1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tác động của viện trợ nước ngoài đến tổng thu thuế tại các nước đông nam á

80 108 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT Viện trợ nước ngoài là một trong những nguồn lực quan trọng hỗ trợ các quốc gia cải cách thuế, để làm rõ mức độ tác động của viện trợ nước ngoài và các yếu tố kinh tế

Trang 1

-

NGÔ HOÀNG ANH

TÁC ĐỘNG CỦA VIỆN TRỢ NƯỚC NGOÀI ĐẾN TỔNG THU THUẾ TẠI CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2018

Trang 2

-

NGÔ HOÀNG ANH

TÁC ĐỘNG CỦA VIỆN TRỢ NƯỚC NGOÀI ĐẾN TỔNG THU THUẾ TẠI CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã số: 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS SỬ ĐÌNH THÀNH

TP Hồ Chí Minh – Năm 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ “Tác động của viện trợ nước ngoài đến tổng

thu thuế tại các nước Đông Nam Á” là công trình nghiên cứu của tôi, dưới sự

hướng dẫn của GS.TS Sử Đình Thành Các kết quả nghiên cứu trong Luận văn này

là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào Các đoạn trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi

TP Hồ Chí Minh, ngày 07 tháng 04 năm 2018

Tác giả

Ngô Hoàng Anh

Trang 5

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ

TÓM TẮT

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU LUẬN VĂN 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Câu hỏi nghiên cứu 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Kết cấu của luận văn 4

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 4

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆN TRỢ NƯỚC NGOÀI ĐẾN TỔNG THU THUẾ 5

2.1 Tổng quan lý thuyết về viện trợ nước ngoài 5

2.1.1 Khái niệm viện trợ nước ngoài 5

2.1.2 Phân loại viện trợ nước ngoài 5

2.1.3 Vai trò của viện trợ nước ngoài 6

2.2 Tổng quan lý thuyết về thuế 8

2.2.1 Khái niệm về thuế 8

Trang 6

2.2.2 Đặc điểm của thuế 10

2.2.3 Phân biệt thuế và phí, lệ phí 12

2.2.4 Chức năng và vai trò của thuế 13

2.2.4.1 Chức năng của thuế 13

2.2.4.2 Vai trò của thuế 14

2.2.5 Phân loại thuế 16

2.3 Tác động của viện trợ nước ngoài đến tổng thu thuế Chính phủ 21

2.4 Lược khảo một số nghiên cứu trước có liên quan 22

2.5 Đề xuất mô hình nghiên cứu cho luận văn 24

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VỀ TỔNG THU THUẾ VÀ VIỆN TRỢ NƯỚC NGOÀI TẠI CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á 26

3.1 Thực trạng về tổng thu thuế tại các nước Đông Nam Á 26

3.2 Thực trạng về tình hình viện trợ nước ngoài tại các nước Đông Nam Á 29

3.3 Thực trạng về các yếu tố vĩ mô khác tác động đến tổng thu thuế tại các nước Đông Nam Á 31

3.3.1 GDP bình quân đầu người 31

3.3.2 Độ mở thương mại của nền kinh tế 34

CHƯƠNG 4: PHƯƠNG PHÁP VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA VIỆN TRỢ NƯỚC NGOÀI ĐẾN TỔNG THU THUẾ TẠI CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á 37

4.1 Phương pháp nghiên cứu 37

4.2 Thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu 39

4.3 Kết quả phân tích hồi quy mô hình nghiên cứu 40

4.3.1 Kết quả ước lượng 40

4.3.2 Kiểm định các giả định của mô hình hồi quy 41

4.3.2.1 Phân tích tương quan 41

4.3.2.2 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến các biến độc lập 41

4.3.2.3 Kiểm định hiện tượng tự tương quan 41

4.3.2.4 Kiểm định hiện tượng phương sai sai số không đổi 41

Trang 7

4.3.2.5 Kiểm định phân phối chuẩn của phần dư 42

4.4 Thảo luận kết quả nghiên cứu 43

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 46

5.1 Tóm tắt các kết quả chính của đề tài 46

5.2 Khuyến nghị về cải cách chính sách và quản lý thuế tại các nước Đông Nam Á 48

5.3 Khuyến nghị nhằm thu hút, quản lý và sử dụng nguồn viện trợ nước ngoài hỗ trợ cho cải cách thuế 51

5.4 Khuyến nghị về các yếu tố kinh tế vĩ mô có tác động đến tổng thu thuế 52

5.4.1 GDP bình quân đầu người 52

5.4.2 Độ mở thương mại của nền kinh tế 53

5.5 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu trong tương lai 54

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DAC : Development Assistance Committee: Uỷ ban Hỗ trợ phát triển

FDI: Foreign Direct Investment: Đầu tư trực tiếp nước ngoài

FEM : Fixed Effects Model: Mô hình ảnh hưởng cố định

FGLS : Feasible Generalized Least Squares: Phương pháp ước lượng Bình phương tổi thiểu tổng quát khả thi

GDP: Gross domestic product: Tổng sản phẩm quốc nội

IMF: International Monetary Fund: Quỹ Tiền tệ Quốc tế

OA: Official Assistance: Viện trợ chính thức

ODA: Official Development Assistance: Viện trợ phát triển chính thức

OECD: The Organisation for Economic Co-operation and Development: Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế

Pooled OLS: Mô hình ước lượng bình phương nhỏ nhất

PVA: Private voluntary assistance: Viện trợ tự nguyện tư nhân

REM : Random Effect Model: Mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên

WB: Worldbank: Ngân hàng Thế giới

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Thống kê mô tả về tổng thu thuế tại các nước Đông Nam Á giai đoạn

2002 – 2016 26 Bảng 3.2 Thống kê mô tả về tỷ lệ viện trợ nước ngoài trên GDP tại các nước Đông Nam Á giai đoạn 2002 – 2016 29 Bảng 3.3 Thống kê mô tả GDP bình quân đầu người tại các nước Đông Nam Á giai đoạn 2002 - 2016 32 Bảng 3.4 Thống kê mô tả độ mở thương mại của các nước Đông Nam Á giai đoạn

2002 – 2016 35 Bảng 4.1 Thống kế mô tả dữ liệu nghiên cứu của mô hình 39 Bảng 4.2 Tổng hợp kết quả hồi quy mô hình nghiên cứu 40

Trang 10

DANH MỤC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ

Hình 3.1 Biểu đồ giá trị trung bình tỷ lệ tổng thu thuế trên GDP tại các nước Đông Nam Á giai đoạn 2002 - 2016 28 Hình 3.2 Biểu đồ giá trị trung bình tỷ lệ viện trợ nước ngoài trên GDP tại các nước Đông Nam Á giai đoạn 2002 - 2016 30 Hình 3.3 Biểu đồ giá trị trung bình GDP bình quân đầu người tại các nước Đông

Nam Á giai đoạn 2002 - 2016 33 Hình 3.4 Biểu đồ giá trị trung bình độ mở thương mại của các nước Đông Nam Á giai đoạn 2002 - 2016 36 Hình 4.1 Biểu đồ tần số của phần dư chuẩn hóa mô hình nghiên cứu 42 Hình 4.2 Biểu đồ P – P Plot về phân phối chuẩn của phần dư mô hình nghiên cứu 43

Trang 11

TÓM TẮT

Viện trợ nước ngoài là một trong những nguồn lực quan trọng hỗ trợ các quốc gia cải cách thuế, để làm rõ mức độ tác động của viện trợ nước ngoài và các yếu tố kinh tế vĩ mô khác đến mức độ thu thuế của chính phủ các nước đang phát triển

trong khu vực Đông Nam Á tác giả đã nghiên cứu luận văn: “Tác động của viện trợ

nước ngoài đến tổng thu thuế tại các nước Đông Nam Á”

Về mặt lý thuyết, viện trợ nước ngoài nếu được quản lý và sử dụng một cách có hiệu quả có thể đóng vai trò là nguồn lực tài chính quan trọng để hỗ trợ cho công cuộc cải cách thuế từ đó giúp nâng cao tổng thu về thuế để đầu tư phát triển toàn diện mọi mặt của xã hội ở những nước đang phát triển Đây chính là chìa khoá để tạo bước nhảy vọt về lượng trong thúc đẩy tăng trưởng, góp phần làm giảm đói nghèo Tuy nhiên, đa số các nước Đông Nam Á đều là những nước đang phát triển nên khả năng quản lý kinh tế còn nhiều yếu kém với những điểm khác biệt về nền tảng địa chính trị và văn hoá Do đó, việc nghiên cứu sự tác động của viện trợ nước ngoài và các yếu tố khác đến tổng thu thuế của khu vực sẽ giúp hỗ trợ Chính phủ của các nước này có thể hoạch định những chính sách quản lý và sử dụng viện trợ nước ngoài một cách hợp lý để có thể hỗ trợ một cách tích cực cho công cuộc cải cách thuế tại các quốc gia này, giúp ổn định kinh tế vĩ mô, hướng đến sự phát triển bền vững của cả khu vực trong cả ngắn hạn và dài hạn

Tác giả thực hiện phân tích hồi quy bằng các phương pháp ước lượng khác nhau cho dữ liệu bảng bao gồm Pooled OLS, REM và FEM Sau đó, tác giả đã sử dụng các kiểm định Breusch-Pagan Lagrangian, Hausman cũng như so sánh mức độ giải thích của các phương pháp ước lượng đối với mô hình nghiên cứu Kết quả phương pháp ước lượng phù hợp nhất cho mô hình nghiên cứu là mô hình tác động cố định (FEM) với R2 = 19,52% có nghĩa là các biến của mô hình có thể giải thích được 19,52% sự biến thiên của tỷ lệ tổng thu thuế trên GDP của các nước đang phát triển trong khu vực Đông Nam Á Nói lên viện trợ nước ngoài có tác động ngược chiều đến tổng thu thuế của các nước Đông Nam Á với mức ý nghĩa 1% Lý giải cho kết

Trang 12

quả này, tác giả cho rằng viện trợ nước ngoài làm giảm tổng thu thuế thông qua việc giảm bớt động cơ để đánh thuế và làm chậm sự phát triển về chất lượng của các tổ chức trong việc xây dựng chính sách và quản lý thuế do điều kiện về môi trường thể chế và chính sách quản lý viện trợ không tốt

