MỤC LỤCCHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH NƯỚC MƯA2.1. Mưa acid.12.1.1 Nguyên nhân gây mưa acid62.1.2 Tác động của mưa acid92.1.3 Kiểm soát mưa acid102.2. Lấy mẫu và phân tích.112.3. Phân tích số liệu và giải thích.142.3.1 Các câu hỏi và những vấn đề.182.4. pH, độ dẫn và các anion chính.222.4.1 Phương pháp.222.4.2 Chuẩn bị dụng cụ.222.4.2.1 Dụng cụ đựng mẫu.222.4.2.2 Tiến hành thí nghiệm222.4.3 Lấy mẫu.232.4.3.1 Dụng cụ lấy mẫu:232.4.3.2 Tiến hành thí nghiệm:232.4.4. Độ dẫn điện.242.4.4.1. Hóa chất và dụng cụ.242.4.4.2. Quy trình thí nghiệm.242.4.5. pH.282.4.5.1. Hóa chất và dụng cụ.282.4.5.2. Quy trình thí nghiệm.282.4.6 Các Anion chính (Chloride, Nitrate, Sulfate).272.4.6.1. Hóa chất và dụng cụ.272.4.6.2. Quy trình thí nghiệm.272.5. Cations chính.272.5.1 Kim loại kiềm và kim loại kiềm thổ (Na, K, Mg, Ca).282.5.2 Ammonium.292.5.2.1 Phương pháp luận.302.5.2.2 Hóa chất và dụng cụ.302.5.2.3 Quy trình thực hiện.31
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA MÔI TRƯỜNG
Danh sách nhóm:
Chu Thế Dũng 1022053
Lương Thái Hòa 1022112
Võ Nguyễn Ngọc Quỳnh 1022243
Trần Hoài Thanh 1022261
Trang 2MỤC LỤC CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH NƯỚC MƯA
2.1 Mưa acid 1
2.1.1 Nguyên nhân gây mưa acid 6
2.1.2 Tác động của mưa acid 9
2.1.3 Kiểm soát mưa acid 10
2.2 Lấy mẫu và phân tích 11
2.3 Phân tích số liệu và giải thích 14
2.3.1 Các câu hỏi và những vấn đề 18
2.4 pH, độ dẫn và các anion chính 22
2.4.1 Phương pháp 22
2.4.2 Chuẩn bị dụng cụ 22
2.4.2.1 Dụng cụ đựng mẫu 22
2.4.2.2 Tiến hành thí nghiệm 22
2.4.3 Lấy mẫu 23
2.4.3.1 Dụng cụ lấy mẫu: 23
2.4.3.2 Tiến hành thí nghiệm: 23
2.4.4 Độ dẫn điện 24
Trang 32.4.4.1 Hóa chất và dụng cụ 24
2.4.4.2 Quy trình thí nghiệm 24
2.4.5 pH 28
2.4.5.1 Hóa chất và dụng cụ 28
2.4.5.2 Quy trình thí nghiệm 28
2.4.6 Các Anion chính (Chloride, Nitrate, Sulfate) 27
2.4.6.1 Hóa chất và dụng cụ 27
2.4.6.2 Quy trình thí nghiệm 27
2.5 Cations chính 27
2.5.1 Kim loại kiềm và kim loại kiềm thổ (Na, K, Mg, Ca) 28
2.5.2 Ammonium 29
2.5.2.1 Phương pháp luận 30
2.5.2.2 Hóa chất và dụng cụ 30
2.5.2.3 Quy trình thực hiện 31
Trang 4có ảnh hưởng không tốt đối với hệ sinh thái tự nhiên.
