1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán thành phố hồ chí minh

102 208 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bằng việc sử dụng phương pháp hồi quy GMM để ước lượng mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu, luận văn tìm thấy các b

Trang 1

NGUYỄN HUỲNH KIM PHƯƠNG

PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI TRÁNH THUẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SÀN GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – 2018

Trang 2

NGUYỄN HUỲNH KIM PHƯƠNG

PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI TRÁNH THUẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SÀN GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Tài chính-Ngân hàng Mã số: 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS SỬ ĐÌNH THÀNH

TP Hồ Chí Minh – 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bài luận văn thạc sĩ với đề tài “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của

riêng tôi theo sự hướng dẫn của GS.TS Sử Đình Thành Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, cụ thể và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung và tính trung thực của Luận văn này

Tp Hồ Chí Minh, ngày… tháng……năm 2018

NGUYỄN HUỲNH KIM PHƯƠNG

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

TÓM TẮT

CHƯƠNG 1.GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.4 Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 3

1.5 Phương pháp nghiên cứu 3

1.6 Kết cấu đề tài 4

CHƯƠNG 2.CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 5

2.1 Cơ sở lý thuyết 5

2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tránh thuế 7

2.2.1 Quy mô doanh nghiệp 7

2.2.2 Đòn bẩy 9

2.2.3 Lợi nhuận 10

2.2.4 Quyết định đầu tư 11

2.2.5 Sở hữu nhà nước 11

2.2.6 Sự kiêm nhiệm 12

2.3 Tổng quan các nghiên cứu trước đây 13

CHƯƠNG 3.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

3.1 Dữ liệu nghiên cứu 24

3.2 Mô hình nghiên cứu 25

3.3 Đo lường biến và kỳ vọng dấu 27

Trang 5

3.3.1 Quy mô doanh nghiệp 27

3.3.2 Đòn bẩy 29

3.3.3 Tài sản hữu hình 30

3.3.4 Lợi nhuận doanh nghiệp 30

3.3.5 Cơ hội tăng trưởng 31

3.3.6 Sự kiêm nhiệm 32

3.3.7 Sở hữu nhà nước 33

3.4 Phương pháp hồi quy 35

CHƯƠNG 4.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38

4.1 Thống kê mô tả và ma trận tương quan 38

4.2 Kết quả nghiên cứu 44

4.2.1 Kết quả kiểm định mô hình phù hợp 44

4.2.2 Kết quả hồi quy 46

CHƯƠNG 5.KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 60

5.1 Kết luận 60

5.2 Kiến nghị 61

5.3 Hạn chế đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 63 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

TỪ VIẾT TẮT DIỄN GIẢI

AR(2) Tự tương quan bậc 2

CEO Tổng giám đốc điều hành

ETR Tỷ lệ thuế suất có hiệu lực

FGLS Phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất tổng quát khả thi GMM Phương pháp moment tổng quát

HĐQT Hội đồng quản trị

HSX Sàn giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

OLS Phương pháp bình phương nhỏ nhất

VIF Hệ số phóng đại phương sai

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Thống kê mẫu nghiên cứu theo từng năm 25

Bảng 3.2 Mô tả biến 35

Bảng 4.1 Thống kê mô tả các biến 38

Bảng 4.2 Ma trận tương quan giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc 42

Bảng 4.3 Kết quả kiểm định hệ số VIF 43

Bảng 4.4 Kết quả kiểm định phương sai thay đổi và tự tương quan 45

Bảng 4.5 Kết quả hồi quy ảnh hưởng của các yếu tố đặc điểm doanh nghiệp đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp 47

Bảng 4.6 Kết quả hồi quy ảnh hưởng của các yếu tố đặc điểm doanh nghiệp và quản trị doanh nghiệp đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp 53

Trang 8

TÓM TẮT

Luận văn phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tránh thuế của 169 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết ở sàn giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2010 – 2016 Bằng việc sử dụng phương pháp hồi quy GMM để ước lượng mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu, luận văn tìm thấy các bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng các doanh nghiệp có quy mô càng lớn, nhiều cơ hội tăng trưởng, lợi nhuận càng nhiều, đầu tư nhiều vào tài sản hữu hình và có sự kiêm nhiệm giữa vị trí chủ tịch HĐQT và CEO thì sẽ càng có hành vi tránh thuế càng cao Ngược lại, các doanh nghiệp nắm giữ nhiều hàng tồn kho, sử dụng nhiều nợ trong cấu trúc vốn và có mức độ sở hữu nhà nước càng cao thì sẽ càng ít có hành vi tránh thuế Các phát hiện của luận văn có nhiều hàm ý chính sách dành cho các nhà đầu tư, các nhà quản trị doanh nghiệp và các cơ quan thuế tại Việt Nam

Từ khóa: Tránh thuế, đặc điểm doanh nghiệp, HSX, GMM

Trang 9

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI

và Porter (1992) cho rằng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp có sự khác biệt giữa các công ty và thay đổi qua thời gian, và điều này được Shevlin và Porter (1992) nhận định rằng hệ thống thuế thu nhập doanh nghiệp không phù hợp và đây

là lý do tốt cho sự cải cách thuế

Mặt khác, thuế thu nhập doanh nghiệp được biết đến như là một công cụ dùng để thực thi chính sách tài khóa của chính phủ Thậm chí việc lựa chọn và thiết lập thuế thu nhập doanh nghiệp bao nhiêu vẫn là vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm bởi chính phủ Thuế được xem như là một nguồn thu nhập quan trọng đối với ngân sách của từng địa phương cũng như đối với ngân sách nhà nước bởi lẻ phần thu thuế được sử dụng để bù đắp phần chi ngân sách cũng như dùng để trang trải các chính sách phát triển quốc gia Tuy nhiên, việc gia tăng thuế suất của thuế thu

1 Tỷ lệ ETR càng cao càng hàm ý rằng doanh nghiệp đang nộp nhiều thuế thu nhập doanh nghiệp, nói cách khác doanh nghiệp đang ít tránh thuế

Trang 10

nhập doanh nghiệp nhằm đáp ứng mục đích trên thì bị hạn chế bởi các khía cạnh quan trọng khác như mức độ liên quan của thuế thu nhập doanh nghiệp đối với sự hấp dẫn của các nhà đầu tư nước ngoài Do đó, cho thấy rằng việc nghiên cứu các yếu tố tác động đến phần thuế thu nhập doanh nghiệp mà các công ty phải trả hay nói cách khác chính là vấn đề tránh thuế của các doanh nghiệp sẽ hữu ích đối với các nhà hoạch định chính sách

Tuy nhiên, chủ đề phân tích các yếu tố quyết định đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp tại Việt Nam hầu như vẫn chưa được nhận nhiều sự quan tâm bởi các nhà nghiên cứu cũng như các nhà đầu tư… Cho nên, học viên nhận thấy cần thiết phải thực hiện xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tránh thuế của các

doanh nghiệp tại Việt Nam Đó chính là lý do học viên lựa chọn đề tài “Phân tích

các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán Tp.HCM”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là cung cấp bằng chứng thực nghiệm về phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán Tp.HCM Để đạt được mục tiêu này, luận văn tiến hành nghiên cứu các vấn đề như sau:

- Phân tích tác động của các yếu tố này đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp

- Đề xuất các hàm ý chính sách dành cho các nhà quản lý của các công ty

và các nhà hoạch định chính sách

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Từ các mục tiêu nghiên cứu đặt ra, luận văn đưa ra một số câu hỏi nghiên cứu nhằm giải quyết các mục tiêu nghiên cứu Cụ thể như sau:

Trang 11

- Yếu tố nào được các nghiên cứu trước đây cho rằng có tác động đáng kể đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp?

- Tác động của các yếu tố này đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp

có đáng kể hay không? Nếu có thì đó là tác động cùng chiều (+), hay ngược chiều (-)?

1.4 Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu

 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn thực hiện thu thập số liệu của 169 doanh nghiệp phi tài chính được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM trong giai đoạn từ 2010 – 2016

 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành trên số liệu báo cáo tài chính (đã kiểm toán) của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM trong giai đoạn từ 2010 – 2016 Trong đó các đối tượng nghiên cứu trực tiếp là mức thuế suất thu nhập doanh nghiệp của các doanh nghiệp thông qua tỷ lệ thuế thu nhập doanh nghiệp trên thu nhập trước thuế và tỷ lệ phần thuế thu nhập doanh nghiệp phải trả trên thu nhập trước thuế, và các yếu tố có tác động đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp này

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kỳ vọng áp dụng phương pháp hồi quy OLS bằng cách ước lượng các mô hình OLS gộp, mô hình ảnh hưởng cố định (Fixed Effect Model), Mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên (Random Effect Model) như cách dùng của các nghiên cứu trước đây khi hồi quy các yếu tố xác định hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp chẳng hạn như Wu và các cộng sự (2012), Richardson và các cộng sự (2015) Tuy nhiên, do sự hiện diện của biến trễ của biến phụ thuộc có thể gây ra hiện tượng nội sinh tiềm tàng trong mô hình nghiên cứu như đã được dẫn chứng trong các nghiên