Việc cải cách hệ thống chính sách thuế gắn liền với đời sống kinh tế - xã hội là điều quan trọng và cần thiết đối với Chính phủ các nước để giúp cho chính sách thuế phù hợp hơn với thông lệ thế giới đồng thời có sự điều chỉnh phù hợp với những biến động trong từng giai đoạn thực tiễn của nền kinh tế Việc xây dựng chính sách thuế tại các nước Đông Nam Á hiện nay cần hướng đến sự đồng bộ, thống nhất, công bằng, hiệu quả; mức động viên hợp lý, sửa đổi, bổ sung phù hợp với định hướng phát triển kinh tế của từng quốc gia, góp phần chủ động tham gia hội nhập, bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước phù hợp với cam kết và thông lệ quốc tế; minh bạch, dễ thực hiện và bao quát các nguồn thu mới phát sinh, cơ cấu lại theo hướng tăng thu nội địa Để thực hiện được điều này cần có sự cải cách, sửa đổi một số loại thuế như: Thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế xuất nhập khẩu… Từ đó, tác giả đề xuất những khuyến nghị cụ thể để các quốc gia Đông Nam Á có thể cải cách chính sách và quản

lý thuế; đồng thời có thể thu hút, quản lý và sử dụng nguồn viện trợ nước ngoài hiệu quả

Trang 13

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU LUẬN VĂN

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cải thiện thể chế và chính sách kinh tế, nâng cao tổng thu về thuế để đầu tư phát triển toàn diện mọi mặt của xã hội ở những nước đang phát triển chính là chìa khoá để tạo bước nhảy vọt về lượng trong thúc đẩy tăng trưởng, góp phần làm giảm đói nghèo Một trong các nguồn lực tài chính có vai trò quan trọng để hỗ trợ cho công cuộc cải cách thuế chính là viện trợ nước ngoài Đây là nguồn lực tài chính để chính phủ các nước có thể nuôi dưỡng, bù đắp các chi phí cho công cuộc cải cách kinh tế, trong đó

có cải cách về thuế Các khoản thu từ viện trợ nước ngoài có thể giúp nước tiếp nhận giảm chi phí thuế mà không ảnh hưởng đến mức độ cung cấp dịch vụ công Khi các nước mong muốn cải cách về thuế thì viện trợ nước ngoài có thể đóng góp những nỗ lực cần thiết như hỗ trợ thử ngiệm cải cách, trình diễn thí điểm, tạo đà và phổ biến các bài học kinh nghiệm Những nước mà ở đó chính phủ thực hiện những chính sách vững chắc phân bổ hợp lý các khoản chi tiêu và cung cấp dịch vụ có hiệu quả cao thì hiệu quả chung của viện trợ là lớn Ngược lại, ở những nước mà chính phủ và nhà tài trợ không đồng nhất quan điểm trong việc chi tiêu, hiệu quả lại thấp thì các nhà tài trợ cho rằng cách tốt nhất là giảm viện trợ và tăng cường hỗ trợ cho việc hoạch định chính sách và xây dựng thể chế cho đến khi các nhà tài trợ thấy rằng viện trợ của họ sẽ đóng góp cho sự phát triển Tóm lại, viện trợ nước ngoài chỉ có hiệu quả và phát huy hết vai trò của nó, đặc biệt là trong vấn đề hỗ trợ chính phủ cải cách thể chế, chính sách để nâng cao tổng thu thuế khi có một cơ chế quản lý tốt, một thể chế lành mạnh và một môi trường chính trị hoàn thiện Nếu không chẳng những viện trợ nước ngoài không phát huy vai trò của nó mà còn đem lại gánh nặng nợ nần cho đất nước

Đa số các nước trong khu vực Đông Nam Á đều là các nước đang phát triển, hiện đang mong muốn nhận được nhiều nguồn viện trợ nước ngoài và quản lý sử dụng nó thật hiệu quả phục vụ cho phát triển đất nước thông qua công cuộc cải cách về kinh tế trong đó có lĩnh vực thu thuế của Chính phủ Chính vì vậy, việc nhận thức rõ được vai trò của viện trợ nước ngoài và tác động của nó đến tổng thu thuế, cũng như các điều

Trang 14

kiện để viện trợ nước ngoài phát huy được hiệu quả để từng bước hoàn thiện công tác thu hút, quản lý và sử dụng viện trợ nước ngoài gắn liền với cải cách thuế đang là vấn

đề rất được Chính phủ các nước quan tâm Do đó, để làm rõ vấn đề này, tác giả quyết

định lựa chọn đề tài: “TÁC ĐỘNG CỦA VIỆN TRỢ NƯỚC NGOÀI ĐẾN TỔNG THU THUẾ TẠI CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á” để thực hiện nghiên cứu cho luận

văn thạc sĩ của mình nhằm giúp các nhà hoạch định chính sách có cơ sở khoa học để

có thể đưa ra những chính sách thu hút, quản lý và sử dụng nguồn viện trợ nước ngoài một cách hiệu quả, góp phần hỗ trợ cho việc cải cách thuế để nâng cao tổng thu thuế tại các nước Đông Nam Á trong thời gian tới

2 Mục tiêu nghiên cứu

Có nhiều nghiên cứu thực nghiệm tại các quốc gia trên thế giới đã chỉ ra sự tác động của viện trợ nước ngoài đến tổng thu thuế Nhưng hiện nay tồn tại hai luồng quan điểm khác nhau: nhóm thứ nhất cho rằng viện trợ nước ngoài tác động tiêu cực lên tổng thu thuế, nhóm thứ hai cho rằng viện trợ nước ngoài tác động tích cực lên tổng thu thuế Chính vì lí do này, mục tiêu của bài nghiên cứu được đặt ra là:

- Thứ nhất, đánh giá mức độ tác động của viện trợ nước ngoài đến tổng thu thuế tại các nước Đông Nam Á hiện nay trong sự kiểm soát của các yếu tố được đưa vào mô hình nghiên cứu

- Thứ hai, cung cấp bằng chứng khoa học về mặt định lượng về sự tác động của viện trợ nước ngoài đến tổng thu thuế, từ đó đề xuất các khuyến nghị nhằm giúp các quản lý có chính sách thu hút, quản lý và sử dụng nguồn viện trợ nước ngoài một cách hiệu quả, góp phần hỗ trợ cho việc cải cách thuế để nâng cao tổng thu thuế tại các nước Đông Nam Á trong thời gian tới

3 Câu hỏi nghiên cứu

- Viện trợ nước ngoài có sự tác động như thế nào đến mức độ thu thuế của quốc gia?

- Mức độ tác động của viện trợ nước ngoài đến tổng thu thuế tại các nước Đông Nam Á dưới sự kiểm soát của các yếu tố kinh tế vĩ mô như thế nào trong thời gian qua?

Trang 15

- Chính phủ các nước cần thu hút, quản lý và sử dụng nguồn viện trợ nước ngoài như thế nào để có tác động tích cực đến việc cải cách thuế, góp phần nâng cao mức độ thu thuế cho ngân sách nhà nước?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

o Đối tượng nghiên cứu: Tác động của viện trợ nước ngoài đến tổng thu thuế

o Phạm vi nghiên cứu:

Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu tác động của viện trợ nước ngoài đến tổng thu thuế của Chính phủ các nước Trên cơ sở lý thuyết về tác động của viện trợ nước ngoài đến tổng thu thuế, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu để lượng hóa tác động của biến độc lập viện trợ nước ngoài và các biến kiểm soát khác đến biến phụ thuộc tổng thu thuế của Chính phủ Tác giả đã chọn các biến kiểm soát dựa vào một số lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm trước có liên quan

- Không gian nghiên cứu: các quốc gia Đông Nam Á ngoại trừ Brunei và

Singapore do Brunei và Singapore là hai nước phát triển kể từ năm 2005 đã không còn

nhận viện trợ nước ngoài nên không có thống kê số liệu của hai nước này

- Thời gian nghiên cứu: tác giả thu thập dữ liệu trong 15 năm từ 2002 đến 2016

5 Phương pháp nghiên cứu

Để lượng hóa tác động của viện trợ nước ngoài đến tổng thu thuế, tác giả sử dụng

mô hình hồi quy tuyến tính đa biến Dữ liệu được tác giả sử dụng để tiến hành hồi quy

là dữ liệu bảng (panel data) Do đó, tác giả sẽ xử lý dữ liệu bảng bằng ba phương pháp ước lượng khác nhau là: mô hình ước lượng OLS thô (Pooled OLS), mô hình tác động cố định (Fixed Effects Model) và mô hình tác động ngẫu nhiên (Random Effects Model) để lượng hóa mức độ ảnh hưởng của biến độc lập và các biến kiểm soát trong

mô hình nghiên cứu đến tổng thu thuế của Chính phủ các nước Bên cạnh đó, để chọn lựa mô hình phù hợp nhất với mô hình và dữ liệu nghiên cứu, tác giả sẽ sử dụng các kiểm định Breusch-Pagan Lagrangian và kiểm định Hausman để lựa chọn giữa ba phương pháp ước lượng

Mặt khác, để đảm bảo tính hiệu quả của các hệ số hồi quy và tính đại diện cho tổng thể của mô hình nghiên cứu, tác giả sẽ thực hiện kiểm định một số giả định hồi quy

Trang 16

của mô hình bao gồm: hiện tượng đa cộng tuyến; hiện tượng tự tương quan; phương sai sai số không đổi; phần dư có phân phối chuẩn.Bên cạnh đó, nếu xảy ra hiện tượng

tự tương quan hay phương sai số thay đổi, phương pháp FGLS sẽ được sử dụng kiểm soát các vi phạm này (Judge, Hill et al, 1988)

6 Kết cấu của luận văn

Luận văn được kết cấu như sau:

- Chương 1: Giới thiệu luận văn

- Chương 2: Tổng quan lý thuyết về tác động viện trợ nước ngoài đến tổng thu thuế