Một trong những mối quan tâm lớn về môi trường ngày nay là hiện tượngmưa acid Khi không bị ô nhiễm, mưa tinh khiết có tính acid nhẹ do sự hấp thu
CO2 trong khí quyển Độ pH của nước trong trạng thái cân bằng với CO2 trong khíquyển là khoảng 5.6 (xem ví dụ 2.1) và do đó chỉ có các cơn mưa có độ pH thấphơn giá trị này mới được gọi là "mưa acid" Nước mưa có pH dao động giữa 3 và
9, đối với các mẫu thông thường giá trị của pH là khoảng từ 4 đến 6 (hình 2.1) Giátrị pH cao có thể phát sinh từ sự có mặt của vật liệu bụi kiềm trong nước mưa, như
ví dụ tại New Delhi, trận mưa có giá trị pH cao nhất là 9 Giá trị pH dưới 3 đã đượcghi nhận trong những mẫu sương mù acid
pH được định nghĩa là logarit cơ số 10 của ion hydro:
pH = - log10 αH+
Đối với dung dịch nước pha loãng mẫu, chẳng hạn như nước mưa, hoạt độbằng nồng độ của H+ pH là một thước đo lượng acid tự do.Nồng độ acid mạnhdưới hình thức điện ly, và không phải tổng lượng acid
Nồng độ acid của nước mưa được đo lần đầu tiên vào khoảng hơn 100 nămtrước đây trong cuộc cách mạng công nghiệp Theo các tài liệu báo cáo lần đầu tiên
về mưa acid đã được thực hiện bởi một nhà khoa học Pháp, Ducros, năm 1845 cho
Trang 5xuất bản một bài báo mang tên “Observation d’une pluie acide” Robert AngusSmith, là người đầu tiên trên thế giới tìm hiểu về tình trạng ô nhiễm không khí , đãbáo cáo mưa acid trong thành phố Manchester trong cuốn sách "Air và Rain" củaông được xuất bản vào năm 1872 Tuy nhiên, chỉ trong 30 năm thì mối quan tâm
về mưa acid đã được thể hiện rộng rãi Trong những năm 1960, các nhà khoa họcBắc Âu đã bắt đầu tìm hiểu về sự biến mất bí ẩn của cá từ các hồ và suối cho đếngió thổi từ Vương quốc Anh và Trung Âu Điều này dẫn đến một sự quan tâm mớitrong các hiện tượng mưa acid Ngày nay, thuật ngữ "mưa acid" bao gồm khôngchỉ có nước mưa mà là sự lắng đọng của tất cả các chất ô nhiễm có tính acid, cho
dù là mưa, sương mù, mây, sương, tuyết, các hạt bụi hoặc khí
Mặc dù lần đầu tiên được công nhận là một vấn đề khu vực ở châu Âu và Bắc
Mỹ, nơi có nhiều ảnh hưởng đã được nghiên cứu rộng rãi và ghi nhận, mưa acidbây giờ được quan tâm trên toàn thế giới, ngay cả ở các nơi cách xa với các nguồn
ô nhiễm công nghiệp, chẳng hạn như các băng vùng cực và những khu rừng mưanhiệt đới Chỉ trong vòng một thế hệ, mưa acid đã trở thành một mối phiền toái tạicác địa phương và khu vực đó là một vấn đề lớn đối với môi trường toàn cầu
Trang 6Hình 2.1 Thang đo pH cho thấy khoảng pH điển hình của nước mưa và các mẫu môi trường khác
Ví dụ 2.1
Tính pH của nước mưa trong trạng thái cân bằng với CO2 trong khí quyển (CO2
