TÓM TẮT Bài nghiên cứu phân tích các nội dung thông tin, cụ thể là sắc thái ngôn ngữ mang tính chất dự báo trong báo cáo thường niên của các công ty niêm yết có mối tương quan như thế nà
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
LÊ TUẤN ANH
ĐO LƯỜNG SẮC THÁI NGÔN NGỮ CỦA NỘI
DUNG THÔNG TIN MANG TÍNH CHẤT DỰ BÁO TRONG BÁO CÁO THƯỜNG NIÊN CỦA CÁC
CÔNG TY NIÊM YẾT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
LÊ TUẤN ANH
ĐO LƯỜNG SẮC THÁI NGÔN NGỮ CỦA NỘI DUNG THÔNG TIN MANG TÍNH CHẤT DỰ BÁO TRONG BÁO CÁO THƯỜNG NIÊN CỦA CÁC
CÔNG TY NIÊM YẾT
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS TRẦN THỊ HẢI LÝ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, được sự hướng dẫn của người hướng dẫn nghiên cứu khoa học là PGS.TS Trần Thị Hải Lý Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào
Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi trong phần tài liệu tham khảo Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như
số liệu của các tác giả khác và đều có chú thích nguồn gốc sau mỗi trích dẫn để dễ tra cứu, kiểm chứng
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày …… tháng …… năm 2018
Tác giả
Lê Tuấn Anh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC 4
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 6
DANH MỤC BẢNG BIỂU 7
TÓM TẮT 8
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Giới thiệu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
1.5 Đóng góp điểm mới của đề tài 3
1.6 Bố cục luận văn 3
CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU 4 2.1 MD&A và các yêu cầu về nội dung trong báo cáo thường niên 4
2.3 Các yêu cầu về nội dung trong báo cáo thường niên tại Việt Nam 20
2.3 Các cách đo lường sắc thái ngôn ngữ trong báo cáo thường niên 21
2.3 Tổng quan các nghiên cứu về sắc thái thông tin 22
2.4 Những yếu tố tác động đến sắc thái thông tin 32
CHƯƠNG 3: NGUỒN DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
3.1 Mẫu nghiên cứu 35
3.1 Xây dựng các biến số nghiên cứu 37
3.2 Mô hình nghiên cứu thực nghiệm 42
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN KẾT QUẢ 44
4.1 Phân tích thống kê mô tả 44
4.2 Tương quan Pearson – mối quan hệ đơn biến giữa các biến số 49
4.3 Phân tích hồi qui 52
Trang 54.3.2 Khả năng dự báo thu nhập trong tương lai của sắc thái ngôn ngữ 54
4.3.3 Khả năng dự báo dòng tiền hoạt động trong tương lai của sắc thái ngôn ngữ… 58
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 59
5.1 Kết luận 59
5.2 Hạn chế của bài nghiên cứu 59
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 61 PHỤ LỤC
Trang 6of Operations): những nhận định, phân tích của ban lãnh đạo về điều kiện tài chính, kết quả hoạt động của công ty có trong báo cáo thường niên
SEC (Securities and Exchange Commission): Ủy ban chứng khoán Mỹ
GAAP (Generally Accepted Accounting Principles): các nguyên tắc kế toán chấp nhận chung
IAS (International Accounting Standards): chuẩn mực kế toán quốc tế
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 4.1.1 Kết quả thống kê mô tả 44
Bảng 4.1.2 Tỷ trọng các nhóm TONE 47
Bảng 4.1.3 Trung bình các nhóm TONE qua các năm 48
Bảng 4.2.1 Tương quan Pearson – mối tương quan đơn biến giữa các biến số 50
Bảng 4.3.1 Phương trình xem xét các yếu tố dự báo giá trị TONE 53
Bảng 4.3.2 Phương trình dự báo thu nhập trong tương lai 54
Bảng 4.3.3 Phương trình dự báo dòng tiền hoạt động trong tương lai 58
Trang 8TÓM TẮT
Bài nghiên cứu phân tích các nội dung thông tin, cụ thể là sắc thái ngôn ngữ mang tính chất dự báo trong báo cáo thường niên của các công ty niêm yết có mối tương quan như thế nào đến các đặc điểm của công ty này ở Việt Nam trong giai đoạn
từ tháng 1 năm 2012 đến tháng 12 năm 2016 Cụ thể, bài viết sẽ tìm cách trả lời các câu hỏi sau:
Thứ nhất, những yếu tố nào giải thích cho sắc thái ngôn ngữ được sử dụng trong báo cáo thường niên?
