Luận án cũng nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về quản trị RRTD của một số quốc gia trên thế giới có trình độ phát triển hoặc cùng trong khu vực có điều kiện kinh tế tương đồng với Việt Nam, từ đó đưa ra các bài học kinh nghiệm trong quản trị RRTD cho Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH
CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Hà nội, 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH
CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số : 9.34.02.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐINH XUÂN HẠNG
Hà nội, 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận án tiến sĩ này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
NCS NGUYỄN NHƯ DƯƠNG
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt Viết đầy đủ
AMA Phương pháp đo lường hiện đạiCRO Bộ phận quản lý rủi ro
RRTK Rủi ro thanh khoản
QLRR Quản lý rủi ro
IRB Hệ thống đánh giá xếp hạng nội bộEAR Thu nhập chịu rủi ro
ROE Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữuROA Tỷ suất sinh lời tài sản
MIS Hệ thống thông tin quản lý
FTP Định giá điều chuyển vốn nội bộNIM Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên
TPS Hệ thống thông tin xử lý giao dịchMCO Báo cáo dòng tiền ra tối đa
VAR Giá trị chịu rủi ro
RSA Tài sản có nhạy cảm với lãi suấtRSL Tài sản nợ nhạy cảm với lãi suấtNII Thu nhập lãi ròng
RRLS Rủi ro lãi suất
RRTK Rủi ro thanh khoản
NLP Trạng thái thanh khoản ròng
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu, có tác động mạnh mẽđến hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Rủi ro tín dụng xảy ra còn tácđộng đến khả năng tiếp cận vốn của các doanh nghiệp, từ đó tác động tiêu cực đếntăng trưởng và phát triển của nền kinh tế Mặc dù vậy, ngân hàng thương mại khôngthể loại bỏ hoàn toàn rủi ro tín dụng mà chỉ có thể hạn chế ở mức độ nhất định.Trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại, thay vì lựa chọn chiến lượcloại bỏ rủi ro, các ngân hàng thương mại chấp nhận rủi ro, đánh đổi rủi ro để có lợinhuận Hệ thống quản trị rủi ro tín dụng của một ngân hàng thực hiện sứ mệnh đảmbảo cho ngân hàng luôn kiểm soát rủi ro ở mức độ hợp lý (mức rủi ro ngân hàng cóthể chấp nhận) phù hợp với qui mô và bản chất kinh doanh tín dụng của ngân hàngvà đạt được lợi nhuận cao nhất
Rủi ro tín dụng xảy ra thường xuyên và gây tổn thất lớn nhất cho cácNHTM Quản trị rủi ro tín dụng tốt là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển củamột NHTM
Hoạt động tín dụng hiện nay đóng vai trò quan trọng đối với các ngân hàngthương mại Việt Nam và mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho ngân hàng Tuy nhiên,hoạt động tín dụng cũng chứa đựng rất nhiều rủi ro, đặc biệt là trong xu hướng hòanhập với thông lệ quốc tế, các ngân hàng thương mại Việt Nam đã bộc lộ nhiều mặthạn chế Trong bối cảnh đó, không một ngân hàng hay tổ chức tài chính nào có thểtồn tại lâu dài mà không có hệ thống quản trị rủi ro hữu hiệu Việc xây dựng một hệthống quản trị nói chung và quản trị rủi ro tín dụng nói riêng có vai trò sống còn đốivới hoạt động ngân hàng
Hiệp ước Basel 2 là thỏa thuận của các Ngân hàng Trung Ương của cácnước thành viên Ủy ban Basel về một cơ chế quản lý, điều hành, giám sát hoạt độngngân hàng nhằm tăng cường hiệu quả quản trị rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng.Năm 2006, Hiệp ước có hiệu lực với các định chế tài chính tại các nước thành viên
Ủy ban Basel Đến nay, theo khảo sát của Ủy ban Basel, Hiệp ước đã được áp dụngrộng rãi tại các ngân hàng thương mại ở hơn 150 quốc gia, bao gồm cả các nướckhông phải là thành viên Ủy ban Basel như một chuẩn mực quốc tế về quản trị rủi
ro, thanh tra, giám sát hoạt động của các ngân hàng thương mại
Tại Việt nam, ngày 20/3/2014, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã có chủtrương chính thức về triển khai Basel 2 bằng Công văn 1601/NHNN-TTGSNH.Theo công văn này, 10 ngân hàng thương mại Việt nam trong đó có Ngân hàngthương mại cổ phần Công thương Việt nam được chọn triển khai thí điểm theo lộtrình, các ngân hàng thương mại khác triển khai sau giai đoạn thí điểm
Trang 6Xuất phát từ nhận thức quan trọng về lý luận và thực tiễn đó, tôi quyết định
chọn đề tài “Giải pháp quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ
phần Công thương Việt nam” cho luận án tiến sỹ kinh tế là rất cần thiết, với mong
muốn hoàn thiện lý luận chuyên môn của bản thân, tiếp cận nghiên cứu thực trạngquản trị rủi ro tín dụng và bước đầu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chính sáchquản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt namgóp phần đẩy mạnh sự phát triển hoạt động tín dụng trong điều kiện hội nhập
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
2.1 Tình hình nghiên cứu tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt nam
- "Quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thươngViệt nam" Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Đức Tú (2012), Đại họcKinh tế Quốc dân
Luận án đã làm rõ cơ sở lí luận về rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại,
sự cần thiết phải quản lý rủi ro tín dụng, nội dung quản lý rủi ro tín dụng bao gồm:nhận biết, đo lường, ứng phó và kiểm soát rủi ro tín dụng Bên cạnh đó, tác giả cũngtìm hiểu kinh nghiệm quản lý rủi ro tín dụng của các ngân hàng như: Ngân hàngPhát triển Hàn Quốc, Ngân hàng Nova Scotia - Canada, Ngân hàng Citibank của
Mỹ, Ngân hàng ING bank của Hà Lan và Ngân hàng KasiKom của Thái Lan Quatìm hiểu công tác quản lí rủi ro của các ngân hàng trên, tác giả đúc rút các bài họckinh nghiệm trong công tác quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại cổphần Việt Nam
Trong phần tìm hiểu thực tiễn, tác giả đi vào tìm hiểu và đánh giá rủi ro tíndụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt nam và công tác quản trịrủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại Tác giả đã đánh giá những kết quả đạtđược như chất lượng nợ, cơ cấu nợ, hệ thống khuân khổ, cơ chế, hệ thống xếp hạngtín dụng Bên cạnh đó, tác giả đánh giá những hạn chế trong công tác quản lý rủi rotín dụng của ngân hàng như chiến lược rủi ro tín dụng chưa phù hợp, quy trình cấptín dụng, hệ thống đo lường tín dụng…và những nguyên nhân của những hạn chếtrên Trong luận án, tác giả cũng trình bày định hướng công tác quản lý rủi ro tíndụng và các giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng, đồngthời đề xuất các kiến nghị với Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước và Ủy ban giám sáttài chính quốc gia
2.2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Quản trị rủi ro tín dụng là vấn đề được sự quan tâm của nhiều nhànghiên cứu cũng như các nhà lãnh đạo ngân hàng Đã có nhiều công trình nghiêncứu, thảo luận khoa học xung quanh vấn đề quản trị rủi ro nói chung và quản trị rủi
ro tín dụng nói riêng, cụ thể:
Trang 7- "Luận cứ khoa học về xác định mô hình quản lý rủi ro tín dụng tại hệthống Ngân hàng thương mại Việt Nam", Luận án tiến sỹ kinh tế của tác giả Lê ThịHuyền Diệu (2010), Học viện Ngân hàng
Luận án tập trung nghiên cứu về rủi ro tín dụng, các nguyên nhân, cácdấu hiệu, các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng trong HĐKD của ngân hàng thươngmại Đồng thời, luận án cũng hệ thống hóa rõ nét nội dung cơ bản của quản trị rủi rotín dụng, trên cơ sở đó đưa ra các mô hình quản lý rủi ro và điều kiện áp dụng Luậnán đúc kết lại những lý thuyết cơ bản về quản lý rủi ro tín dụng, trong đó, đặc biệttác giả hệ thống nội dung quản lý rủi ro tín dụng ở các bước cơ bản: nhận biết rủi
ro, đo lường rủi ro, quản trị rủi ro, kiểm soát rủi ro và xử lý nợ Luận án nghiên cứuthực trạng rủi ro tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trước năm
2000 và sau năm 2000, trong đó tác giả hệ thống hóa các cơ sở pháp lý, đặc điểm tíndụng và thực trạng rủi ro tín dụng hai giai đoạn: Giai đoạn trước năm 2000, rủi rotín dụng thể hiện chủ yếu ở việc cho vay quá chú trọng vào nhóm doanh nghiệp nhànước, tỉ lệ cho vay trung dài hạn tăng cao và tỉ lệ nợ quá hạn qua các thời kỳ tăngcao Giai đoạn sau năm 2000, môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng trong giaiđoạn này đã trở nên hoàn thiện hơn và giảm bớt rủi ro Luận án phân tích việc ápdụng các mô hình quản trị rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam trên banội dung: mô hình tổ chức quản trị rủi ro, mô hình đo lường rủi ro và mô hình kiểmsoát rủi ro Trên cơ sở đó, luận án đề xuất lựa chọn mô hình áp dụng thích hợp vớiViệt Nam
Trên thực tế, mỗi ngân hàng có đặc điểm riêng về cơ cấu tổ chức, quy mô vốn,lĩnh vực ưu tiên hoạt động, hình thức sở hữu, trình độ công nghệ và nhân lực…do đó,các giải pháp trong luận án có thể chưa phù hợp với một ngân hàng cụ thể
- "Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội"
Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Quang Hiện (2016), Học viện Tài chính
Trong luận án này, tác giá đã hệ thống hóa những cơ sở lí luận về rủi ro tíndụng, quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại có bổ sung những thay đổi mớikhi các ngân hàng đang triển khai thực hiện các quy định trong Hiệp ước Basel II; Hệthống hóa các bài học kinh nghiệm trong công tác quản trị rủi ro tín dụng của Ngânhàng Thương mại trên thế giới từ đó đúc rút các bài học kinh nghiệm trong quản trị rủi
ro tín dụng đối với NHTM Việt Nam
Đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàngTMCP Quân đội giai đoạn 2011-2015 đưa ra nguyên nhân của những tồn tại trongcông tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Quân đội
Đề xuất các giải pháp, các kiến nghị đối với Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước,
Ủy ban giám sát Tài chính quốc gia nhằm tăng cường công tác quản trị rủi ro tín dụngtại Ngân hàng TMCP Quân đội
Trang 8- "Quản trị rủi ro tín dụng theo Hiệp ước Basel 2 tại Ngân hàng Nông
nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam" Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Trần
Thị Việt Thạch (2016), Học viện Tài chính
Luận án này đã hệ thống các vấn đề cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng tiếpcận theo chuẩn mực của Hiệp ước Basel 2 tại NHTM, làm rõ các lợi ích khi NHTMthực hiện quản trị rủi ro tín dụng theo Basel 2 và các điều kiện để các NHTM triểnkhai quản trị rủi ro tín dụng theo Basel 2 Đánh giá đúng thực trạng quản trị rủi rotín dụng để xác định mức độ đáp ứng chuẩn mực Basel 2 về quản trị rủi ro tín dụngtại Agribank, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp và các điều kiện thực hiện giảipháp để triển khai quản trị rủi ro tín dụng theo Hiệp ước Basel 2, mục tiêu Agribankđạt chuẩn Basel 2 vào cuối năm 2020
- "Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phầnngoại thương Việt Nam trong quá trình hội nhập" Luận án tiến sĩ kinh tế của tácgiả Nguyễn Thị Thu Đông (2012), Đại học Kinh tế Quốc dân
Trong nội dung luận án, tác giả đã làm rõ cơ sở lí luận về chất lượngtín dụng, các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng và kinh nghiệm nâng cao chấtlượng tín dụng của các ngân hàng trên thế giới Trong phần đánh giá thực tiễn tácgiả đã đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại cổ phầnNgoại thương Việt Nam trong đó một trong những chỉ tiêu rất quan trọng đó là tỷ lệnợ xấu của ngân hàng Tác giả đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tíndụng trong đó có biện pháp quan trọng đó là quản lý nợ xấu và kiểm soát rủi ro tíndụng
- "Quản trị rủi ro hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại Việt Namtheo Hiệp ước Basel" Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Anh Tuấn (2012),Trường đại học Ngoại thương, Hà nội
Nội dung luận án đề cập đến Hiệp ước Basel, rủi ro và quản trị rủi ro tronghoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại Việt Nam theo Hiệp ướcBasel Tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lí luận về Hiệp ước Basel, hoạt động kinhdoanh, rủi ro, quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thươngmại và thực trạng quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàngthương mại Việt Nam theo Hiệp ước Basel đến 2011 Bên cạnh đó, tác giá đưa racác giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường quản trị rủi ro trong hoạt động kinhdoanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam theo Hiệp ước Basel
2.3 Câu hỏi nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu
2.3.1 Câu hỏi nghiên cứu
Như vậy, thế nào là rủi ro tín dụng? thế nào là quản trị rủi ro tín dụng? nộidung, ý nghĩa, mô hình và quy trình quản trị rủi ro tín dụng như thế nảo? thực trạngquản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt nam
Trang 9ra sao và giải pháp nào để tăng cường quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng thươngmại cổ phần Công thương Việt nam trong thời gian tới? Đây là những câu hỏinghiên cứu và câu hỏi quản lý cần phải có lời giải đáp?