=0,036%) ở 25oC, cho KH = 0,031 mol L -1atm; K1 = 4.3x10-7mol L-1; K2 = 5 xl011 mol L-1
Những cân bằng có liên quan cần phải xem xét để phân ly khí CO2 trong nước vàkhí CO2 hòa tan trong dung dịch nước
3] << [HCO
-3]Ngoài ra, từ K2 << K1, ta có thể giả sử rằng nồng độ của CO32-, này sẽ là không đáng kể:
Loại bỏ OH- và CO
2-3 từ cân bằng electron, ta chỉ còn lại:
[ H + ] = [HCO
-3]Thay vào biểu thức cho K1 ta có được:
Và [ H + ] = ( K H x K1 x ~ pCO2 )1/2
Thay các giá trị của KH, K1 và pCO2 thể hiện trong bầu khí quyển (từ 0,036%là
áp lực một phần của CO2, và áp suất là 1 atm, 0,036% = 0.036/100 atm = 3,6 x
10 -4 atm)
[H+] = (0.031 x 4.3 x 10 -7 x 3.6 x 10-4)1/2 = 2.19 x l0 -6 mol L
-pH = - logl0[H+] = -logl02.19 x l0 -6 = 5.66
Trang 72.1.1 Nguyên nhân gây mưa acid
Một minh họa đơn giản của các hiện tượng mưa acid được đưa ra trong h́ình2.2 Mưa acid có nguồn gốc từ sự chuyển hóa các chất khí gây ô nhiễm phát ra từcác ống khói của than và dầu của các nhà máy phát điện, lò nung, nhà máy lọc dầunhà máy hóa chất, và xe có động cơ Trong quá khứ, SO2 là nguyên nhân gây ramưa acid, tuy nhiên, sự hiện diện của NOx đã làm cho mưa acid tăng lên Ngàynay, sự hiện diện của hai chất gây ô nhiễm có nồng độ acid trong nước mưa gầnbằng nhau, do việc tăng số lượng xe ô tô trên đường phố và giảm khí thải SO2.Khí SO2 được oxy hoá trong bầu khí quyển thành H2SO4, giúp nó dễ dàng hấpthụ bởi nước mưa Quá trình oxy hóa tiến hành thông qua một loạt các cơ chế.Trong pha khí, SO2 được oxy hóa chủ yếu bởi các gốc hydroxyl (OH).Sulfurdioxide cũng có thể hòa tan trong các hạt mây theo cân bằng sau đây để tạo
SO2 hòa tan, bisulfite (HSO
KH là hằng số Henry của SO2 và K1, K2 là hằng số phân ly Tiêu biểu tại các giá trị
pH của nước mưa (3-6), SO2 hòa tan hiện nay chủ yếu là ion bisulfite (Hình2.3).Tổng số loại hoà tan được xem ở S (IV):
[S(IV)] = [ SO2 *H2O ] + [HSO3-] + [SO32-]Tại các đám mây, S (IV) có thể được oxy hóa thành sulfat (SO2-
4) hòa tanhydrogen peroxide (H2O2) và ozone (O3) Trong không khí ô nhiễm, các kim loạinhư sắt và mangan có thể xúc tác cho quá trình oxy hóa SO2 trong đám mây Phảnứng này có pH phụ thuộc vào tốc độ gia tăng quá trình oxy hóa với pHngày càng cao Các oxit nitơ, tạo ra trong quá trình đốt cháy, được chuyển hóa
Trang 8thành acid nitric trong khí quyển, chủ yếu là bởi các phản ứng ở pha khí Acidhydrochloric , hiện diện trong nhà máy điện ở nồng độ thấp, nên chỉ đóng góp mộtphần nhỏ đến mưa acid.
Hình 2.2 Nguyên nhân gây mưa acid.
Hình 2.3 Tỉ lệ S (IV) như một hàm số của pH.
