đoạn 2012-2020
Tác giả: Bùi Nữ Hoàng Anh
Năm: 2013
[3]. Lê Thái Bạt (1995), Báo cáo tóm tắt đánh giá và đề xuất sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền vùng Tây Bắc, Hội thảo quốc gia về đánh giá và quy hoạch sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và phát triển bền vững, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr 60-63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tóm tắt đánh giá và đề xuất sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền vùng Tây Bắc
Tác giả: Lê Thái Bạt
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1995
[4]. Vũ Thị Bình (1995), Đánh giá đất phục vụ định hướng quy hoạch nâng cao hiệu quả sử dụng đất huyện Gia Lâm, vùng đồng bằng Sông Hồng, Luận án Phó Tiến sĩ Nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá đất phục vụ định hướng quy hoạch nâng cao hiệu quả sử dụng đất huyện Gia Lâm, vùng đồng bằng Sông Hồng
Tác giả: Vũ Thị Bình
Năm: 1995
[5]. Nguyễn Đình Bồng (1995), Đánh giá tiềm năng đất sản xuất nông nghiệp của đất trống, đồi núi trọc tỉnh Tuyên Quang theo phương pháp phân loại thích hợp, Luận án phó Tiến sĩ, Đại học Nông nghiệp I Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tiềm năng đất sản xuất nông nghiệp của đất trống, đồi núi trọc tỉnh Tuyên Quang theo phương pháp phân loại thích hợp
Tác giả: Nguyễn Đình Bồng
Năm: 1995
[6]. Lê Thạc Cán và nnk (1983), Đánh giá tác động môi trường: phương pháp luận và kinh nghiệm thực tiễn, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tác động môi trường: phương pháp luận và kinh nghiệm thực tiễn
Tác giả: Lê Thạc Cán và nnk
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1983
[7]. Tôn Thất Chiểu và nnk (1984), Đánh giá phân loại đất khái quát toàn quốc, Báo cáo khoa học, Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá phân loại đất khái quát toàn quốc
Tác giả: Tôn Thất Chiểu và nnk
Năm: 1984
[8]. Tôn Thất Chiểu và nnk (1992), Đất đồng bằng sông Cửu Long, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Tôn Thất Chiểu và nnk
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1992
[9]. Tôn Thất Chiểu (1992), Về môi trường đất Việt Nam – Sự suy thoái, giải pháp khắc phục, Hội thảo khoa học sử dụng tốt tài nguyên đát để bảo vệ phát triển môi trườn, Hội khoa học đất Việt Nam, tháng 4/1992, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về môi trường đất Việt Nam – Sự suy thoái, giải pháp khắc phục
Tác giả: Tôn Thất Chiểu
Năm: 1992
[10]. Huỳnh Văn Chương (2011), Giáo trình đánh giá đất, Nhà xuất bản Nông nghiệp, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình đánh giá đất
Tác giả: Huỳnh Văn Chương
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2011
[11]. Nguyễn Văn Cư và Cộng sự (2003), Điều tra cơ bản tổng hợp có định hướng điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên các huyện tỉnh Thừa Thiên Huế, Viện Địa lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra cơ bản tổng hợp có định hướng điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên các huyện tỉnh Thừa Thiên Huế
Tác giả: Nguyễn Văn Cư và Cộng sự
Năm: 2003
[12]. Trần Thanh Hà (2010), Nghiên cứu địa mạo phục vụ giảm nhẹ thiệt hại do tai biến trượt lở đất, lũ bùn đá tỉnh Lào Cai, Luận án tiến sĩ địa lý, trường Đại học Khoa học tự nhiên Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu địa mạo phục vụ giảm nhẹ thiệt hại do tai biến trượt lở đất, lũ bùn đá tỉnh Lào Cai
Tác giả: Trần Thanh Hà
Năm: 2010
[13]. Phạm Hoàng Hải (1993), Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên lãnh thổ nhiệt đới ẩm gió mùa Việt Nam cho mục đích phát triển sản xuất và bảo vệ môi trường, Viện Địa lý, Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên lãnh thổ nhiệt đới ẩm gió mùa Việt Nam cho mục đích phát triển sản xuất và bảo vệ môi trường
Tác giả: Phạm Hoàng Hải
Năm: 1993
[14]. Đỗ Nguyên Hải (2000), Đánh giá đất và hướng sử dụng đất bền vững trong sản xuất nông nghiệp, Luận án tiến sĩ nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp I Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá đất và hướng sử dụng đất bền vững trong sản xuất nông nghiệp
Tác giả: Đỗ Nguyên Hải
Năm: 2000
[15]. Trương Quang Hải, Nguyễn An Thịnh, Nguyễn Thị Thúy Hằng (2010), Đánh giá cảnh quan cho mục đích nông, lâm nghiệp và du lịch tại khu vực có núi đá vôi tại tỉnh Ninh Bình, Hội thảo khoa học Địa lý lần thứ 5, Tuyển tập các báo cáo khoa học, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện Địa lý, tr 39-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá cảnh quan cho mục đích nông, lâm nghiệp và du lịch tại khu vực có núi đá vôi tại tỉnh Ninh Bình
Tác giả: Trương Quang Hải, Nguyễn An Thịnh, Nguyễn Thị Thúy Hằng
Năm: 2010
[16]. Nguyễn Cao Huần và nnk (2000), Tiếp cận kinh tế - sinh thái đánh giá và quy hoạch cảnh quan cây công nghiệp dài ngày, Tuyển tập báo cáo khoa học Địa lý –Địa chất, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận kinh tế - sinh thái đánh giá và quy hoạch cảnh quan cây công nghiệp dài ngày
Tác giả: Nguyễn Cao Huần và nnk
Năm: 2000
[17]. Nguyễn Cao Huần, Trần Anh Tuấn (2002), Nghiên cứu phân loại cảnh quan nhân sinh Việt Nam, Thông báo khoa học các trường đại học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phân loại cảnh quan nhân sinh Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Cao Huần, Trần Anh Tuấn
Năm: 2002
[18]. Nguyễn Cao Huần và nnk (2003), Tiếp cận địa lí trong nghiên cứu phát triển nông thôn miền núi (ví dụ xã Mường Vi, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, Tạp Chí Khoa học ĐHQGHN, số 4, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận địa lí trong nghiên cứu phát triển nông thôn miền núi (ví dụ xã Mường Vi, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai
Tác giả: Nguyễn Cao Huần và nnk
Năm: 2003
[19]. Nguyễn Cao Huần (2004), Nghiên cứu hoạch định tổ chức không gian phát triển kinh tế và sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường cấp tỉnh, (Nghiên cứu mẫu tỉnh Lào Cai), Tạp Chí Khoa học ĐHQGHN, số 4, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hoạch định tổ chức không gian phát triển kinh tế và sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường cấp tỉnh, (Nghiên cứu mẫu tỉnh Lào Cai)
Tác giả: Nguyễn Cao Huần
Năm: 2004
[20]. Nguyễn Cao Huần (2005), Đánh giá cảnh quan (theo hướng tiếp cận kinh tế sinh thái), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá cảnh quan (theo hướng tiếp cận kinh tế sinh thái)
Tác giả: Nguyễn Cao Huần
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w