2.3.2 Khoảng trống nghiên cứu
Các nghiên cứu trên đây đã góp phần quan trọng đưa ra những lí luận cơ bảnvề quản trị rủi ro tín dụng trong thời gian qua Tuy nhiên, các nghiên cứu đề cậptrên đây còn một số “khoảng trống” trong nghiên cứu về quản trị rủi ro tín dụng màđiển hình là quản trị rủi ro tín dụng đối với Ngân hàng thương mại cổ phần Côngthương Việt nam giai đoạn 2011 - 2017
Các “khoảng trống” trong nghiên cứu lí luận về rủi ro tín dụng, quản trị rủi
ro tín dụng và thực trạng rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàngthương mại cổ phần Công thương Việt nam:
- Cơ sở lí luận chưa có tính hệ thống và cập nhật về rủi ro tín dụng trong giaiđoạn hiện nay, khi mà việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang thực thi lộ trìnhquản trị rủi ro trong đó có rủi ro tín dụng theo Hiệp ước Basel II Bên cạnh đó, ViệtNam đã có sự phát triển và hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng với kinh tếcác quốc gia trong khu vực và quốc tế
- Các nghiên cứu về quản trị rủi ro tín dụng hầu hết chỉ đưa ra các giảipháp là “ngăn ngừa” rủi ro, “hạn chế” rủi ro tín dụng, “quản lý” rủi ro tín dụng hay
“kiểm soát” rủi ro tín dụng chứ không đi vào “quản trị” rủi ro, tức là coi rủi ro nhưlà một vấn đề mà ngân hàng phải “chấp nhận” hay nói cách khác coi rủi ro là vấn đềluôn xảy ra trong hoạt động tín dụng của ngân hàng, rủi ro luôn song hành và phụthuộc vào “khẩu vị” rủi ro của mỗi ngân hàng
- Nhiều công trình nghiên cứu phân tích rủi ro mang tính chất định tính, chưachỉ ra được mô hình để quản trị rủi ro, đo lường rủi ro, tổn thất ngân hàng phải gánhchịu khi rủi ro tín dụng xảy ra, chưa phản ánh được mức độ chấp nhận rủi ro của ngânhàng, chưa chỉ ra được mục tiêu của chất lượng tín dụng và cách thức để xây dựng hệthống theo dõi cơ cấu và chất lượng tổng thể danh mục đầu tư tín dụng
- Các đề tài chủ yếu xây dựng các giải pháp hạn chế hay ngăn ngừa rủi
ro cho các ngân hàng thương mại Việt Nam, tuy nhiên hệ thống ngân hàng thươngmại Việt Nam rất đa dạng về hình thức sở hữu, trình độ phát triển, nhân lực, nănglực tài chính, công nghệ và hơn hết đó là cách hiểu cũng như “khẩu vị” chấp nhậnrủi ro đối với mỗi ngân hàng là khác nhau Do vậy, sẽ không có mô hình quản trị rủi
ro chung cho tất cả các ngân hàng thương mại hay các giải pháp tăng cường quản trịrủi ro tín dụng đúng và phù hợp cho tất cả các ngân hàng thương mại
- Nhiều công trình nghiên cứu trước năm 2010 nên cả về cơ sở lí luận cũngnhư thực tiễn hoạt động do vậy các giải pháp đưa ra cũng sẽ không còn phù hợp vớigiai đoạn hiện nay trong quá trình phát triển và hội nhập ngày càng cao của các
Trang 10ngân hàng thương mại Trong quá trình hội nhập ngày càng sâu về kinh tế và tàichính thì hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam bên cạnh việc tiếp nhận côngnghệ quản trị ngân hàng hiện đại thì cũng tiềm ẩn những rủi ro của hệ thống tàichính quốc tế cũng như những áp lực về cạnh tranh ngày càng gay gắt trong lĩnhvực ngân hàng
- Bên cạnh đó cũng chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cáchtoàn diện quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thươngViệt nam, đặc biệt trong giai đoạn 2011 - 2017 cũng như đưa ra đề xuất hệ thốngcác giải pháp để tăng cường quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổphần Công thương Việt nam
Vì vậy, đề tài “Giải pháp quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổphần Công thương Việt nam” được phát triển nhằm bổ sung phần nghiên cứu về cơsở lí luận và từ cơ sở lí luận trên vận dụng trong điều kiện thực tiễn thực hiện quản trịrủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt nam trong thờigian từ năm 2011 - 2017, từ đó đề xuất các giải pháp tăng cường quản trị rủi ro tíndụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt nam đến năm 2030
3 Mục đích nghiên cứu
- Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường công tác quản trị rủi rotín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Xuất phát từ sự cần thiết của vấn đề cần nghiên cứu, trên cơ sở yêu cầu vàvới khả năng nghiên cứu, luận án lựa chọn đối tượng nghiên cứu chính là “rủi ro tíndụng” và “Quản trị rủi ro tín dụng” tại Ngân hàng thương mại
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung:
Tín dụng bao gồm hai mặt hoạt động là huy động vốn và cấp tín dụng, luậnán chỉ nghiên cứu khâu cấp tín dụng cho khách hàng (doanh nghiệp và dân cư)
Luận án tập trung nghiên cứu quản trị rủi ro tín dụng tiếp cận theo cácchuẩn mực của Basel 2 về quản trị rủi ro tín dụng: chiến lược và khẩu vị rủi ro tíndụng, chính sách quản trị rủi ro tín dụng, tổ chức bộ máy quản trị rủi ro tín dụng,qui trình và nội dung quản trị rủi ro tín dụng tại VietinBank, trong đó hoạt động tíndụng được tiếp cận theo Luật số 47/2010/QH12 “Luật các Tổ chức tín dụng”, cóhiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2011 và thông tư 39/2016/TT-NHNN của Ngânhàng Nhà nước ngày 30/12/2016,
- Về không gian: Luận án tập trung nghiên cứu quản trị rủi ro tín dụng tronghoạt động ngân hàng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt nam(không bao gồm các công ty con, công ty liên doanh, liên kết)
Trang 11- Về thời gian: Khảo sát, phân tích thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tạiVietinBank giai đoạn 2011 - 2017 Giải pháp thực hiện theo lộ trình đến năm 2030.
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử đểđảm bảo việc nhận thức về quản trị rủi ro tín dụng theo chuẩn mực quốc tế tại ngânhàng thương mại nói chung và Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việtnam nói riêng luôn đảm bảo tính logic giữa nhận thức trực quan đến tư duy và thựctiễn, trong mối quan hệ biện chứng giữa các bộ phận trong cùng hệ thống, giữa hệthống với môi trường xung quanh và phù hợp với các qui luật vận động vốn có
Trên nền tảng của phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử,để có các phân tích, đánh giá, lập luận có căn cứ khoa học về đề tài nghiên cứu,NCS sử dụng các phương pháp:
Các phương pháp tư duy khoa học: Qui nạp, diễn dịch, loại suy, phân tích,
tổng hợp, đối chiếu, so sánh, hệ thống hóa, khái quát hóa các dữ liệu NCS đã thuthập được để làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng tạingân hàng thương mại và thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại VietinBank
Phương pháp thống kê: Thu thập dữ liệu sơ cấp, thứ cấp liên quan đến quản
trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt nam theochuỗi thời gian từ các báo cáo nội bộ, báo cáo của các cơ quan quản lý Nhà nước vàxuống quan sát trực tiếp ở Sở giao dịch, một số chi nhánh để thu thập thông tin vàsố liệu phục vụ cho nghiên cứu của luận án
Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn, xin ý kiến các chuyên gia, các cán bộ
tín dụng và cán bộ quản lý tại một số chi nhánh của Ngân hàng thương mại cổ phầnCông thương Việt nam (trực tiếp, qua thư điện tử) để có thêm các thông tin cầnthiết, hữu ích phục vụ cho quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận án
Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi: Phát phiếu khảo sát thực trạng kiểm
soát rủi ro tín dụng tại các chi nhánh: Sở giao dịch, chi nhánh Hà nội, chi nhánh ĐàNẵng, chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, Hưng Yên, Hải Phòng, Hải Dương, YênBái, Lạng Sơn, Phú Thọ, Hà Tĩnh, Nghệ An để có thêm thông tin cho việc đánh giákiểm soát rủi ro tín dụng tại các chi nhánh Ngân hàng thương mại cổ phần Côngthương Việt nam Các chi nhánh được NCS chọn khảo sát đảm bảo tính đại diện:Có chi nhánh thành phố lớn, chi nhánh khu vực nông thôn, chi nhánh có tỷ lệ nợxấu cao, chi nhánh có tỷ lệ nợ xấu thấp Do các mô hình lượng hóa, các công thức
đo lường vốn, đo lường, đánh giá rủi ro tín dụng đã được đề cập và thừa nhận tínhchính xác và khoa học ở các công trình nghiên cứu liên quan trước đó Vì vậy, khiđề cập đến việc đo lường, đánh giá, lượng hóa rủi ro tín dụng, NCS không đi sâuvào nghiên cứu các kỹ thuật tính toán mà sẽ kế thừa kết quả nghiên cứu các côngtrình liên quan
Trang 12Phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp: Thông qua việc thống kê,
so sánh, phân tích, tổng hợp số liệu các báo cáo thống kê của Ngân hàng thương mại
cổ phần Công thương Việt nam NCS đánh giá phân tích thực trạng rủi ro tín dụng vàquản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt namgiai đoạn 2011 - 2017
Phương pháp suy luận logic: Từ những vấn đề cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
đặc biệt những tồn tại, yếu kém và nguyên nhân tại Ngân hàng thương mại cổ phầnCông thương Việt nam về quản trị rủi ro tín dụng, NCS suy luận logic để đề xuất cácgiải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thươngmại cổ phần Công thương Việt nam
6 Đóng góp mới của luận án
- Đóng góp mới về lý luận cơ bản: Luận án đã trình bày khá đầy đủ, chuẩnxác, khoa học hơn về các vấn đề lý luận cơ bản như mô hình đo lường rủi ro tíndụng, mô hình quản trị rủi ro tín dụng, các mô hình quản trị rủi ro tín dụng tiên tiến,vận dụng sáng tạo những nguyên tắc quản trị rủi ro tín dụng của hiệp ước Basel 2…
- Đóng góp mới về thực tiễn:
+ NCS đã sử dụng những kiến thức lý luận cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng:nội dung, mô hình đo lường rủi ro tín dụng, mô hình quản trị rủi ro tín dụng và quảntrị rủi ro tín dụng theo hiệp ước Basel 2 để phân tích, đánh giá đầy đủ, toàn diệnthực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thươngViệt nam Với phương pháp này NCS đã chỉ ra mức độ thành công, đưa ra nhữngkết quả nghiên cứu thực trạng đáng tin cậy, đây là phương pháp đánh giá thực trạngcó nhiều ưu điểm hơn so với các công trình có đề tài tương tự đã công bố
+ Đề xuất các giải pháp mới, nội dung tiên tiến, hiện đại nhằm tăng cườngcông tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thươngViệt nam đến năm 2030 như: Hoàn thiện mô hình quản trị rủi ro tín dụng, Ứng dụngcông nghệ thông tin trong quản trị rủi ro tín dụng và xây dựng hệ thống cảnh báosớm, thiết lập mô hình đo lường rủi ro tín dụng …
Trang 13- Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ
phần Công thương Việt nam
- Chương 3: Giải pháp tăng cường quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng
thương mại cổ phần Công thương Việt nam
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại
1.1.1.1 Khái niệm
Trong nền kinh tế hàng hóa tiền tệ, do tính chất vận động của các nguồn vốnhàng hóa, tiền tệ và sự độc lập tương đối của tiền tệ, nên tất yếu nảy sinh mâu thuẫntạm thời thừa và tạm thời thiếu vốn tiền tệ Để giải quyết căn bản mâu thuẫn đó tíndụng đã xuất hiện như là một hiện tượng tất yếu khách quan Biểu hiện bên ngoàicủa quan hệ tín dụng trước hết đó là sự chuyển giao quyền sử dụng vốn theo thờihạn giữa chủ thể sở hữu chúng nhưng chưa có nhu cầu sử dụng với chủ thể đang cónhu cầu sử dụng nhưng chưa có đủ khả năng tạo lập Hay nói một cách cụ thể hơntín dụng được biểu hiện trước hết là sự vay, mượn tạm thời một số vốn tài sản hànghóa hay tiền tệ mà qua đó người đi vay có thể có được quyền sử dụng một lượng giátrị nhất định theo cam kết giữa các bên Như vậy quan hệ tín dụng là một quan hệ xãhội biểu hiện thông qua các liên hệ về kinh tế, trong đó yếu tố lòng tin được xemnhư đặc trưng cơ bản nhất
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và sự hoàn chỉnh của thị trường, từthấp tới cao quan hệ tín dụng cũng ngày càng phát triển dưới nhiều hình thức đadạng và phong phú Trong nền kinh tế thị trường đã và đang tồn tại nhiều hình thứctín dụng như: tín dụng nặng lãi, tín dụng thương mại, tín dụng nhà nước, TDNH vàcác hình thức tín dụng kết hợp khác Tuy nhiên TDNH với các đặc trưng riêng vẫnđược coi là hình thức tín dụng cơ bản và giữ vai trò quan trọng nhất trong hệ thốngtín dụng
Vậy có thể hiểu: Tín dụng NHTM là các quan hệ vay mượn vốn tiền tệ phát
sinh giữa các NHTM với các chủ thể kinh tế khác trong nền kinh tế theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời hạn nhất định.
