1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xu hướng phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội phạm về tham nhũng

16 305 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 29,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦUTham nhũng là một hiện tượng tiêu cực của xã hội, mang tính lịch sử. Sự hình thành, phát triển của tội phạm về tham nhũng gắn liền với sự hình thành giai cấp và sự ra đời, phát triển của bộ máy nhà nước. Tội phạm về tham nhũng diễn ra ở tất cả các quốc gia trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị, điều kiện và trình độ phát triển kinh tế xã hội. Từ nhiều năm nay, Đảng và Nhà nước ta đã nhận định tội phạm về tham nhũng là một loại tội phạm nguy hiểm cao độ, trở thành một trong những nguy cơ làm cản trở sự nghiệp xây dựng và đổi mới đất nước. Chính vì lý do đó em xin chọn đề tài: “Xu hướng phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội phạm về tham nhũng” để tìm hiểu.NỘI DUNGI.MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC TỘI PHẠM VỀ THAM NHŨNG1.Khái niệm về tội phạm tham nhũngTheo nghĩa rộng, tham nhũng được hiểu là hành vi của bất kỳ người nào có chức vụ, quyền hạn hoặc được giao nhiệm vụ, quyền hạn và lợi dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc nhiệm vụ được giao để vụ lợi. Theo Từ điển Tiếng Việt, tham nhũng là lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu nhân dân lấy của . Tài liệ

Trang 1

MỞ ĐẦU

Tham nhũng là một hiện tượng tiêu cực của xã hội, mang tính lịch sử Sự hình thành, phát triển của tội phạm về tham nhũng gắn liền với sự hình thành giai cấp và sự ra đời, phát triển của bộ máy nhà nước Tội phạm về tham nhũng diễn ra

ở tất cả các quốc gia trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị, điều kiện và trình độ phát triển kinh tế - xã hội Từ nhiều năm nay, Đảng và Nhà nước ta đã nhận định tội phạm về tham nhũng là một loại tội phạm nguy hiểm cao độ, trở thành một trong những nguy cơ làm cản trở sự nghiệp xây dựng và đổi mới đất

nước Chính vì lý do đó em xin chọn đề tài: “Xu hướng phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội phạm về tham nhũng” để tìm hiểu.

NỘI DUNG I.MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC TỘI PHẠM VỀ THAM NHŨNG

1.Khái niệm về tội phạm tham nhũng

Theo nghĩa rộng, tham nhũng được hiểu là hành vi của bất kỳ người nào có chức vụ, quyền hạn hoặc được giao nhiệm vụ, quyền hạn và lợi dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc nhiệm vụ được giao để vụ lợi Theo Từ điển Tiếng Việt, tham nhũng là lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu nhân dân lấy của Tài liệu hướng dẫn của Liên hợp quốc về cuộc đấu tranh quốc tế chống tham nhũng (năm 1969) định nghĩa tham nhũng trong một phạm vi hẹp, đó là sự lợi dụng quyền lực nhà nước để trục lợi riêng Theo nghĩa hẹp và là khái niệm được pháp luật Việt Nam quy định (tại Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005), tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi Người

có chức vụ, quyền hạn chỉ giới hạn ở những người làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc hệ thống chính trị; nói cách khác là ở các cơ quan, tổ chức, đơn

vị có sử dụng ngân sách, vốn, tài sản của Nhà nước Việc giới hạn như vậy nhằm tập trung đấu tranh chống những hành vi tham nhũng ở khu vực xảy ra phổ biến

Trang 2

nhất, chống có trọng tâm, trọng điểm, thích hợp với việc áp dụng các biện pháp phòng, chống tham nhũng như: kê khai tài sản, công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, xử lý trách nhiệm của người đứng đầu

2.Đặc điểm của tội phạm tham nhũng

Thứ nhất, tội phạm về tham nhũng xâm hại đến uy tín và hoạt động đúng đắn

của các cơ quan, tổ chức, Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Thứ hai, tội phạm về tham nhũng, những người có chức vụ lợi dụng chức vụ,

quyền hạn được giao để thực hiện hành vi trái với công vụ;