Thứ hai, sắc thái ngôn ngữ của báo cáo thường niên có giúp dự báo thành quả tương lai của doanh nghiệp hay không?
Sử dụng phương pháp hồi quy đa biến, bài nghiên cứu tìm thấy:
Thứ nhất, lợi nhuận sau thuế, quy mô công ty thể hiện qua giá trị vốn hoá thị trường của công ty càng cao thì công ty càng có xu hướng đưa ra các thông tin dự báo mang sắc thái tích cực về tương lai Ngược lại, khi dòng tiền từ hoạt động kinh doanh giảm, hoặc mức độ biến động tỷ suất sinh lợi của công ty tăng thì công ty ít công bố các thông tin dự báo tích cực
Thứ hai, các công ty càng có xu hướng đưa ra các thông tin dự báo tích cực về tương lai thì lợi nhuận tương lai của công ty càng cao Như vậy, các thông tin có tính
dự báo trong báo cáo thường niên thực sự là một nguồn thông tin hữu hiệu giúp nhà đầu tư gia tăng khả năng dự báo lợi nhuận trong tương lai của công ty
Thứ ba, mặc dù các thông tin có tính dự báo trong báo cáo thường niên có thể
dự báo lợi nhuận trong tương lai nhưng lại không dự báo được dòng tiền hoạt động trong tương lai của công ty Thay vào đó, các nhà đầu tư có thể sử dụng lợi nhuận để
dự báo dòng tiền hoạt động trong tương lai của công ty
Từ khóa: MD&A, sắc thái ngôn ngữ, thông tin có tính dự báo tích cực/tiêu cực
Trang 9CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1.1 Giới thiệu
Trong xu thế phát triển hiện nay của các quốc gia đang phát triển nói chung
và của Việt Nam nói riêng, thị trường chứng khoán đang ngày càng trở nên quan trọng trong các nền kinh tế Đây không chỉ là kênh chu chuyển vốn quan trọng từ nơi vốn nhàn rỗi sang nơi thiếu vốn trong nền kinh tế, mà thị trường chứng khoán cũng đang là một kênh đầu tư đầy hấp dẫn cho các nhà đầu tư, bao gồm cả các nhà đầu tư
tổ chức và nhà đầu tư cá nhân
Thị trường chứng khoán là nơi phản ánh kỳ vọng của nhà đầu tư về triển vọng tương lai của nền kinh tế Một trong những yếu tố quan trọng hình thành kỳ vọng của nhà đầu tư là thông tin, chẳng hạn như là thông tin từ các báo cáo của doanh nghiệp,
từ các nhà phân tích, quỹ đầu tư, công ty chứng khoán…
Nhu cầu về thông tin của các nhà đầu tư trên thị trường luôn tồn tại như là một yếu tố tất yếu trên các thị trường chứng khoán ở tất cả các quy mô và mức độ trưởng thành của thị trường Tham gia vào thị trường chứng khoán đòi hỏi các nhà đầu tư cần có những sự am hiểu về các báo cáo tài chính, báo cáo thường niên của các doanh nghiệp được niêm yết trên thị trường chứng khoán
Một báo cáo thường niên tốt sẽ giúp doanh nghiệp có nhiều cơ hội để tiếp cận
và thu hút được những nguồn vốn mới dài hạn, với điều kiện doanh nghiệp xem báo cáo thường niên như là một cơ hội để chia sẻ và trao đổi thông tin với các nhà đầu tư, đồng thời là công cụ để nhà quản lý giải trình sâu hơn các thông tin về tình hình quản trị, quản lý rủi ro và đặc biệt là doanh nghiệp đang tích hợp các yếu tố môi trường,
xã hội và quản trị vào trong quá trình sản xuất và quyết định kinh doanh như thế nào
Chính vì vậy, đề tài nghiên cứu này sẽ xem xét về các sắc thái ngôn ngữ của nội dung thông tin mang tính chất dự báo ở trong báo cáo thường niên của các công
ty niêm yết trên sàn chứng khoán Hà Nội (HNX) và sàn chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) Trên cơ sở đó, tác giả sẽ đưa ra những phân tích để phát hiện xem các sắc thái ngôn ngữ của nội dung thông tin mang tính chất dự báo có mối tương
Trang 10quan như thế nào đến các đặc điểm của các công ty Ngoài ra, tác giả cũng sẽ đi sâu vào phân tích xem mức độ tương quan của sắc thái thông tin và đặc điểm của các công ty có sự khác biệt theo tính chất tích cực/ tiêu cực của dự báo hay không?