1.1.1.2 Phân loại
Trong nền kinh tế hiện đại, các NHTM phân loại tín dụng theo các tiêu thức
cơ bản sau:
* Theo mục đích sử dụng tiền vay: Căn cứ vào tiêu thức này người ta chia
tín dụng ra thành hai loại:
- Tín dụng đối với sản xuất và lưu thông hàng hóa: là loại cấp tín dụng cho
các đơn vị kinh doanh để tiến hành sản xuất lưu thông hàng hóa
Trang 15- Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng cho các cá nhân để đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng như mua sắm nhà cửa, xe cộ, các loại hàng hóa lâu bền như máy giặt, điềuhòa, tủ lạnh,…
* Theo thời hạn sử dụng tiền vay: Theo cách này TDNH phân làm ba loại:
- Tín dụng ngắn hạn: là khoản tín dụng dưới 1 năm và được sử dụng để bổ
sung sự thiếu hụt tạm thời vốn lưu động của doanh nghiệp Nó có thể được vay chonhững sinh hoạt cá nhân
- Tín dụng trung hạn: là khoản tín dụng có thời hạn từ 1 - 5 năm Loại tín dụng
này thường được dùng để cung cấp, mua sắm tài sản cố định, cải tiến kỹ thuật , mở rộngvà xây dựng công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh
- Tín dụng dài hạn: là khoản tín dụng có thời hạn từ 5 năm trở lên, loại tín
dụng này dùng để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản như đầu tư xây dựng các côngtrình mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy
mô lớn
Tín dụng trung và dài hạn được đầu tư để hình thành vốn cố định và mộtphần bổ sung cho vốn lưu động thường xuyên
*Theo hình thức đảm bảo tín dụng: Căn cứ vào tiêu thức này, tín dụng
được chia thành hai loại:
- Đảm bảo bằng tài sản: là loại tín dụng được ngân hàng cung cấp với điều
kiện phải có tài sản đảm bảo như thế chấp, cầm cố, hoặc cần có bảo lãnh của ngườithứ ba Đối với khách hàng không có uy tín cao đối với ngân hàng khi vay vốn đòihỏi phải có tài sản đảm bảo, sự đảm bảo này là căn cứ kinh tế để ngân hàng có thêmmột nguồn thu thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn nhằm bùđắp lại khoản tiền vay trong trường hợp người vay không có khả năng trả nợ
- Đảm bảo không bằng tài sản: là loại tín dụng không cần tài sản thế chấp,
cầm cố, hoặc không có sự bảo lãnh của người thứ ba Việc cho vay chỉ dựa vào uytín của bản thân khách hàng Đối với những khách hàng tốt, trung thực trong kinhdoanh, có khả năng tài chính lành mạnh, quản trị có hiệu quả thì ngân hàng có thểcấp tín dụng mà không cần đòi hỏi nguồn thu nợ bổ sung Đây là căn cứ pháp lýquan trọng trong việc truy đòi các khoản nợ có vấn đề phát sinh
Ngoài ra tín dụng có thể phân theo: loại tiền, phạm vi quốc gia, cơ cấu vốntín dụng tham gia, đối tượng tạo lập của vốn vay
1.1.1.3 Đặc điểm của hoạt động tín dụng
- Trong hoạt động tín dụng, các NHTM đóng vai trò là tổ chức trung gian:
Các NHTM đóng vai trò là tổ chức trung gian tức là các NHTM vừa đóngvai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay
Trang 16Khi huy động, các NHTM sử dụng các hình thức huy động khác nhau để thuhút mọi nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi để tạo lập nguồn vốn kinh doanh, lúc nàyNHTM đóng vai trò là người đi vay lớn nhất trong nền kinh tế.
Khi cho vay, các ngân hàng lại dùng chính nguồn vốn đã huy động được đểcho vay lại đối với nền kinh tế, lúc này ngân hàng lại đóng vai trò là người cho vaylớn nhất trong nền kinh tế
- Huy động vốn và cho vay của NHTM đều chủ yếu thực hiện dưới hình thức tiền tệ:
Trong quan hệ TDNH, các NHTM bằng cơ chế thích hợp, huy động cácnguồn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong xã hội để tạo ra quỹ cho vay của ngân hàng.Như vậy, tiền ở đây là công cụ thực hiện tín dụng, đó là loại tiền tín dụng hay còngọi là công cụ lưu thông TDNH
- Quá trình vận động và phát triển của TDNH độc lập tương đối với sự vận động và phát triển của quá trình tái sản xuất xã hội:
Vốn tín dụng là bộ phận không thể thiếu trong quá trình vận động của mọihoạt động xã hội nói chung và các hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng Tuynhiên, do tính độc lập tương đối của tiền tệ trong mối quan hệ hàng hóa - tiền tệ,cho nên người ta thường quan niệm vốn TDNH có tính độc lập tương đối với quátrình tái sản xuất xã hội Bởi vì trong quá trình vận động, vốn TDNH có thể thamgia vào bất cứ một giai đoạn nào của chu kỳ vận động, song dường như đều dễ nhìnthấy đó là ở giai đoạn đầu (dưới hình thức các nhu cầu chi phí bằng tiền) và giaiđoạn kết thúc (dưới hình thức các khoản thu nhập bằng tiền của quá trình tái sảnxuất) Do đó khi nền kinh tế ở trạng thái cân bằng (cân đối hàng hóa - tiền tệ) nguồnvốn tín dụng vận động theo sự vận động của các nguồn vốn của quá trình tái sảnxuất (T - H hoặc H - T) Nhưng khi nền kinh tế phát triển đến một mức nhất định tấtyếu nảy sinh mâu thuẫn trong quá trình chu chuyển vốn là nhu cầu vốn bằng tiềnkhông tương thích với nhu cầu hàng hóa trong trao đổi Khi đó với chức năng
"trung gian tín dụng" và với các công cụ huy động vốn, cho vay, thanh toán để gópphần đưa nền kinh tế về trạng thái cân bằng theo các mục tiêu cơ bản của nền kinhtế trong từng giai đoạn Do đó, có thể khẳng định sự vận động và phát triển củaTDNH chịu sự tác động và phụ thuộc vào quá trình vận động của quá trình tái sảnxuất xã hội, nhưng có tính độc lập tương đối với quá trình đó Cho nên trong thực tếTDNH thường được coi là một công cụ hữu hiệu để thúc đẩy tăng trưởng, hoặc điềuchỉnh, kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế
- Phạm vi hoạt động của TDNH là toàn bộ nền kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường hầu như mọi quan hệ trao đổi đều có thể "tiền tệhóa ", do vậy với công cụ thực hiện chủ yếu là "quyền sử dụng tiền tệ" nên TDNH cóthể tham gia vào mọi quan hệ xã hội Điều đó được biểu hiện ra bên ngoài là các
Trang 17NHTM có thể thực hiện huy động vốn tiền tệ, cho vay vốn và cung ứng các dịch vụngân hàng cho hầu hết mọi chủ thể trong xã hội Có nghĩa là TDNH có thể thỏa mãnnhu cầu sử dụng tiền cho mọi đối tượng, mọi phạm vi, mọi khoảng thời gian của toànxã hội Tuy nhiên sự thỏa mãn đó phải nằm trong sự điều chỉnh chung của nhà nướcvà sự ràng buộc của pháp luật trong từng giai đoạn, tình hình cụ thể của nền kinh tế.
- Doanh số hoạt động tín dụng lớn, các hình thức tín dụng đa dạng, nhiều rủi ro:
Doanh số hoạt động tín dụng lớn vì hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bảncủa ngân hàng thương mại Dư nợ tín dụng thường chiếm trên 50% tổng tài sảncủa ngân hàng thương mại và thu nhập từ tín dụng thường chiếm 50% - 70% tổngthu nhập của Ngân hàng thương mại Bên cạnh việc đem lại thu nhập chính chongân hàng thì rủi ro trong kinh doanh ngân hàng cũng có xu hướng tập trung vàodanh mục tín dụng với các hình thức tín dụng rất đa dạng Chính vì vậy mà hoạtđộng tín dụng luôn là mối quan tâm lớn nhất của các ngân hàng thương mại cũngnhư thanh tra ngân hàng
Độ rủi ro của hoạt động tín dụng là khá cao vì nó phụ thuộc khả năng tàichính của khách hàng, đặc biệt khách hàng cá nhân thường thay đổi nhanh chóngtùy theo tình trạng công việc và sức khỏe của họ Ngoài ra, các thông tin tài chínhcủa khách hàng vay thường không chính xác và khó kiểm soát Vì thế, ngân hàng
sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro nếu người vay mất khả năng thanh toán Trên thựctế, các khoản vay có tài sản đảm bảo hoặc có người thứ ba bảo lãnh sẽ làm tăngmức độ tin cậy hơn, đồng thời giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro hơn so với cáckhoản vay không có tài sản đảm bảo
1.1.1.4 Vai trò của hoạt động tín dụng
Tín dụng là mối quan hệ kinh tế nên có tác động nhất định đối với hoạt độngkinh tế Tuy nhiên vai trò của tín dụng phụ thuộc chủ yếu vào nhận thức và vận dụngquan hệ tín dụng vào xây dựng và quản lý kinh tế của con người
TDNH ra đời xuất phát từ đặc điểm tuần hoàn vốn trong nền kinh tế luôn làmphát sinh hiện tượng có những chủ thể tạm thời thừa vốn và những chủ thể khác tạmthời thiếu vốn TDNH đã giải quyết được mâu thuẫn giữa cung cầu về vốn, là sựcần thiết khách quan phù hợp với sự vận động vốn tiền tệ trong nền kinh tế thịtrường Khối lượng TDNH chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nền kinh tế, ngày càng giữvị trí quan trọng đối với lĩnh vực sản xuất và lưu thông hàng hóa cũng như lưuthông tiền tệ TDNH trong nền kinh tế thị trường được cụ thể hóa bằng các vai tròsau đây
Thứ nhất, đối với bản thân ngân hàng
Trang 18- Tín dụng là hoạt động chủ yếu mang lại nguồn thu nhập cho ngân hàng.Thu nhập từ hoạt động tín dụng được hình thành chủ yếu bởi chênh lệch giữa lãicho vay với lãi suất huy động và một số các khoản phí khác theo quy định, khoảnthu nhập này là phần thu nhập đáng kể trong tổng thu nhập của các NHTM Đặcbiệt ở các nước chưa có thị trường vốn phát triển thì hoạt động cho vay truyền thốngvẫn được coi như hoạt động bao trùm nhất trong kinh doanh của NHTM Do đó thunhập từ cho vay có thể được xem như khoản thu nhập chính quyết định đến sự tồntại và phát triển của ngân hàng, tuy nhiên hoạt động tín dụng lại là hoạt động tiềm
ẩn rủi ro lớn nhất trong kinh doanh ngân hàng nên các NHTM thường rất coi trọngvà nâng cao chất lượng QTRRTD
- Hoạt động tín dụng góp phần đa dạng hóa HĐKD của ngân hàng, giúp ngânhàng mở rộng đối tượng và phạm vi đầu tư từ đó giảm thiểu rủi ro trong HĐKD củangân hàng
Trước hết chúng ta thấy quan hệ tín dụng là quan hệ lớn nhất và quan trọngnhất trong các quan hệ với khách hàng của ngân hàng Mặt khác thông qua hoạtđộng tín dụng các ngân hàng có thể tạo ra nhiều sản phẩm dịch vụ tiện ích cung ứngcho chính bản thân họ Thông qua hoạt động huy động vốn (nhất là hoạt động tiềngửi) ngân hàng có thể tạo ra nhiều sản phẩm dịch vụ tiền tệ như: dịch vụ thanh toán,dịch vụ ngân quỹ, dịch vụ thu hộ, chi hộ, dịch vụ ủy thác, dịch vụ két sắt,… và cácdịch vụ tiền tệ khác có liên quan Thông qua hoạt động cho vay ngân hàng có thểtạo ra các dịch vụ liên quan như: dịch vụ tư vấn, dịch vụ bảo lãnh, dịch vụ kinhdoanh chứng khoán, kinh doanh ngoại tệ,… Nhất là trong điều kiện nền kinh tế thịtrường phát triển thì hầu hết các NHTM đều xây dựng chiến lược phát triển các dịch
vụ ngân hàng hiện đại để lần lượt thay thế cho các sản phẩm kinh doanh truyềnthống, và coi đây là chiến lược kinh doanh chủ yếu nhất trên thị trường
Thứ hai, đối với khách hàng
- TDNH đáp ứng nhu cầu vốn để quá trình sản xuất được liên tục: Trong nềnkinh tế, có nhiều chủ thể kinh tế hoạt động trong nhiều ngành nghề khác nhau, mỗi chủthể, mỗi ngành kinh tế lại có chu kỳ sản xuất khác nhau, trong khi đó, quá trình tái sảnxuất xã hội lại diễn ra liên tục trên cơ sở phân công lao động và hợp tác trong toàn bộnền kinh tế Vì vậy, tất yếu xảy ra tình trạng nơi tạm thời thừa vốn, nơi tạm thời thiếuvốn Với tư cách là trung gian tài chính, các ngân hàng tập trung các nguồn vốn tạmthời nhàn rỗi trong nền kinh tế, và cho vay đối với các thành phần đang tạm thời thiếuvốn, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được diễn ra liên tục Điều này có nghĩa làTDNH là công cụ tích tụ và tập trung vốn rất quan trọng góp phần thúc đẩy nhanh tốcđộ chu chuyển vốn trong nền kinh tế thị trường Hoạt động theo phương châm "đivay để cho vay", TDNH không những đảm bảo cho quá trình sản xuất được diễn rabình thường, mà còn đẩy nhanh quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa, mở rộng sản
Trang 19xuất, cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ sản xuất mới, nâng cao chất lượng sảnphẩm dịch vụ.