- Chương 3: Thực trạng về tổng thu thuế và viện trợ nước ngoài tại các nước Đông Nam Á

- Chương 4: Phương pháp và kết quả nghiên cứu tác động của viện trợ nước ngoài đến tổng thu thuế tại các nước Đông Nam Á

- Chương 5: Kết luận và khuyến nghị

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Về mặt lý luận: Luận văn góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về viện trợ nước

ngoài và tác động của nó đến tổng thu thuế của các nước đang phát triển Dựa trên cơ

sở lý thuyếtvà các nghiên cứu thực nghiệm trước, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu tác động của viện trợ nước ngoài đến tổng thu thuế phù hợp với tình hình thực tế tại các nước Đông Nam Á

- Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác

động của viện trợ nước ngoài đến tổng thu thuế của các nước Đông Nam Á để từ đó các nhà quản lý có các chính sách thu hút và sử dụng nguồn viện trợ nước ngoài phù hợp, góp phần hỗ trợ cho việc cải cách thuế để nâng cao tổng thu thuế tại các nước Đông Nam Á trong thời gian tới

Trang 17

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆN TRỢ

NƯỚC NGOÀI ĐẾN TỔNG THU THUẾ

2.1 Tổng quan lý thuyết về viện trợ nước ngoài

2.1.1 Khái niệm viện trợ nước ngoài

Viện trợ nước ngoài là các khoản ưu đãi tài chính, hàng hóa và dịch vụ được tài trợ dành cho các nước đang phát triển nhằm thúc đẩy phát triển ở các quốc gia này, thường được thực hiện dưới hình thức hỗ trợ tài chính hoặc hỗ trợ kỹ thuật

Uỷ ban Hỗ trợ phát triển (Development Assistance Committee – DAC) thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đưa ra một định nghĩa chính xác hơn được

sử dụng bởi câu lạc bộ các nhà tài trợ Theo đó, các khoản tài chính quốc tế hội tụ đủ các điều kiện sau có thể được xem là một khoản viện trợ:

- Đến từ các nguồn chính thức, không bao gồm các quỹ được huy động bởi các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức tình nguyện tư nhân, ngoại trừ những khoản viện trợ từ các nguồn chính thức nhưng được giải ngân thông qua các tổ chức phi chính phủ;

- Được dành cho mục đích phát triển, vì vậy viện trợ không bao gồm viện trợ quân

sự và các nguồn tài trợ phục vụ mục đích thương mại, ví dụ như tín dụng xuất khẩu;

- Có mức độ ưu đãi cao (viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25% khoản viện trợ);

- Được giành cho một quốc gia thuộc Phần I trên “Danh sách các nước nhận viện trợ” của DAC, trong đó bao gồm tất cả các nước thu nhập thấp và trung bình trên thế giới

2.1.2 Phân loại viện trợ nước ngoài

Căn cứ vào những điều kiện trên, DAC chia các dòng viện trợ thành ba loại chính

cụ thể như sau:

- Viện trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance - ODA) là lớn nhất, bao gồm viện trợ của chính phủ các nước tài trợ (vì thế được gọi là chính thức) dành cho các nước thu nhập thấp và trung bình

- Viện trợ chính thức (Official Assistance, OA) là viện trợ cung ứng bởi chính phủ các nước tài trợ dành cho những quốc gia giàu hơn với thu nhập trên đầu người cao

Trang 18

hơn khoảng 9000 USD (bao gồm Bahamas, Cyprus, Israel, và Singapore) và những nước trước đây thuộc Liên bang Xô viết hay các quốc gia vệ tinh của Liên bang Xô viết (như Hungary, Ba Lan, Romania, và nước Nga)

- Viện trợ tự nguyện tư nhân (Private voluntary assistance) bao gồm trợ cấp từ các

tổ chức phi chính phủ, các nhóm tôn giáo, các tổ chức từ thiện, các quỹ, và các công ty

tư nhân

2.1.3 Vai trò của viện trợ nước ngoài

Viện trợ nước ngoài bao gồm mối quan hệ giữa hai bên là chủ thể viện trợ và chủ thể nhận viện trợ Mặc dù quốc gia là chủ thể phổ biến và quan trọng nhất trong các mối quan hệ viện trợ nước ngoài, song các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cũng đóng vai trò nhất định

o Đối với chủ thể viện trợ:

Viện trợ nước ngoài được xem là một công cụ chính sách mà chủ thể viện trợ thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu nhất định Do vậy, dù chủ thể viện trợ là quốc gia hay tổ chức quốc tế thì tính chất chính trị trong các mối quan hệ viện trợ vẫn tồn tại Tính chất chính trị này có thể được nhận thấy ở các điều kiện đi kèm mà chủ thể viện trợ đặt ra cho chủ thể nhận viện trợ Ví dụ như IMF có thể yêu cầu nước nhận viện trợ thực hiện một số chính sách kinh tế nhất định để đổi lại các khoản viện trợ

Ngoài ra trong nhiều trường hợp, viện trợ còn được thực hiện nhằm phục vụ những lợi ích kinh tế của chủ thể viện trợ Trong các khoản viện trợ ràng buộc, một số nước chỉ chấp nhận cung cấp viện trợ với điều kiện nước nhận viện trợ phải mua các hàng hóa nhập khẩu từ nước viện trợ Hình thức viện trợ ràng buộc này còn được gọi là

“viện trợ giảm giá trị” (devalued aid) vì nước nhận viện trợ phải nhập khẩu các hàng hóa này với giá cao hơn và chất lượng thấp hơn so với các hàng hóa cùng chủng loại

có trên thị trường thế giới Nhiều nước viện trợ khi gặp khó khăn về cán cân thanh toán chỉ chấp nhận cung cấp viện trợ dưới hình thức này

o Đối với chủ thể nhận viện trợ:

- Viện trợ tài chính ở các nước đang phát triển có cơ chế quản lý tốt sẽ giúp tăng trưởng nhanh hơn, giảm tình trạng nghèo đói và đạt được các chỉ tiêu xã hội Trên thực

Trang 19

tế, một số nước nhận nhiều viện trợ mà thu nhập giảm trong khi một số nước nhận ít viện trợ mà thu nhập lại tăng Nhưng nếu chỉ xét đến sự phân biệt giữa các nước có cơ chế quản lý tốt và cơ chế quản lý tồi thì đối với các nước có cơ chế quản lý tồi, dù số tiền viện trợ là bao nhiêu thì tăng trưởng vẫn thấp, thậm chí còn âm Đối với các nước

có cơ chế quản lý tốt, khi viện trợ tăng lên 1% GDP thì tốc độ tăng trưởng tăng lên 0,5% Ngoài ra, viện trợ còn góp phần làm giảm đói nghèo Theo các chuyên gia về ODA, bình quân ở các nước đang phát triển, thu nhập đầu người tăng 1% đã dẫn đến

tỷ lệ đói nghèo giảm xuống 2% Nói cách khác, ở các nước có cơ chế quản lý tốt, khi viện trợ tăng lên 1% GDP thực tế thì sẽ giảm 1% tỷ lệ đói nghèo.Viện trợ có tác động đến tăng trưởng, từ đó dẫn đến nâng cao mức sống Tăng trưởng không loại bỏ đói nghèo nhưng rõ ràng tăng trưởng có tác động lớn đến cải thiện các chỉ tiêu xã hội

- Viện trợ thúc đẩy đầu tư: Các nước đang phát triển là những nước rất cần vốn cho đầu tư phát triển, và viện trợ chính là một hình thức bổ sung cho nguồn vốn trong nước Vốn đầu tư có thể thu hút từ các nguồn ODA, FDI hoặc nguồn vốn tích lũy từ nội bộ nền kinh tế Trong điều kiện nguồn vốn trong nước còn hạn hẹp thì nguồn vốn nước ngoài có tầm quan trọng đặc biệt Nguồn vốn ODA thường được các nước đang phát triển đầu tư cải thiện cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, xây dựng đường giao thông, phát triển năng lượng vì đây là những ngành cần phải đầu tư lớn, thu hồi vốn chậm nên tư nhân không có khả năng đầu tư.Viện trợ còn thúc đẩy thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI và phát triển nguồn nhân lực Nhờ có viện trợ mà nước nhận tài trợ với cơ chế quản lý tốt sẽ tạo ra được cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội vững chắc, giao thông thuận tiện, hệ thống pháp luật ổn định, viện trợ là sự chuẩn bị cho vốn đầu tư trực tiếp được thu hút vào là điều kiện cho FDI được sử dụng một cách hiệu quả Mặt khác, viện trợ còn giúp những nước đang phát triển tiếp thu những thành tựu khoa học

kỹ thuật hiện đại, trình độ quản lý tiên tiến, kỹ năng chuyên môn cao Đây chính là lợi ích căn bản, lâu dài của quốc gia nhận tài trợ

- Viện trợ giúp các nước đang phát triển cải thiện thể chế và chính sách kinh tế Cải thiện thể chế và chính sách kinh tế ở những nước đang phát triển là chìa khoá để tạo bước nhảy vọt về lượng trong thúc đẩy tăng trưởng, tức là góp phần làm giảm đói

Trang 20

nghèo Mặt khác, viện trợ có thể nuôi dưỡng cải cách Khi các nước mong muốn cải cách thì viện trợ nước ngoài có thể đóng góp những nỗ lực cần thiết như hỗ trợ thử ngiệm cải cách, trình diễn thí điểm, tạo đà và phổ biến các bài học kinh nghiệm Những nước mà ở đó chính phủ thực hiện những chính sách vững chắc phân bổ hợp lý các khoản chi tiêu và cung cấp dịch vụ có hiệu quả cao thì hiệu quả chung của viện trợ

là lớn Ngược lại, ở những nước mà chính phủ và nhà tài trợ không đồng nhất quan điểm trong việc chi tiêu, hiệu quả lại thấp thì các nhà tài trợ cho rằng cách tốt nhất là giảm viện trợ và tăng cường hỗ trợ cho việc hoạch định chính sách và xây dựng thể chế cho đến khi các nhà tài trợ thấy rằng viện trợ của họ sẽ đóng góp cho sự phát triển Qua đây ta cũng nhận thấy rằng giá trị thực của các dự án là ở chỗ thể chế và chính sách được củng cố, cải thiện việc cung cấp dịch vụ xã hội Việc tạo ra được kiến thức với sự trợ giúp của viện trợ sẽ dẫn tới sự cải thiện trong một số ngành cụ thể trong khi một phần tài chính của viện trợ sẽ mở rộng các dịch vụ công cộng nói chung