Các quá trình tự nhiên cũng có thể làm tăng nồng độ acid của nước mưa.Nhiều khí được tạo ra trong quá trình phun trào của núi lửa và cháy rừng Ngoài
ra, quá trình làm giảm các hợp chất lưu huỳnh như hydrogen sulfide vàdimethylsulfide được giải phóng bởi sinh vật phù du và phân hủy sinh học trongcác đầm lầy và đất ven biển và nội địa Các hợp chất này bị SO2 oxi hóa trong khíquyển Ngoài ra, các acid hữu cơ như acid formic, axetic, có nguồn gốc từ cácnguồn tự nhiên, có thể góp phần quan trọng làm tăng tính acid của nước mưa, đặcbiệt là ở nông thôn Hiện nay, khoảng một nửa lượng khí thải toàn cầu như lưuhuỳnh và NOx có nguồn gốc do con người Khoảng 68% phát thải do con ngườinhư SO2 và NOx, có nguồn gốc ở châu Âu và Bắc Mỹ, mà sự phát thải của cácnước đang phát triển, đặc biệt là ở châu Á đang tăng lên Luồng chất gây ô nhiễm
có thể di chuyển hàng trăm hoặc thậm chí hàng ngàn km từ một nguồn nào đótrước khi được chuyển thành mưa acid Điều này được gọi là quá trình phát tán củacủa các chất ô nhiễm trong không khí (LRTAP) nó đã trở thành một vấn đề chínhtrị quan trọng vì sự chuyển động xuyên biên giới của các chất ô nhiễm qua cácquốc gia
Trang 9Hợp chất sunfuar được tách ra khỏi bầu khí quyển bằng quá trình lắng đọng.Khí hòa tan trong các hạt mây, trong khi các hạt bụi được tích hợp thành nhữnggiọt mây, hoặc là hạt nhân ngưng tụ mây (CCN), xung quanh có các giọt nước lớn,hoặc bằng cơ chế quét khí thẳng Các quá trình này được gọi là mưa Sự kết hợpcủa các hạt bụi và các phân tử khí thành giọt nước mưa rơi xuống được gọi là rửatrôi Cả mưa và rửa trôi được gọi là lắng đọng ướt Lắng đọng khô liên quan đếnviệc bồi lắng các hạt bụi và sự khuếch tán của các phân tử khí lên các bề mặt Quátrình lắng đọng khô nói chung còn quan trọng hơn nguồn gốc của các chất gây ônhiễm
2.1.2 Tác động của mưa acid
Từ khi các nghiên cứu đầu tiên về mưa acid và cá chết đã được thực hiện 30năm trước đây, một số tác động có hại của mưa acid đã được phát hiện Một sốnhững ảnh hưởng này, được đưa ra trong Bảng 2.1, đã được chứng minh, trong khi
số khác vẫn còn tranh cãi do sự thiếu hiểu biết về một số cơ chế gây thiệt hại củamưa acid
Mưa acid có thể làm hồ và sông có tính axit, dẫn đến nhôm bị hòa tan cộngvới pH trong nước thấp đã làm cho cá bị chết hàng loạt Các tác động độc hại phụthuộc vào các loài cá, nồng độ canxi trong nước và pH Mưa acid cũng có thể làmtăng tốc độ ăn mòn đá vôi và sắt, do đó nó làm hư hại các di tích lịch sử quan trọng
và các công trình xây dựng khác; nó có thể ảnh hưởng không tốt đến sự phát triểncủa thực vật, dẫn đến suy giảm rừng và thiệt hại đến cây trồng; và thậm chí nó cóthể làm tăng hàm lương kim loại độc hại trong nguồn nước
Bảng 2.1 Các tác động có hại của mưa acid:
Cá chết Độc tính chủ yếu là do việc
giải phóng của A1 từ trầm tích A1 gây ra tắc nghẽn mang với dịch nhầy