- TDNH góp phần thúc đẩy phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanhthêm năng động và có hiệu quả hơn: Hoạt động trong môi trường cạnh tranh gay gắtđòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng vận động để phù hợp với những biếnđộng của thị trường Trong quá trình sản xuất kinh doanh, nhằm đáp ứng nhu cầuvốn của mình doanh nghiệp phải đi vay ngân hàng và phải hoàn trả cả gốc và lãi saumột thời gian nhất định, do đó doanh nghiệp cần tìm hiểu và đầu tư vốn vào nhữngngành nghề có tỷ suất lợi nhuận cao, qua đó vừa duy trì được hoạt động của mình,vừa hoàn trả được vốn vay ngân hàng Bên cạnh đó, TDNH cũng tạo điều kiệnthuận lợi cho việc di chuyển vốn, góp phần thay đổi cơ cấu sản xuất kinh doanh.TDNH thực sự là công cụ kinh tế quan trọng góp phần tạo ra các nguồn vốn hỗ trợhữu hiệu, và các sản phẩm dịch vụ tiện ích phục vụ đắc lực cho các hoạt động sảnxuất kinh doanh, đồng thời nó cũng là công cụ điều tiết có hiệu quả của nhà nước đểtác động vào mọi HĐKD theo các mục tiêu chung của nền kinh tế, từ đó làm chocác hoạt động kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng trở nên năng động vàlinh hoạt hơn
Thứ ba, đối với nền kinh tế
Quá trình hình thành và phát triển của tín dụng cho thấy vai trò quan trọng củahoạt động tín dụng trong nền kinh tế, đặc biệt là nền kinh tế hiện nay Hoạt động tíndụng tồn tại khách quan với tư cách là người mở đường, người tham gia quyết địnhmọi quá trình sản xuất, tập trung nguồn vốn nhàn rỗi ngoài lưu thông dưới dạng tiếtkiệm đem lại đầu tư để phục vụ phát triển kinh tế
- Hoạt động TDNH là công cụ tài trợ có hiệu quả cho nền kinh tế: Là trunggian điều hòa cung cầu về vốn cho nền kinh tế, hoạt động tín dụng là cầu nối giữacác dòng vốn tạm thời thừa với các nhu cầu vốn tạm thời thiếu Qua thực tế chúng
ta có thể nhận thấy khi các quan hệ hàng hóa - tiền tệ ngày càng phát triển thì cácquan hệ về tín dụng cũng ngày càng phát triển, ngược lại các quan hệ tín dụng pháttriển ngày càng đa dạng và phong phú là điều kiện hỗ trợ và kích thích các quan hệhàng hóa - tiền tệ cũng phát triển hơn
Các doanh nghiệp HĐKD không thể chỉ dựa vào nguồn vốn tự có Bởi lẽtrong một chu kỳ sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể thừa vốn ở giai đoạnnày nhưng lại thiếu vốn ở giai đoạn khác Trong quá trình chu chuyển vốn đó tìnhtrạng tạm thời thừa và thiếu vốn có thể xuất hiện trong nhiều khoảng thời gian dài,ngắn khác nhau Song xu thế chung cho ta thấy tình trạng thiếu vốn trong ngắn hạnvà cả trong dài hạn ở các doanh nghiệp là mang tính phổ biến
Bởi hoạt động TDNH có tính bao trùm cả xã hội do đó các NHTM có thể
"mua về" và "bán ra" với một khối lượng vốn lớn tương đương với cả tổng nguồn
Trang 20vốn đầu tư trong xã hội theo quan hệ cung - cầu vốn tín dụng Qua đó NHTM có thểtiếp nhận được hầu hết mọi nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi trong xã hội và lại dùngchính nguồn vốn đó để thỏa mãn các nhu cầu vốn tạm thời thiếu cho chính các chủthể đó, khi có quan hệ vay vốn với ngân hàng, vì vậy khả năng thỏa mãn các nhucầu vốn qua kênh tín dụng lớn hơn nhiều so với các kênh phân phối khác Mặt khácthông qua sự vận dụng lãi suất linh hoạt (cả lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay) vàcác công cụ khác, TDNH còn góp phần định hướng đầu tư, xác định hiệu quả kinhdoanh một cách cụ thể, giúp cho các doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị, và cóthể lượng hóa rõ hơn các rủi ro có thể xảy ra trong sản xuất kinh doanh.
Đồng thời cũng có thể thông qua TDNH, nhà nước có thể vận dụng nhiềubiện pháp ưu đãi cho doanh nghiệp (hỗ trợ lãi suất, bảo lãnh, cho vay chỉ định,…)để giải quyết các khó khăn về tài chính trong điều kiện nền kinh tế có những biếnđộng lớn
TDNH tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển thị trường vốn ngắn hạn.Thông qua việc huy động vốn và cho vay tín dụng đã góp phần đẩy nhanh tốc độchu chuyển vốn xã hội thông qua việc điều tiết các vốn chậm sang chỗ có vòng chuchuyển vốn nhanh hơn Đồng thời thông qua hoạt động TDNH có thể tạo ra nhiềucông cụ lưu thông (như kỳ phiếu ngân hàng) và nhiều dịch vụ tiện ích (chiết khấu,bao thanh toán, bảo lãnh,…) phục vụ đắc lực cho quá trình vận động vốn của mọichủ thể trên thị trường Đây là tiền đề quan trọng để phát triển mở rộng thị trườngvốn ngắn hạn
- Hoạt động TDNH góp phần điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông, đápứng các nhu cầu trao đổi:
Ngân hàng trung ương (NHTW) thông qua quan hệ tín dụng để điều tiếtkhối lượng cho vay tại các tổ chức tín dụng (TCTD) Với vai trò là người cho vaycuối cùng, việc mở rộng hay thu hẹp cửa sổ chiết khấu sẽ ảnh hưởng đến quy mô tíndụng, từ đó sẽ tác động đến khối lượng cho vay của các TCTD Thông qua hoạtđộng tín dụng, NHTW có thể sử dụng NHTM như là chiếc "cầu nối" giữa nhà nướcvới thị trường thông việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ để từ đó có thểđiều tiết được khối lượng tiền cung ứng Đồng thời thông qua hoạt động củaNHTM, NHTW có thể thu nhận các dấu hiệu, các thông tin thị trường để từ đó cóbiện pháp điều chỉnh kịp thời và phù hợp với thực tế về cung - cầu tiền tệ trong nềnkinh tế Điều này có ý nghĩa đặc biệt trong nền kinh tế đang có lạm phát hay bất ổnđịnh Như vậy, NHNN thông qua cửa sổ chiết khấu đã tác động tới khối lượng chovay của các TCTD, từ đó quản lý được lượng tiền mặt trong lưu thông nhằm đạtđược các mục tiêu như mong muốn
Hoạt động điều tiết được thực hiện bởi việc thực thi chính sách tiền tệ thông quacác công cụ như lãi suất, tái chiếu khấu, hoạt động thị trường mở, tỷ lệ dự trữ bắt buộc,
Trang 21dự trữ thanh toán… Chính phủ có thể kiểm soát được lượng tiền trong lưu thông, kiềmchế lạm phát và ổn định sức mua của đồng tiền.
- TDNH là góp phần thúc đẩy việc hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tếtheo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Để có thể đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, máy móc thiết bị và khoa học côngnghệ thì cần phải có vốn Việc đầu tư này ngoài nguồn vốn của ngân sách nhà nước(NSNN) thì cũng có một phần vốn đóng góp không nhỏ của các TCTD Thực tế chothấy ở các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển như Việt Nam thìTDNH là một công cụ tài trợ đặc biệt quan trọng đối với việc hình thành và chuyểndịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- TDNH là công cụ thực hiện chính sách xã hội:
Các chính sách xã hội có thể được tài trợ bởi phương thức tài trợ không hoànlại NSNN Tuy nhiên, phương thức này thường bị hạn chế về quy mô và thiếu hiệuquả và gây lãng phí nguồn lực Vì thế hiện nay phương thức tài trợ không hoàn lạiđã bị thay thế dần bởi phương thức tài trợ có hoàn lại Thông qua phương thức này,các mục tiêu chính sách được đáp ứng một cách chủ động và có hiệu quả hơn Mặtkhác thông qua việc sử dụng các công cụ tín dụng như lãi suất, thời hạn, hạn mứctín dụng,… đã tác động mạnh vào các đối tượng chính sách được tài trợ buộc phảiquan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn để đảm bảo hoàn trả đúng thời hạn thì kỹ nănglao động của họ cũng được cải thiện từng bước Đây là sự đảm bảo chắc chắn cho
sự ổn định tài chính của các đối tượng chính sách và từng bước làm cho họ có thểtồn tại độc lập với các nguồn tài trợ
- Hoạt động TDNH thúc đẩy phát triển và mở rộng kinh tế đối ngoại: Khinền kinh tế ngày càng phát triển thì hoạt động sản xuất hàng hóa càng đa dạng vàphong phú Các doanh nghiệp không chỉ bó hẹp quan hệ kinh doanh trong phạm vimột quốc gia mà đã mở rộng quan hệ với các doanh nghiệp nước ngoài Nhờ cóhoạt động tín dụng mà cụ thể hơn là bảo lãnh ngân hàng đã tạo cơ hội cho sự pháttriển của các doanh nghiệp, nâng cao vị thế của các doanh nghiệp trên thị trườngquốc tế, từ đó mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại Đa số các NHTM hiện nay đềumở các ngân hàng đại lý bên nước ngoài để phục vụ khách hàng quốc tế trong hoạtđộng thanh toán thẻ, cho vay cá nhân và các tổ chức nước ngoài
TDNH đã trở thành một trong những phương tiện để nối liền kinh tế của cácnước với nhau Đặc biệt với các nước đang phát triển, TDNH đóng vai trò quantrọng trong việc mở rộng xuất khẩu hàng hóa đồng thời nhờ nguồn vốn tín dụng bênngoài để công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
Tóm lại, trong điều kiện nền kinh tế thị trường phát triển TDNH luôn đượccoi là một trong các biện pháp cơ bản để điều hòa các dòng vốn trong xã hội và đápứng các yêu cầu trong sử dụng vốn của nền kinh tế Thực tế cho chúng ta thấy
Trang 22TDNH thực sự là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, giữa tiêu dùng và sản xuất, giữatrong nước và quốc tế,… Do vậy việc nâng cao chất lượng tín dụng nói chung, chấtlượng TDNH nói riêng không chỉ là vấn đề quan tâm của các NHTM mà thực sự làvấn đề lớn của cả nền kinh tế trong điều kiện hiện nay.
1.1.2 Rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng
RRTD gắn liền với hoạt động tín dụng, là hoạt động cơ bản của ngân hàng vàđem lại nguồn thu chủ yếu của ngân hàng hiện nay, có thể gây tổn thất về tài chính,về kinh tế mà tác động trực tiếp là làm giảm lãi, giảm giá trị thị trường về vốn, trongtrường hợp nghiêm trọng hơn có thể làm HĐKD của ngân hàng bị thua lỗ, thậm chílà phá sản ngân hàng Có nhiều khái niệm về RRTD được ghi nhận trong các tài liệunghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước, có thể dẫn ra như sau:
Theo Joel Bessis đưa ra khái niệm về RRTD trong cuốn Quản trị rủi ro trong
ngân hàng: “RRTD là rủi ro quan trọng nhất trong ngân hàng Đó là rủi ro đối tác
sẽ vi phạm nghĩa vụ trả nợ Theo các quy định, RRTD chia thành một vài thành phần RRTD: rủi ro vỡ nợ; rủi ro giảm uy tín; rủi ro nguy cơ nguy cơ, tức là sự bất trắc về giá trị tương lai của khoản tiền có thể thua lỗ vào thời điểm vỡ nợ chưa biết; thua lỗ do vỡ nợ thường ít hơn lượng tiền phải trả bởi vì sự hồi phục nhờ đảm bảo hay thế chấp của bên thứ ba; rủi ro đối tác là hình thức RRTD cụ thể xuất phát
từ phái sinh, có thể chuyển đổi từ đối tác này sang đối tác khác” [62, tr.42-43].
Quan điểm của A.Saunder và H.Langge thì: “RRTD là khoản lỗ tiềm tàng
khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng luồng thu nhập
dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngan hàng không thể thực hiện đầy đủ về cả
số lượng và thời gian” [58].
Theo định nghĩa của Ủy ban Basel thuộc Ngân hàng Thanh toán Quốc tế:
“RRTD là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện được các
nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã thỏa thuận”.
Quan điểm của Timmothy W.Koch: “RRTD là sự thay đổi tiềm ẩn của thu
nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc vốn vay không được thanh toán hay thanh toán trễ hạn”
Theo [24], RRTD được định nghĩa như sau: “RRTD trong hoạt động ngân
hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện được hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Như vậy, đứng trên nhiều góc độ khác nhau để nhìn nhận thì RRTD có thể đượcdiễn đạt dưới các hình thức khác nhau, song các khái niệm, các quan điểm đều tựu
chung về bản chất của RRTD đó là: RRTD là khả năng xảy ra tổn thất, thiệt hại về
Trang 23kinh tế mà NHTM phải gánh chịu do khách hàng vay vốn không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả nợ gốc và lãi hoặc hoàn trả không đúng hạn.
1.1.2.2 Phân loại rủi ro tín dụng
Có nhiều cách phân loại và tiếp cận RRTD khác nhau, sau đây là một số cáchphân loại phổ biến:
- Căn cứ vào nguồn gốc của RRTD có thể chia RRTD làm 2 nhóm: rủi ro đạo đức và rủi ro do sự lựa chọn đối nghịch;
+ Rủi ro đạo đức: là rủi ro do thông tin không cân xứng tạo ra sau khi cuộcgiao dịch diễn ra Vì lợi ích cá nhân mà bên cho vay đã bỏ qua các thông tin khôngtin cậy về năng lực trả nợ của bên đi vay hoặc bên đi vay đã cố tình không tuân thủcác quy định trong thỏa thuận vay, không cung cấp các thông tin có thể ảnh hưởngđến năng lực trả nợ trong quá trình sử dụng vốn vay
+ Rủi ro do sự lựa chọn đối nghịch: là rủi ro do thông tin không cân xứng tạo
ra trước khi cuộc giao dịch diễn ra Bên cho vay tin tưởng vào năng lực của ngườivay mà cho vay trong khi người đi vay với mục đích để vay được vốn đã cung cấpthông tin không trung thực cho bên cho vay
- Căn cứ vào mức độ tổn thất, có thể chia RRTD ra làm 2 loại là rủi ro mất vốn và rủi ro đọng vốn;
+ Rủi ro mất vốn: Rủi ro mất vốn là rủi ro khi người vay không có khả năngtrả được nợ theo hợp đồng, bao gồm vốn gốc hoặc lãi vay, ngân hàng chỉ trông chờvào giá trị thanh lý tài sản của doanh nghiệp Rủi ro mất vốn sẽ làm (i) tăng chi phí
do nợ khó đòi tăng, chi phí quản trị, chi phí giám sát (ii) giảm lợi nhuận do cáckhoản dự phòng gia tăng cho những khoản vốn mất đi
+ Rủi ro đọng vốn: Rủi ro đọng vốn là rủi ro xảy ra trong trường hợp đến hạnmà ngân hàng vẫn chưa thu hồi vốn vay, dẫn đến các khoản vốn bị đông cứng vàảnh hưởng đến ngân hàng trên hai phương diện: (i) ảnh hưởng đến kế hoạch sửdụng vốn của ngân hàng, (ii) gặp khó khăn cho việc thanh toán cho khách hàng
- Căn cứ theo đối tượng sử dụng, có thể chia làm ba nhóm:
+ Rủi ro khách hàng cá thể: RRTD xảy ra đối với đối tượng khách hàng là cánhân
+ Rủi ro công ty, tổ chức kinh tế, định chế tài chính: RRTD xảy ra đối vớikhách hàng là công ty, tổ chức kinh tế, định chế tài chính
+ Rủi ro quốc gia hay khu vực địa lý: RRTD xảy ra đối với từng quốc gia đốivới hoạt động vay nợ, viện trợ
- Căn cứ phạm vi của RRTD, có thể phân RRTD thành rủi ro cá biệt và rủi ro
hệ thống Trong thực tiễn hoạt động tín dụng, cách phân loại RRTD theo phạm vi
rủi ro sẽ giúp cho ngân hàng đưa ra các giải pháp quản trị rủi ro phù hợp và hữu
hiệu nhất
Trang 24+ RRTD cá biệt: là RRTD xảy ra đối với một khoản vay của một khách hàng
cụ thể, thuộc một nhóm ngành cụ thể RRTD cá biệt xảy ra do một số nguyên nhân:
(i) Đặc điểm ngành và loại hình kinh tế của khách hàng: (ii) Tình hình tài chính của
khách hàng, (iii) Khả năng quản trị của khách hàng, (iv) Đạo đức khách hàng, (v) Các nguyên nhân khác Tóm lại, việc nghiên cứu rủi ro cá biệt sẽ giúp ngân hàng đa
dạng hóa hoạt động tín dụng để giảm thiểu rủi ro, đem lại hiệu quả cho ngân hàng
+ RRTD hệ thống: là RRTD xảy ra không chỉ đối với một ngân hàng mà
mang tính chất hệ thống, lan truyền đến cả khu vực ngân hàng Nguyên nhân của rủi
ro hệ thống bao gồm: sự thay đổi chính sách thể hiện ở chính sách tài chính tiền tệ,chính sách thuế, chính sách xuất nhập khẩu; các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế ảnhhưởng đến rủi ro hệ thống bao gồm: tỉ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, GDP, chỉ sốchứng khoán, chỉ số giá tiêu dùng; luật pháp và môi trường đầu tư và các yếu tố bấtkhả kháng Để hạn chế rủi ro này, thay vì đa dạng hóa hoạt động tín dụng, ngânhàng cần phải thực hiện tốt công tác dự báo tình hình kinh tế vĩ mô, các tác độngcủa lạm phát, thất nghiệp, các chính sách sắp đến của Chính phủ và chủ động đưa racác giải pháp quản trị rủi ro phù hợp
- Căn cứ vào giai đoạn phát sinh rủi ro, chia làm ba nhóm: Rủi ro trước khi cho vay, rủi ro trong khi cho vay và rủi ro sau khi cho vay.