Bài nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu xem xét các sắc thái ngôn ngữ của nội dung thông tin mang tính chất dự báo trong báo cáo thường niên của các công
ty niêm yết có mối tương quan như thế nào đến các đặc điểm của công ty Đồng thời xem xét khả năng thông tin văn bản của báo cáo thường niên chứa đựng những thông tin quan trọng về thành quả tương lai của doanh nghiệp
Để cụ thể hóa cho các mục tiêu nghiên cứu này, tác giả sẽ tập trung trả lời một số câu hỏi nghiên cứu của đề tài như sau:
Thứ nhất, những yếu tố nào giải thích cho sắc thái ngôn ngữ được sử dụng trong báo cáo thường niên?
Thứ hai, sắc thái ngôn ngữ của báo cáo thường niên có giúp dự báo thành quả tương lai của doanh nghiệp hay không?
Đối tượng trong bài nghiên cứu là mối quan hệ giữa các sắc thái ngôn ngữ của nội dung thông tin mang tính chất dự báo từ báo cáo thường niên và các đặc điểm của công ty
Về phạm vi nghiên cứu, bài nghiên cứu được thực hiện tại Việt Nam trong giai đoạn năm 2012 đến năm 2016 và dựa vào báo cáo thường niên của 30 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Hà Nội và sàn chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng hồi quy đa biến, ước lượng bằng phương pháp phân tích hồi quy bình phương bé nhất thông thường (OLS) để phát hiện mối quan hệ giữa đặc điểm các sắc thái ngôn ngữ của nội dung thông tin mang
Trang 11tính chất dự báo trên các báo cáo thường niên của công ty và đặc điểm của các công
ty
Thứ nhất, bài nghiên cứu khai thác một hướng nghiên cứu mới ở Việt Nam,
đó là xem xét các sắc thái ngôn ngữ của nội dung thông tin trong báo cáo thường niên
có mối tương quan như thế nào đến các đặc điểm của công ty và có tác động như thế nào đến thành quả trong tương lai của công ty
Thứ hai, bài nghiên cứu cho thấy xu hướng đánh giá, dự báo của bản thân các lãnh đạo công ty niêm yết ở Việt Nam như thế nào trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016
Thứ ba, kết quả nghiên cứu của luận văn cho thấy thực sự các sắc thái ngôn ngữ của nội dung thông tin văn bản có tính dự báo trong báo cáo thường niên có tác động tới lợi nhuận tương lai của doanh nghiệp Điều này giúp các nhà đầu tư có thêm một hướng phân tích mới về triển vọng tương lai của doanh nghiệp thông qua việc xem xét tính chất tích cực hay tiêu cực trong các nội dung thông tin văn bản có tính
dự báo của báo cáo thường niên
là chương kết luận và một số hạn chế của luận văn
Trang 12CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU 2.1 MD&A và các yêu cầu về nội dung trong báo cáo thường niên
Báo cáo thường niên của doanh nghiệp là một tài liệu xuất bản hàng năm mà một công ty đại chúng phải cung cấp cho các cổ đông nhằm mô tả hoạt động và tình hình tài chính của công ty Xét tổng quan, nội dung thông tin được cung cấp trong báo cáo thường niên gồm 2 phần: (1) các phần thông tin định lượng (dạng số, có cấu trúc) và (2) phần thông tin định tính (hay còn gọi là thông tin văn bản) Báo cáo thường niên là một phương tiện truyền tải thông tin về các hoạt động kinh doanh, lợi nhuận và các hoạt động liên quan của doanh nghiệp trong suốt một năm qua cũng như kế hoạch kinh doanh, lợi nhuận, phát triển của doanh nghiệp trong thời gian tới
Thông qua báo cáo thường niên, doanh nghiệp sẽ thể hiện sự minh bạch trong cung cấp thông tin đến cộng đồng các nhà đầu tư, thể hiện trách nhiệm của mình với