Tóm lại, viện trợ đã và đang có hiệu quả Tuy nhiên, nguồn viện trợ nước ngoài chỉ phát huy hết vai trò của nó khi có một cơ chế quản lý tốt, một thể chế lành mạnh và một môi trường chính trị hoàn thiện Nếu không chẳng những viện trợ nước ngoài không phát huy vai trò của nó mà còn đem lại gánh nặng nợ nần cho đất nước Các nước đang phát triển, hiện đang mong muốn nhận được nhiều nguồn viện trợ nước ngoài và quản lý sử dụng viện trợ thật hiệu quả phục vụ cho phát triển đất nước Do đó các nước đang phát triển cần nhận thức rõ được vai trò của viện trợ nước ngoài, các điều kiện để viện trợ nước ngoài phát huy vai trò của nó để từng bước hoàn thiện công tác thu hút, quản lý và sử dụng viện trợ nước ngoài

2.2 Tổng quan lý thuyết về thuế

2.2.1 Khái niệm về thuế

Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế Thuế không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện tượng xã hội do chính con người định ra và nó gắn liền với phạm trù Nhà nước và pháp luật

Trang 21

Trong cuốn từ điển kinh tế của hai tác giả người Anh Chrisopher Pass và Bryan Lowes, đứng trên giác độ đối tượng chịu thuế đã cho rằng: "Thuế là một biện pháp của chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn nhận được của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu), trên việc chi tiêu về hàng hoá và dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản"

Trên giác độ người nộp thuế, thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ Nhà nước

Theo các quan điểm này, thuế chỉ được nhìn nhận trên giác độ các đối tượng nộp thuế và đối tượng chịu thuế, không nói đến việc sử dụng tiền thuế để làm gì, chỉ thể hiện việc đánh thuế như là một nghĩa vụ công dân của các doanh nghiệp và hộ gia đình với đất nước mà mình đang kinh doanh hoặc đang sinh sống Các quan điểm này cũng chỉ phù hợp với giai đoạn phát triển của thuế trong thời đoạn lịch sử nhất định lúc đó Trên giác độ phân phối thu nhập, người ta định nghĩa: Thuế là hình thức phân phối

và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước

Trên giác độ kinh tế học, thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công, nhằm thực hiện các chức năng kinh tế – xã hội của Nhà nước

Những khái niệm về thuế nêu trên dựa theo từng giác độ khác nhau, chưa thật đầy đủ và chính xác được bản chất của thuế Đến nay, tuy chưa có một định nghĩa về thuế thống nhất, nhưng các nhà kinh tế đều nhất trí cho rằng, để làm rõ được bản chất của thuế thì định nghĩa về thuế phải nêu bật được các khía cạnh sau đây:

- Nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ tiền tệ giữa nhà nước với các pháp nhân và các thể nhân, không mang tính hoàn trả trực tiếp

- Những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và

có ý nghĩa xã hội đặc biệt

- Việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của nhà nước

Trang 22

- Các các pháp nhân và thể nhân chỉ phải nộp cho Nhà nước các khoản thuế đã được pháp luật quy định

- Việc sử dụng tiền thuế phải dành cho mục đích chung

2.2.2 Đặc điểm của thuế

Trong nền kinh tế thị trường, thuế có những đặc điểm cơ bản như sau:

- Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền:

Theo phương thức đánh thuế trong nền kinh tế thị trường, về nguyên tắc, thuế là một khoản trích nộp dưới hình thức tiền tệ, khác với hình thức nộp thuế bằng hiện vật

đã tồn tại từ thời xa xưa hoặc khác với chế độ giao nộp sản phẩm trong nền kinh tế phi thị trường Nhiều quan điểm cho rằng, đây chính là sự khác biệt cơ bản và đầu tiên của thuế trong nền kinh tế thị trường và thuế trong các nền kinh tế khác Chính sự phát triển của hoạt động trao đổi hàng hoá bằng tiền đã làm cho thuế phát triển, và ngược lại, việc bắt buộc nộp các khoản thuế bằng tiền đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị trường bằng cách đòi hỏi người nộp thuế trong trường hợp không có tiền phải đổi những tài sản hiện vật của mình ra thành tiền để thanh toán nợ thuế Tuy nhiên, hình thức trả thuế bằng hiện vật cũng không hoàn toàn mất đi trong hệ thống chính sách thuế đương đại Một số quốc gia vẫn duy trì hình thức này dưới dạng thanh toán thuế bằng tặng vật với một số hiện vật qúy, như khi đào được cổ vật phải nộp thuế cho nhà nước với một tỷ lệ hiện vật tùy theo quy định cụ thể Kỹ thuật này giúp Nhà nước sưu tập được những di sản quốc gia quý giá từ dân chúng để bảo tồn tập trung những giá trị văn hoá của dân tộc, nhân loại

- Luôn gắn liền với quyền lực nhà nước:

Đặc điểm này thể hiện tính pháp lý tối cao của thuế Thuế là nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được quy định trong Hiến Pháp - Đạo luật gốc của một quốc gia Việc ban hành, sửa đổi, bổ sung, hay bãi bỏ bất kỳ một thứ thuế nào cũng chỉ có một cơ quan duy nhất có thẩm quyền, đó là Quốc Hội - Cơ quan quyền lực Nhà nước tối cao Mặt khác tính quyền lực Nhà nước cũng thể hiện ở chỗ Nhà nước không thể thực hiện thu thuế một cách tuỳ tiện mà phải dựa trên những cơ sở pháp luật nhất định đã được xác định trong các văn bản pháp luật do các cơ quan quyền lực Nhà nước ban hành Ở các

Trang 23

quốc gia, do vai trò quan trọng của thuế đối với việc hình thành qũy ngân sách Nhà nước và những ảnh hưởng của nó đối với đời sống kinh tế - xã hội nên thẩm quyền quy định, sửa đổi, bãi bỏ các Luật thuế đều thuộc cơ quan lập pháp Ðây là nguyên tắc sớm được ghi nhận trong pháp luật của các nước Chẳng hạn ở nước Anh đạo Luật về dân quyền năm 1688 quy định: cấm mọi sự thu thuế để dùng vào việc chi tiêu của Nhà nước nếu không được Quốc hội chấp thuận ở Pháp, Quốc hội Pháp quy định: bất cứ một khoản thuế nào nếu không được Quốc hội chấp thuận thì không được áp dụng Hiến pháp của nước Cộng hòa Pháp năm 1791 quy định Quốc hội Pháp có quyền biểu quyết và định đoạt các Luật thuế Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: Quốc hội có nhiệm vụ và quyền hạn quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các Luật thuế Tuy vậy, do yêu cầu điều chỉnh các quan hệ pháp luật về thuế, Quốc hội có thể giao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ một số loại thuế thông qua hình thức ban hành Pháp lệnh hoặc Nghị quyết về thuế Công dân không phải nộp bất kỳ loại thuế nào nếu loại thuế đó chưa được ban hành dưới dạng Luật

Theo quan điểm này, công dân không có quyền từ chối trả thuế, cũng không có quyền tự ấn định hay thỏa thuận mức đóng góp của mình, mà chỉ có quyền chấp hành Trường hợp đối tượng nộp thuế nào cố tình không chấp hành sẽ bị cơ quan nhà nước

có thẩm quyền xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật để buộc họ phải làm tròn nghĩa vụ nộp thuế của mình theo luật định.Đây là đặc trưng cơ bản nhất của thuế nhằm phân biệt với tất cả các hình thức động viên tài chính cho Ngân sách Nhà nước khác

- Luôn gắn liền với thu nhập:

Đặc điểm này thể hiện rõ nội dung kinh tế của thuế Nhà nước thực hiện thu thuế thông qua quá trình phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, mà kết quả của nó là một bộ phận thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao bắt buộc cho Nhà nước mà không kèm theo bất kỳ một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho người nộp thuế Thuế dưới bất kỳ hình thức nào đều buộc người trả thuế phải lấy một khoản thu nhập của mình ra thanh toán cho Nhà nước mà không cần biết mình

đã chuẩn bị được khoản thu nhập đó hay chưa.Với đặc điểm này, thuế không giống

Trang 24

như các hình thức huy động tài chính tự nguyện hoặc hình thức phạt tiền tuy có tính chất bắt buộc, nhưng chỉ áp dụng đối với những tổ chức cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật

- Không hoàn trả trực tiếp và được sử dụng để đáp ứng chi tiêu công cộng:

Tính chất không hoàn trả trực tiếp được thể hiện trên các khía cạnh:

Thứ nhất, Sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế không mang tính chất đối giá

Về mặt pháp lý, thuế không là giá cả của dịch vụ cung cấp Vì vậy, người nộp thuế không thể phản đối việc thực hiện nghĩa vụ thuế bằng cách viện cớ là Nhà nước sử dụng tiền thuế không có hiệu quả Họ cũng không thể đòi hỏi số tiền thuế do họ nộp phải phân bổ cho dịch vụ công này hay hoạt động khác Mặt khác, họ cũng không thể từ chối nộp thuế với lý do số thuế thu được tài trợ cho các khoản chi tiêu trái với những nguyên tắc của nó

Thứ hai, các khoản thuế đã nộp cho Nhà nước sẽ không được dùng phục vụ trực tiếp cho người nộp thuế, nghĩa là mức thuế mà các tầng lớp trong xã hội chuyển giao cho Nhà nước không hoàn toàn dựa trên mức độ người nộp thuế thừa hưởng những dịch vụ và hàng hoá công cộng do Nhà nước cung cấp Người nộp thuế không có quyền đòi hỏi Nhà nước cung cấp hàng hoá, dịch vụ công cộng trực tiếp cho mình Người nộp thuế sẽ nhận được một phần các hàng hoá, dịch vụ công cộng mà Nhà nước