+ Rủi ro trước khi cho vay: Rủi ro xảy ra khi ngân hàng phân tích đánh giásai về khách hàng dẫn đến cho vay các khách hàng không đủ điều kiện đảm bảo khảnăng trả nợ trong tương lai
+ Rủi ro trong khi cho vay: Rủi ro này xảy ra trong quy trình cấp tín dụng.Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro này bao gồm: (i) việc giải ngân không đúng tiến độ(ii) không cập nhật thông tin khách hàng thường xuyên và (iii) không dự báo đượcrủi ro tiềm năng Khách hàng cố tình không trả nợ vay hoặc cung cấp thông tinkhông trung thực về khả năng trả nợ
+ Rủi ro sau khi cho vay: Rủi ro này xảy ra khi mà cán bộ tín dụng không nắmđược tình hình sử dụng vốn vay, khả năng tài chính tương lai của khách hàng
- Căn cứ vào quy mô ảnh hưởng của RRTD đến hoạt động của ngân hàng, RRTD được chia thành rủi ro khoản vay và rủi ro danh mục.
+ Rủi ro khoản vay: Là rủi ro được đánh giá đối với mỗi khoản vay, mức độ
rủi ro khoản vay được đánh giá đơn lẻ và mức độ ảnh hưởng thường được giới hạn
do quy mô khoản vay
+ Rủi ro danh mục: Là rủi ro được đánh giá đối với một danh mục các khoảnvay có tính chất tương đồng (đối tượng khách hàng, đối tượng cho vay hay tính chấtkhoản vay…) Việc đánh giá rủi ro danh mục có vai trò quan trọng vì mức độ ảnhhưởng lan tỏa và quy mô tín dụng lớn
1.1.2.3 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng
Trang 25Các nguyên nhân khách quan:
Nguyên nhân từ môi trường chính trị và pháp lý
Môi trường chính trị có ảnh hưởng nhiều đến hoạt động tín dụng của ngân hàng.Tình hình chính trị xã hội không ổn định thì không chỉ riêng các khách hàng sản xuấtmà cả các ngân hàng cũng khó có thể yên tâm tập trung vào đầu tư, mở rộng kinhdoanh, đặc biệt là mở rộng tín dụng Hơn nữa, sự bất ổn về chính trị xã hội sẽ dẫn đến
sự mất lòng tin của dân chúng như các nhà đầu tư trong và ngoài nước, ảnh hưởng đếnhoạt động tín dụng của ngân hàng
Môi trường pháp lý cũng có ảnh hưởng quan trọng đến quá trình QTRRTDcủa ngân hàng Xác lập một khuôn khổ pháp luật đồng bộ, nhất quán điều chỉnh cáchoạt động kinh tế trong nền kinh tế thị trường được xem như là điều kiện tiên quyếtđảm bảo thị trường hoạt động có hiệu quả Chính vì vậy, nhân tố pháp lý có vị trí rấtquan trọng đối với hoạt động cho vay của ngân hàng Các quy định phù hợp sẽ tạođiều kiện phát triển hoạt động của các ngân hàng an toàn nhưng nếu các quy địnhkhông phù hợp sẽ dẫn đến sự kìm hãm phát triển, trong đó bao gồm cả việc ảnhhưởng đến mức độ an toàn trong hoạt động của các ngân hàng
Nguyên nhân từ môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế được phản ánh qua chu kỳ kinh tế, các chính sách kinh tế
vĩ mô từng thời kỳ và tác động của xu thế toàn cầu hóa, cụ thể:
Chu kỳ phát triển kinh tế có tác động đến hoạt động ngân hàng nói chung vàhoạt động tín dụng nói riêng Khi nền kinh tế tăng trưởng và ổn định thì hoạt động tíndụng sẽ tăng trưởng và ít rủi ro hơn Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái và khủnghoảng thì hoạt động tín dụng gặp khó khăn và rủi ro cao Trong thời kỳ nền kinh tếphát triển với tốc độ chậm, biểu hiện tính suy thoái, sản xuất kinh doanh của cáckhách hàng bị thu hẹp, không hiệu quả và gặp nhiều khó khăn, nhiều khách hàng bịthua lỗ và bị phá sản Nếu ngân hàng lúc này vẫn tiếp tục tăng trưởng tín dụng ở mứccao thì khả năng rủi ro, không thu được nợ sẽ tăng lên
Chính sách kinh tế của Chính phủ thông qua những quy định như về thuế,chính sách xuất nhập khẩu… sẽ gián tiếp gây ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng bởicác chính sách này tác động trực tiếp đến HĐKD của các khách hàng của ngânhàng Khi chính phủ có chính sách ưu đãi như giảm thuế, bảo hộ hàng sản xuấttrong nước của một ngành nào đó bằng cách đề ra hạn ngạch xuất khẩu, hoặc cấmnhập hay tăng thuế nhập khẩu và ngược lại, đưa ra chính sách giữ giá hay phá giáđồng nội tệ thì cũng gián tiếp gây ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng Một đất nướcmà các chính sách kinh tế thường xuyên thay đổi, khó dự đoán sẽ gây tác động xấuđến HĐKD của các khách hàng và ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàngđối với ngân hàng
Trang 26Xu hướng toàn cầu hóa đang diễn ra sôi động trên toàn thế giới, vì thế sựbiến động tình hình kinh tế, chính trị xã hội ở nước ngoài cũng ảnh hưởng tới đờisống kinh tế, chính trị xã hội trong nước, từ đó ảnh hưởng đến hoạt động của cácdoanh nghiệp nói chung và các NHTM nói riêng Các doanh nghiệp cũng như ngânhàng đều phải nắm bắt xu hướng phát triển của nền kinh tế thế giới và khu vực,những ảnh hưởng của nó đến HĐKD của đất nước cũng như đối với cá nhân mỗikhách hàng để có những bước đi, kế hoạch đổi mới phát triển cho phù hợp
Nguyên nhân từ phía khách hàng vay vốn
Năng lực quản trị, điều hành của khách hàng
Năng lực quản trị, điều hành của Ban lãnh đạo có tính chất quyết định đếnhiệu quả sử dụng vốn vay, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thực hiện cam kết vớingân hàng Do đó, ảnh hưởng đến hiệu quả công tác QTRRTD Nhiều khách hàngvay sẵn sàng mạo hiểm với kỳ vọng thu được lợi nhuận cao, để đạt được mục đíchcủa mình họ sẵn sàng tìm mọi thủ đoạn ứng phó với ngân hàng, như cung cấp thôngtin sai sự thật, mua chuộc… Nhiều khách hàng vay vốn không tính toán kỹ, mởrộng đầu tư quá mức, hoặc không có khả năng tính toán những bất trắc có thể xảy
ra, không có khả năng thích ứng và khắc phục những khó khăn trong kinh doanh.Trường hợp còn lại là khách hàng vay vốn kinh doanh có lãi nhưng vẫn không trảnợ đúng hạn, họ chây ỳ với hy vọng có thể được xóa nợ, sử dụng vốn vay càng lâucàng tốt
Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch
Năng lực tài chính là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động TDNH bởinếu khách hàng có tiềm lực tài chính mạnh, HĐKD ổn định, có uy tín thì khi có biếncố xảy ra, khách hàng có khả năng chống đỡ rủi ro bằng vốn chủ sở hữu và hạn chếảnh hưởng đến quá trình thực hiện nghĩa vụ với NHTM
Quy mô tài sản, nguồn vốn nhỏ bé, tỷ lệ nợ so với vốn tự có cao là đặc điểmchung của hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam Ngoài ra, thói quen ghi chép đầy đủ,chính xác, rõ ràng các sổ sách kế toán vẫn chưa được các doanh nghiệp tuân thủnghiêm chỉnh Do vậy, sổ sách kế toán mà các doanh nghiệp cung cấp cho ngânhàng nhiều khi chỉ mang tính chất hình thức hơn là thực chất Khi cán bộ ngân hànglập các bản phân tích tài chính của doanh nghiệp dựa trên số liệu do các doanhnghiệp cung cấp, thường thiếu tính thực tế và xác thực Đây cũng là nguyên nhân vìsao ngân hàng vẫn luôn xem nặng phần tài sản thế chấp như là chỗ dựa cuối cùng đểphòng chống RRTD
Sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ vay
Đa số các doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng đều có các phương án kinhdoanh cụ thể, khả thi Số lượng các doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích, cố ýlừa đảo ngân hàng để chiếm đoạt tài sản không nhiều Tuy nhiên những vụ việc phát
Trang 27sinh lại hết sức nặng nề, liên quan đến uy tín của các cán bộ, làm ảnh hưởng xấuđến các doanh nghiệp khác.
Các nguyên nhân chủ quan bao gồm:
Chính sách tín dụng của ngân hàng
Chính sách tín dụng không minh bạch làm cho hoạt động tín dụng lệch lạc,dẫn đến việc cấp tín dụng không đúng đối tượng, tạo ra khe hở cho người sử dụngvốn có những hành vi vi phạm hợp đồng và pháp luật của Nhà nước
Trình độ yếu kém và vi phạm đạo đức nghề nghiệp của cán
bộ tín dụng
Rủi ro do cán bộ tín dụng tính toán không đúng hiệu quả đầu tư dự án xinvay Cán bộ tín dụng không nắm rõ đặc điểm của ngành mà mình đang cho vay,hoặc do chính cán bộ tín dụng cố ý cho vay, dù đã tính toán được dự án xin vaykhông có hiệu quả, tính khả thi thấp, điều này sẽ gây ra rủi ro lớn cho ngân hàng.Rủi ro do ngân hàng đánh giá chưa đúng mức về khoản vay, về người vay, chủ quantin tưởng vào khách hàng thân thiết, coi nhẹ khâu kiểm tra tình hình tài chính, khảnăng thanh toán hiện tại và trong tương lai, nguồn trả nợ
Một số vụ án kinh tế lớn trong thời gian vừa qua có liên quan đến cán bộngân hàng đều có sự tiếp tay của một số cán bộ ngân hàng cùng với khách hàng làmgiả hồ sơ vay, hay nâng giá tài sản thế chấp, cầm cố lên quá cao với thực tế để vaytiền ngân hàng với giá trị lớn
Đạo đức của cán bộ là một trong các yếu tố tối quan trọng để giải quyết vấnđề hạn chế RRTD Một cán bộ kém về năng lực có thể bồi dưỡng thêm, nhưng mộtcán bộ tha hóa về đạo đức mà lại giỏi về mặt nghiệp vụ thì vô cùng nguy hiểm khiđược bố trí trong công tác tín dụng
Thiếu giám sát và quản trị rủi ro sau khi cho vay
Các ngân hàng thường có thói quen tập trung nhiều công sức cho việc thẩmđịnh trước khi cho vay mà nới lỏng quá trình kiểm tra, kiểm soát đồng vốn sau khicho vay Khi ngân hàng cho vay thì khoản cho vay cần phải được quản trị một cáchchủ động để đảm bảo sẽ được hoàn trả Theo dõi nợ là một trong những trách nhiệmquan trọng nhất của cán bộ tín dụng nói riêng và của ngân hàng nói chung Việc theodõi hoạt động của khách hàng vay nhằm tuân thủ các điều khoản đề ra trong hợpđồng tín dụng giữa khách hàng và ngân hàng nhằm tìm ra những cơ hội kinh doanhmới và mở rộng cơ hội kinh doanh Tuy nhiên trong thời gian qua các NHTM chưathực hiện tốt công tác này
Lỏng lẻo trong công tác kiểm tra nội bộ các ngân hàng
Kiểm tra nội bộ có điểm ở tính thời gian vì nó nhanh chóng, kịp thời ngay khivừa phát sinh vấn đề và tính sâu sát của người kiểm tra viên, do việc kiểm tra được
Trang 28thực hiện thường xuyên cùng với công việc kinh doanh Nhưng thời gian trước đây,công việc kiểm tra nội bộ của các ngân hàng hầu như chỉ tồn tại trên hình thức
Sự hợp tác giữa các NHTM quá lỏng lẻo, vai trò của có quan quản lý chưa thực sự hiệu quả
Kinh doanh ngân hàng là một nghề đặc biệt huy động vốn để cho vay hay nóicách khác đi vay để cho vay, do vậy vấn đề rủi ro trong hoạt động tín dụng là khôngthể tránh khỏi, các ngân hàng cần phải hợp tác chặt chẽ với nhau nhằm hạn chế rủi
ro do nhu cầu quản trị rủi ro đối với cùng một khách hàng khi khách hàng này vaytiền tại nhiều ngân hàng Trong quản trị tài chính, khả năng trả nợ của một kháchhàng là một con số cụ thể, có giới hạn tối đa của nó Nếu so sự thiếu trao đổi thôngtin, dẫn đến việc nhiều ngân hàng chưa được cập nhật và xử lý kịp thời
Mô hình tín dụng thiết kế lỏng lẻo
Về mô hình quản lý, quản trị rủi ro tín dụng còn lỏng lẻo, tạo kẽ hỡ cho rủi
ro tín dụng xuất hiện
Tập trung hóa danh mục tín dụng
Việc tập trung danh mục tín dụng vào một nhóm khách hàng, nhóm ngànhnghề hoặc vùng, lĩnh vực có thể dẫn đến rủi ro tín dụng
Không thực hiện việc đánh giá hoạt động tín dụng thường xuyên.