Trang 12

cứu trước đây (Minnick và Noga, 2010; Wintoki và các cộng sự, 2010; Salihu và các cộng sự, 2014; Fernández-Rodríguez và Martínez-Arias, 2014) Cho nên việc sử dụng phương pháp hồi quy OLS để ước lượng các mô hình nghiên cứu trong luận văn có thể cho ra kết quả bị chệch (Bias) và không hiệu quả Do đó, luận văn sử dụng phương pháp hồi quy khác để ước lượng mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp Việt Nam có trong mẫu nghiên cứu Cụ thể, qua sự tìm hiểu, luận văn phát hiện phương pháp hồi quy hai bước (2SLS) và phương pháp hồi quy GMM thường được các nghiên cứu trước đây sử dụng khi khắc phục hiện tượng nội sinh trong mô hình nghiên cứu Tuy nhiên, hai phương pháp hồi quy này có điểm khác biệt đáng kể, theo đó, phương pháp hồi quy hai bước (2SLS) yêu cầu mô hình nghiên cứu không tồn tại hiện tượng tự tương quan và phương sai thay đổi, trong khi phương pháp hồi quy GMM không ràng buộc điều kiện này Vì thế, luận văn sử dụng hai kiểm định Wooldridge và kiểm định Modified Wald để kiểm định hiện tượng tự tương quan và phương sai thay đổi thông qua câu lệnh xtserial và xttest3 Trong trường hợp tồn tại hiện tượng tự tương quan và/hoặc hiện tượng phương sai thay đổi, luận văn sẽ sử dụng phương pháp hồi quy GMM để ước lượng mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp và ngược lại phương pháp hồi quy hai bước sẽ được đề cử để hồi quy mô hình nghiên cứu

1.6 Kết cấu đề tài

Luận văn bao gồm 05 chương như sau:

Chương 1 Giới thiệu đề tài

Chương 2 Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu trước đây

Chương 3 Phương pháp nghiên cứu

Chương 4 Kết quả nghiên cứu

Chương 5 Kết luận và khuyến nghị

Trang 13

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG

QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

2.1 Cơ sở lý thuyết

Liên quan đến lý thuyết giải thích hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp, tồn tại hai quan điểm được sử dụng để làm rõ hành vi tránh thuế Quan điểm đầu tiên cho rằng hành vi tránh thuế chỉ đơn thuần là hành vi sử dụng các chiến lược để tiết kiệm phần thuế thu nhập doanh nghiệp mà doanh nghiệp phải nộp cho Nhà nước mà không liên quan đến vấn đề đại diện của doanh nghiệp (Desai và Dharmapala, 2009) Do đó các nhà quản trị thực hiện các hành vi tránh thuế nhằm mục đích giảm thiểu gánh nặng thuế (tax burdens) và các nhà đầu tư tin rằng hành

vi tránh thuế là hoạt động nâng cao giá trị của doanh nghiệp Vì lý do này các nhà quản trị vừa có động lực để thực hiện các hành vi tránh thuế vừa được thưởng đối với các hoạt động tránh thuế này (Kim và các cộng sự, 2011) Quan điểm này chủ yếu xem xét các chi phí có liên quan trực tiếp đến thuế thu nhập doanh nghiệp chẳng hạn như chi phí lãi vay, chi phí khấu hao… Nghiên cứu có liên quan đến quan điểm này là nghiên cứu của Graham và Tucker (2006) khi xem xét 44 trường hợp doanh nghiệp tránh thuế Qua đó các tác giả cho rằng quy mô và lợi nhuận có tương quan cùng chiều với hành vi tránh thuế và lập luận rằng các doanh nghiệp này nhận được nhiều ưu đãi từ các khoản khấu trừ liên quan đến cấu trúc vốn (Desai

và Dharmapala, 2009b) Hơn thế nữa, Philips và John (2003) cho rằng cơ chế thưởng cho các nhà quản lý có thể thúc đẩy hành vi tránh thuế ở các doanh nghiệp này

Quan điểm khác giải thích hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp có liên quan đến sự phân tách quyền sở hữu và quyền kiểm soát Các nghiên cứu trước đây

Trang 14

phân tích mô hình người đại diện (agency) cho thấy khả năng mà các nhà quản trị (người đại diện) thực hiện các hoạt động tránh thuế được giải thích bởi hai động cơ chính là (1) lý thuyết hợp tác và (2) lý thuyết đại diện Các nghiên cứu trước đây về tránh thuế thì đã nhấn mạnh về hành vi cá nhân hơn là hành vi của doanh nghiệp Chẳng hạn như Slemord (2004) đã nhấn mạnh sự khác biệt giữa việc tuân thủ thuế của các cá nhân và các doanh nghiệp, và tác giả cho rằng sự khác biệt này có thể được phân tích trong mô hình của lý thuyết đại diện Trong đó tiền đề cơ bản của

mô hình này cho rằng quyết định tránh thuế của các doanh nghiệp chủ yếu được thực hiện bởi các nhà quản lý của công ty

Theo động cơ được đề cập trong lý thuyết hợp tác, các nhà quản lý của công

ty sẽ thực hiện theo như mong muốn của các cổ đông của các công ty để gia tăng giá trị của công ty Nếu các hoạt động tránh thuế được thực thi dưới động cơ hợp tác giữa nhà quản lý và các cổ đông, thì các hoạt động này sẽ có thể tạo ra hoặc gia tăng giá trị tài sản của các cổ đông

Lý thuyết đại diện cho rằng lợi ích của các cổ đông và các nhà quản lý không nhất thiết phải giống nhau và dựa trên giả định rằng các nhà quản trị sẽ thực hiện các hành vi tối đa hóa lợi ích cá nhân của họ và thậm chí các hành vi này có thể làm sụt giảm giá trị tài sản của các cổ đông, ngược lại với các lợi ích của các cổ đông mong muốn Các nhà quản trị có thể tránh thuế bởi vì họ có thể gia tăng uy tín hoặc triển vọng nghề nghiệp của họ bằng cách làm cho giá trị của công ty gia tăng đáng

kể nhờ vào sự suy giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp Đồng thời theo Alchian và Demsetz (1972), Jensen và Meckling (1976) và Eisenhardt (1989), thiếu

sự hiện diện của cơ chế giám sát hoặc các biện pháp thích hợp, các nhà quản lý có thể thực hiện các hành vi có nguy cơ đối với các cổ đông Lập luận này cho rằng các cổ đông sẽ mong muốn tối đa hóa lợi nhuận nhưng các nhà quản lý của họ thì không có chung lợi ích hoặc không có động cơ để thực hiện điều này

Trang 15

2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tránh thuế

2.2.1 Quy mô doanh nghiệp

Quy mô doanh nghiệp được các nghiên cứu trước đây cho rằng là yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến sự lựa chọn chính sách kế toán của doanh nghiệp, do đó sẽ có tác động đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp Theo đó, mối quan hệ giữa quy mô doanh nghiệp và hành vi tránh thuế đã được nhiều nhà nghiên cứu tiến hành xem xét Nhưng kết quả nghiên cứu về mối quan hệ giữa hai biến số này lại chưa nhất quán, trong đó mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô doanh nghiệp và hành vi tránh thuế đã tìm thấy bởi Janssen và Buinjink (1998), Holland (1998), Porcano (1986), Siegfried (1972) Một số nghiên cứu khác bao gồm Rego (2003), Omer và các cộng sự (1993), Zimmerman (1983) đã tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa quy mô doanh nghiệp và hành vi tránh thuế Ngoài ra, các nghiên cứu khác (Millis

và các cộng sự, 1998; Gupta và Newberry, 1997; Jacob, 1996) không tìm thấy tác động đáng kể của quy mô doanh nghiệp đến hành vi tránh thuế

Zimmerman (1983) đã tiết lộ rằng quy mô doanh nghiệp và hành vi tránh thuế có mối tương quan ngược chiều với nhau và tranh luận rằng các công ty có quy

mô lớn thường sẽ chi trả nhiều thuế thu nhập doanh nghiệp hơn bởi vì họ phải chịu đựng sự giám sát chặt chẽ bởi chính phủ và thị trường tài chính Theo đó tác giả đã lập luận kết quả nghiên cứu này có thể được giải thích bởi lý thuyết chi phí chính trị (political cost theory) Omer và các cộng sự (1993) cũng tìm thấy bằng chứng thực nghiệm ủng hộ phát hiện của Zimmerman (1983) và giả thuyết lý thuyết chi phí chính trị Rego (2003) nghiên cứu hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp ở Mỹ từ năm 1990 – 1997 Qua đó, tác giả tiết lộ rằng sau khi kiểm soát các yếu tố như thu nhập trước thuế, hoạt động nước ngoài, thì tìm thấy rằng các ngân hàng có quy mô càng lớn sẽ càng có tỷ lệ thuế suất có hiệu lực càng lớn Kết quả của tác giả kết luận rằng các công ty có quy mô càng lớn sẽ càng phải đối mặt với chi phí chính trị và sẽ làm gia tăng tỷ lệ thuế suất có hiệu lực Theo đó lý thuyết này cho rằng tỷ lệ thuế suất hiệu lực của các doanh nghiệp đại diện cho chi phí chính trị bởi vì thuế mà các