đã cung cấp cho cả cộng đồng, phần giá trị mà người nộp thuế được hưởng thụ không nhất thiết tương đồng với khoản thuế mà họ đã nộp cho Nhà nước Đặc điểm này của thuế giúp ta phân định rõ thuế với các khoản phí, lệ phí và giá cả

2.2.3 Phân biệt thuế và phí, lệ phí

- Thuế là khoản đóng góp bắt buộc theo quy định của pháp luật của các cá nhân và pháp nhân đối với Nhà nước không mang tính đối giá và hoàn trả trực tiếp

- Lệ phí là khoản thu vừa mang tính chất phục vụ cho đối tượng nộp lệ phí về việc thực hiện một số thủ tục hành chính vừa mang tính chất động viên sự đóng góp cho ngân sách Nhà nước

Trang 25

- Phí là khoản thu mang tính chất bù đắp chi phí thường xuyên hoặc bất thường như phí về xây dựng, bảo dưỡng, duy tu của Nhà nước đối với những hoạt động phục vụ người nộp phí

Thuế và lệ phí, phí đều là nguồn thu cho ngân sách Nhà nước và đều mang tính pháp lý nhưng giữa chúng có sự khác biệt trên một số mặtcụ thể như sau:

- Về mặt giá trị pháp lý: Thuế có giá trị pháp lý cao hơn lệ phí, phí Thuế được ban

hành dưới dạng văn bản pháp luật như: Luật, Pháp lệnh do Quốc hội và ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Trình tự ban hành một Luật thuế phải tuân theo một trình tự chặt chẽ Trong khi đó lệ phí, phí được ban hành đưới dạng Nghị định, Quyết định của chính phủ; Quyết định của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Nghị quyết của hội đồng nhân dân cấp tỉnh

-Về mục đích và mức độ ảnh hưởng đối với nền kinh tế - xã hội: thuế có 3 tác

dụng lớn: Tạo nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước; Ðiều chỉnh các hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý và định hướng phát triển kinh tế; Ðảm bảo sự bình đẳng giữa những chủ thể kinh doanh và công bằng xã hội Trong khi đó lệ phí, phí không có những tác dụng nói trên, nó chỉ có tác dụng tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước Hơn nữa, việc tạo nguồn này không phải dùng đáp ứng nhu cầu chi tiêu mọi mặt của Nhà nước, mà trước hết dùng để bù đắp các chi phí hoạt động của các cơ quan cung cấp cho xã hội một số dịch vụ công cộng như: dịch vụ công chứng, dịch vụ đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản, dịch vụ hải quan

-Về tên gọi và mục đích: Mục đích của từng loại lệ phí rất rõ ràng, thường phù hợp

với tên gọi của nó Nói một cách chính xác hơn, tên gọi của loại lệ phí nào phản ánh khá đầy đủ mục đích sử dụng loại lệ phí đó Mỗi một Luật thuế đều có mục đích riêng Tuy nhiên, đa số các sắc thuế có tên gọi không phản ánh đúng mục đích sử dụng, mà thường phản ánh đối tượng tính thuế

2.2.4 Chức năng và vai trò của thuế

2.2.4.1 Chức năng của thuế

Thuế có hai chức năng cơ bản đó là phân phối và điều tiết với nội dung cụ thể như sau:

Trang 26

- Chức năng phân phối và phân phối lại: là chức năng cơ bản, đặc thù của

thuế Ngay từ lúc ra đời thuế là phương tiện dùng để động viên nguồn tài chính vào ngân sách Nhà nước (có ở tất cả các kiểu Nhà nước) Về mặt lịch sử, chức năng huy động nguồn tài chính là chức năng đầu tiên, phản ánh nguyên nhân nảy sinh ra thuế.Thông qua chức năng này, các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước được hình thành để đảm bảo cơ sở vật chất cho sự hoạt động thường xuyên và tồn tại của Nhà nước

- Chức năng điều tiết đối với nền kinh tế:được thực hiện thông qua việc quy

định các hình thức thu thuế khác nhau, xác định đúng đắn đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế; xây dựng chính xác, hợp lý các mức thuế phải nộp có tính đến khả năng của người nộp thuế Trên cơ sở đó Nhà nước kích thích các hoạt động kinh tế đi vào quỹ đạo chung của nền kinh tế quốc dân, phù hợp với lợi ích của toàn xã hội Trong điều kiện chuyển sang cơ chế thị trường, vai trò kích thích kinh tế thông qua thuế ngay càng được nâng cao Nhà nước sử dụng thuế để tác động lên lợi ích kinh tế của các chủ thể vì lợi ích của nền kinh tế quốc dân Với công cụ thuế, sự can thiệp của Nhà nước không mang tính chất mệnh lệnh, bắt buộc các chủ thể phải kinh doanh hay không kinh doanh mà chủ yếu tạo ra sự lựa chọn đối với các chủ thể kinh doanh

2.2.4.2 Vai trò của thuế

Vai trò của thuế là sự biểu hiện cụ thể các chức năng của thuế trong những điều kiện kinh tế, xã hội nhất định Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, với sự thay đổi phương thức can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh tế, vai trò của thuế được thể hiện trên các khía cạnh sau đây:

- Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước:

Với chức năng phân phối lại thu nhập quốc dân, thuế bằng nhiều cách hình thành nên nguồn tài chính tập trung lớn nhất phục vụ cho chi tiêu công cộng, đó là ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước được tập hợp từ nhiều nguồn thu khác nhau, nhằm đảm bảo yêu cầu chi tiêu chung cho nhu cầu công cộng Trong tất cả các nguồn, thông thường số thu về thuế chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số thu ngân sách nhà nước Đây là nguồn thu ổn định nhất được kế hoạch hoá tốt trên cơ sở dự báo kế hoạch

Trang 27

và tiềm năng phát triển kinh tế của đất nước trong một năm Hầu như mọi khoản chi tiêu của ngân sách nhà nước đều dựa vào sự đóng thuế của người dân Vì vậy, xã hội

có trách nhiệm phải tôn trọng người nộp thuế, những người thông qua hành vi của mình đóng góp tài chính cho nhà nước một cách trực tiếp và gián tiếp

- Thuế là công cụ điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã hội:

Một trong những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường là có sự chênh lệch lớn về mức sống, về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội Kinh tế thị trường càng phát triển thì khoảng cách giàu - nghèo giữa các tầng lớp dân cư ngày càng có xu hướng gia tăng Sự phát triển mọi mặt của một đất nước là thành quả của sự nỗ lực của cả cộng đồng, mỗi thành viên trong xã hội đều có những đóng góp nhất định Nếu không chia sẻ thành quả phát triển kinh tế cho mọi thành viên sẽ thiếu công bằng và tạo nên sự đối lập về quyền lợi và của cải giữa các tầng lớp dân cư và gây ra bất ổn xã hội Chính vì vây, Nhà nước cần phải can thiệp vào quá trình phân phối thu nhập, của cải của xã hội Thuế là công cụ quan trọng mà Nhà nước sử dụng để tác động trực tiếp vào quá trình này

Việc điều hoà thu nhập giữa các tầng lớp dân cư được thực hiện một phần thông qua thuế gián thu mà đặc biệt là hình thức thuế tiêu thụ đặc biệt Loại thuế này

có đối tượng chịu thuế chủ yếu là các hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng cao cấp, đắt tiền Các hàng hoá, dịch vụ này thông thường chỉ có những người có thu nhập cao trong xã hội mới có thể sử dụng và hoặc sử dụng nhiều, qua đó điều tiết bớt một phần thu nhập của họ.Các sắc thuế trực thu, đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân với việc sử dụng thuế suất luỹ tiến là loại thuế có tác dụng rất lớn trong vấn đề điều tiết thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội

- Thuế là công cụ để thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh:

Vai trò này được xuất hiện trong quá trình tổ chức thực hiện các luật thuế trong thực tế Để đảm bảo thu được thuế và thực hiện đúng các quy định của các luật thuế đã ban hành, cơ quan thuế và các cơ quan liên quan phải bằng mọi biện pháp nắm vững số lượng, quy mô các cơ sở sản xuất, kinh doanh, ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh,

Trang 28

mặt hàng họ được phép kinh doanh cũng như các định mức chi tiêu đặc thù và các phương thức hạch toán riêng có Từ công tác thu thuế mà cơ quan thuế sẽ phát hiện ra những khó khăn mà họ gặp phải để giúp đỡ họ tìm mọi biện pháp tháo gỡ Đồng thời, cũng qua công tác thu thuế, cơ quan thuế cập nhật được nhiều kiến thức quản lý kinh tế để phục vụ tốt hơn cho việc kiểm tra, kiểm soát sau này Như vậy, qua công tác quản lý thu thuế mà có thể kết hợp kiểm tra, kiểm soát toàn diện các mặt hoạt động của các cơ sở kinh tế, đảm bảo thực hiện tốt quản lý Nhà nước về mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội

- Thuế góp phần thức đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển:

Thuế trong cơ chế thị trường không chỉ đóng vai trò là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, mà còn là một công cụ làm đòn bẩy để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển Theo quan điểm công bằng, bất kỳ một tổ chức, cá nhân khi đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế của mình với đất nước, họ được quyền thụ hưởng và cung ứng những lợi ích công cộng nhất định và được tạo thuận lợi nhất cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình Bên cạnh đó, phụ thuộc vào chủ trương kinh tế đất nước, mà nhà nước có thể dùng thuế để tác động, tạo thuận lợi hơn cho hoạt động kinh doanh ở một số ngành, vùng để khuyến khích sản xuất, kinh doanh phát triển nhằm tạo

ra một cơ cấu hợp lý hơn

2.2.5 Phân loại thuế

o Dựa theo phương thức đánh thuế:

Các loại thuế đều đánh vào thu nhập của các tổ chức, cá nhân trong xã hội Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào phương thức đánh thuế là đánh một cách trực tiếp hay gián tiếp vào thu nhập mà người ta chia hệ thống thuế thành hai loại: thuế trực thu và thuế gián thu