Một trong những nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng đó là do các ngânhàng thương mại còn lơ là trong việc đánh giá hoạt động tín dụng không thườngxuyên, chưa có biện pháp kịp thời để xử lý các tình huống phát sinh
1.1.2.4 Tiêu chí đo lường rủi ro tín dụng
Để nhận biết RRTD, có thể căn cứ vào các chỉ tiêu trực tiếp như: nợ quá hạn,nợ xấu, dự phòng RRTD Bên cạnh đó, các chỉ tiêu gián tiếp cũng rất quan trọng chobiết dấu hiện nhận biết rủi ro đối với ngân hàng như: Quy mô tín dụng, mức độ tăngtrưởng quy mô tín dụng, cơ cấu tín dụng, và các chỉ tiêu
Các tiêu chí trực tiếp đánh giá RRTD:
Đây là các chỉ tiêu đặc biệt quan trọng, nó phản ánh RRTD của ngân hàng,
cụ thể:
Nợ quá hạn
Nợ quá hạn là chỉ tiêu cơ bản phản ánh RRTD Nợ quá hạn sẽ phát sinh khiđến thời hạn trả nợ theo cam kết, người vay không có khả năng trả được nợ mộtphần hay toàn bộ khoản vay cho người cho vay Tùy theo thời gian quá hạn, khoảnnợ này sẽ được xác định là nợ đủ tiêu chuẩn, nợ cần chú ý, nợ dưới tiêu chuẩn, nợnghi ngờ, hoặc là nợ có khả năng mất vốn Nợ quá hạn được phản ánh qua 2 chỉtiêu sau:
Tỉ lệ nợ quá hạn = Số dư nợ quá hạn x 100%
Tổng dư nợ
Trang 29Tỉ lệ khách hàng có nợ quá hạn
trên tổng khách hàng có dư nợ =
Số khách hàng có nợ quá hạn
x 100%Tổng số khách hàng có dư nợ
Nếu ngân hàng có chỉ tiêu nợ quá hạn và số khách hàng có nợ quá hạn lớn thìngân hàng đó đang có mức rủi ro cao và ngược lại
Nợ xấu Nợ xấu chính là các khoản tiền cho khách hàng vay, mà khó hoặc
không thể thu hồi được do doanh nghiệp đó làm ăn thua lỗ hoặc phá sản, nợ phải trảtăng, doanh nghiệp mất khả năng thanh toán Nợ xấu sẽ phản ánh một cách rõ nétchất lượng tín dụng của ngân hàng thông qua việc đánh giá cả thời hạn quá hạn củakhoản vay và tiêu chí đánh giá rủi ro của khoản vay Nợ xấu là các khoản nợ thuộccác nhóm 3, 4 và 5 [24] Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượngtín dụng của tổ chức tín dụng
N x u ợ xấu được phản ánh rõ nhất qua các chỉ số: ấu được phản ánh rõ nhất qua các chỉ số: đượ xấu được phản ánh rõ nhất qua các chỉ số: c ph n ánh rõ nh t qua các ch s : ản ánh rõ nhất qua các chỉ số: ấu được phản ánh rõ nhất qua các chỉ số: ỉ số: ố:
Tổng dư nợ
Tỉ lệ nợ xấu trên vốn chủ sở hữu = Vốn chủ sở hữuNợ xấu x 100%
Tỉ lệ nợ xấu trên quỹ dự phòng tổn thất = Quỹ dự phòng tổn thất Nợ xấu x 100%
Dự phòng RRTD
Dự phòng rủi ro đánh giá khả năng chi trả của ngân hàng khi rủi ro xảy ra.Mục đích của việc sử dụng dự phòng rủi ro của một ngân hàng là nhằm để bù đắptổn thất đối với những khoản nợ của ngân hàng xảy ra trong trường hợp khách hàngkhông có khả năng chi trả do giải thể, phá sản, chết, mất tích, hoặc khi khoản nợđược xếp vào nhóm 5 Dự phòng tín dụng được tính trên số dư nợ gốc của kháchhàng bao gồm: (i) dự phòng cụ thể - để bảo hiểm rủi ro cụ thể cho từng khoản vay,và (ii) dự phòng chung - bảo hiểm các rủi ro chung không xác định trong danh mụctín dụng và toàn bộ dự phòng được tính vào chi phí hoạt động của doanh nghiệp.Việc sử dụng dự phòng được sử dụng theo nguyên tắc là sử dụng dự phòng cụ thểđối với từng khoản nợ trước, phát mại tài sản đảm bảo để thu hồi nợ, và cuối cùngnếu phát mãi tài sản không đủ thu hồi nợ thì mới sử dụng dự phòng chung Mỗingân hàng cần có cách tính dự phòng phù hợp vừa đủ để bù đắp rủi ro vừa tránh đểchi phí tăng cao ảnh hưởng đến thu nhập ròng Các chỉ số thể hiện dự phòng RRTD:
Tỉ lệ dự phòng RRTD = Dự phòng RRTD được trích lậpTổng dư nợ cho kỳ báo cáo x 100%Hệ số khả năng bù đắp các
khoản cho vay bị mất =
Dự phòng RRTD được trích lập
Dư nợ bị xóaHệ số bù đắp RRTD = Dự phòng RRTD được trích lậpNợ quá hạn khó đòi
Các tiêu chí gián tiếp đánh giá RRTD:
Trang 30Các tiêu chí gián tiếp mặc dù không phản ảnh cụ thể RRTD của ngân hàng,tuy nhiên các tiêu chí này có sự thay đổi lớn của kỳ này so với kỳ trước hay so vớitrung bình của hệ thống ngân hàng thì các tiêu chí này là dấu hiệu phản ánh RRTDcủa ngân hàng, trên cơ sở đó, ngân hàng có thể xem xét thêm các tiêu chí khác đểđánh giá toàn diện về RRTD của ngân hàng.
Quy mô tín dụng
Quy mô tín dụng không phải là tiêu chí phản ánh trực tiếp RRTD nhưng nếuquy mô tín dụng tăng quá nóng, không tương ứng với khả năng kiểm soát của ngânhàng thì lúc đó, quy mô tín dụng sẽ phản ánh RRTD Quy mô tín dụng thể hiện rõqua các tiêu chí:
Dư nợ trên tổng tài sản = Tổng dư nợ/Tổng tài sản
Dự nợ bình quân trên số lượng cán bộ tín dụng = Tổng dư nơ/Tổng số cán bộtín dụng bình quân
Số lượng khách hàng trên số lượng cán bộ tín dụng = Tổng số kháchhàng/Tổng số cán bộ tín dụng bình quân
Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng so với tốc độ tăng trưởng kinh tế = Tốc độtăng trưởng tín dụng/Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Nếu NHTM mở rộng quy mô tín dụng theo hướng nới lỏng tín dụng cho cáckhách hàng sẽ dẫn đến rủi ro là khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, không kiểm soátđược mục đích sử dụng vốn vay… điều này gây rủi ro cho NHTM
- Cơ cấu tín dụng theo ngành: Nếu tập trung cho vay vào những ngành có độ
rủi ro cao thì rủi ro không trả được nợ ngân hàng cũng cao Hoặc cơ cấu tín dụngtập trung quá nhiều vào một ngành, lĩnh vực thì có thể mức độ rủi ro cao khi ngànhđó bị suy thoái hay bị các ảnh hưởng khác
- Cơ cấu tín dụng theo loại hình: cho thấy tỉ lệ tập trung theo các đối tượng là
DNNN, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp cố vốn đầu tư nước ngoài
- Cơ cấu tín dụng theo thời hạn cho vay: Yếu tố này phải dựa trên cơ cấu vốn
của ngân hàng Nếu ngân hàng có cơ cấu vốn ổn định dài hạn thì có thể cho vaytrung dài hạn nhiều, và ngược lại
- Cơ cấu tín dụng theo loại tiền tệ: RRTD xảy ra khi có sự biến động mạnh
hay bất lợi về tỷ giá; khả năng không đáp ứng của nguồn vốn huy động theo từngloại tiền tệ đối với dư nợ cho vay
Trang 31- Cơ cấu tín dụng theo tài sản đảm bảo: Nếu tỉ lệ các khoản cho vay có tài
sản đảm bảo thấp thì ngân hàng đối mặt với rủi ro khi khách hàng không trả đượcnợ Cơ cấu tín dụng theo tài sản đảm bảo phản ánh qua chỉ tiêu tỉ lệ dư nợ có tài sảnđảm bảo trên tổng dư nợ
Các tiêu chí về lợi nhuận
- Thu nhập thuần từ hoạt động cho vay và đầu tư
+ Tốc độ tăng trưởng thu nhập thuần từ cho vay và đầu tư
Tốc độ tăng trưởng thu nhập thuần từ hoạt động cho vay và đầu tư phản ánh thunhập thuần năm sau tăng/giảm bao nhiêu phần trăm so với năm trước đó Tốc độ tăngtrưởng thu nhập thuần từ hoạt động cho vay và đầu tư cao chứng tỏ hoạt động kinhdoanh loại đó của ngân hàng được mở rộng hoặc loại hoạt động kinh doanh của ngânhàng đạt được hiệu quả hơn và ngược lại
+ Tỷ trọng thu nhập thuần từ hoạt động cho vay và đầu tư
Tỷ trọng này cho biết hoạt động cho vay và đầu tư đóng góp tỷ lệ bao nhiêuvào tổng thu nhập thuần Tỷ trọng này cho biết hoạt động thế mạnh, đem lại thunhập lớn cho ngân hàng để từ đó ngân hàng xác định rõ ràng hơn chiến lược hoạtđộng, phát huy các lĩnh vực thế mạnh để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh
1.1.2.5 Tác động của rủi ro tín dụng
Ảnh hưởng xấu đến HĐKD ngân hàng
- Tăng chi phí vốn, giảm lợi nhuận ngân hàng RRTD xảy ra đồng nghĩa với
việc nguy cơ không thu hồi đủ vốn gốc và lãi Điều này sẽ trực tiếp làm giảm thunhập và lợi nhuận của ngân hàng Trong trường hợp số tiền tổn thất quá lớn, làmcho ngân hàng thua lỗ, thậm chí phá sản Bên cạnh đó, khi phát sinh RRTD sẽ làmphát sinh thêm nhiều khoản chi phí như: chi phí quản lý nợ, chi phí dự phòng…cácchi phí này một lần nữa sẽ ăn mòn vào lợi nhuận, là nguyên nhân dẫn đến thua lỗtrong HĐKD ngân hàng
- Giảm năng lực thanh toán của ngân hàng Với đặc thù là doanh nghiệp
kinh doanh tiền tệ, vốn kinh doanh chủ yếu là vốn huy động Các nguồn huy độngnày đều có thời hạn và ngân hàng phải trả lãi cho người gửi tiền Vì vậy, ngân hàngphải tìm mọi cách để mở rộng cho vay, đầu tư tạo thu nhập bù đắp chi phí lãi huyđộng và có lợi nhuận Đồng thời các khoản cho vay, đầu tư phải được thu hồi đúng
Tốc độ tăng trưởng
Tỷ trọng thu nhập thuần
Trang 32hạn để có nguồn hoàn trả cho người gửi tiền RRTD làm cho ngân hàng không thuđủ gốc và lãi đúng hạn, tác động xấu đến kế hoạch nguồn vốn Trong trường hợpRRTD tăng nhanh, không có khả năng kiểm soát ngân hàng sẽ thiếu nguồn chi trảcho người gửi tiền, giảm khả năng thanh toán.