Trang 16

doanh nghiệp phải nộp được xem như là một phần tài sản được chuyển giao bởi công ty đến một tổ chức khác Đồng thời, tỷ lệ thuế suất hiệu lực cũng đại diện cho

sự thành công của doanh nghiệp, do đó, các doanh nghiệp có quy mô lớn thì thường thành công hơn so với các công ty có quy mô nhỏ và cho nên sẽ phải đối mặt với sự kiểm soát chính trị nhiều hơn Khi đó các doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ chịu sự giám sát chặt chẽ từ các cơ quan thuế bởi vì các cơ quan thuế không muốn giảm phần thu thuế doanh nghiệp Kết quả là các doanh nghiệp có quy mô lớn được kỳ vọng có gánh nặng thuế tương đối cao hơn so với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ

vì phần thuế phải nộp phản ánh chi phí chính trị mà các công ty phải gánh chịu

Ngược lại, Siegfried (1972) tìm thấy mối tương quan cùng chiều giữa quy

mô doanh nghiệp và hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp Tác giả lập luận rằng các công ty có quy mô lớn sẽ có xu hướng tránh thuế nhiều hơn bởi vì các doanh nghiệp này có đủ nguồn lực để gia tăng khả năng phát triển chuyên môn trong việc lập kế hoạch thuế và quản trị chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp tốt hơn Salamon

và Siegfried (1977) lập luận rằng các công ty có quy mô lớn có quyền lực chính trị

và kinh tế cao hơn so với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và do đó có thể tránh thuế tốt hơn Porcano (1986) ủng hộ quan điểm này bằng việc tìm thấy bằng chứng thực nghiệm mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô doanh nghiệp và hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp Ở Châu Âu, Janssen và Buinjink (1998) đã cách sử dụng số liệu của các doanh nghiệp ở Hà Lan và tìm thấy mối tương quan cùng chiều giữa quy mô doanh nghiệp và hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp Holland (1998) là người đầu tiên nghiên cứu mối quan hệ giữa quy mô doanh nghiệp và hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp phi tài chính ở Anh trong 26 năm và tác giả cũng tìm thấy bằng chứng cho thấy rằng các doanh nghiệp có quy mô càng lớn sẽ có hành vi tránh thuế càng nhiều

Tuy nhiên, Jacob (1996), Gupta và Newberry (1997), Millis và các cộng sự (1998) không tìm thấy bất kỳ mối quan hệ đáng kể nào giữa quy mô doanh nghiệp

và hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp

Trang 17

2.2.2 Đòn bẩy

Để trang trải cho các dự án đầu tư của mình, cũng như phục vụ cho chiến lược tăng trưởng, các doanh nghiệp thường xuyên có nhu cầu về vốn và bằng cách vay nợ hoặc phát hành vốn cổ phần mới, các doanh nghiệp có thể đáp ứng nhu cầu

về vốn Bên cạnh đó, khi đưa ra quyết định tài trợ, các doanh nghiệp thường xem xét chi phí và lợi ích có liên quan đến các phương thức tài trợ Theo đó, để giải thích cho quyết định tài trợ liên quan đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp, các nghiên cứu trước đây dựa vào nhiều lý thuyết khác nhau, bao gồm lý thuyết đánh đổi (Brennan và Schwartz, 1978), lý thuyết trật tự phân hạng (Myers, 1984; Myers và Majluf, 1984), lý thuyết chi phí đại diện (Jensen, 1986; Jensen và Meckling, 1976)

và lý thuyết tấm chắn thuế (Lasfer, 1995; Chatterjee và Scott, 1989; Ross, 1985; DeAngelo và Masulis, 1980) Một số nghiên cứu cho rằng thuế thu nhập doanh nghiệp và chi phí đại diện được xem là các yếu tố quyết định cấu trúc vốn của các doanh nghiệp (Barclay và Smith, 1995; Harris và Raviv, 1990; Stulz, 1990) Hơn thế nữa, Graham (2000) cho rằng lợi ích về thuế là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tài trợ của doanh nghiệp Trong đó lợi ích về thuế xuất phát

từ lý thuyết tấm chắn thuế của nợ được đề xuất bởi Modigliani và Miller (1985) Theo đó, lý thuyết này kỳ vọng rằng các công ty càng sử dụng nhiều nợ vay càng sẽ

có thể giảm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp khi chi phí lãi vay được xem là một khoản khấu trừ thuế

Bởi vì khi một công ty lựa chọn tiếp cận với nguồn tài trợ bên ngoài bởi vốn

cổ phần thì mặc dù nguồn tài trợ này tương đối rẻ hơn, nhưng khi đó doanh nghiệp phải trả thù lao cho các nhà đầu tư chẳng hạn như chi trả cổ tức, các thù lao này thì lại không được khấu trừ để giảm thuế thu thập doanh nghiệp phải nộp Do đó, khi các doanh nghiệp sử dụng nợ thì có thể tận dụng được ưu đãi tấm chắn thuế thông qua việc giảm trừ chi phí lãi vay, kết quả là các công ty ưa thích sử dụng tài trợ nợ hơn so với việc tài trợ bởi vốn cổ phần (phù hợp với lý thuyết trật tự phân hạng) Như được chỉ ra bởi Kraft (2014), quyết định tài trợ của công ty cũng có thể giúp

Trang 18

các doanh nghiệp giảm thiểu mâu thuẫn giữa cổ đông và nhà quản trị Cụ thể, các nhà quản trị của các doanh nghiệp có đòn bẩy cao sẽ phải tuân theo các điều kiện tài trợ đã ký kết với chủ nợ bao gồm việc hoàn trả khoản vay và trả lãi vay đúng kỳ ký kết Do đó, theo cách giải thích này, đòn bẩy có tương quan âm với tỷ lệ thuế suất hiệu lực Richardson và Lanis (2007) và Kraft (2014) tìm thấy mối quan hệ cùng chiều giữa đòn bẩy được sử dụng để đại diện cấu trúc vốn và hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp

2.2.3 Lợi nhuận

Một yếu tố khác được tìm thấy có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi tránh thuế

là lợi nhuận của các doanh nghiệp Tuy nhiên, mối quan hệ giữa lợi nhuận của doanh nghiệp và hành vi tránh thuế vẫn chưa thật sự rõ ràng Manzon và Plesko (2001) cho rằng các công ty có lợi nhuận nhiều sẽ có thể sử dụng hiệu quả các khoản khấu trừ thuế bao gồm khấu hao, chi phí lãi vay, kết quả cho thấy các doanh nghiệp này có hành vi tránh thuế cao Spooner (1986) cho rằng quyết định đầu tư và lợi nhuận có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp Siegfried (1972) đã cho rằng các công ty có đủ nguồn lực thì sẽ gia tăng khả năng phát triển chuyên môn trong việc lập kế hoạch thuế và quản trị chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp tốt hơn Rego (2003) cũng nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành

vi tránh thuế của các doanh nghiệp và tìm thấy rằng các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, lợi nhuận nhiều và công ty đa quốc gia thì sẽ tránh thuế nhiều hơn các doanh nghiệp khác

Mặt khác, có thể thấy rằng các doanh nghiệp có lợi nhuận càng nhiều sẽ càng phải chịu sự giám sát nhiều từ phía cơ quan thuế bởi lẽ các cơ quan thuế không muốn phần thuế thu nhập doanh nghiệp được nộp từ phía các doanh nghiệp này giảm Cho nên các doanh nghiệp này sẽ phải chịu sự giám sát chặt chẽ từ cơ quan thuế và do đó sẽ có tỷ lệ thuế suất hiệu lực cao hơn so với các doanh nghiệp khác Các nghiên cứu trước đây của Wilkie (1998), Gupta và Newberry (1997),

Trang 19

Richardson và Lanis (2007), Minick và Noga (2010) và Armstrong và các cộng sự (2012) đã tìm thấy bằng chứng ủng hộ quan điểm này, cụ thể là tồn tại mối tương quan ngược chiều giữa lợi nhuận và hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp

2.2.4 Quyết định đầu tư

Tương tự như quyết định tài trợ, quyết định đầu tư cũng có ảnh hưởng đáng

kể đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp do nhận được ưu đãi từ chi phí khấu hao Cụ thể, Hanlon và Heitzman (2010) đã chỉ ra rằng các quyết định đầu tư của các nhà quản trị có thể bị hạn chế bởi thuế thu nhập doanh nghiệp do sự thay đổi trong phần thuế phải nộp Nhà nước và các khoản khấu trừ giá trị hiện tại của một khoản đầu tư Hơn thế nữa, cũng như chi phí lãi vay, khấu hao đóng vai trò quan trọng trong việc ghi nhận các khoản chi phí của doanh nghiệp Do đó các doanh nghiệp càng sử dụng nhiều doanh nghiệp hữu hình thì sẽ càng tận dụng được nhiều lợi ích từ các khoản khấu hao Kết quả là các doanh nghiệp sẽ có tỷ lệ thuế suất hiệu lực tương đối thấp, điều này ngụ ý rằng các doanh nghiệp đang có hành vi tránh thuế Theo đó, Gupta và Newberry (1997), Derashid và Zhang (2003) và Richardson và Lanis (2007) cũng đã tìm thấy bằng chứng thực nghiệm cho thấy tồn tại mối tương quan dương giữa tài sản hữu hình và hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp

2.2.5 Sở hữu nhà nước

Các nghiên cứu trước đây cũng cho rằng sở hữu nhà nước có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp (Desai và Dharmapala, 2006; Chen và các cộng sự, 2010; Minnick và Noga, 2010; Armstrong và các cộng sự, 2012; Wahab và Holland, 2012; Chan và các cộng sự, 2013) Tuy nhiên mối quan

hệ giữa sở hữu nhà nước và hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp vẫn chưa thật

sự rõ ràng Một số nghiên cứu ủng hộ quan điểm các doanh nghiệp nhà nước sẽ ít

có động cơ để thực hiện các hành vi tránh thuế hơn so với các doanh nghiệp tư nhân Các nghiên cứu này bao gồm Chan và các cộng sự (2013), Wu và các cộng sự

Trang 20

(2013) và Ha và Phan (2017) Theo đó các nghiên cứu này cho rằng các doanh nghiệp nhà nước thường là các doanh nghiệp hoạt động chủ yếu vì mục tiêu chính trị xã hội hơn là vì mục tiêu tối đa hóa giá trị của các cổ đông như các doanh nghiệp

tư nhân thông thường (Chan và các cộng sự, 2013) Cho nên các doanh nghiệp này

sẽ ít có hành vi tránh thuế hơn so với các doanh nghiệp tư nhân Mặt khác, các nghiên cứu khác như Adhikari và các cộng sự (2006), Mahenthiran và Kasipillai