Thứ ba, tội phạm về tham nhũng có mục đích vụ lợi, đó là những hành vi cố

ý, có mục đích

Thứ tư, chủ thể của tội phạm về tham nhũng do những người có chức vụ,

quyền hạn thực hiện

II.XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ CÁC TỘI PHẠM VỀ THAM NHŨNG

1.Quá trình phát triển của pháp luật Hình sự Việt Nam về các tội phạm về tham nhũng trước khi ban hành Bộ Luật Hình sự 2015

Tội phạm về tham nhũng là những nhóm tội có tính lịch sử Cùng với sự phát triển của nền kinh - tế xã hội Tham nhũng xuất hiện ở Việt Nam và phát triển qua các thời kỳ lịch sử khác nhau Các quy định về tội phạm về tham nhũng trong lịch

sử lập pháp hình sự Việt Nam có thể chia làm những giai đoạn sau:

Giai đoạn trước năm 1945: trong xã hội phong kiến Việt Nam, các tội phạm

về tham nhũng đã được quy định một cách tương đối đầy đủ và chặt chẽ Việc đấu tranh phòng, chống các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội là một yêu cầu để bảo vệ chế độ và bộ máy nhà nước phong kiến đương thời Tuy nhiên, nhìn dưới góc độ phát triển chung của pháp luật thì các quy định về các tội phạm về tham nhũng trong thời kỳ này còn có những hạn chế nhất định, bởi ở thời kỳ này pháp luật chủ yếu bảo vệ chế độ đặc quyền, đặc lợi của giai cấp địa chủ phong kiến giai - cấp thống trị xã hội

Trang 3

Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985:

ngay từ khi mới giành được độc lập, Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức rõ rằng, muốn cho đất nước ổn định, bảo vệ chính quyền non trẻ và xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa, xây dựng một nhà nước trong sạch, công bằng, dân chủ và văn minh thì phải đấu tranh không khoan nhượng với các tội phạm về tham nhũng Đã có nhiều văn bản pháp luật quy định về các tội phạm về tham nhũng, đáp ứng được nhiệm vụ của cách mạng trong thời kỳ, đồng thời thể hiện được chính sách hình sự của Đảng và nhà nước ta đối với tội phạm này, góp phần quan trọng vào công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, tăng cường pháp chế ngăn chặn những hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức, lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Trong giai đoạn này pháp luật hình sự đã quy định một số tội phạm về tham nhũng điển hình như: tội đưa hối lộ; tội nhận hối lộ; tội đào nhiệm; tội tham ô, tội cố ý làm trái nguyên tắc chính sách về kinh tế, tài chính gây thiệt hại tài sản xã hội chủ nghĩa; tội lạm dụng chức

vụ, quyền hạn xâm phạm tài sản riêng của công dân; tội cố ý làm trái công vụ gây hậu quả nghiêm trọng; v v… Các văn bản pháp luật trong thời kỳ này cũng đã quy định về những hình phạt rất nghiêm khắc, đặc biệt đối với các tội phạm về hối lộ Ngoài hình phạt chính, hình phạt bổ sung như cấm đảm nhiệm chức vụ, phạt tiền cũng đã được quy định, có tác dụng phòng ngừa, đồng thời bảo đảm trong việc xử

lý tội phạm được triệt để Kỹ thuật lập pháp ngày càng được nâng cao, từ việc quy định gộp nhiều hành vi thành một tội hoặc chỉ nêu tội danh đã tách ra làm nhiều tội

cụ thể với nội dung điều luật tương đối chặt chẽ, các dấu hiệu tội phạm được quy định tương đối đầy đủ Bên cạnh những thành tựu về mặt lập pháp, do điều kiện kinh tế - xã hội nói chung và tình hình phạm tội nói riêng, trong thời kỳ từ năm

1945 đến trước năm 1985, các văn bản pháp luật hình sự ở nước ta còn có những hạn chế nhất định Các tội phạm về tham nhũng được quy định một cách giản đơn, gộp nhiều tội, các dấu hiệu của cấu thành tội phạm chưa được mô tả cụ thể Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng, các văn bản pháp luật hình sự thời kỳ này đã phản