- Tăng vốn để đảm bảo đủ bù đắp cho tốn thất tín dụng Theo khuyến nghị
của Ủy ban Basel, để hạn chế rủi ro và tổn thất tín dụng, ngân hàng phải luôn đủvốn cho RRTD RRTD gia tăng sẽ gây áp lực ngân hàng phải tăng vốn Vì vốn tốithiểu được đo lường trên cơ sở tài sản có rủi ro, khi rủi ro tăng ngân hàng phải tăngvốn để đảm bảo hệ số an toàn luôn đạt tỷ lệ qui định
- Hạn chế tăng trưởng tín dụng: Về nguyên tắc, một khách hàng không hoàn
thành nghĩa vụ trả nợ cũ sẽ bị hạn chế các khoản vay mới Trong nhiều trường hợp,ngân hàng phải xử lý RRTD thông qua xử lý bằng việc phát mại tài sản bảo đảm(TSBĐ), khởi kiện tòa án…những biện pháp xử lý này trong chừng mực nhất định cóthể làm tổn hại đến uy tín của ngân hàng cũng như mối quan hệ tốt đẹp giữa ngân hàngvà khách hàng vay vốn Những lý do trên cho thấy, RRTD còn là nguyên nhân làmgiảm tăng trưởng tín dụng của ngân hàng
- Giảm uy tín của ngân hàng RRTD tăng, chất lượng tín dụng của ngân hàng
giảm, giảm lợi nhuận hoặc thua lỗ sẽ làm ngân hàng mất tín nhiệm trên thị trường.Đặc thù là đơn vị kinh doanh dựa vào chữ tín, mất tín nhiệm sẽ là mối đe dọa phásản đối với bất kỳ một NHTM nào Thực tế đã chứng minh rất nhiều NHTM phảiđóng cửa, phá sản mà nguyên nhân sâu xa từ việc không kiểm soát được RRTD
Tác động tiêu cực đến nền kinh tế
- Làm đình trệ hoạt động của nền kinh tế: RRTD là nguyên nhân làm nghẽn
dòng vốn lưu thông trong nền kinh tế do vốn “bơm” vào nền kinh tế của hệ thốngngân hàng bị giảm Bên cạnh đó các Doanh nghiệp có nợ xấu rất khó tiếp cận cáckhoản tín dụng mới Kết quả là các Doanh nghiệp ngày càng thiếu vốn, khó khăn vềtài chính, kinh doanh thua lỗ, thậm chí là phá sản Những tác động tiêu cực này mộtlần nữa lại tác động kép đến thu nhập, công ăn việc làm của người lao động Hoạtđộng sản xuất kinh doanh, đầu tư, tiêu dùng cũng vì thế ngày càng đình trệ Tìnhtrạng kéo dài có thể dẫn đến suy thoái, khủng hoảng kinh tế
- Gây bất ổn cho hệ thống tài chính- ngân hàng: Hệ thống NHTM có mối
liên kết chặt chẽ do các hoạt động nghiệp vụ của các ngân hàng thường liên quan đếnnhau Vì vậy, rủi ro trong lĩnh vực ngân hàng thường có tính chất dây chuyền: Mộtngân hàng có khó khăn hoặc phá sản sẽ kéo theo hàng loạt các ngân hàng khác tronghệ thống vào tình trạng tương tự Khi RRTD tại một hoặc một số NHTM tăng caolàm cho các ngân hàng đó kinh doanh thua lỗ, phá sản sẽ là mối đe dọa đến bất ổn,mạnh hơn có thể là sự sụp đổ của cả hệ thống tài chính- ngân hàng
Trang 33- Tác động tiêu cực đến ngân sách nhà nước: RRTD làm cho các Doanh
nghiệp (bao gồm NHTM) hoạt động đình trệ, thua lỗ, thu nhập người lao động giảmsút Khi các doanh nghiệp thua lỗ sẽ làm giảm nguồn thu ngân sách từ thuế Thunhập doanh nghiệp Các NHTM có nợ xấu lớn sẽ tăng trích dự phòng RRTD, làmtăng chi phí, giảm lợi nhuận, từ đó cũng làm giảm thu ngân sách từ thuế Lợi nhuậnngân hàng giảm còn tác động giảm thu nhập người lao động, kết quả cũng làm giảmnguồn thu thuế Trong nhiều trường hợp, các NHTM không tự thân xử lý được nợxấu, phải dùng ngân sách Nhà nước sẽ làm tăng chi ngân sách Nhà nước Như vậy,nợ xấu vừa tác động giảm thu, vừa tác động tăng chi Ngân sách Nhà nước
1.2 QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng
Trong nhiều tài liệu hiện nay cũng chưa phân định rõ khái niệm về quản lývà quản trị, tuy nhiên theo tác giả, đối với phạm vi hoạt động của một tổ chức kinhtế thì thuật ngữ quản trị được sử dụng phù hợp hơn với hàm ý là một chuỗi nhữnghành động/quyết định/mệnh lệnh của nhà lãnh đạo đến các đơn vị, cá nhân trong tổchức đó nhằm hướng tổ chức đó thực hiện các mục tiêu, kết quả đặt ra Còn quản lýcũng với những hàm ý như vậy nhưng được sử dụng trong quản lý Nhà nước Do
vậy trong nội dung luận án này tác giả sử dụng thuật ngữ “QTRRTD” thay cho
“quản lý RRTD” như một số tài liệu đã đề cập Do vậy, tác giả quan niệm:
QTRRTD là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, chính sách quản trị và kinh doanh tín dụng nhằm tối đa hóa lợi nhuận trong phạm vi mức rủi ro có thể chấp nhận.
Kiểm soát RRTD ở mức có thể chấp nhận là việc NHTM tăng cường cácbiện pháp phòng ngừa, hạn chế và giảm thấp nợ quá hạn, nợ xấu trong kinh doanhtín dụng, nhằm tăng doanh thu tín dụng, giảm thấp chi phí bù đắp rủi ro, nhằm đạt
được hiệu quả trong kinh doanh tín dụng cả trong ngắn hạn và dài hạn "Hiệu quả
QTRRTD là một bộ phận quan trọng trong cách tiếp cận rủi ro tổng thể và được coi là đóng vai trò cốt tử của sự thành công của ngân hàng trong dài hạn" (Basel Committee on Banking Supervision, 2000).
Tóm lại, có thể đề cập khái niệm QTRRTD ở các góc độ khác nhau, nhưng bảnchất là giống nhau và đứng trên góc độ của quản trị học, có thể diễn giải khái niệm:
QTRRTD là quá trình các ngân hàng tiến hành hoạch định, tổ chức triển khai thực hiện và giám sát kiểm tra toàn bộ hoạt động cấp tín dụng, nhằm tối đa hóa lợi nhuận của ngân hàng với mức rủi ro có thể chấp nhận.
1.2.2 Sự cần thiết quản trị rủi ro tín dụng
Mức độ rủi ro trong hoạt động tín dụng ngày càng gia tăng
Trang 34Sự cần thiết của QTRRTD không chỉ xuất phát từ tính chất phức tạp và nguy
cơ rất lớn của RRTD mà còn do xu hướng kinh doanh của ngân hàng ngày nay càngtrở nên rủi ro hơn Theo nghiên cứu của các chuyên gia, trong giai đoạn từ 1970 đến
1995, trên thế giới trung bình một năm có một cuộc khủng hoảng ngân hàng; thìtrong giai đoạn 1980 đến 1995, tỉ lệ này là 1,44 Một số nguyên nhân chủ yếu làmcho mức độ rủi ro trong HĐKD ngân hàng ngày càng gia tăng bao gồm:
Thứ nhất, do quá trình tự do hóa, nới lỏng quy định trong hoạt động ngân
hàng trên phạm vi toàn thế giới Trong những thập kỷ gần đây, xu hướng toàn cầuhóa, tự do hóa kinh tế, đề cao cạnh tranh đã trở thành phổ biến Khi gia tăng cạnhtranh cũng đồng nghĩa với rủi ro và phá sản gia tăng Trong lĩnh vực ngân hàng,cạnh tranh làm cho chênh lệch lãi suất biên ngày càng giảm xuống Tác động nàylàm cho các ngân hàng ngày càng có xu hướng mở rộng quy mô kinh doanh để bùđắp sự sụt giảm lợi nhuận, trong đó mở rộng quy mô tín dụng đồng nghĩa với việcRRTD cũng có nguy cơ gia tăng Bên cạnh đó, quy luật đào thải của cạnh tranh sẽlàm tăng mức độ phá sản của các khách hàng của ngân hàng kéo theo sự thiệt hạicho ngân hàng
Thứ hai, HĐKD của ngân hàng ngày càng theo xu hướng đa năng, với công
nghệ ngày càng phát triển, cùng với xu hướng hội nhập cạnh tranh gay gắt vừa tăngthêm mức độ rủi ro và nguy cơ rủi ro mới.Trong lĩnh vực tín dụng các sản phẩm tíndụng có bước phát triển mạnh mẽ, vượt xa so với sản phẩm tín dụng truyền thống.Các sản phẩm tín dụng dựa trên cơ sở của sự phát triển công nghệ như thẻ tín dụng,cho vay cá thể… luôn chứa đựng rủi ro mới Nhưng dưới áp lực của cạnh tranh thìviệc mở rộng và đa dạng hóa sản phẩm cũng như phạm vi của hoạt động tín dụngmang ý nghĩa sống còn với các ngân hàng Với sự đa dạng phức tạp của sản phẩmtín dụng cũng như RRTD càng đòi hỏi QTRRTD phải được chú trọng nâng cấptương xứng
Thứ ba, đối với các nước đang phát triển, nhất là các nước đang trong quá
trình chuyển đổi như Việt Nam, thì môi trường kinh tế chưa ổn định, hệ thống phápluật đang xây dựng, mức độ minh bạch của thông tin thấp, thì hoạt động ngân hàngcàng trở nên rủi ro hơn, vì vậy việc bắt tay ngay từ đầu thực hiện tốt công tácQTRRTD là một công việc tối quan trọng
Quản trị rủi ro tốt là một lợi thế cạnh tranh và là công cụ tạo ra giá trị của NHTM
"Hãy nói cho tôi biết bạn quản lý rủi ro ra sao, tôi sẽ nói ngân hàng bạn thếnào?" - Tiến sĩ S L Srinivasulu, Chủ tịch tập đoàn KESDEE Inc - nơi cung cấp cácgiải pháp học tập trực tuyến (e-learning) về tài chính có trụ sở tại California, Hoa Kỳđã phát biểu về tầm quan trọng của quản trị rủi ro trong ngân hàng Từ lâu, công tácquản trị rủi ro được xem như là một chức năng nhằm thỏa mãn yêu cầu tuân thủ pháp
Trang 35chế và kiểm soát nội bộ Dưới góc nhìn này, rủi ro được xem như là "điều khôngmong muốn nhưng phải chấp nhận" trong kinh doanh, và hoạt động quản trị rủi rođược coi là một trung tâm chi phí Ông Srinivasulu cho rằng các ngân hàng nênchuyển hướng tiếp cận ngược lại: Quản trị rủi ro tốt chính là một nguồn lợi thế cạnhtranh và là một công cụ tạo ra giá trị, cũng góp phần tạo ra các chiến lược kinh doanh
hiệu quả hơn
RRTD là nguyên nhân chủ yếu tạo ra đổ vỡ của ngân hàng
Sự đổ vỡ hàng loạt quỹ tín dụng tại Việt Nam trong những năm 1989 - 1990
do chất lượng các khoản cho vay yếu kém, không thu hồi được Những năm
1999-2000, cũng từ nguyên nhân này NHNN đã đặt một số ngân hàng vào tình trạng giámsát đặc biệt, những vụ án lớn và việc xử lý một khối lượng hàng ngàn tỷ đồng nợtồn đọng của các ngân hàng từ năm 2000 về trước đều bắt nguồn từ những khoảncho vay khó đòi Cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 bắt nguồn từ Đông Nam Áđã làm cho nhiều ngân hàng ở châu Á bị mất hàng tỷ đô la Mỹ, bị phá sản, hoặcbuộc phải sáp nhập, trong đó nguyên nhân quan trọng nhất là tỷ lệ nợ quá hạn củacác ngân hàng tăng cao Thời điểm trước cuộc khủng hoảng, tỷ lệ nợ quá hạn củacác ngân hàng Thái Lan là 13%, Indonesia 13%, Phillipine 14%, Malaysia 10%.Năm 2008 xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế Mỹ bắt nguồn từ làn sóng chovay thế chấp nhà đất rủi ro cao đã minh chứng rất rõ căn nguyên cơ bản tạo ra ở vấnđề của ngân hàng là RRTD Vì vậy, vấn đề QTRRTD luôn luôn là vấn đề sống còncủa NHTM
1.2.3 Nội dung quản trị rủi ro tín dụng
1.2.3.1 Xây dựng chiến lược quản trị rủi ro tín dụng
- Xây dựng chiến lược quản trị rủi ro: Ngân hàng cần xác định được tầm
nhìn, mục tiêu, sứ mệnh của ngân hàng để từ đó đưa ra “khẩu vị rủi ro” - mức độ rủi
ro có thể chấp nhận được - để từ đó hoạch định chiến lược quản trị rủi ro phù hợp.Chiến lược quản trị rủi ro phải trả lời được giải quyết được các vấn đề quan trọng:Thái độ của ngân hàng đối với RRTD; Mức độ chấp nhận RRTD của ngân hàng;Năng lực QTRRTD của ngân hàng
- Xây dựng chính sách QTRRTD: Để thực thi Chiến lược quản trị rủi ro,
trong từng thời kỳ, Ban điều hành đưa ra các chính sách QTRRTD là cơ sở để hìnhthành nên quy trình tín dụng với những hướng dẫn nghiệp vụ chi tiết, các bước cụthể trong quá trình cấp tín dụng Chính sách quản trị rủi ro cũng quy định giới hạncho vay đối với khách hàng, phân loại nợ, trích lập dự phòng Chính sách phải vạch
ra cho cán bộ tín dụng phương hướng hoạt động và một khung tham chiếu rõ ràngđể làm căn cứ xem xét các nhu cầu vay vốn
+ Mức ủy quyền phán quyết là hạn mức tín dụng tối đa mà hội sở chính giao
cho chi nhánh được toàn quyền quyết định
Trang 36+ Giới hạn rủi ro là mức rủi ro tối đa mà ngân hàng có thể chịu đựng được
để đảm bảo đạt được mức lợi nhuận tương ứng
+ Quản trị danh mục cho vay
Ngân hàng phải thường xuyên phân tích và theo dõi danh mục tín dụng đặcbiệt là các khoản nợ xấu, nợ có vấn đề để có những biện pháp xử lý kịp thời khi córủi ro xảy ra Trên cơ sở danh mục cho vay, ngân hàng tiến hành phân loại nợ đểphân loại các khoản nợ vào các nhóm nợ trong hạn, nợ cần đặc biệt lưu ý, nợ dướichuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn Ngoài ra, ngân hàng cũng cần hếtsức lưu ý đến các khoản nợ đặc biệt chú ý vì khi có biến động bất lợi xảy ra đối vớihoạt động cho vay của ngân hàng, các khoản này dễ bị chuyển thành nợ xấu Ngânhàng đưa ra các biện pháp quản trị các khoản nợ trên để đảm bảo chất lượng tíndụng cho ngân hàng
Ngân hàng cần xây dựng một hệ thống thông tin tín dụng tập trung gồm cácbáo cáo định kỳ và đặc biệt Báo cáo định kỳ có thể bao gồm các báo cáo liên quanđến các nội dung sau: Nhóm khách hàng có dư nợ tín dụng lớn nhất, các khoản dưnợ lớn nhất; phân tích danh mục tín dụng, các trường hợp ngoại lệ (ví dụ vượt hạnmức); các khoản nợ xấu và khó đòi; các dấu hiệu cảnh báo sớm, dự phòng cho từngkhoản dư nợ đơn lẻ, lợi nhuận cho từng khách hàng và sản phẩm, nhật ký theo dõicác khoản vay
+ Rà soát chính sách quản trị rủi ro theo từng thời kỳ
Chính sách QTRRTD với mục tiêu mở rộng tín dụng đồng thời hạn chế RRTDnhằm nâng cao thu nhập cho ngân hàng Chính sách QTRRTD nhằm hạn chế rủi ronhư: chính sách tài sản đảm bảo, chính sách bảo lãnh, chính sách đồng tài trợ…Chính sách QTRRTD là cơ sở để hình thành nên quy trình tín dụng với những hướngdẫn nghiệp vụ chi tiết, các bước cụ thể trong quá trình cấp tín dụng Chính sách phảigiúp cho cán bộ tín dụng phương hướng hoạt động và một khung tham chiếu rõ ràngđể làm căn cứ xem xét các nhu cầu vay vốn Điều này tạo sự thống nhất chung tronghoạt động tín dụng nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao khả năng sinh lời
1.2.3.2 Xây dựng mô hình quản trị rủi ro tín dụng
Mô hình QTRRTD chính là hệ thống các mô hình bao gồm mô hình tổ chứcquản trị rủi ro, mô hình đo lường rủi ro và mô hình kiểm soát rủi ro được xây dựngvà vận hành một cách đầy đủ, toàn diện và liên tục trong hoạt động quản trị tín dụngcủa ngân hàng Mô hình QTRRTD phản ánh một cách hệ thống các vấn đề sau:
(i) Các cơ chế, chính sách, quy trình nghiệp vụ nhằm thiết lập các giới hạnhoạt động an toàn, các chốt kiểm soát rủi ro trong một quy trình nghiệp vụ
(ii) Các công cụ đo lường, phát hiện rủi ro
(iii) Các hoạt động giám sát sự tuân thủ và nhận diện kịp thời các loại rủi romới phát sinh
Trang 37(iv) Các phương án, biện pháp chủ động phòng ngừa, đối phó một khi có rủi
ro xảy ra
Mô hình QTRRTD phải hướng vào việc đảm bảo hiệu quả của hoạt động tíndụng và không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của NHTM ngay cảtrong những điều kiện thị trường đầy biến động, nguy có rủi ro không ngừng giatăng Như vậy, mô hình QTRRTD được hiểu như sau:
Mô hình QTRRTD là cách thức tổ chức quản trị, đo lường, kiểm soát RRTD nhằm khống chế RRTD trong một giới hạn cho phép theo nguyên tắc tối đa hóa lợi nhuận của tổ chức tín dụng.