cổ đông hiện hữu, thu hút sự quan tâm của các tổ chức đầu tư, nhà đầu tư cá nhân mới,…
Để đạt được những điều này, năm 1980, Ủy ban chứng khoán Mỹ (SEC) đã yêu cầu các công ty niêm yết phải đưa vào báo cáo thường niên những nhận định, phân tích của ban lãnh đạo về điều kiện tài chính, kết quả hoạt động của công ty (MD&A) Nội dung của MD&A bao gồm khả năng thanh toán, nguồn vốn, hoạt động kinh doanh của công ty mà nhà đầu tư có thể đọc hiểu được Mục tiêu của SEC là yêu cầu công ty công bố các thông tin về các sự kiện và xu hướng tương lai mà có thể ảnh hưởng đến hoạt động của công ty
SEC đã nhấn mạnh sự cần thiết phải công bố thông tin trong MD&A, và thường khuyến khích các công ty công bố thông tin trong MD&A về các kế hoạch và
dự báo của nhà quản lý, chẳng hạn như về xu hướng, nhu cầu, sự kiện, cam kết và sự không chắc chắn được biết đến mà có ảnh hưởng đến tính thanh khoản, nguồn vốn hoặc các hoạt động trong tương lai của công ty Tuy nhiên, sau đó SEC đã kiểm tra các báo cáo hàng năm của Fortune 500 công ty vào năm 2002 (sau vụ bê bối Enron)
và nhận thấy các công ty vẫn còn thiếu các thông tin về dự báo, mặc dù SEC đã ban
Trang 13hành các hướng dẫn cụ thể tại nhiều thời điểm khác nhau (xem Garmong, 2007) Sự chỉ trích của SEC về MD&A trong báo cáo thường niên của các công ty là MD&A thường bao gồm các tuyên bố từ chối công bố thông tin vì lý do bản quyền và thay vào đó là các chi tiết không quan trọng với ít thông tin chất lượng Đặc biệt, SEC đã
lo ngại rằng có quá ít thông tin có tính dự báo trong MD&A
Ngoài nội dung đầy đủ và thông tin minh bạch trong bố cục để chuyển tải hiệu quả các các thông điệp về phân tích, đánh giá cũng như tạo ấn tượng trong thiết kế để thu hút người đọc từ trang đầu đến trang cuối cũng là một công tác chuẩn bị khá quan trọng trong việc xây dựng báo cáo thường niên Nó thể hiện sự tôn trọng, hiểu biết, quan tâm và đầu tư đúng mức của doanh nghiệp trong công tác quan hệ với nhà đầu
tư Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây cho thấy các thông tin trong báo cáo thường niên không hẳn là dễ đọc đối với họ
Smith và Smith (1971) nghiên cứu tính dễ đọc của các chú thích trong báo cáo thường niên của các công ty trong danh sách Fortune 50 và kết luận rằng mức độ dễ đọc của các ghi chú này là rất thấp
Healy (1977) nghiên cứu tính dễ đọc của các chú thích trong báo cáo thường niên của 50 công ty New Zeal Lebar (1982) nghiên cứu báo cáo thường niên 10-K, báo cáo hàng năm và thông cáo báo chí của 10 công ty NYSE năm 1978 và so sánh
sự khác biệt về chủ đề và thông tin giữa chúng Kết luận chung từ các nghiên cứu này
là báo cáo thường niên của công ty là khá khó đọc và có thể được phân loại là tài liệu
kỹ thuật, trong đó phân loại những thông tin “không thể tiếp cận được đối với một tỷ
lệ lớn các cổ đông tư nhân”
Một số nghiên cứu khác cũng cho thấy các báo cáo thường niên đã trở nên khó đọc hơn theo thời gian (ví dụ: Soper và Dolphin, 1964; Barnett và Leoffler, 1979; Jones và Shoemaker, 1994)
Vậy thực tế các nhà đầu tư có sử dụng được những thông tin trong báo cáo thường niên để ra quyết định đầu tư hay không? Rogers, Rodney K., và Julia Grant (1997) đã đánh giá các báo cáo thường niên của công ty để xác định cách các nhà