Cá hồi và cá hồi nâu đã biến mấttrong hàng ngàn các hồ và các consong ở Bắc Âu, Canada, Hoa Kỳ vàlochs ở Scotland
Suy giảm
rừng
Để hiểu rõ, các giảthuyết khác nhau đã được đưa
ra, một trong số đó là mưa
Lần đầu tiên được quan sát ởĐức vào giữa những năm 1970 Gần25% tất cả các cây ở châu Âu đã bị
Trang 10acid đê giải phóng A1 độchại từ đất gđy tổn thương rễ
vă cản trở sự hấp thu câc chấtdinh dưỡng Câc âp lựckhâc góp phần bao gồm hạnhân, lạnh, bệnh tật vẵ nhiễmkhâc như: O3)
thiệt hại Thông thường, cđy mất
đi lâ kim vă ngọn cảu cđy xđn sam
Na Uy trở nín thưa hơn vă lâchuyển sang mău nđu
Thiệt hại
xđy dựng
SO2 phản ứng với đâ vôi(CaCO3) để tạo thănh thạccao (CaSO4.H20) trong đó quâtrình hòa tan vă có thể dễdăng được rửa sạch bởi nướcmưa
Ô nhiễm không khí có thể gđy tâchại đến câc di tích lịch sử, nó đêđược ghi nhận ở chđu Đu, Bắc Mỹ
vă chđu  Trường hợp đâng chú ý
lă thănh phố Cracow ở Ba Lan,Acropolis tại Athens vă đền TajMahal ở Ấn Độ
Thiệt hại y
tế
Tăng tốc độ di chuyển củakim loại nặng trong chuỗithức ăn vă tích lũy câc kimloại nặng trong nước uống văthực phẩm
Gần đđy, khâi niệm về tải trọng đê được phât triển để định lượng vă đânh giâkhả năng gđy thiệt hại cho câc vùng nhạy cảm Tải trọng lă ngưỡng nồng độ củachất ô nhiễm mă nó bắt đầu gđy tâc hại được quan sât thấy vă nó thường được xâcđịnh bằng câch sử dụng câc mô hình phức tạp Đất đệm yếu, chẳng hạn như đượctìm thấy ở Bắc Đu, biểu hiện tải trọng đặc biệt thấp cho tính acid Bản đồ câc tảitrọng quan trọng của câc khu vực khâc nhau trín thế giới đang được chuẩn bị để dựđoân tâc động vă hỗ trợ trong việc kiểm soât ô nhiễm acid
2.1.3 Kiểm soât mưa acid
Như một hệ quả câc nhă khoa học vă công chúng đê quan tđm nhiều hơn đếncâc tâc hại của mưa acid, chính phủ vă câc tổ chức quốc tế đê thiết lập rất nhiềunghiín cứu về mưa acid, vă câc giải phâp về phâp lý vă công nghệ đê được thựchiện để lăm giảm vấn đề Ủy ban Kinh tế của Liín Hợp Quốc ở chđu Đu (UNECE)Công ước về ô nhiễm không khí xuyín biín giới tầm xa, đê có hiệu lực văo năm
1983, nhằm mục đích kiểm soât mưa axit thông qua việc giảm lượng khí thải lưu
Trang 11huỳnh Nghị định thư UNECE đã ký tại Helsinki vào năm 1985 bên ký kết cầnphải giảm lượng khí thải chứa lưu huỳnh hàng năm là 30% bắt đầu từ năm 1980 và
có hiệu lực đến năm 1993 Một phương thức khác thậm chí còn nghiêm ngặt hơn
đã được thông qua vào năm 1994, là yêu cầu cắt giảm từ 13% và 70% năm đượcthực hiện trong giai đoạn năm1980 đến năm 2000, 2005 và 2010 Liên minh châu
Âu EU đã ban hành một chỉ thị vào năm 1988 đòi hỏi phải giảm lượng phát thảikhí SO2 từ 40% đến 60% năm 1998 và 50% đến 70% năm 2003, với tham chiếuđến năm 1980 lượng khí thải Ngoài ra, nó còn bắt buộc phải giảm lượng phát thải
NOx 40% vào năm 1998 Pháp chế tương tự cũng đã được thông qua ở Mỹ.