(2012), Salihu và các cộng sự (2014) tìm thấy bằng chứng cho thấy tồn tại mối quan

hệ cùng chiều giữa sở hữu nhà nước và hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp Nói cách khác, các doanh nghiệp nhà nước sẽ có động cơ tránh thuế nhiều hơn Đồng thời, các nghiên cứu lập luận rằng các doanh nghiệp nhà nước sẽ thường được Nhà nước can thiệp vào các hoạt động của doanh nghiệp, do đó các công ty này sẽ ít chịu sự giám sát chặt chẽ bởi thị trường tài chính cũng như các nhà đầu tư, kết quả

là gây ra vấn đề bất cân xứng thông tin Điều này có thể được hiểu rằng các doanh nghiệp này sẽ ít tiết lộ các thông tin, chiến lược, chính sách thuế của doanh nghiệp; cho nên sẽ có hành vi tránh thuế dễ dàng hơn so với các doanh nghiệp tư nhân

2.2.6 Sự kiêm nhiệm

Sự phân tách quyền sở hữu và quyền kiểm soát có thể tạo ra chi phí đại diện giữa các cổ đông và các nhà quản trị của doanh nghiệp Hội đồng quản trị, có quyền lực để thuê, sa thải và đưa ra chính sách cổ tức, và thưởng phạt các ủy viên trong hội đồng quản trị, có thể điều chỉnh lợi ích của cổ đông và nhà quản trị và từ đó giảm thiểu chi phí đại diện của công ty (Baysinger và Butler, 1985) Mặt khác, hội đồng quản trị có thể đóng vai trò tư vấn cho công ty Theo đó, hội đồng quản trị có thể tư vấn cho giám đốc của công ty cách để làm gia tăng giá trị của công ty và một trong các phương pháp đó là thông qua hiệu quả trong việc quản trị chi phí thuế của công ty (Yermack, 2004) Do đó, hội đồng quản trị đóng vai trò quan trọng trong cơ chế quản trị của doanh nghiệp (Fama và Jensen, 1983)

Trang 21

Bên cạnh đó, có thể thấy rằng giám đốc điều hành (CEO) của doanh nghiệp là lãnh đạo điều hành các hoạt động, quyết định của công ty, là người đưa ra quyết định cuối cùng về các hoạt động thực tế của doanh nghiệp Hơn thế nữa, thông thường chủ tịch hội đồng quản trị sẽ kiêm nhiệm vị trí giám đốc điều hành (CEO) ở

Mỹ, trong khi đó, hầu hết các quốc gia ở Châu Âu, Anh và Canada, các doanh nghiệp đều tách biệt hai vị trí này (Lin và Liu, 2009) Sự khác biệt trong cơ chế quản trị này giữa các quốc gia tiết lộ rằng tác động của sự kiêm nhiệm vị trí chủ tịch hội đồng quản trị và giám đốc điều hành đến doanh nghiệp có thể là ngược chiều và cùng chiều Điều này phù hợp với kỳ vọng của lý thuyết hợp tác và lý thuyết đại diện (Braun và Sharma, 2007) Theo quan điểm của lý thuyết hợp tác, các nhà quản

lý cố gắng điều hành các hoạt động của doanh nghiệp nhằm mục đích bảo vệ và tối

đa hóa lợi ích của các cổ đông của doanh nghiệp bằng cách cải thiện hiệu quả hoạt động của công ty (Davis và các cộng sự, 1997) Do đó, sự kết hợp giữa vấn đề sở hữu và quản trị của doanh nghiệp có thể cải thiện tốc độ đưa ra quyết định và hiệu quả lãnh đạo đối với các chiến lược của doanh nghiệp; cũng như các quyết định này cũng sẽ phù hợp với sự kỳ vọng của hội đồng quản trị (Donaldson và Davis, 1991; Alexander và các cộng sự, 1993) Mặt khác, lý thuyết đại diện cho rằng có thể giám sát và theo dõi các quyết định của giám đốc điều hành có vì lợi ích của các cổ đông hay không bằng cách tách biệt vị trí chủ tịch hội đồng quản trị và giám đốc điều hành Sự kiêm nhiệm vị trí chủ tịch hội đồng quản trị và giám đốc điều hành có thể làm cản trở khả năng giám sát của hội đồng quản trị đối với các quyết định của giám đốc điều hành (McWilliams và Sen, 1997; Dalton và Kesner, 1997) Từ đó có thể làm giảm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (Klein, 2002)

2.3 Tổng quan các nghiên cứu trước đây

Gupta và Newberry (1997) đã tiến hành xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ

lệ thuế suất có hiệu lực qua đó phân tích hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp ở

Mỹ trong giai đoạn 1982 – 1990 Trong mô hình nghiên cứu của mình, các tác giả đưa các biến độc lập như quy mô, đòn bẩy, tài sản hữu hình, hàng tồn kho, chi phí

Trang 22

nghiên cứu và phát triển, lợi nhuận doanh nghiệp như là các yếu tố giải thích hành

vi tránh thuế của các công ty Bằng cách áp dụng mô hình ảnh hưởng cố định, các tác giả tìm thấy bằng chứng cho thấy rằng tài sản hữu hình, chi phí nghiên cứu và phát triển có tương quan dương với hành vi tránh thuế Điều này cho thấy rằng các doanh nghiệp càng đầu tư nhiều vào tài sản hữu hình và chi phí nghiên cứu và phát triển thì sẽ càng có hành vi tránh thuế càng cao Ngược lại hàng tồn kho và lợi nhuận cho thấy mối tương quan âm với hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp Nói cách khác, các doanh nghiệp nắm giữ nhiều hàng tồn kho và càng có nhiều lợi nhuận sẽ có hành vi tránh thuế hơn so với các doanh nghiệp khác Ngoài ra, ảnh hưởng của quy mô doanh nghiệp và đòn bẩy đến hành vi tránh thuế chưa rõ ràng, phụ thuộc vào cách đo lường hành vi tránh thuế và giai đoạn nghiên cứu

Kim và Limpaphayom (1998) sử dụng số liệu của các doanh nghiệp ở Hong Kong, Hàn Quốc, Malaysia, Đài Loan và Thái Lan trong giai đoạn 1975 – 1992 với mục đích nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thuế suất có hiệu lực qua đó phân tích hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp Theo đó, các tác giả đã sử dụng các biến số quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy, cơ hội tăng trưởng và lợi nhuận với vai trò làm biến độc lập giải thích hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu Bằng việc sử dụng phương pháp hồi quy OLS, các tác giả tìm thấy kết quả nghiên cứu cho thấy rằng quy mô doanh nghiệp có tương quan dương với hành

vi tránh thuế của các doanh nghiệp Điều này ngụ ý rằng các doanh nghiệp có quy

mô càng lớn sẽ càng có hành vi tránh thuế càng cao Ngược lại, cơ hội tăng trưởng

và lợi nhuận có tương quan âm với hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp Điều này ngụ ý rằng các doanh nghiệp có nhiều cơ hội tăng trưởng và lợi nhuận càng nhiều sẽ càng ít có hành vi tránh thuế Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của các tác giả

có sự khác biệt giữa các quốc gia trong mẫu nghiên cứu Đồng thời tùy thuộc vào cách đo lường hành vi tránh thuế, đòn bẩy sẽ có ảnh hưởng cùng chiều/ngược chiều đến hành vi tránh thuế

Trang 23

Derashid và Zhang (2003) tiến hành xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thuế suất có hiệu lực qua đó phân tích hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp ở Malaysia Qua đó các tác giả thu thập số liệu của các doanh nghiệp niêm yết ở Malaysia từ năm 1990 – 1999 và sử dụng các biến quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy, tài sản hữu hình, hàng tồn kho, lợi nhuận, cơ hội tăng trưởng, sở hữu nhà nước đóng vai trò như các biến độc lập giải thích hành vi tránh thuế của doanh nghiệp ở Malaysia Bằng việc áp dụng phương pháp hồi quy OLS ước lượng mô hình nghiên cứu, kết quả của các tác giả cho thấy rằng quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy, tài sản hữu hình, lợi nhuận có tương quan âm với tỷ lệ thuế suất có hiệu lực ở mức ý nghĩa 10% Điều này cho thấy rằng các doanh nghiệp càng có quy mô càng lớn, càng sử dụng nợ vay nhiều trong cấu trúc vốn, đầu tư nhiều tài sản hữu hình và có nhiều lợi nhuận sẽ có hành vi tránh thuế càng cao Ngược lại, cơ hội tăng trưởng được tìm thấy có tương quan dương với tỷ lệ thuế suất có hiệu lực ở mức ý nghĩa 1% Điều này ngụ ý rằng các doanh nghiệp có nhiều cơ hội tăng trưởng sẽ ít có hành vi tránh thuế hơn các doanh nghiệp khác Ngoài ra, hàng tồn kho và sở hữu nhà nước không

có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp

Harris và Feeny (2003) thực hiện nghiên cứu mô hình xác định tỷ lệ thuế suất có hiệu lực của các doanh nghiệp từ đó phân tích hành vi tránh thuế Bằng việc thu thập số liệu của các doanh nghiệp ở Úc từ 1993 – 1997, các tác giả đã xây dựng

mô hình nghiên cứu xác định hành vi tránh thuế bằng cách sử dụng các biến quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy, tài sản hữu hình, hoạt động nước ngoài, lợi nhuận và chi phí nghiên cứu và phát triển như là các yếu tố giải thích hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp Thông qua phương pháp hồi quy OLS để ước lượng mô hình nghiên cứu, các tác giả tìm thấy rằng đòn bẩy, lợi nhuận của các doanh nghiệp thể hiện tương quan dương với tỷ lệ thuế suất có hiệu lực của các doanh nghiệp Điều này ngụ ý rằng các doanh nghiệp càng sử dụng nhiều nợ vay trong cấu trúc vốn, càng có nhiều lợi nhuận thì sẽ càng ít có hành vi tránh thuế Ngược lại, quy mô doanh nghiệp, hoạt động nước ngoài và chi phí nghiên cứu và phát triển cho thấy tương quan âm với tỷ lệ thuế suất có hiệu lực của các doanh nghiệp Kết quả này hàm ý