Trang 14phân tích sử dụng chúng để viết báo cáo nghiên cứu của họ Rogers, Rodney K., và Julia Grant (1997) thấy rằng các báo cáo phân tích bên bán chủ yếu dựa vào các phần tường thuật của báo cáo thường niên, với phần thảo luận và phân tích chứng minh là nguồn thông tin duy nhất và lớn nhất Họ cũng thấy rằng khoảng một nửa báo cáo phân tích dựa trên thông tin không có trong báo cáo thường niên Kết quả cho thấy rằng nhu cầu thông tin của các nhà phân tích có thể được phục vụ tốt hơn bởi các báo cáo thường niên được sửa đổi
Do đó, tháng 10 năm 1998, SEC ban hành các hướng dẫn về nội dung tiếng Anh đơn giản trong việc công bố các nội dung trong báo cáo thường niên của các doanh nghiệp Mục tiêu là giúp các nhà đầu tư có thể hiểu được các thông tin được công bố trong các báo cáo của doanh nghiệp SEC khẳng định rằng các thông tin trong MD&A sẽ cung cấp cho nhà đầu tư và những người dùng khác thông tin minh bạch về tình hình tài chính và kết quả hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt chú trọng vào triển vọng của doanh nghiệp trong tương lai
Phần lớn các nghiên cứu trước năm 1990 đều tập trung vào các biến định lượng như thu nhập, doanh thu hoặc giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu Sau đó, đã có một
số lượng lớn các bài nghiên cứu về nội dung trong MD&A, điều đang ngày càng được nhấn mạnh bởi SEC
Trang 15Ví dụ, Core (2001) lưu ý điểm này và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nghiên cứu nội dung thông tin chi tiết trong các tài liệu công bố thông tin tự nguyện Một số nghiên cứu bị giới hạn về mẫu nhỏ đã kiểm tra kết quả của nội dung và chất lượng của các thông tin trong MD&A
Sự nhấn mạnh của SEC về tầm quan trọng của MD&A và những nghiên cứu trước đây cho thấy rằng các doanh nghiệp có thể hưởng lợi từ việc nâng cao sự công
bố thông tin trong MD&A Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu sau đó cho thấy tình hình cung cấp thông tin trong MD&A có vẻ không cải thiện MD&A có thể không chứa nhiều thông tin quan trọng vì nhiều lý do khác nhau
Thứ nhất, mặc dù thông tin trong MD&A có thể không truyền tải kịp thời nhưng các kênh truyền thông cung cấp cho công ty cơ hội giải thích chiến lược hoạt động và triển vọng tương lai của họ một cách toàn diện hơn các con đường khác như thông cáo báo chí
Thứ hai, các công ty có thể không tiết lộ thông tin liên quan do các lo ngại về chi phí phát sinh của việc chuẩn bị công bố thông tin và sự kiểm tra thông tin của nhà đầu tư có thể ảnh hưởng tiêu cực đến giá cổ phiếu (Verrechia, 1983)
Thứ ba, các nhà đầu tư có thể không phụ thuộc nhiều vào MD&A bởi vì MD&A không được kiểm toán (Hufner, 2007)
Thứ tư, MD&A có thể chứa nhiều thông tin chung chung, không quan trọng, thiếu chi tiết (SEC (2003)) Để chứng minh quan điểm này, Pava và Epstein (1993)
đã chọn ngẫu nhiên 25 công ty từ Danh sách Sổ tay Cổ phiếu Phổ thông của Moody's
và cho thấy hầu hết 25 công ty mà họ nghiên cứu đã mô tả chính xác các sự kiện lịch
sử, nhưng rất ít công ty cung cấp các dự báo hữu ích và có tính chính xác trong MD&A Danh sách này đánh giá các công ty đại chúng theo định kỳ hàng quý, gồm đánh giá hoạt động tài chính và giá cổ phiếu, và quan trọng nhất là liệt kê các sự kiện (xung đột lao động, cạnh tranh, v.v.) Để xác định mức độ chính xác của thông tin được công bố trong MD&A của các công ty được chọn, các tác giả đã xem xét các thông tin này có liên quan đến tình hình thực tế của công ty sau một năm hay không