- Thuế trực thu:

Là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của người nộp thuế Thuế trực thu có đặc điểm là đối tượng nộp thuế theo luật quy định đồng nhất với người phải chịu thuế Ở đây, theo quy định của luật, thuế thu trực tiếp vào thu nhập của người nộp thuế Như vậy, thuế trực thu làm cho khả năng và cơ hội chuyển dịch gánh

Trang 29

nặng thuế cho người khác khó khăn hơn Về nguyên tắc, loại thuế này mang tính chất thuế luỹ tiến, vì nó tính đến khả năng của người nộp thuế, người có thu nhập cao hơn phải nộp thuế nhiều hơn, còn người có thu nhập thấp thì nộp thuế ít hơn Loại thuế trực thu thường bao gồm các sắc thuế đánh trên thu nhập của tổ chức và cá nhân Một sốloại thuế trực thu như: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, thuế tài nguyên, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà, đất

Ưu điểm của thuế trực thu là động viên trực tiếp vào thu nhập của từng tổ chức,

cá nhân có thu nhập, hơn thế nữa, thuế trực thu còn cho phép xem xét đến các yếu tố tương đối độc lập đến thu nhập của người nộp thuế, như hoàn cảnh bản thân, hoàn cảnh gia đình Do đó, thuế trực thu có tác dụng rất lớn trong việc điều hoà thu nhập, giảm bớt sự chênh lệch đáng kể về mức sống giữa các tầng lớp dân cư, do đó đã bảo đảm được tính công bằng trong xã hội

Nhược điểm của thuế trực thu là dễ gây ra phản ứng từ phía người nộp thuế khi Nhà nước điều chỉnh tăng thuế Hơn nữa việc theo dõi, tính toán số thuế phải nộp và thủ tục thu, nộp thuế hết sức phức tạp Số thu động viên vào Ngân sách thường chậm

và chi phí quản lý thu thuế khá tốn kém

- Thuế gián thu:

Là loại thuế không trực tiếp đánh vào thu nhập hay tài sản của người nộp thuế

mà đánh một cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hoá, dịch vụ Người tiêu dùng những hàng hoá, dịch vụ đó là người chịu loại thuế này Thuế gián thu có đặc điểm là người nộp thuế theo luật và người chịu thuế không đồng nhất với nhau Thuế gián thu

là một bộ phận cấu thành trong giá cả hàng hoá, dịch vụ Người nộp thuế là người sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ, còn người chịu thuế là người tiêu dùng các hàng hoá đó, họ mua hàng hoá với giá cả trong đó có cả thuế Loại thuế này có sự chuyển dịch gánh nặng thuế trong những trường hợp nhất định Thuế gián thu ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua cơ chế giá cả thị trường Tuy nhiên, sự ảnh hưởng đó của thuế gián thu không những chịu chi phối bởi mối quan hệ cung cầu trên thị trường, mà còn phụ thuộc vào bản chất của thị trường, trong đó có sự tác động của thuế, tức là thị trường đó là thị trường cạnh tranh hay độc quyền Về nguyên tắc, thuế

Trang 30

gián thu mang tính chất luỹ thoái vì nó không tính đến khả năng thu nhập của người chịu thuế, người có thu nhập cao hay thấp đều phải chịu thuế như nhau nếu cùng mua một loại hàng hoá, dịch vụ Tuy nhiên, tỷ lệ thu nhập nộp thuế của những người có thu nhập thấp sẽ cao hơn tỷ lệ nộp thuế của người có thu nhập cao nếu so với tổng thu nhập trong kỳ, bởi lẽ tốc độ tăng tiêu dùng bao giờ cũng thấp hơn tốc độ tăng thu nhập Loại thuế này thưòng có cơ sở đánh thuế là các khoản thu nhập dùng để tiêu dùng Ở nước ta, các sắc thuế gián thu bao gồm: thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Ưu điểm của thuế gián thu là đối tượng chịu thuế rất rộng Thuế gián thu được che đậy qua giá bán hàng hoá, dịch vụ nên người chịu thuế ít có cảm giác mình bị Nhà nước đánh thuế Thuế gián thu đem lại nguồn thu thường xuyên và ổn định cho Ngân sách Nha nước Đối tượng quản lý thu thuế cũng tập trung hơn, nghiệp vụ tính và thu thuế thuế đơn giản, nên chi phí quản lý thuế cũng thấp hơn so với thuế trực thu

Nhưng loại thuế này cũng có nhược điểm là có tính chất luỹ thoái nên không đảm bảo tính công bằng trong nghĩa vụ nộp thuế Nếu tính tỷ lệ động viên thuế gián thu so với thu nhập thì người giàu có tỷ lệ động viên thuế chịu thuế thấp hơn so với người nghèo

o Dựa theo cơ sở tính thuế:

Nếu căn cứ vào cơ sở tính thuế để phân loại thì có thể chia thành ba loại như sau:

- Thuế thu nhập:

Bao gồm các loại thuế có cơ sở đánh thuế là thu nhập kiếm được Thu nhập kiếm được là toàn bộ số tiền và lợi ích vật chất mà một tổ chức, cá nhân nhận được trong kỳ tính thuế, kể cả các khoản chi tiêu đã bỏ ra để có được thu nhập Thu nhập kiếm được từ nhiều nguồn: từ lao động dưới dạng tiền lương, tiền công; từ hoạt động sản xuất, kinh doanh dưới dạng thu nhập, lợi tức cổ phần; và từ các hoạt động đầu tư tài chính khác do đó, thuế thu nhập cũng có nhiều dạng: thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập công ty, thuế chuyển thu nhập ra nước ngoài, thuế lợi tức cổ phần

- Thuế tiêu dùng:

Trang 31

Là loại thuế đánh vào hàng hoá, dịch vụ khi diễn ra việc mua bán Điều đáng chú ý đầu tiên là thuế tiêu dùng không khác thuế thu nhập nhiều như người ta tưởng Thật vậy, thuế tiêu dùng đánh vào phần thu nhập kiếm được hoặc sử dụng phần tiết kiệm để mua sắm hàng hoá hoặc dịch vụ tiêu dùng trong hiện tại Thứ hai, Thuế tiêu dùng đôi khi còn thể hiện giống như hình thức thuế vốn hay tài sản Đó là trường hợp mua tài sản dùng để đầu tư như nhà cửa, lợi thế thương mại, trái phiếu Các phần mua tài sản tiêu dùng là thể hiện thuế tiêu dùng rõ nét Trong thực tế loại thuế tiêu dùng được thể hiện dưới nhiều dạng như thuế doanh thu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng

- Thuế tài sản:

Thuế tài sản có thể được đánh trong trường hợp chuyển giao, cho không tài sản (ví dụ như cho, tặng hoặc thừa kế), hoặc dưới hình thức bán (ví dụ như nhượng bán bất động sản hoặc động sản), hoặc trong trường hợp có sự hiện hữu của tài sản (như trường hợp đánh thuế vào các khối tài sản lớn)

Người ta nhận thấy rằng, thuế tài sản có thể là một dạng của thuế tiêu dùng và cũng có thể dưới hình thức gián tiếp của thuế thu nhập Thuế tài sản giống thuế tiêu dùng khi đánh vào hoạt động mua bất động sản và động sản Nó thể hiện như một hình thức gián tiếp của thuế thu nhập khi mua các bất động sản hoặc động sản bằng việc sử dụng các khoản thu nhập có từ trước và bản thân các thu nhập đó cũng đã bị đánh thu Thuộc loại thuế tài sản là các sắc thuế như thuế nhà đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp

o Dựa theo đặc trưng của biểu thuế:

- Thuế đánh theo tỷ lệ:

Là loại thuế đánh theo hình thức áp dụng một tỷ lệ hoặc phần trăm, hoặc lần trên các cơ sở tính thuế Đây là hình thức áp dụng phổ biến trong các loại thuế hiện nay Trong thuế tỷ lệ có thể phân ra thành 3 loại cụ thể như sau:

+ Thuế lũy tiến: áp dụng tỷ lệ tăng dần theo các mức tăng của cơ sở tính thuế Cơ sở tính thuế càng tăng thì mức thuế suất càng cao Trong thuế lũy tiến có hai hình thức: thuế lũy tiến từng phần và thuế lũy tiến toàn phần Với thuế lũy tiến từng

Trang 32

phần, thuế suất cao hơn chỉ được áp dụng cho phần cơ sở tính thuế tăng thêm Với thuế lũy tiến toàn phần, phần thuế suất cao hơn được áp dụng cho tất cả cơ sở tính thuế, kể cả cơ sở ở mức thấp trước đó

+ Thuế lũy thoái: áp dụng tỷ lệ giảm dần theo các mức tăng của cơ sở tính thuế Cơ sở tính thuế càng tăng thì mức thuế suất càng giảm Tương tự với thuế lũy tiến, thuế lũy thoái cũng có hai hình thức: lũy thoái toàn phần và lũy thoái từng phần Thông thường các nước áp dụng thuế lũy thoái để khuyến khích các đối tượng nộp thuế nhiều Hà lan trước đây đã dùng thuế lũy thoái đánh vào thu nhập công ty để thu hút các khoản đầu tư lớn, thúc đẩy quá trình tích lũy vốn

+ Thuế tỷ lệ cố định: là loại thuế áp dụng một thuế suất cố định trên cơ sở tính thuế mà không phụ thuộc vào quy mô của cơ sở tính thuế đó Thuế tỷ lệ cố định thường được áp dụng để các cơ sở kinh doanh dễ hạch toán và tính toán trong quá trình kinh doanh Thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam là một ví dụ về thuế tỷ lệ cố định

- Thuế đánh trên mức tuyệt đối:

Là loại thuế được xác định bằng cách ấn định một số thu bằng tiền trên một đơn

vị vật chất như trọng lượng, khối lượng, diện tích của đối tượng chịu thuế Trong thực tế cách tính thuế này ít phổ biến Trong hệ thống chính sách thuế Việt Nam hiện nay có thể lấy ví dụ là thuế tiêu thụ đặc biệt đánh trên xe ô tô cũ vừa được Bộ Tài chính ban hành

o Dựa theo thẩm quyền ban hành chính sách thuế:

Tùy theo thẩm quyền thu thuế được quy định với từng loại thuế, người ta phân thuế thành hai loại: Thuế trung ương và thuế địa phương

- Thuế trung ương:

Hay còn gọi là thuế Liên bang, do nhà nước hoặc chính quyền liên bang chịu trách nhiệm thu trên phạm vi cả nước theo một chính sách thuế thống nhất Các đối tượng nộp thuế dù kinh doanh hay cư trú bất kỳ nơi nào trong lãnh thổ quốc gia cũng đều chịu thuế theo một chính sách như nhau Thuế trung ương chủ yếu là các loại thuế đánh vào các hoạt động kinh doanh có phạm vi trên toàn quốc, hoặc có khả năng di

Trang 33

chuyển trên toàn quốc, nhằm tránh việc phân khúc giữa các địa phương và dễ gây ra hiện tượng đánh thuế trùng hoặc bỏ sót thuế Thuế trung ương thường được thu tập trung cho ngân sách Trung ương hoặc ngân sách liên bang (với các nhà nước liên bang) Tuy nhiên, cũng có quốc gia phân một tỷ lệ nhất định trong thuế suất dành cho các địa phương sau khi thu xong

- Thuế địa phương

Có nơi gọi là thuế Bang, đánh vào các hoạt động kinh doanh hoặc các hành vi chỉ ảnh hưởng trong phạm vi quản lý của từng địa phương hoặc một Bang Thuế địa phương thường bao gồm các loại thuế đánh trên bất động sản, tài nguyên theo một khung thuế thống nhất do nhà nước hoặc Liên bang soạn thảo Các địa phương căn cứ vào khung thuế suất để quyết định một mức thuế suất cụ thể, thu trong phạm vi địa phương mình trong một thời kỳ nhất định Thuế địa phương có thể được nâng lên hoặc

hạ xuống trong phạm vi khung cho phép phụ thuộc vào điều kiện kinh doanh, thu nhậpvà đời sống của dân cư tại địa phương

Các loại thuế trên được áp dụng cho nhiều đối tượng khác nhau để vừa phát huy tác dụng riêng của từng loại thuế, vừa hổ trợ, bổ sung cho nhau nhằm thực hiện một cách tổng hợp các mục tiêu và vai trò của hệ thống pháp luật thuế

2.3 Tác động của viện trợ nước ngoài đến tổng thu thuế Chính phủ

Viện trợ nước ngoài từ lâu đã được công nhận là rất quan trọng để giúp các nước đang phát triển thoát ra khỏi đói nghèo thông qua việc cải thiện thể chế và chính sách kinh tế, nâng cao tổng thu về thuế để đầu tư phát triển toàn diện mọi mặt của xã hội

Và đây cũng là một chủ đề tranh luận sôi nổi giữa các chính trị gia, nhà kinh tế học, và chuyên gia phát triển Một số người cho rằng viện trợ nước ngoài không ảnh hưởng đến tổng thu thuế ở các nước nhận viện trợ Một số khác lại cho rằng viện trợ nước ngoài ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến mức thu thuế của Chính phủ Vẫn còn nhiều nhà khoa học khác cho rằng viện trợ nước ngoài có tác động tích cực đến tổng thu thuế nhưng tác động này là có điều kiện về môi trường thể chế và chính sách quản

lý tốt

Trang 34

Viện trợ nước ngoài có thể được sử dụng để thay thế khi sự gia tăng chi tiêu công của chính phủ ít hơn sự gia tăng của các khoản viện trợ (McGuire, 1978) Do đó, viện trợ nước ngoài sẽ có ảnh hưởng đến việc trì hoãn sự phát triển cơ cấu thuế nội địa và các thể chế quản trị Tuy nhiên sự tác động này không cung cấp các cơ chế rõ ràng liên quan đến việc tiếp nhận viện trợ và xây dựng chính sách thuế Những tác động của các khoản viện trợ đến mức thu thuế nội địa không rõ ràng và phụ thuộc một phần vào bản chất của viện trợ (ví dụ như trợ cấp hay vay) hay các ưu đãi của các nhà hoạch định chính sách (Heller, 1975; McGillivray, 2009)

Trái lại, theo Knack (2008), các nguồn viện trợ nước ngoài và chính sách thuế nội địa có mối quan hệ thông qua hiệu quả của viện trợ đối với cơ cấu thuế và dòng chảy trong nước Hỗ trợ về mặt tài chính của viện trợ nước ngoài cho các cuộc cải cách pháp lý, hành chính và chính sách có thể làm tăng thu thuế trong nước (Carter, 2010)

và cải thiện chất lượng quản lý và các thể chế chính trị trong nước (Moss và cộng sự,

2008, Ross, 2004) Tuy nhiên những tác động này chỉ có được với điều kiện việc quản

lý và sử dụng nguồn viện trợ được thực hiện một cách hiệu quả, công khai, minh bạch Viện trợ nước ngoài cũng có thể ảnh hưởng đến doanh thu thuế trong nước thông qua những thay đổi ngắn hạn đối với một số mặt của cơ sở thuế như nhập khẩu và tiền lương (Carter, 2010) Cũng có những tác động thứ cấp (nhưng mơ hồ) của viện trợ nước ngoài đối với thu nhập từ thuế thông qua các khía cạnh của điều kiện của nhà tài trợ như tư nhân hoá và cải cách chính sách thương mại

2.4 Lược khảo một số nghiên cứu trước có liên quan

Nhiều nghiên cứu thực nghiệm tại các nước trên thế giới đã chỉ ra sự tác động của viện trợ nước ngoài đến tổng thu thuế Đây là nguồn tham khảo phong phú, là cơ sở để tác giả có thể đề xuất mô hình nghiên cứu của luận văn Hầu hết các nghiên cứu hiện tại về mối quan hệ giữa nguồn viện trợ nước ngoài và doanh thu thuế trong nước đều được đặt nền tảng trong khung kế hoạch tài chính Các nghiên cứu dựa trên cách tiếp cận này ước tính các phương trình cấu trúc và dạng giảm từ mức tối đa hóa tiện ích của nhà hoạch định chính sách và các ràng buộc về doanh thu (bao gồm vay mượn) và chi tiêu Chi tiêu công và doanh thu trong bối cảnh này được liên kết thông qua hạn

Trang 35

chế về ngân sách Các hệ số của các phương trình hồi quy thường được ước lượng bằng cách sử dụng các phương pháp tiếp tuyến tuyến tính và phi tuyến tính (Franco-Rodriguez, 2000, Gang and Khan, 1991; McGillivray và Outarra, 2005)

Các nghiên cứu của Franco-Rodriguez(2000), McGillivray và Outarra (2005) phát hiện thấy dòng chảy viện trợ làm giảm mức thu thuế của Chính phủ Điều này thường được giải thích rằng các nước nhận viện trợ đã nắm bắt các khoản ưu đãi để nhanh chóng tăng doanh thu thuế từ các nguồn trong nước trong một số khía cạnh mà không tốn chi phí Một số nghiên cứu của Gupta và cộng sự (2004), Remmer (2004) đã được tiếp tục thực hiện và phân chia viện trợ thành các khoản vay và trợ cấp để nghiên cứu sâu hơn

Moss và cộng sự (2008) thu thập số liệu về doanh thu thuế để tiến hành nghiên cứu

và thấy rằng viện trợ nước ngoài làm giảm bớt động cơ để đánh thuế và làm chậm sự phát triển của các tổ chức

Mặc dù sử dụng rộng rãi các mô hình phản ứng tài chính trong công việc thực nghiệm, khả năng liên kết dòng chảy viện trợ nước ngoài và kết quả tài chính trong nước có thể bị hạn chế Đặc biệt, hiệu quả nghiên cứu sẽ không được tối đa nếu các giá trị lý thuyết của các biến mục tiêu khác biệt đáng kể so với những gì có thể thu được từ các ước tính thực nghiệm Việc không đạt được các mục tiêu chi tiêu thông qua việc phân bổ lại ngân sách và ngân sách bổ sung theo cách tùy ý sẽ ngăn cản việc

sử dụng các mô hình ứng phó tài chính trong việc phân tích mối liên hệ giữa chính sách tài khóa và viện trợ nước ngoài Ngoài ra, cả mô hình khả thi và hỗ trợ tài chính cũng không thể nắm bắt các tác động trực tiếp của viện trợ đối với các thể chế thuế và

cơ cấu thuế nội địa, cũng như các tác động gián tiếp qua trung gian thông qua một số khía cạnh của điều kiện của nhà tài trợ

Các cách tiếp cận gần đây thừa nhận rõ ràng rằng viện trợ có thể ảnh hưởng đến cả dòng thu nhập và cơ cấu thuế Những đóng góp chính cho nghiên cứu về tác động của viện trợ đối với thuế nội địa và các thể chế quản trị bao gồm Moore (2007), Knack (2008) và Besley and Persson (2009) Besley và Persson (2009) dự đoán rằng đầu tư vào năng lực tài chính sẽ giảm khi phần thu nhập quốc gia tăng lên do nguồn tài

Trang 36

nguyên thiên nhiên tăng lên Nguồn viện trợ được dự đoán sẽ có tác động tương tự (Carter, 2010) Knack (2008) cho thấy sự gia tăng dòng chảy viện trợ đã làm chậm lại

sự phát triển chất lượng của các tổ chức cho chính sách và quản lý thuế Cũng có những nỗ lực để nghiên cứu tác động gián tiếp của một số khía cạnh của điều kiện của nhà tài trợ đối với doanh thu thuế Gambaro et al (2007) báo cáo rằng trong khi viện trợ gắn liền với tăng thu nhập từ thuế đánh vào thương mại, nó làm giảm thu nhập từ thuế thu nhập

Eria Hisali và John Ddumba-Ssentamu (2012) đã phân tích mối quan hệ giữa mức thu thuế và viện trợ nước ngoài ở Uganda bằng cách sử dụng khung lý thuyết về các mục tiêu tài khóa và sự khác nhau về đầu ra thực tế Kết quả cho thấy các khoản viện trợ nước ngoài có tác động tiêu cực đến doanh thu thuế trong khi lại có tác động tích cực đến các khoản vay dẫn đến làm tăng mức thu của một số khoản thuế trong dài hạn