Lượng khí phát thải ra ban đầu được giảm bằng cách áp dụng các biện pháptrước đây, hoặc sau khi đốt cháy nhiên liệu Những biện pháp này bao gồm:
• Chuyển đổi nhiên liệu (tức là thay đổi từ các loại than chứa lưu huỳnh caosang sử dụng khí tự nhiên chứa lưu huỳnh thấp)
• Nhiên liệu khử lưu huỳnh (ví dụ như rửa than để loại bỏ lưu huỳnh, khí hóathan)
• Công nghệ đốt mới (ví dụ như đốt một lò tầng sôi (FBC), NOx thấp, ổ ghi)
• Khí thải khử lưu huỳnh (ví dụ như cho khí thải tiếp xúc với vôi, đá bùn,nước biển hoặc một số giải pháp khác hấp thụ SO2)
• Khử NOx thành N2 (ví dụ tiêm NH3 vào khí thải trên một chất xúc tác)
• 3 cách chuyển đổi xúc tác để giảm NOx, khí thải từ động cơ xe
Giới thiệu về các giải pháp kiểm soát đã dẫn đến giảm lượng khí thải ở nhiềunước phát triển, tuy nhiên, lượng khí thải ở các nước đang phát triển đang có xuhướng tăng lên Việc điều khiển phát thải khí như là bón vôi vào hồ và bị đất ảnhhưởng để trung hòa tính axit Điều này không có, tuy nhiên, một giải pháp lâu dàicho vấn đề này là việc bón vôi phải được lặp đi lặp lại đúng thời gian như vậy thìnước trở nên có tính acid
2.2 Lấy mẫu và phân tích.
Những mối quan tâm ngày càng cao về mưa acid đã dẫn đến việc thành lậpnhiều chương trình giám sát quốc gia và quốc tế về phân tích nước mưa một cáchthường xuyên Một trong những mạng lưới trên toàn thế giới được điều hành như
là một phần của chiến lược theo dõi khí quyển toàn cầu (GAW) và của Tổ chức Y
tế Thế giới (WHO) Các thông số hóa học chính được xác định trong các cuộc điềutra này là: pH, độ dẫn, sulfate, nitrate, chloride, ammonium, sodium, potassium,
Trang 12calcium và nồng độ magnesium Càng ngày, các acid hữu cơ (formic và axetic) vàcác kim loại vết cũng đang được xác định Các kỹ thuật phân tích mưa acid đượctóm tắt trong Bảng 2.2 Nồng độ cho phép của các ion khác nhau trong nước mưađược đưa ra trong Bảng 2.3.
Bảng 2.2 Các kỹ thuật để phân tích nước mưa:
Lò hấp thụ nguyên tử Graphite Kim loại vết
Quang phổ (GFAAS) Một số kim loại vết
Bảng 2.3 Nồng độ ion trong nước mưa:
có trong nước mưa Nhiều mẫu nước mưa, đặc biệt là những mẫu có vị trí ở xa,gần như là tinh khiết như nước cấp phòng thí nghiệm Vì vậy, phải cẩn thận khi xử
lý, bảo quản và phân tích các mẫu nước mưa để duy trì mẫu không để mẫu bị biếntính
Các lỗi thường gặp trong phân tích nước mưa bao gồm:
Trang 13• Ô nhiễm bởi các vật liệu sinh học (ví dụ như côn trùng) trong quá trình lấymẫu.