Trang 4

ánh được tình hình thực tế khách quan của đất nước Các quy định của pháp luật hình sự về các tội phạm về tham nhũng có ý nghĩa xã hội sâu sắc, có vai trò quan trọng trong việc đấu tranh phòng, chống và hạn chế đáng kể các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn xâm phạm vi uy tín, hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức, lợi ích của Nhà nước, lợi ích hợp pháp công dân, góp phần quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước

Các quy định về tội phạm về tham nhũng trong bộ luật hình sự 1985: cùng

với sự phát triển của xã hội đất nước ta, tội phạm về tham nhũng ngày càng phát triển và phức tạp, tính chất, mức độ và hậu quả ngày càng nghiêm trọng hơn Các văn bản pháp luật nói chung và các văn bản pháp luật hình sự ngày càng trở nên lạc hậu không còn phù hợp với tình hình mới Ngày 27 tháng 6 năm 1985, Bộ luật Hình sự đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được ban hành Kế thừa kinh nghiệm lập pháp hình sự và kinh nghiệm đấu tranh phòng, chống tội phạm tham nhũng trong giai đoạn trước, Bộ luật Hình sự 1985 đã dành một chương riêng quy định về tội phạm chức vụ trong đó có các tội phạm về tham nhũng (chương IX) Các tội phạm về tham nhũng đã được quy định tương đối đầy đủ, các dấu hiệu của cấu thành tội phạm đối với từng tội danh được mô tả cụ thể So với các nhóm tội khác, hình phạt đối với các tội phạm về tham nhũng đã được quy định tương đối nghiêm khắc và đa dạng Mặc dù vẫn có một số hạn chế nhất định nhưng

Bộ luật hình sự năm 1985 là một văn bản pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong việc đấu tranh phòng, chống các tội phạm nói chung và tội phạm về tham nhũng nói riêng Các quy định của Bộ luật đã thể hiện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta là xử lý nghiêm khắc không khoan nhượng đối với các tội phạm này

Bộ luật Hình sự năm 1985 đã đánh dấu bước phát triển tiến bộ về lập pháp triển tiến bộ về lập pháp hình sự nước ta, là cơ sở nền tảng cho việc hoàn thiện pháp luật hình sự về các tội phạm về tham nhũng sau này

Các quy định về tội phạm về tham nhũng trong bộ luật hình sự năm 1999:

Theo quy định của BLHS năm 1999, các tội phạm về tham nhũng được quy định

Trang 5

tại Mục A Chương XXI BLHS năm 1999, bao gồm bảy tội sau: Tội tham ô tài sản (Điều 278); Tội nhận hối lộ (Điều 279); Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 280); Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 281); Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 282); Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi (Điều 283); Tội giả mạo trong công tác (Điều 284) Các tội phạm về tham nhũng quy định tại mục

A chương XXI, so với các tội phạm này quy định tại chương IX Bộ luật hình sự năm 1985 có nhiều sửa đổi bổ sung Bộ luật hình sự năm 1985 không phân biệt tội phạm tham nhũng với tội phạm về chức vụ khác mà coi tham nhũng cũng là tội phạm về chức vụ Các yếu tố định tội và định khung hình phạt quy định tại mục A chương XXI Bộ luật hình sự năm 1999 cũng có nhiều sửa đổi bổ sung theo hướng không có lợi cho người phạm tội, nhưng cũng có những quy định lại có lợi cho người phạm tội Ngoài những quy định tại BLHS về các tội phạm tham nhũng, hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành các quy định của BLHS về các tội phạm về tham nhũng như Nghị quyết 01/2001/NQ-HĐTP ngày 15/3/2001… chúng ta còn quy định các hành vi tham nhũng trong Luật phòng, chống tham nhũng Theo quy định tại BLHS, có 7 tội phạm về tham nhũng, theo Luật phòng, chống tham nhũng

có 12 hành vi tham nhũng Thiết nghĩ, sau khi Luật PCTN có hiệu lực thì những hành vi đã được quy định tại Điều 3 Luật PCTN là hành vi tham nhũng, nhưng những hành vi này lại được quy định là tội phạm trong các chương khác của BLHS