Hệ số ước lượng của biến thu nhập bình quân đầu người cho thấy hệ thống thuế không linh hoạt Mô hình hiệu chỉnh sai số đánh giá tác động trong ngắn hạn cho thấy trong một môi trường năng động, các ảnh hưởng của thu nhập bình quân đầu người và viện trợ nước ngoài dẫn đến tỷ lệ thu thuế trên GDP ổn định đã được kiểm chứng trong thời gian qua Các chính sách làm giảm lượng người nộp thuế và giảm các hành vi không tuân thủ đối với quy định về thuế sẽ làm giảm sự phụ thuộc vào viện trợ nước ngoài và các tác động không mong muốn

2.5 Đề xuất mô hình nghiên cứu cho luận văn

Mô hình nghiên cứu bao gồm các biến được kế thừa từ ý tưởng của mô hình nghiên cứu của Eria Hisali và John Ddumba-Ssentamu (2012) và các nghiên cứu khác, có sự điều chỉnh để phù hợp với tình hình thực tế tại các nước Đông Nam Á cũng như khả năng thu thập số liệu từ các nguồn đáng tin cậy Từ đó, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu để lượng hóa tác động của viện trợ nước ngoàiđến tổng thu thuế chính phủ của các nước Đông Nam Á như sau:

TAXgdp it = α i + β 1 GDPpc it + β 2 OPEN it + β 3 AIDgdp it + ε it

Trong đó:

Trang 37

- Biến phụ thuộc chính là tổng thu thuế được xác định bởi tỷ lệ % của tổng thu

thuế trên GDP, kí hiệu là TAXgdp

- Biến độc lập chính là viện trợ nước ngoài được xác định bởi tỷ lệ % của viện

trợ nước ngoài trên GDP, kí hiệu là AIDgdp;

- Các biến kiểm soát trong mô hình bao gồm:

+ GDP bình quân đầu người của các quốc gia, kí hiệu là GDPpc (GDP per capita);

+ Độ mở thương mại của nền kinh tế được đo bằng tỷ lệ giữa tổng kim ngạch xuất nhập khẩu so với GDP, kí hiệu là OPEN (Openness);

- t đại diện cho năm nghiên cứu

- α là hệ số tự do

- ε là sai số của mô hình

Nghiên cứu sử dụng kiểu dữ liệu bảng với tất cả dữ liệu đều được thu thập từ Worldbank trong giai đoạn 2002 - 2016 của 9 nước thuộc khu vực Đông Nam Á (trừ Brunei và Singapore do Brunei và Singapore là hai nước phát triển kể từ năm 2005 đã không còn nhận viện trợ nước ngoài nên không có thống kê số liệu của hai nước này)

Dữ liệu về viện trợ nước ngoài và tổng thu thuế được xác định bằng tỷ lệ % trên tổng

GDP của các quốc gia

Theo Tabachnick & Fidell (2007) thì kích thước mẫu cần phải đảm bảo theo công thức: N ≥ 50 + 8m và để phân tích từng quan hệ riêng lẻ kích thước mẫu cần phải đảm bảo tối thiểu: N ≥ 104 + m (trong đó N là cỡ mẫu và m là biến độc lập của mô hình).Dữ liệu nghiên cứu trong luận văn được thu thập trong thời gian 15 năm của 9 quốc gia Đông Nam Á, do đó kích thước mẫu nghiên cứu sẽ gồm 135 kì quan sát phù hợp với yêu cầu về kích thước mẫu tối thiểu để sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến.Tác giả sẽ sử dụng phần mềm STATA 13 để phân tích dữ liệu

Trang 38

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VỀ TỔNG THU THUẾ VÀ VIỆN TRỢ NƯỚC

NGOÀI TẠI CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á 3.1 Thực trạng về tổng thu thuế tại các nước Đông Nam Á

Bảng 3.1 Thống kê mô tả về tổng thu thuế tại các nước Đông Nam Á giai đoạn

2002 – 2016 Năm Giá trị nhỏ nhất Giá trị lớn nhất Giá trị trung bình Độ lệch chuẩn

(Nguồn: Tính toán của tác giả bằng phần mềm STATA từ dữ liệu được thu thập)

Để đo lường và hình dung được mức độ của tổng thu thuế một nước, ta cần so sánh tổng thu thuế với quy mô của nền kinh tế quốc gia Chính vì vậy, tác giả đã xử lý số liệu tổng thu thuế bằng cách tính tỷ lệ tổng thu thuế trên GDP của 9 nước Đông Nam Á trong mẫu nghiên cứu Bởi vì GDP và mức độ thu thuế có mối quan hệ hai chiều Tăng trưởng GDP tốc độ cao góp phần vào tăng thu từ thuế (nếu hệ thống thu thuế hiệu quả, nghĩa là không có thất thoát, lãng phí), và ngược lại với tỷ lệ thu thuế ở

Trang 39

mức hợp lý sẽ góp phần kích thích hoạt động sản xuất – kinh doanh, tiêu dùng, và mở rộng GDP Vì vậy tỷ lệ tổng thu thuế trên GDP sẽ phản ánh được mối quan hệ này một cách rõ nét

Theo kết quả thống kê từ bảng 3.1 cho thấy các nước Đông Nam Á có giá trị trung bình của tỷ lệ tổng thu thuế trên GDP giai đoạn 2002 – 2016 biến động trong khoảng từ 13.5416% (năm 2002) đến 29.1295% (năm 2012) Tỷ lệ tổng thu thuế trên GDP của các nước Đông Nam Á có xu hướng tăng dần trong khoảng thời gian từ năm

2002 đến năm 2012 và sau đó lại có xu hướng giảm dần đến năm 2016 chỉ còn 17.5166% Trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng GDP ở các nước Đông Nam Á là khá cao do đó kéo theo tổng thu thuế của các nước này cũng có xu hướng tăng lên đáng kể Bên cạnh đó, khi xảy ra khủng hoảng kinh tế vào năm 2008, chính phủ các nước vì muốn kích thích tăng trưởng kinh tế trở lại đã gia tăng chi tiêu chính phủ khá nhiều Điều này dẫn đến phải tăng mức thu thuế để bù đắp lại phần chi tiêu công tăng lên Đến giai đoạn 2012-2013, sau khi khủng hoảng kinh tế 2008, kinh tế của các nước

đã bắt đầu hồi phục trở lại, hàng loạt các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn và hỗ trợ thị trường của Chính phủ các nước được đưa ra, trong đó có các cải cách về chính sách thuế khiến cho tỷ lệ tổng thu thuế có xu hướng giảm xuống

Tuy nhiên, tỷ lệ tổng thu thuế trên GDP của các nước trong khu vực lại có sự chênh lệch khá lớn Theo kết quả thống kê ở phụ lục 1 có thể thấy trong 9 nước Đông Nam Á được nghiên cứu, đa số các nước khác đều có tỷ lệ thu thuế trên GDP tương đương hoặc thấp hơn mức trung bình của khu vực, tuy nhiên có hai nước có tỷ lệ tổng thu thuế khá cao so với mức trung bình đó là Việt Nam (với tỷ lệ tổng thu thuế các năm đều trên dưới 20%) và Đông Timor (có tỉ lệ tổng thu thuế trên GDP từ vài chục phần trăm đến gần 150%) Lý giải cho việc Đông Timor có mức tổng thu thuế cao vượt trội như vậy so với khu vực, tác giả cho rằng do Đông Timor là một trong những nước nghèo nhất thế giới với dân số khoảng 1,2 triệu người và GDP 1,2 tỉ USD/năm

do đó việc lập ngân sách hàng năm dựa trên nguồn thu, có bao nhiêu thì tiêu bấy nhiêu, không làm thâm hụt ngân sách và có ít thặng dư để dành Triết lí phát triển của lãnh đạo quốc đảo này là chi tiêu trong khả năng, tuyệt đối tránh sử dụng dự trữ quốc

Trang 40

gia hay gây thâm hụt ngân sách dẫn đến phải vay nợ Thế nhưng tại Đông Timor lại có tới 31 đảng phái chính trị hoạt động do đó mức chi tiêu công của nước này lại khá cao dẫn đến mức độ thu thuế phải tăng theo đế đáp ứng nhu cầu chi tiêu của chính phủ mà không phải vay nợ hay dung dự trữ quốc gia để bù đắp Còn đối với Việt Nam, có những lĩnh vực doanh nghiệp đã phải chịu khoảng gần 10 loại thuế Tỷ lệ huy động thuế, phí đối với doanh nghiệp ở Việt Nam lên tới 39,4% lợi nhuận, tức là làm 10 đồng nộp thuế gần 4 đồng Như vậy, thực tế cho thấy chính phủ đã áp dụng tối đa các giải pháp tận thu nhưng kết quả thu ngân sách vẫn giảm, không đủ chi So với thu nhập bình quân đầu người chỉ ở mức trung bình của khu vực nhưng tỷ lệ thu thuế của Việt Nam lại ở mức cao nhất trong khu vực đang khiến mỗi người dân Việt Nam phải gánh chịu khoản thuế trên GDP cao hơn khá nhiều so với các nước khác Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua, thông qua chính sách tài khóa, chính phủ Việt Nam đã thực hiện nhiều biện pháp miễn, giảm, giãn thuế nhanh và mạnh hơn so với lộ trình đã dự kiến, nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, nuôi dưỡng nguồn thu và phát triển kinh tế Chính vì vậy, trong hai năm gần đây là 2015 và 2016, tỷ lệ thu thuế trên GDP của Việt Nam đã giảm trở lại gần tương đương với mức trung bình của khu vực

Hình 3.1 Biểu đồ giá trị trung bình tỷ lệ tổng thu thuế trên GDP tại các nước

Đông Nam Á giai đoạn 2002 – 2016

(Nguồn: Giá trị trung bình của tỷ lệ tổng thu thuế trên GDP từ Bảng 3.1)

Ngày đăng: 09/12/2018, 23:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w