Trang 24

rằng các doanh nghiệp có quy mô càng lớn, càng có thu nhập nước ngoài càng nhiều và càng đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, thì sẽ có hành vi tránh thuế càng cao Ngoài ra, tài sản hữu hình không thể hiện ảnh hưởng rõ ràng đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp

Rego (2003) phân tích hành vi tránh thuế ở các doanh nghiệp đa quốc gia ở

Mỹ Bằng cách sử dụng 5379 công ty trong giai đoạn 1990 – 1997, và sử dụng các biến như quy mô doanh nghiệp, lợi nhuận, hoạt động nước ngoài và ngành nghề kinh doanh làm đại diện cho các yếu tố giải thích hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp Để ước lượng mô hình nghiên cứu, tác giả đã dùng phương pháp hồi quy OLS và tìm thấy kết quả nghiên cứu cho thấy rằng quy mô doanh nghiệp có tương quan dương với tỷ lệ thuế suất có hiệu lực Điều này có nghĩa là các doanh nghiệp càng có quy mô càng lớn sẽ càng ít có hành vi tránh thuế Kết quả của tác giả kết luận rằng các công ty có quy mô càng lớn sẽ càng phải đối mặt với chi phí chính trị

và sẽ làm gia tăng tỷ lệ thuế suất có hiệu lực Ngược lại, tỷ lệ thuế suất có hiệu lực tương quan âm với lợi nhuận và hoạt động ở nước ngoài Kết quả này cho thấy rằng các doanh nghiệp càng có lợi nhuận càng cao, có hoạt động ở nước ngoài thì sẽ có hành vi tránh thuế càng cao Tác giả cũng chỉ ra rằng các công ty có lợi nhuận nhiều

sẽ có chi phí thấp do các doanh nghiệp này có đủ nguồn lực để đầu tư vào các hoạt động quản trị thuế doanh nghiệp và điều này sẽ làm giảm thuế suất hiệu lực của doanh nghiệp, cũng hàm ý rằng hành vi tránh thuế của doanh nghiệp đang gia tăng Đồng thời, các doanh nghiệp có lợi nhuận nhiều thì thường có nhiều động cơ trong việc giảm thiểu gánh nặng thuế hơn và do đó sẽ giảm thuế suất hiệu lực của doanh nghiệp

Janssen (2005) tiến hành nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thuế suất

có hiệu lực thông qua đó phân tích hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp Để giải quyết mục tiêu nghiên cứu, tác giả đã thu thập số liệu của 1592 doanh nghiệp đang hoạt động ở Hà Lan trong giai đoạn 1994 – 1999 Đồng thời, trong mô hình nghiên cứu của tác giả, tác giả sử dụng các biến số quy mô doanh nghiệp, tài sản hữu hình,

Trang 25

thu nhập từ hoạt động nước ngoài, lợi nhuận, đòn bẩy đóng vai trò như là các biến giải thích hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp Để ước lượng mô hình nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp hồi quy OLS và tìm thấy bằng chứng cho thấy rằng quy mô doanh nghiệp và tài sản hữu hình có tương quan âm với tỷ lệ thuế suất

có hiệu lực ở mức ý nghĩa 1% Điều này cho thấy rằng các doanh nghiệp càng có quy mô càng lớn, càng đầu tư nhiều vào tài sản hữu hình thì sẽ càng có hành vi tránh thuế càng nhiều Ngược lại, lợi nhuận và đòn bẩy cho thấy mối quan hệ cùng chiều với tỷ lệ thuế suất có hiệu lực ở mức ý nghĩa 5% Kết quả này ngụ ý rằng các doanh nghiệp càng có lợi nhuận càng nhiều, và càng sử dụng nợ vay nhiều trong cấu trúc vốn sẽ càng ít có hành vi tránh thuế hơn các doanh nghiệp khác

Liu và Cao (2007) tiến hành nghiên cứu nhằm giải thích các yếu tố quyết định tỷ lệ thuế suất có hiệu lực của các doanh nghiệp ở Trung Quốc từ đó phân tích hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp Theo đó, các tác giả đã thu nhập số liệu từ

425 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Trung Quốc trong giai đoạn

1998 – 2004 và sử dụng các biến quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy, tài sản hữu hình, lợi nhuận như là các yếu tố giải thích hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp Bằng cách áp dụng mô hình OLS gộp, mô hình ảnh hưởng cố định, mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên để hồi quy mô hình nghiên cứu, các tác giả tìm thấy đòn bẩy thể hiện tương quan âm với tỷ lệ thuế suất có hiệu lực ở mức ý nghĩa 1% trong cả 03

mô hình hồi quy Điều này cho thấy rằng các doanh nghiệp sử dụng nhiều nợ vay trong cấu trúc vốn càng có hành vi tránh thuế càng cao hơn các doanh nghiệp khác Ngược lại, lợi nhuận có tương quan dương với tỷ lệ thuế suất có hiệu lực ở mức ý nghĩa 1% trong cả 03 mô hình hồi quy Kết quả này ngụ ý rằng các doanh nghiệp có lợi nhuận càng nhiều sẽ càng ít có hành vi tránh thuế hơn các doanh nghiệp khác Ngoài ra, tài sản hữu hình và quy mô doanh nghiệp không có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp

Richardson và Lanis (2007) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi trong tỷ lệ thuế suất có hiệu lực của các doanh nghiệp ở Úc, từ đó phân tích

Trang 26

hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp Trong nghiên cứu này, các tác giả đã sử dụng số liệu của 92 doanh nghiệp niêm yết ở Úc trong giai đoạn 1997 – 2003 với tổng số quan sát công ty – năm là 552 Đồng thời, các tác giả cũng sử dụng các biến độc lập bao gồm quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy, tài sản hữu hình, hàng tồn kho, chi phí nghiên cứu và phát triển, lợi nhuận trong mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi trong tỷ lệ thuế suất có hiệu lực của các doanh nghiệp ở Úc Bằng việc áp dụng mô hình hồi quy OLS gộp, các tác giả tìm thấy rằng, quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy, tài sản hữu hình, chi phí nghiên cứu và phát triển có tương quan âm với tỷ lệ thuế suất có hiệu lực Điều này hàm ý rằng các doanh nghiệp có quy mô càng lớn, có sử dụng nợ vay nhiều trong cấu trúc vốn, đầu tư nhiều tài sản hữu hình và chi phí nghiên cứu và phát triển càng cao thì càng có hành vi tránh thuế càng cao Ngược lại, hàng tồn kho và lợi nhuận cho thấy tương quan dương với tỷ

lệ thuế suất có hiệu lực của các doanh nghiệp Kết quả này cho thấy rằng các doanh nghiệp nắm giữ nhiều hàng tồn kho, càng có lợi nhuận càng cao thì càng ít có hành

vi tránh thuế của các doanh nghiệp

Md Noor và các cộng sự (2008) nghiên cứu các yếu tố giải thích hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp ở Malaysia Bằng cách thu thập số liệu của 294 doanh nghiệp trong giai đoạn 2000 – 2004, và sử dụng các biến số bao gồm quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy, tài sản hữu hình, lợi nhuận, hàng tồn kho, thu nhập nước ngoài như là các yếu tố giải thích hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp Qua đó, trong nghiên cứu của các tác giả, mô hình OLS gộp, mô hình ảnh hưởng cố định và ảnh hưởng ngẫu nhiên được sử dụng để ước lượng mô hình nghiên cứu hành vi tránh thuế Kết quả của các tác giả tìm thấy cho thấy bằng chứng quy mô doanh nghiệp thể hiện tương quan dương với tỷ lệ thuế suất có hiệu lực ở mức ý nghĩa 1% Điều này cho thấy rằng các doanh nghiệp có quy mô càng lớn sẽ càng ít có hành vi tránh thuế hơn so với các doanh nghiệp khác Ngược lại, đòn bẩy, tài sản hữu hình

và lợi nhuận có tương quan âm với tỷ lệ thuế suất có hiệu lực ở mức ý nghĩa 1% Kết quả này ngụ ý rằng các doanh nghiệp càng sử dụng nhiều nợ vay trong cấu trúc vốn, càng đầu tư nhiều tài sản hữu hình và càng có nhiều lợi nhuận càng có hành vi

Trang 27

tránh thuế càng cao Ngoài ra, hàng tồn kho và thu nhập nước ngoài không có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp

Chen và các cộng sự (2010) tiến hành thu thập dữ liệu của 1003 doanh nghiệp trong giai đoạn 1996 – 2000 với tổng số quan sát lên đến 3865 doanh nghiệp – năm để phân tích hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp ở Mỹ Trong đó, mô hình nghiên cứu của các tác giả sử dụng các biến số như lợi nhuận, đòn bẩy, thu nhập nước ngoài, tài sản hữu hình, tài sản vô hình, quy mô doanh nghiệp, cơ hội tăng trưởng và sở hữu gia đình như các biến độc lập để giải thích hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp ở Mỹ Bằng cách ước lượng mô hình nghiên cứu bởi phương pháp hồi quy OLS, bài nghiên cứu của các tác giả tìm thấy rằng đòn bẩy, thu nhập nước ngoài, tài sản hữu hình có tương quan âm với tỷ lệ thuế suất có hiệu lực ở mức