sự năm 1999 thì cũng phải coi đó là tội phạm về tham nhũng Ví dụ: hành vi dùng tài sản nhà nước để đưa hối lộ được quy định tại Điều 289 BLHS năm 1999 chỉ là tình tiết định khung hình phạt và Tội đưa hối lộ (Điều 289) chỉ là tội phạm khác về chức vụ chứ không phải là tội phạm về tham nhũng, nhưng sau khi Luật PCTN năm 2005 có hiệu lực thì hành vi dùng tài sản của Nhà nước để đưa hối lộ nhằm được giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương mình, phải được coi là tội phạm về tham nhũng Tuy nhiên, vấn đề cần được nghiên cứu kỹ và

đề xuất trong quá trình sửa đổi, bổ sung BLHS trong thời gian tới

Trang 6

2 Những điểm mới về tội phạm tham nhũng theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 so với Bộ luật Hình sự 1999

2.1.Mở rộng phạm vi chủ thể của tội phạm tham nhũng ra khu vực tư (ngoài nhà nước)

Các quy định của BLHS năm 1999 mới chỉ dừng lại đối với các hành vi tham nhũng trong khu vực công (do cán bộ, công chức nhà nước thực hiện) mà chưa ghi nhận về tội phạm tham nhũng trong khu vực tư và vì vậy, chưa có các quy định pháp luật tương ứng, kèm theo các biện pháp xử lý hình sự đối với loại tội phạm này, mặc dù, một số hành vi tương tự xảy ra trong khu vực tư, theo quy định của BLHS vẫn có thể truy cứu trách nhiệm hình sự Mặt khác, thực tiễn về việc xử lý hành vi tham nhũng đối với tài sản của doanh nghiệp có phần vốn góp của Nhà nước, trong đó có sự đan xen về sở hữu mà trong nhiều trường hợp không thể tách biệt giữa tài sản, phần vốn góp của Nhà nước với tài sản, phần vốn góp của tư nhân, việc xác định xử lý trách nhiệm của cá nhân là người có chức vụ, quyền hạn trong loại hình doanh nghiệp này rất khó khăn

Do đó, BLHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung theo hướng:

Một là, mở rộng nội hàm khái niệm tội phạm chức vụ (trong đó có tội phạm

tham nhũng) để có thể bao gồm cả các tội phạm về chức vụ trong khu vực tư (ngoài Nhà nước), cụ thể là mở rộng chủ thể thực hiện tội phạm không chỉ là người có chức vụ trong khi thực hiện “công vụ” (đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong

hệ thống các cơ quan nhà nước), mà còn là người có chức vụ trong khi thực hiện

“nhiệm vụ” (tại các doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước)

Hai là, BLHS năm 2015 giới hạn phạm vi các tội phạm tham nhũng trong

khu vực ngoài nhà nước đối với các tội danh sau: Tội tham ô tài sản, tội nhận hối

lộ Cụ thể là khoản 6 Điều 353 (tội tham ô tài sản) quy định “Người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước mà tham ô tài sản, thì bị

xử lý theo quy định tại Điều này”; khoản 6 Điều 354 (tội nhận hối lộ) quy định

Trang 7

“Người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước mà nhận hối lộ, thì bị xử lý theo quy định tại Điều này”

2.1.Mở rộng nội hàm “của hối lộ” tại các điều khoản liên quan đến tội phạm tham nhũng