• Tương tác với vật liệu chứa mẫu
• Do sơ suất nhiễm bẩn trong quá trình xử lý, phân tích mẫu
Ammonia và acid hữu cơ đặc biệt dễ bị phản ứng trong quá trình lưu trữ vàviệc sử dụng phụ gia như chloroform hoặc thymol được khuyến khích sử dụng đểbảo quản các mẫu phân tích này
Mẫu nước mưa có thể có hai loại: mẫu ướt hoặc mẫu số lượng lớn Mẫu ướtđược thu thập bằng bộ lấy mẫu chuyên biệt, do đó có thể loại bỏ sự nhiễm bẩn bởicác hạt bụi rơi xuống trong suốt thời gian khô Mẫu được lấy như vậy được gọi làlắng đọng ướt hoặc mẫu nước mưa Ban đầu, nước mưa được thu vào thùng hoặcphễu đưa vào trong chai, vì vậy được gọi là thu gom số lượng lớn, và cách lấy mẫunày vẫn còn áp dụng đến nay, đặc biệt là tại các địa điểm ở xa hoặc khó tiếp cận.Những mẫu thu gom không chỉ có nước mưa (lắng đọng ướt) mà còn có các hạt bụi
và khí trong suốt thời gian của trận mưa (lắng đọng khô) và được cho là để thulắng đọng số lượng lớn Những cách lấy mẫu này có ưu điểm là không sử dungnăng lượng điện và nó có thể được đặt tại các địa điểm từ xa khó tiếp cận Tuynhiên, trong nhiều trường hợp, chúng ta muốn lấy mẫu cả hai lắng đọng ướt và khô
để có được một ước lượng về tổng sự lắng đọng của một chất Trong trường hợpnày, lượng lớn lấy mẫu còn sót lại tại trong thực tế trong thời gian từ một ngày đếnmột tháng Trong nhiều cuộc khảo sát, người ta thường để mẫu phơi nhiễm mộttuần tại một thời điểm Tuy nhiên, việc sử dụng lượng lớn mẫu để đánh giá sự lắngđọng tổng số đã bị chỉ trích, và được lắng đọng khô đang được đánh giá trên cơ sởnồng độ trong không khí
Trang 14Độ pH của nước mưa là một trong những phép đo khó thực hiện chính xácnhất, và sự nghi ngờ này đã được thể hiện qua nhiều bài báo cáo trong nhiều tàiliệu Điều này được minh họa trong bảng 2.4, tóm tắt phép đo độ pH trong dungdịch acid loãng thực hiện bởi Văn phòng Tiêu chuẩn Quốc gia ở Mỹ Thậm chítrong các thí nghiệm được thực hiện bởi các kỹ thuật viên được đào tạo trong điềukiện tốt nhất Những vấn đề thường gặp khi phân tích pH là:
• Sự khác biệt trong cường độ ion giữa các mẫu và bộ đệm được sử dụng để tiêuchuẩn hóa các điện cực pH
• Khuấy lỗi
• Hấp thụ khí trong phòng thí nghiệm (ví dụ: NH3, CO2)
• Những phản ứng hóa học (ví dụ như giải thể của các hạt bụi kiềm trong đình chỉ)
• Những phản ứng sinh học (ví dụ: như sự suy thoái của các acid yếu nhưaxitformic, axetic)
2.3 Sự phân tích và giải thích dữ liệu:
Về lý thuyết, nếu tất cả các thành phần của dung dịch được phân tích chínhxác thì tổng các cation và tổng anion tương đương nhau Điều này được gọi là cânbằng trung hòa điện, và nó được sử dụng để kiểm tra giá trị của 1 chất phân tích
∑cations = ∑anions
Trang 15Nếu tỷ lệ của tổng cation/ tổng anion nhỏ hơn 0.85 hoặc lớn hơn 1.15, dữ liệucần được xem xét lại, trong trường hợp này kết quả bị loại bỏ và mẫu cần phảiphân tích lại.
Khi thực hiện tính toán cân bằng ion, điều quan trọng là sử dụng nồng độ H+
dựa trên việc đo đạc tại thời điểm phân tích và không lấy giá trị pH đo được ngaysau khi lấy mẫu nếu như việc phân tích không thực hiện ngay sau khi lấy mẫu Bởi
vì giá trị pH này có thể thay đổi trong quá trình bảo quản mẫu như là kết quả của
i: Độ dẫn đương lượng của ion thứ i dùng để điều chỉnh (cho trong bảng 2.5)
Ci: nồng độ eq.L-1 của ion thứ i
Độ dẫn tính toán được so sánh với giá trị đo, Km, cho ta sự chênh lệch độ dẫn,
%CD:
%CD= 100(K c -K m )/K m
cho mỗi đơn vị được quy định
Ion Độ dẫn đương lượng((mho.cm-1)/ eq.L-1