ý nghĩa 10% Điều này cho thấy rằng các doanh nghiệp sử dụng nợ nhiều trong cấu trúc vốn, có thu nhập nước ngoài cao và đầu tư nhiều tài sản hữu hình sẽ có hành vi tránh thuế nhiều Ngược lại, tài sản vô hình, sở hữu gia đình, và cơ hội tăng trưởng

có tương quan dương với tỷ lệ thuế suất có hiệu lực ở mức ý nghĩa 10% Kết quả này cho thấy rằng các doanh nghiệp đầu tư nhiều vào tài sản vô hình, có mức độ sở hữu gia đình càng cao và có nhiều cơ hội tăng trưởng sẽ ít có hành vi tránh thuế hơn Ngoài ra, quy mô doanh nghiệp không có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi tránh thuế Lợi nhuận không thể hiện ảnh hưởng rõ ràng

Noor và các cộng sự (2010) thực hiện nghiên cứu giải thích tỷ lệ thuế suất có hiệu lực từ đó phân tích hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp niêm yết ở Malaysia Thông qua dữ liệu của 316 công ty trong giai đoạn 1993 – 2006 và mô hình nghiên cứu bao gồm các biến số quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy, lợi nhuận, tài sản hữu hình và hàng tồn kho như là các yếu tố giải thích tỷ lệ thuế suất có hiệu lực của các doanh nghiệp niêm yết ở Malaysia Bài nghiên cứu của các tác giả áp dụng phương pháp hồi quy OLS để ước lượng các hệ số trong mô hình nghiên cứu giải thích hành vi tránh thuế Qua đó các tác giả tìm thấy rằng quy mô doanh nghiệp và hàng tồn kho cho thấy tương quan dương với tỷ lệ thuế suất có hiệu lực ở mức ý

Trang 28

nghĩa 10% Điều này cho thấy rằng các doanh nghiệp có quy mô càng lớn và nắm giữ nhiều hàng tồn kho thì sẽ càng ít có hành vi tránh thuế Ngược lại, đòn bẩy, tài sản hữu hình và lợi nhuận thể hiện tương quan âm với tỷ lệ thuế suất có hiệu lực ở mức ý nghĩa 10% Kết quả này cho thấy rằng các doanh nghiệp sử dụng nợ vay nhiều trong cấu trúc vốn, đầu tư nhiều vào tài sản hữu hình và có lợi nhuận càng nhiều sẽ có xu hướng thực hiện các hành vi tránh thuế càng nhiều

Wu và các cộng sự (2012) xem xét vấn đề sở hữu nhà nước, quy mô doanh nghiệp và tỷ lệ thuế suất có hiệu lực của các doanh nghiệp ở Trung Quốc Theo đó các tác giả đã thu thập số liệu của các doanh nghiệp trong giai đoạn 1999 – 2006, và

sử dụng các biến số bao gồm quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy, lợi nhuận, tài sản hữu hình, hàng tồn kho và cơ hội tăng trưởng như là các yếu tố giải thích sự thay đổi trong tỷ lệ thuế suất có hiệu lực của các doanh nghiệp Bằng cách áp dụng phương pháp hồi quy OLS ước lượng mô hình nghiên cứu, nghiên cứu của các tác giả tìm thấy bằng chứng cho thấy rằng quy mô doanh nghiệp, lợi nhuận, tài sản hữu hình, hàng tồn kho và cơ hội tăng trưởng có tương quan dương với tỷ lệ thuế suất có hiệu lực ở mức ý nghĩa 10% Điều này cho thấy rằng các doanh nghiệp càng có quy mô càng lớn, lợi nhuận càng nhiều, đầu tư nhiều tài sản hữu hình, nắm giữ nhiều hàng tồn kho và có nhiều cơ hội tăng trưởng thì ít có hành vi tránh thuế Ngược lại, đòn bẩy được tìm thấy có tương quan âm với tỷ lệ thuế suất có hiệu lực ở mức ý nghĩa 1% Kết quả này cho thấy các doanh nghiệp càng sử dụng nợ vay càng nhiều càng cho thấy càng có hành vi tránh thuế càng cao

Wu và các cộng sự (2013) nghiên cứu các yếu tố tác động đến tỷ lệ thuế suất

có hiệu lực của các doanh nghiệp ở Trung Quốc Bài nghiên cứu của các tác giả thu nhập số liệu của 1145 doanh nghiệp trong giai đoạn 1999 – 2006 với tổng số quan sát lên đến 5335 doanh nghiệp –năm và sử dụng các biến số bao gồm quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy, tài sản hữu hình, hàng tồn kho, lợi nhuận đóng vai trò các biến độc lập giải thích hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp Thông qua phương pháp hồi quy OLS để ước lượng các hệ số trong mô hình nghiên cứu hành vi tránh thuế của

Trang 29

các doanh nghiệp, các tác giả tìm thấy rằng quy mô doanh nghiệp, hàng tồn kho có tương quan dương với tỷ lệ thuế suất có hiệu lực ở mức ý nghĩa 1% Điều này cho thấy rằng các doanh nghiệp có quy mô càng lớn, càng nắm giữ hàng tồn kho càng nhiều sẽ càng ít có hành vi tránh thuế hơn Ngược lại, các biến khác như đòn bẩy, tài sản hữu hình và lợi nhuận thể hiện tương quan âm với với tỷ lệ thuế suất có hiệu lực ở mức ý nghĩa 1% Kết quả này cho thấy rằng các doanh nghiệp có sử dụng nợ vay nhiều trong cấu trúc vốn, đầu tư nhiều vào tài sản hữu hình và có lợi nhuận càng cao thì sẽ càng có hành vi tránh thuế càng cao

Kraft (2014) sử dụng dữ liệu của 487 doanh nghiệp ở Đức từ năm 2005 –

2011 để nghiên cứu các yếu tố tác động đến tỷ lệ thuế suất có hiệu lực, từ đó tiến hành phân tích hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp Trong đó, tác giả sử dụng các biến như quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy, lợi nhuận, dòng tiền tự do, cơ hội tăng trưởng như là các yếu tố giải thích hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp ở Đức Bằng việc áp dụng phương pháp hồi quy OLS, tác giả tìm thấy rằng quy mô doanh nghiệp, dòng tiền tự do và cơ hội tăng trưởng cho thấy tương quan dương với tỷ lệ thuế suất có hiệu lực ở mức ý nghĩa 10% Điều này cho thấy rằng các doanh nghiệp

có quy mô càng lớn, dòng tiền tự do càng cao và cơ hội tăng trưởng càng nhiều thì

sẽ ít có hành vi tránh thuế hơn các doanh nghiệp khác Ngược lại, lợi nhuận, đòn bẩy thể hiện mối quan hệ ngược chiều với tỷ lệ thuế suất có hiệu lực ở mức ý nghĩa 10% Kết quả này cho thấy rằng các doanh nghiệp có nhiều lợi nhuận, có sử dụng

nợ vay nhiều trong cấu trúc vốn thì sẽ càng có hành vi tránh thuế càng nhiều so với các doanh nghiệp khác

Salihu và các cộng sự (2014) đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố quyết định hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp ở Malaysia Theo đó, các tác giả tiến hành thu thập dữ liệu của 63 công ty trong 03 năm từ 2009 – 2011 và sử dụng các biến số bao gồm quy mô doanh nghiệp, sở hữu nhà nước, đòn bẩy, lợi nhuận và tài sản hữu hình như là các biến giải thích hành vi tránh thuế Bằng việc

áp dụng phương pháp hồi quy GMM để ước lượng mô hình nghiên cứu, các tác giả

Trang 30

tìm thấy rằng nếu doanh nghiệp ở kỳ trước có hành vi tránh thuế thì sẽ làm gia tăng khả năng tránh thuế ở kỳ này Đồng thời, sở hữu nhà nước và quy mô doanh nghiệp

có tương quan âm với tỷ lệ thuế suất có hiệu lực ở mức ý nghĩa 10% Điều này cho thấy rằng các doanh nghiệp có mức độ sở hữu nhà nước càng cao và quy mô càng lớn sẽ càng có hành vi tránh thuế càng cao Ngoài ra, các yếu tố khác như tài sản hữu hình, đòn bẩy và lợi nhuận không có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp trong bài nghiên cứu của các tác giả

Richardson và các cộng sự (2015) phân tích ảnh hưởng của các yếu tố đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp ở Úc Sau khi thực hiện loại trừ các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính, bảo hiểm, và các doanh nghiệp thiếu dữ liệu, các tác giả có được mẫu nghiên cứu cuối cùng bao gồm 203 doanh nghiệp từ năm 2006 – 2010 với 812 quan sát doanh nghiệp – năm Trong mô hình nghiên cứu của các tác giả, biến giả đại diện kiệt quệ tài chính, tuổi doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy, tài sản hữu hình, chi phí nghiên cứu và phát triển, hàng tồn kho, cơ hội tăng trưởng được sử dụng như là các biến độc lập giải thích hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp ở Úc Bằng việc áp dụng phương pháp hồi quy OLS, các tác giả tìm thấy rằng quy mô doanh nghiệp, tuổi doanh nghiệp, biến giả kiệt quệ tài chính, đòn bẩy, tài sản hữu hình, chi phí nghiên cứu và phát triển thể hiện tương quan âm với tỷ lệ thuế suất có hiệu lực ở mức ý nghĩa 10% Qua đó cho thấy rằng các doanh nghiệp hoạt động lâu đời trong ngành, có quy mô càng lớn, sử dụng nhiều nợ vay trong cấu trúc vốn, đầu tư nhiều tài sản hữu hình, đầu tư nhiều vào nghiên cứu và phát triển và đang đối mặt với tình trạng kiệt quệ tài chính thì sẽ

có hành vi tránh thuế nhiều hơn so với các doanh nghiệp khác Ngoài ra, hàng tồn kho cho thấy mối tương quan dương với tỷ lệ thuế suất có hiệu lực ở mức ý nghĩa 10% Kết quả này cho thấy các doanh nghiệp nắm giữ nhiều hàng tồn kho thì ít có hành vi tránh thuế Ngoài ra, cơ hội tăng trưởng không thể hiện ảnh hưởng đáng kể đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp ở Úc