Theo quy định của BLHS năm 1999, để có thể xử lý được người phạm tội thì

“của hối lộ” trong cấu thành tội nhận hối lộ và một số tội phạm chức vụ liên quan như: đưa hối lộ, môi giới hối lộ phải là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá được bằng tiền Tuy nhiên, thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm tham nhũng cho thấy, bên cạnh việc dùng tiền hay các lợi ích vật chất khác để hối lộ người có chức vụ, quyền hạn thì lợi ích tinh thần bao gồm nhiều hình thức khác nhau có thể mang lại giá trị về mặt tinh thần cho người thụ hưởng (ví dụ tình dục,

vị trí, việc làm ) cũng được các đối tượng sử dụng để hối lộ nhằm đạt được mục đích của mình Đây cũng là yêu cầu của UNCAC, theo đó, các quốc gia thành viên phải quy định nội hàm “của hối lộ” hoặc những thiệt hại do tham nhũng gây ra là những lợi ích bất chính, tồn tại dưới bất kỳ hình thức nào, vô hình hoặc hữu hình, vật chất hoặc tinh thần, tiền tệ hoặc phi tiền tệ Khoản 2 Điều 15 UNCAC quy định yếu tố khách quan bắt buộc trong cấu thành tội nhận hối lộ là lợi ích không chính đáng mà người thực hiện công vụ, nhiệm vụ nhận được có thể dành cho chính bản thân công chức hoặc cho người khác, ví dụ, họ hàng người thân của công chức đó, hoặc có thể dành cho một thực thể khác

Khoản 1 Điều 354 (tội nhận hối lộ) Bộ luật hình sự 2015 đã quy định rõ yêu cầu này, cụ thể là: “1 Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào sau đây cho chính bản thân người

đó hoặc cho người hoặc tổ chức khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: a) Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1

Trang 8

Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; b) BLHS năm 2015 đã bổ sung “lợi ích phi vật chất” vào các cấu thành định tội đối với lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi và một số tội phạm khác

về chức vụ như tội đưa hối lộ, tội môi giới hối lộ và tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi

2.3.Tăng mức định lượng về giá trị tiền, tài sản tham ô, chiếm đoạt, của hối lộ

Theo quy định của BLHS năm 1999 thì giá trị tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác là một trong các tình tiết định tội, định khung tăng nặng trách nhiệm hình

sự cơ bản của hầu hết các tội phạm về chức vụ Tuy nhiên, có thể thấy, BLHS năm

1999 chưa có sự phân hóa phù hợp về giá trị tài sản giữa các khung trong một điều luật cụ thể, chưa bảo đảm mức độ tương xứng giữa giá trị tài sản và mức hình phạt trong khung, cũng như chưa phù hợp với tình hình phát triển mới về kinh tế - xã hội

và thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm Do đó, để bảo đảm sự phù hợp với thực tiễn xử lý loại tội phạm này, phù hợp với điều kiện phát triển của nền kinh tế, đồng thời nhằm cá thể hóa trách nhiệm hình sự, bảo đảm mức độ tương xứng giữa hình phạt với tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội khi căn cứ vào giá trị tiền, tài sản tham ô, của nhận hối lộ hoặc thu lời bất chính, BLHS năm 2015

đã nâng mức định lượng về giá trị tiền, tài sản tại các điều khoản có liên quan Cụ thể: BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung mức định lượng giá trị tiền, tài sản đối với nhóm tội liên quan đến hối lộ: (i) Nâng giá trị tiền, tài sản là căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 các Điều 354 (tội nhận hối lộ) từ “2 triệu đồng đến dưới 10 triệu đồng” theo quy định tại điều khoản tương ứng của BLHS năm

1999 lên “từ 2 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng”; (ii) Nâng giá trị tiền, tài sản quy định tại khoản 2 “từ 10 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng” theo quy định của BLHS năm 1999 lên “từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng”; (iii) Nâng giá trị tiền, tài sản quy định tại khoản 3 từ “50 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng” theo quy định của BLHS năm 1999 lên “từ 500 triệu đồng đến 01 tỉ đồng”; (iv) Nâng giá

Trang 9

trị tiền, tài sản quy định tại khoản 4 từ “từ 300 triệu đồng trở lên” theo quy định của BLHS năm 1999 lên “từ 01 tỉ đồng trở lên”

2.4.Bổ sung cấu thành tăng nặng định khung hình phạt đối với một số tội và bổ sung các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về tham nhũng