A Mô hình QTRRTD dưới góc độ nghiên cứu đơn lẻ
a Theo tiêu chí đo lường RRTD:
Mô hình 1: Mô hình đo lường RRTD định tính
Mô hình này đi sâu vào nghiên cứu nhóm 5 chỉ tiêu (còn gọi là phương pháp5C) sau:
Capacity - Cash flow (Năng lực - Luồng tiền dự tính trả nợ).Yếu tố được
coi là quan trọng nhất trong số năm yếu tố Năng lực đề cập đến khả năng điều hànhhoạt động sản xuất kinh doanh và hoàn trả khoản vay thành công của kháchhàng.Ngân hàng muốn biết chính xác khách hàng sẽ trả nợ bằng cách nào Đánh giánăng lực được dựa trên việc đánh giá các yếu tố: kinh nghiệm điều hành, báo cáo tàichính quá khứ, sản phẩm, tình hình hoạt động trên thị trường và khả năng cạnhtranh Từ đó, ngân hàng dự tính được luồng tiền sẽ được sử dụng để trả nợ, thờigian trả nợ và xác suất trả nợ thành công của khách hàng Việc đánh giá lịch sử cáckhoản vay và thanh toán các khoản vay, dù là của cá nhân hay các khoản vaythương mại cũng được coi là chỉ báo cho khả năng chi trả trong tương lai
Capital (Cấu trúc vốn) Là số vốn khách hàng đầu tư vào doanh nghiệp.
Ngân hàng sẽ yên tâm hơn nếu khách hàng có vốn chủ sở hữu đủ lớn.Vốn chủ sửhữu có thể được huy động trong quá trình hoạt động, giúp đảm bảo cho trạng tháikhoản vay của ngân hàng Ngân hàng cũng nhìn nhận vốn chủ sở hữu như là chỉ báocủa mức độ cam kết cũng như mức rủi ro của khách hàng đối với kinh doanh củamình và sẽ cảm thấy thoải mái hơn nếu biết khách hàng sẽ mất rất nhiều nếu côngviệc kinh doanh của họ không thành công Sẽ tốt hơn nếu nguồn vốn này được lấy
từ chính tài sản của cổ đông
Collateral (Tài sản thế chấp) Ngân hàng có thể xử lý tài sản thế chấp của
khách hàng khi khách hàng bị phá sản hoặc mất khả năng chi trả nợ Ngân hàngđược đảm bảo quyền ưu tiên xử lý tài sản thế chấp của khách hàng trước các chủ nợkhác Ngân hàng cũng có thể yêu cầu khách hàng sử dụng các tài sản cá nhân khácngoài công ty làm tài sản thế chấp Đối với ngân hàng, đây là sự đảm bảo và lànguồn trả nợ thay thế ngoài dòng tiền trả nợ dự tính Một số ngân hàng có thể yêu
Trang 38cầu có bảo lãnh cùng với tài sản đảm bảo Bảo lãnh là hình thức bên thứ ba ký bảolãnh cam kết thanh toán nếu người vay không trả được nợ
Character (Thái độ, sự thể hiện của khách hàng) Là ấn tượng chung khách
hàng để lại đối với ngân hàng Ấn tượng này có thể là khá chủ quan.Tuy nhiên,trong nhiều trường hợp, đối với nhiều ngân hàng, thái độ của khách hàng quyết địnhliệu một khoản vay nhỏ có được phê duyệt hay không Các vấn đề chủ yếu liên quanđến thái độ đáng ngờ bao gồm: sự kém hợp tác với ngân hàng, lừa dối, các vụ kiệntụng và thua lỗ Thời gian, chi phí kiện tụng và chi phí cơ hội có thể phát sinh dokhoản vay gặp vấn đề có thể lớn hơn nhiều so với thu nhập dự tính (Vấn đề này, tuynhiên, trở nên kém quan trọng hơn đối với các khoản vay cho công ty lớn được điềuhành bởi một nhóm cá nhân) Ngoài ra, một số yếu tố định tính khác như trình độhọc vấn, kinh nghiệm điều hành kinh doanh, phẩm chất cá nhân của khách hàngcũng được xem xét
Conditions (Các điều kiện khác) Liệu khoản vay sẽ được sử dụng để đáp
ứng nhu cầu vốn lưu động, mua sắm máy móc hay dự trữ nguyên vật liệu, hàng tồnkho? Ngân hàng sẽ đánh giá tình hình kinh tế trong và ngoài nước, phân tích ngànhkinh doanh doanh nghiệp đang hoạt động cũng như các ngành hoạt động liên quancó thể ảnh hưởng đến doanh nghiệp
Mô hình 2: Mô hình đo lường RRTD định lượng:
Mô hình định tính được xem là mô hình cổ điển để đánh giá RRTD Hiệnnay, hầu hết các ngân hàng đều tiếp cận phương pháp đánh giá rủi ro hiện đại hơn,đó là lượng hóa RRTD Sau đây là một số mố hình lượng hóa RRTD thường đượcsử dụng nhiều nhất
* Mô hình điểm số Z:
Đại lượng Z là thước đo tổng hợp để phân loại RRTD đối với người vay vàphụ thuộc vào: (i) Trị số của các chỉ số tài chính của người vay (Xj); (ii) tầm quantrọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của người vay trong quákhứ, mô hình được mô tả như sau:
Z = 1.2X1 + 1.4X2 + 3.3X3 + 0.6X4 + 1.0 X5Trong đó : X1: tỷ số “vốn lưu động ròng/tổng tài sản”
X2: tỷ số “lợi nhận giữ lại/tổng tài sản”
X3: tỷ số “lợi nhuận trước thuế và tiền lãi/tổng tài sản”
X4: tỷ số “thị giá cổ phiếu/giá trị ghi sổ của nợ dài hạn” X5: tỷ số “doanh thu/tổng tài sản”
Trị số Z càng cao thì nguời vay có xác suất vỡ nợ càng thấp Như vậy, khi trịsố Z thấp hoặc là một số âm sẽ là căn cứ để xếp khách hàng vào nhóm có nguy cơ
vỡ nợ cao
- Z < 1.8: Khách hàng có khả năng rủi to cao
- 1.8 < Z < 3: Không xác định được
Trang 39- Z > 3: Khách hàng không có khả năng vỡ nợ
Bất kỳ khách hàng nào có điểm số Z<1.81 phải được xếp vào nhóm có nguy
cơ RRTD cao và ngân hàng sẽ không cấp tín dụng
Theo mô hình thì bất cứ khách hàng nào có điểm số Z thấp hơn 1.81 phải đượcxếp vào nhóm có nguy cơ RRTD cao và ngân hàng sẽ không cấp tín dụng cho kháchhàng này cho đến khi cải thiện được điểm số Z lớn hơn 1.81
- Ưu điểm của mô hình: Kỹ thuật đo lường RRTD tương đối đơn giản
- Nhược điểm:
+ Mô hình này chỉ cho phép phân biệt khách hàng thành hai nhóm là “vỡ nợ”và “không vỡ nợ” Tuy nhiên trong thực tế, vỡ nợ được phân thành nhiều loại, từkhông trả hay chậm trễ trong việc trả lãi tiền vay, đến việc không hoàn trả nợ gốc vàlãi tiền vay
+ Không có lý do thuyết phục để chứng minh rằng các thông số phản ánh tầmquan trọng của các chỉ số trong công thức là bất biến Tương tự như vậy, bản thân cácchỉ số được chọn cũng không phải là bất biến, đặc biệt khi các điều kiện kinh doanhcũng như điều kiện thị trường tài chính thay đổi liên tục
+ Mô hình không tính đến một số nhân tố khó định lượng nhưng có thể đóngmột vai trò quan trọng ảnh hưởng đến mức độ của các khoản vay như danh tiếngkhách hàng, mối quan hệ lâu dài giữa ngân hàng và khách hàng hay các yếu tố vĩ
mô như sự biến động của các chu kỳ kinh tế
* Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng:
Ngoài mô hình điểm số Z, hiện nay nhiều ngân hàng còn sử dụng phươngpháp cho điểm để xử lý các đơn xin vay của người tiêu dùng như: mua sắm xe hơi,trang thiết bị gia đình, bất động sản và kinh doanh nhỏ Các yếu tố quan trọng liênquan đến khách hàng sử dụng trong mô hình cho điểm tín dụng tiêu dùng bao gồm:hệ số tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, số người phụ thuộc, sở hữu nhà, thu nhập,điện thoại cố định, tài khoản cá nhân, thời gian làm việc…
Mô hình cho điểm tín dụng tiêu dùng thường sử dụng từ 7 đến 12 hạng mục,mỗi hạng mục được cho điểm từ 1 đến 10
- Ưu điểm: mô hình điểm số đã loại bỏ được sự phán xét chủ quan trong quátrình cho vay và giảm đáng kể thời gian quyết định tín dụng của ngân hàng
- Nhược điểm: mô hình không thể tự điều chỉnh một cách nhanh chóng đểthích ứng với những thay đổi trong nền kinh tế và những thay đổi trong cuộc sốnggia đình, do đó có thể đe dọa đến chương trình tín dụng của ngân hàng bỏ sót nhữngkhách hàng lành mạnh, làm giảm lòng tin của cộng đồng và dịch vụ ngân hàng
* Mô hình xếp hạng của Moody’s và Standard & Poor’s:
RRTD hay rủi ro không hoàn được vốn trái phiếu của công ty thường đượcthể hiện bằng việc xếp hạng trái phiếu Những đánh giá này được chuẩn bị bởi một
Trang 40số dịch vụ xếp hạng tư nhân trong đó Moody’s và Standard & Poor’s là những dịch
vụ tốt nhất
Bảng 1.1 Xếp hạng tín dụng
Xếp hạng Tình trạng
Aa Chất lượng cao
A Chất lượng vừa cao hơn Baa Chất lượng vừa
Ba Nhiều yếu tố đầu cơ
B Đầu cơ Caa Chất lượng kém
Ca Đầu cơ có rủi ro cao
C Chất lượng kém nhất
Standard & Poor’s AAA Chất lượng cao nhất
AA Chất lượng cao
A Chất lượng vừa cao hơn BBB Chất lượng vừa
BB Chất lượng vừa thấp hơn
B Đầu cơ CCC-CC Đầu cơ có rủi ro cao
C Trái phiếu có lợi nhuận DDD-D Không hoàn được vốn Nguồn: [22]
Đối với Moody’s xếp hạng cao nhất từ Aaa nhưng với Standard & Poor’s thìcao nhất là AAA Việc xếp hạng giảm dần từ Aa (Moody’s) và AA (Standard &Poor’s) sau đó thấp dần để phản ánh rủi ro không được hoàn vốn cao Trong đó,chứng khoán trong bốn loại đầu được xem như loại chứng khoán nên đầu tư, còncác loại chứng khoán bên dưới được xếp hạng rác rưởi (junk) Nhưng do có mốiquan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận nên tuy việc xếp hạng thấp (rủi ro không hoàn vốncao) nhưng có lợi nhuận cao nên đôi lúc khách hàng chấp nhận đầu tư vào các loạichứng khoán này
b Theo tiêu chí tổ chức quản lý rủi ro:
Hiện nay, theo tiêu chí tổ chức quản lý rủi ro có hai mô hình phổ biến được ápdụng Đó là mô hình QTRRTD tập trung và mô hình QTRRTD phân tán Ngoài ra còncó mô hình kết hợp giữa tập trung và phân tán, tức là tùy từng lĩnh vực, ngành nghề,loại hình sản phẩm dịch vụ hay khách hàng có thể áp dụng mô hình quản trị tập trungtại Hội sở hay phân cấp xuống từng chi nhánh
Mô hình 3 Mô hình quản trị rủi ro tập trung
- Khái niệm: Mô hình quản trị rủi ro tập trung là cách thức tổ chức quản trị
rủi ro dựa trên nguyên tắc tập trung tại một bộ phận, quyền quyết định và quản trịrủi ro khoản vay tập trung ở Hội sở