Trang 31

Ha và Phan (2017) thực hiện xem xét mối quan hệ giữa sở hữu nhà nước và hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam trong giai đoạn từ

2009 – 2015 Theo đó, các tác giả thu thập số liệu của 462 công ty được niêm yết trên các sàn giao dịch chứng khoán ở Việt Nam và kết hợp với phương pháp hồi quy FGLS để ước lượng mô hình nghiên cứu Trong đó mô hình nghiên cứu của các tác giả sử dụng bao gồm các biến sở hữu nhà nước, quy mô doanh nghiệp, lợi nhuận, đòn bẩy và tài sản hữu hình đóng vai trò làm các biến giải thích hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp Qua đó, các tác giả tìm thấy rằng quy mô doanh nghiệp, lợi nhuận, đòn bẩy và tài sản hữu hình thể hiện tương quan âm với các đo lường của tỷ lệ thuế suất có hiệu lực ở mức ý nghĩa 5% Điều này cho thấy rằng các doanh nghiệp có quy mô càng lớn, càng nhiều lợi nhuận, càng sử dụng nợ vay nhiều trong cấu trúc vốn và đầu tư nhiều tài sản hữu hình thì sẽ có hành vi tránh thuế càng cao Ngược lại sở hữu nhà nước cho thấy mối quan hệ cùng chiều với các tỷ lệ thuế suất có hiệu lực ở mức ý nghĩa 5% Kết quả này cho thấy rằng doanh nghiệp có mức

độ sở hữu nhà nước càng cao càng ít có hành vi tránh thuế

Trang 32

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Dữ liệu nghiên cứu

Luận văn sử dụng bộ dữ liệu dạng bảng cân đối (Balanced panel data), được thu thập từ các báo cáo tài chính đã được kiểm toán của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) với nguồn cơ sở dữ liệu được tổng hợp bởi FiinPro, trong giai đoạn nghiên cứu từ năm 2010 đến năm

2016

Từ cơ sở dữ liệu của gần 1072 doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh ở nhiều lĩnh vực khác nhau trên lãnh thổ Việt Nam, trong đó có 349 doanh nghiệp được niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HSX) tính đến thời điểm ngày 31/12/2016, luận văn xây dựng mẫu nghiên cứu như sau:

Đầu tiên, luận văn tiến hành loại ra khỏi mẫu nghiên cứu các doanh nghiệp

kinh doanh ở ngành tài chính bao gồm các ngân hàng, các công ty bảo hiểm, các công ty chứng khoán và các quỹ đầu tư Bởi các doanh nghiệp hoạt động ở ngành này có tính đặc thù ngành, cách hạch toán và các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính không phù hợp cho mục tiêu nghiên cứu của luận văn đặt ra ban đầu Cho nên mẫu nghiên cứu của luận văn chỉ bao gồm dữ liệu của các doanh nghiệp phi tài chính

Sau đó, luận văn tiếp tục tiến hành loại trừ khỏi mẫu nghiên cứu các doanh

nghiệp không có thông tin, thiếu hoặc mất dữ liệu (dữ liệu không liên tục) cũng như các công ty chỉ mới niêm yết tại Sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh

kể từ năm 2011 để đảm bảo các doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu phải có đủ 07 quan sát (theo năm) và còn hoạt động kinh doanh ở năm 2016

Sau khi đã loại trừ các doanh nghiệp theo các tiêu chí nói trên, mẫu nghiên cứu của luận văn cuối cùng bao gồm 169 doanh nghiệp trong giai đoạn nghiên cứu

Trang 33

từ năm 2010 đến năm 2016 Cho nên, mẫu nghiên cứu của luận văn chỉ dựa trên dữ liệu của các doanh nghiệp phi tài chính có số năm hoạt động đạt 07 năm

Bảng 3.1 Thống kê mẫu nghiên cứu theo từng năm

Năm Số quan sát Tỷ trọng Lũy kế

3.2 Mô hình nghiên cứu

Luận văn sử dụng mô hình hồi quy để kiểm định và nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp, từ đó có những kết luận phù hợp trên cơ sở kiểm định mô hình Luận văn tiếp cận phương trình nghiên cứu theo phương pháp tiếp cận của các nghiên cứu trước đây bao gồm Salihu và các cộng sự (2014), Richardson và các cộng sự (2015), Ha và Phan (2017) Cụ thể phương trình nghiên cứu và các biến số được trình bày như sau:

𝑇𝑎𝑥𝐴𝑣𝑖𝑡 = 𝛽0 + 𝛽1∗ 𝑇𝑎𝑥𝐴𝑣𝑖𝑡−1+ 𝛽2∗ 𝑆𝑖𝑧𝑒𝑖𝑡+ 𝛽3 ∗ 𝐺𝑟𝑜𝑤𝑡ℎ𝑖𝑡+ 𝛽4∗

𝐿𝑒𝑣𝑖𝑡 + 𝛽5∗ 𝑇𝑎𝑛𝑔𝑖𝑡+ 𝛽6∗ 𝐼𝑛𝑣𝑒𝑛𝑡𝑜𝑟𝑦𝑖𝑡+ 𝛽7 ∗ 𝑅𝑜𝑎𝑖𝑡+ 𝜀𝑖𝑡 (1)

Trang 34

Trong đó, 𝑇𝑎𝑥𝐴𝑣𝑖𝑡 đại diện cho hành vi tránh thuế được đo lường bởi hai cách đo lường là TaxAv1 và TaxAv2, với TaxAv1 được đo lường bởi tỷ số của thuế thu nhập doanh nghiệp (total tax expense) trên lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp như được sử dụng trong các nghiên cứu trước đây của Zimmerman (1983), Chen và các cộng sự (2010), Dyreng và các cộng sự (2010), Minnick và Noga (2010), Huseynov và Klamm (2012), Armstrong và các cộng sự (2012), Salihu và các cộng sự (2014) và Ribeiro và các cộng sự (2015) Cách đo lường 2, TaxAv2 là

tỷ lệ của thuế thu nhập doanh nghiệp hiện thời (cash tax paid) trên lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp theo như cách tính toán của Chen và các cộng sự (2010), Dyreng và các cộng sự (2010), Hanlon và Heitzman (2010), Hope và các cộng sự (2012), Huseynov và Klamm (2012), Armstrong và các cộng sự (2012), và Salihu

Trang 35

Tiếp theo, để xem xét ảnh hưởng của quản trị doanh nghiệp được thể hiện qua hai biến số sở hữu nhà nước và sự kiêm nhiệm chủ tịch hội đồng quản trị và CEO đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu, luận văn tiếp tục thực hiện hồi quy mô hình nghiên cứu tương tự như trong phương trình 1 nhưng có đưa thêm hai biến quản trị doanh nghiệp Cụ thể phương trình hồi quy mới của luận văn được trình bày như sau:

Các biến số khác như được trình bày trong phương trình 1

3.3 Đo lường biến và kỳ vọng dấu

3.3.1 Quy mô doanh nghiệp

Quy mô doanh nghiệp được cho rằng là một trong các đặc điểm doanh nghiệp ảnh hưởng đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp Cho nên hầu hết các nghiên cứu trước đây khi phân tích hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp đều đưa quy mô doanh nghiệp vào mô hình nghiên cứu như là yếu tố giải thích hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp Tuy nhiên, mối quan hệ giữa quy mô doanh nghiệp và hành vi tránh thuế thì chưa thật sự rõ ràng Chẳng hạn như Zimmerman (1983) đã cho rằng các công ty có quy mô lớn thì thường có tỷ lệ thuế suất hiệu lực cao, hay hàm ý hành vi tránh thuế thấp Theo đó tác giả lập luận kết quả nghiên cứu

Trang 36

này có thể được giải thích bởi lý thuyết chi phí chính trị (political cost theory) Theo

lý thuyết này, tỷ lệ thuế suất hiệu lực của các doanh nghiệp đại diện cho chi phí chính trị bởi vì thuế mà các doanh nghiệp phải nộp được xem như là một phần tài sản được chuyển giao bởi công ty đến một tổ chức khác Đồng thời, tỷ lệ thuế suất hiệu lực cũng đại diện cho sự thành công của doanh nghiệp, do đó, các doanh nghiệp có quy mô lớn thì thường thành công hơn so với các công ty có quy mô nhỏ

và cho nên sẽ phải đối mặt với sự kiểm soát chính trị nhiều hơn Khi đó các doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ chịu sự giám sát chặt chẽ từ các cơ quan thuế bởi vì các cơ quan thuế không muốn giảm phần thu thuế doanh nghiệp Kết quả là các doanh nghiệp có quy mô lớn được kỳ vọng có gánh nặng thuế tương đối cao hơn so với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ vì phần thuế phải nộp phản ánh chi phí chính trị

mà các công ty phải gánh chịu

Tuy nhiên, lý thuyết cạnh tranh lập luận rằng các công ty có quy mô lớn sẽ

có quyền lực hơn và có đủ nguồn lực để quản trị thuế tốt hơn và do đó sẽ có tỷ lệ thuế suất có hiệu lực thấp hơn, hàm ý hành vi tránh thuế cao hơn (Siegfried, 1972) Phù hợp với quan điểm này, Dyreng và các cộng sự (2008) và Richardson và Lanis (2007) đã tìm thấy mối tương quan dương giữa quy mô và hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác tìm thấy quy mô doanh nghiệp có tương quan âm với hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp thông qua tỷ

lệ thuế suất có hiệu lực chẳng hạn như Rego (2003), Vieira (2013), Kraft (2014) Các nghiên cứu này ủng hộ lý thuyết chi phí chính trị của Zimmerman (1983) Mặt khác, Gupta và Newberry (1997) cho thấy rằng quy mô doanh nghiệp và hành vi tránh thuế không có tương quan đáng kể Đồng thời, Holland (1998) đã tìm thấy rằng mối quan hệ giữa quy mô doanh nghiệp và hành vi tránh thuế phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh Do đó, tương tự với các phát hiện trước đây, luận văn kỳ vọng rằng quy mô có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp trong đó quy mô được đo lường bởi logarithm tự nhiên của tổng tài sản