Cũng giống như hầu hết các quy định của BLHS năm 1999 về các nhóm tội phạm cụ thể khác, các quy định về tội phạm tham nhũng còn nhiều hạn chế, dấu hiệu định tội, định khung của nhiều tội chưa rõ ràng cụ thể, nhiều tình tiết có tính chất “định tính”, gây khó khăn cho việc áp dụng để xử lý tội phạm Hơn nữa, một

số quy định về tội phạm chức vụ còn quá đơn giản, chưa dự liệu được hết các trường hợp phạm tội có tính nghiêm trọng hơn, do đó, chỉ thiết kế một hoặc hai khung hình phạt Để bảo đảm tính minh bạch của các quy định, bảo đảm cá thể hóa trách nhiệm hình sự cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng thống nhất áp dụng, BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung theo hướng cụ thể hóa các tình tiết định tính “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”,

“gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”, bổ sung nhiều tình tiết tăng nặng định khung hình phạt đối với hầu hết các tội phạm về tham nhũng Cụ thể như sau:

- Tội tham ô tài sản (Điều 353): Bổ sung các tình tiết tăng nặng định khung trách nhiệm hình sự tại điểm đ, e, g, khoản 2; Bổ sung các tình tiết tăng nặng định khung trách nhiệm hình sự tại điểm b, c, d khoản 3

- Tội nhận hối lộ (Điều 354): Bổ sung tình tiết tăng nặng định khung trách nhiệm hình sự tại điểm d, khoản 2; Bổ sung các tình tiết tăng nặng định khung trách nhiệm hình sự tại điểm b, khoản 3; Bổ sung các tình tiết tăng nặng định khung trách nhiệm hình sự tại điểm b, khoản 4

- Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản: Bổ sung tình tiết tăng nặng định khung trách nhiệm hình sự tại điểm đ, e khoản 2, bỏ tình tiết định khung

“tái phạm nguy hiểm” theo Điều 280 BLHS 1999; Bổ sung các tình tiết tăng nặng

Trang 10

định khung trách nhiệm hình sự tại điểm b, c, d khoản 3; Bổ sung các tình tiết tăng nặng định khung trách nhiệm hình sự tại điểm b, khoản 4

- Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ: Bổ sung tình tiết định khung hình phạt tại khoản 1; Bổ sung tình tiết tăng nặng định khung trách nhiệm hình sự tại điểm c, khoản 2; Bổ sung các tình tiết tăng nặng định khung trách nhiệm hình sự tại khoản 3

- Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ: Bổ sung tình tiết định khung hình phạt tại khoản 1; Bổ sung tình tiết tăng nặng định khung trách nhiệm hình sự tại điểm c, khoản 2; Sửa đổi khung hình phạt và bổ sung tình tiết định khung hình phạt tại khoản 3, 4

- Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi: Bổ sung tình tiết tăng nặng định khung trách nhiệm hình sự tại điểm d, khoản 2; Bổ sung tình tiết tăng nặng định khung trách nhiệm hình sự tại điểm b, khoản 3;

Bổ sung tình tiết tăng nặng định khung trách nhiệm hình sự tại khoản 4

- Tội giả mạo trong công tác: Sửa đổi định khung hình phạt tại điểm c, khoản 2; Sửa đổi, bổ sung định khung hình phạt tại khoản 3, 4

2.5.Tăng mức định lượng, cụ thể hóa số tiền phạt đối với các tội phạm về tham nhũng

Định lượng về tiền phạt đối với một số tội danh tham nhũng của Bộ luật hình

sự 1999 không còn phù hợp với thực tế tình hình phát triển kinh tế - xã hội hiện nay của Việt Nam, chưa tương xứng với hậu quả do hành vi tham nhũng gây ra nên cần phải có sự điều chỉnh nâng lên cho phù hợp Một số tội danh, mức phạt chưa được

cụ thể hóa mà để theo mức độ giá trị tiền và tài sản mà người tham nhũng có được khi thực hiện hành vi tham nhũng cũng chưa hợp lý vì tiền và tài sản có được đó phải bị tịch thu còn tiền phạt thì cần được quy định cụ thể căn cứ vào tội danh nên BLHS 2015 sửa đổi theo hướng cụ thể hóa mức tiền phạt Cụ thể như sau:

Ngày đăng: 09/12/2018, 16:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w