Size=Ln(Tổng tài sản)

Trang 37

so với việc tài trợ bởi vốn cổ phần (phù hợp với lý thuyết trật tự phân hạng) Như được chỉ ra bởi Kraft (2014), quyết định tài trợ của công ty cũng có thể giúp các doanh nghiệp giảm thiểu mâu thuẫn giữa cổ đông và nhà quản trị Cụ thể, các nhà quản trị của các doanh nghiệp có đòn bẩy cao sẽ phải tuân theo các điều kiện tài trợ đã ký kết với chủ nợ bao gồm việc hoàn trả khoản vay và trả lãi vay đúng kỳ ký kết

Do đó, theo cách giải thích này, đòn bẩy có tương quan âm với tỷ lệ thuế suất hiệu lực Richardson và Lanis (2007) và Kraft (2014) tìm thấy mối quan hệ cùng chiều giữa đòn bẩy được sử dụng để đại diện cấu trúc vốn và hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp Cho nên luận văn kỳ vọng rằng đòn bẩy có tương quan dương với hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp trong đó đòn bẩy được đo lường bởi tỷ lệ

nợ vay ngắn hạn và nợ vay dài hạn trên tổng tài sản

Lev=Nợ vay ngắn hạn và Nợ vay dài hạn

Tổng tài sản

Trang 38

3.3.3 Tài sản hữu hình

Tương tự như quyết định tài trợ, quyết định đầu tư cũng có ảnh hưởng đáng

kể đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp Hanlon và Heitzman (2010) đã chỉ

ra rằng các quyết định đầu tư của các nhà quản trị có thể bị hạn chế bởi thuế thu nhập doanh nghiệp do sự thay đổi trong phần thuế phải nộp Nhà nước và các khoản khấu trừ giá trị hiện tại của một khoản đầu tư Hơn thế nữa, cũng như chi phí lãi vay, khấu hao đóng vai trò quan trọng trong việc ghi nhận các khoản chi phí của doanh nghiệp Do đó các doanh nghiệp càng sử dụng nhiều doanh nghiệp hữu hình thì sẽ càng tận dụng được nhiều lợi ích từ các khoản khấu hao Kết quả là các doanh nghiệp sẽ có tỷ lệ thuế suất hiệu lực tương đối thấp Theo đó, Gupta và Newberry (1997), Derashid và Zhang (2003) và Richardson và Lanis (2007) cũng đã tìm thấy bằng chứng thực nghiệm cho thấy tồn tại mối tương quan dương giữa tài sản hữu hình và hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp Cho nên phù hợp với các phát hiện trước đây, luận văn kỳ vọng rằng tài sản hữu hình của doanh nghiệp có ảnh hưởng cùng chiều đáng kể với hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp trong đó tài sản hữu hình được đo lường bởi tỷ lệ tài sản hữu hình trên tổng tài sản

Tang=Tài sản hữu hình

Tổng tài sản

3.3.4 Lợi nhuận doanh nghiệp

Một yếu tố khác được tìm thấy có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi tránh thuế

là lợi nhuận của các doanh nghiệp Tuy nhiên, mối quan hệ giữa lợi nhuận của doanh nghiệp và hành vi tránh thuế vẫn chưa thật sự rõ ràng Có quan điểm cho rằng các công ty có lợi nhuận nhiều có thể tận dụng được các lợi ích từ ưu đãi tấm chắn thuế và kết quả là các công ty này có chênh lệch thuế trên sổ sách càng lớn (Manzon và Pleski, 2002) Hơn thế nữa, Rego (2003) cũng chỉ ra rằng các công ty

có lợi nhuận nhiều sẽ có chi phí thấp do các doanh nghiệp này có đủ nguồn lực để đầu tư vào các hoạt động quản trị thuế doanh nghiệp và điều này sẽ làm giảm thuế

Trang 39

suất hiệu lực của doanh nghiệp, cũng hàm ý rằng hành vi tránh thuế của doanh nghiệp đang gia tăng Đồng thời, các doanh nghiệp có lợi nhuận nhiều thì thường có nhiều động cơ trong việc giảm thiểu gánh nặng thuế hơn và do đó sẽ giảm thuế suất hiệu lực của doanh nghiệp Theo đó, Derashid và Zhang (2003) và Kraft (2014) đã tìm thấy mối tương quan dương giữa lợi nhuận và hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp Mặt khác, có thể thấy rằng các doanh nghiệp có lợi nhuận càng nhiều sẽ càng phải chịu sự giám sát nhiều từ phía cơ quan thuế bởi lẽ các cơ quan thuế không muốn phần thuế thu nhập doanh nghiệp được nộp từ phía các doanh nghiệp này giảm Cho nên các doanh nghiệp này sẽ phải chịu sự giám sát chặt chẽ từ cơ quan thuế và do đó sẽ có tỷ lệ thuế suất hiệu lực cao hơn so với các doanh nghiệp khác Các nghiên cứu trước đây của Gupta và Newberry (1997), Richardson và Lanis (2007), Minick và Noga (2010) và Armstrong và các cộng sự (2012) đã tìm thấy bằng chứng ủng hộ quan điểm này, cụ thể là tồn tại mối tương quan ngược chiều giữa lợi nhuận và hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp Vì thế, luận văn kỳ vọng rằng lợi nhuận có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp trong đó lợi nhuận doanh nghiệp được đo lường bởi tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản

Roa=Lợi nhuận sau thuế

Tổng tài sản

3.3.5 Cơ hội tăng trưởng

Các nghiên cứu trước đây cho rằng chiến lược đầu tư của doanh nghiệp sẽ có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp Theo đó, cơ hội tăng trưởng được xem như là yếu tố quan trọng đối với quyết định đầu tư của các doanh nghiệp Do đó sẽ có thể có tác động đáng kể đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp Cụ thể, các doanh nghiệp có nhiều cơ hội tăng trưởng được cho rằng

sẽ nhận được nhiều lợi ích hơn bởi vì các doanh nghiệp sẽ chi tiêu đầu tư càng nhiều và sẽ có chi phí khấu hao càng nhiều, và kết quả là sẽ làm giảm thuế thu nhập

Trang 40

doanh nghiệp phải nộp của doanh nghiệp Điều này ngụ ý rằng mối tương quan giữa

cơ hội tăng trưởng và hành vi tránh thuế có thể là cùng chiều Tuy nhiên, Derashid

và Zhang (2003) lại tìm thấy bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng cơ hội tăng trưởng có tương quan âm với hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp Vì thế, luận văn kỳ vọng rằng cơ hội tăng trưởng có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp trong đó cợ hội tăng trưởng được đo lường bởi tốc độ tăng trưởng trong doanh thu thuần giữa năm t và năm t – 1 của doanh nghiệp

Growth=Doanh thu thuầnt-Doanh thu thuầnt-1

Doanh thu thuầnt-1

3.3.6 Sự kiêm nhiệm

Sự phân tách quyền sở hữu và quyền kiểm soát có thể tạo ra chi phí đại diện giữa các cổ đông và các nhà quản trị của doanh nghiệp Hội đồng quản trị, có quyền lực để thuê, sa thải và đưa ra chính sách cổ tức, và thưởng phạt các ủy viên trong hội đồng quản trị, có thể điều chỉnh lợi ích của cổ đông và nhà quản trị và từ đó giảm thiểu chi phí đại diện của công ty (Baysinger và Butler, 1985) Mặt khác, hội đồng quản trị có thể đóng vai trò tư vấn cho công ty Theo đó, hội đồng quản trị có thể tư vấn cho giám đốc của công ty cách để làm gia tăng giá trị của công ty và một trong các phương pháp đó là thông qua hiệu quả trong việc quản trị chi phí thuế của công ty (Yermack, 2004) Do đó, hội đồng quản trị đóng vai trò quan trọng trong cơ chế quản trị của doanh nghiệp (Fama và Jensen, 1983)

Bên cạnh đó, có thể thấy rằng giám đốc điều hành (CEO) của doanh nghiệp là lãnh đạo điều hành các hoạt động, quyết định của công ty, là người đưa ra quyết định cuối cùng về các hoạt động thực tế của doanh nghiệp Hơn thế nữa, thông thường chủ tịch hội đồng quản trị sẽ kiêm nhiệm vị trí giám đốc điều hành (CEO) ở

Mỹ, trong khi đó, hầu hết các quốc gia ở Châu Âu, Anh và Canada, các doanh nghiệp đều tách biệt hai vị trí này (Lin và Liu, 2009) Sự khác biệt trong cơ chế quản trị này giữa các quốc gia tiết lộ rằng tác động của sự kiêm nhiệm vị trí chủ tịch

Ngày đăng: 09/12/2018, 23:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w