Trang 16Nếu thông tin dự báo trong MD&A là chính xác và có giá trị, các tác giả sẽ đánh giá mối tương quan là chặt chẽ Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong khi hầu hết các công
ty đã làm tốt công việc mô tả các sự kiện lịch sử, rất ít công ty cung cấp các dự báo hữu ích và chính xác Ngoài ra, các tác giả cũng đã thấy MD&A chứa nhiều thông tin
dự báo tích cực hơn là tiêu cực Để định lượng kết quả kiểm tra, các tác giả đã phân loại tất cả các sự kiện kinh tế quan trọng mà Moody báo cáo là có ảnh hưởng đến từng công ty được chọn Sau đó, các tác giả phân loại từng sự kiện cụ thể cho công
ty, ngành hoặc nền kinh tế tổng thể Ví dụ, doanh số bán hàng của một nhà sản xuất
đồ chơi giảm do hội đồng quản trị muốn giảm tỷ trọng đồ chơi này thì thông tin này được phân loại là của công ty cụ thể Nếu giảm doanh số bán hàng giảm là do sự quan tâm của người tiêu dùng với trò chơi nói chung giảm, nó được phân loại theo ngành
cụ thể Và nếu sự sụt giảm doanh số bán hàng là do suy thoái kinh tế nói chung, nó được phân loại là thuộc nền kinh tế Các tác giả cũng phân loại từng sắc thái thông tin là tích cực hoặc tiêu cực dựa trên tác động của nó đối với hoạt động của công ty Cuối cùng, các tác giả so sánh chất lượng của MD&A thông qua hiệu quả hoạt động thực tế của công ty trong năm liền kề sau đó
Do đó, các nội dung trong MD&A có cung cấp thông tin hữu ích cho thị trường vốn hay không là một câu hỏi thực nghiệm cần được xem xét kỹ hơn
Nhiều nghiên cứu tiếp theo cho thấy MD&A vẫn đóng vai trò quan trọng trong báo cáo thường niên của công ty và được nhà đầu tư quan tâm Ví dụ, nghiên cứu của Tavcar (1998) cho thấy MD&A là nội dung được đọc nhiều nhất và quan trọng nhất trong phần tài chính của công ty Knutson (1993), Rogers và Grant (1997) cũng cho rằng các nhà phân tích thường dựa nhiều nhất vào MD&A để lấy thông tin
Lang, Mark, và Russell Lundholm (1993) đã phân tích các yếu tố quyết định việc công bố thông tin một cách chủ động bằng điểm số được chấm bởi Liên đoàn Báo cáo Tài chính (Financial Analyst Federation) về việc công bố thông tin Kết quả cho thấy các công ty có điểm số cao có kết quả hoạt động tốt, tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu cao Những công ty lớn có mức độ tương quan giữa lợi nhuận và tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu kém hơn Mối tương quan giữa điểm số công bố thông tin và biến
Trang 17động tỷ suất sinh lợi là thấp, đặc biệt sau khi kiểm soát các yếu tố khác như quy mô công ty Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy điểm số tăng với quy mô công ty
Lang, Mark, và Russell Lundholm (1996) đã phân tích mối quan hệ giữa việc công bố thông tin của công ty, số lượng bài phân tích về công ty và các đặc điểm của phân tích dự báo thu nhập Sử dụng dữ liệu từ FAF Report 1985-89, các tác giả cung cấp bằng chứng cho thấy những công ty có chính sách công bố thông tin nhiều hơn
có số lượng phân tích đi theo nhiều hơn, các dự báo về thu nhập chính xác hơn, ít sự phân tán giữa các phân tích cá nhân và ít biến động về phân tích thu nhập Bài nghiên cứu cũng cho thấy vai trò của các nhà phân tích trong thị trường vốn Ngoài ra, các tác giả cũng cho rằng tiềm năng từ việc công bố thông tin là tăng số lượng nhà đầu
tư theo dõi cổ phiếu, giảm rủi ro ước lượng và giảm bất cân xứng thông tin, từ đó làm giảm chi phí vốn của công ty
Barron, Orie E., Charles O Kile, và Terrence B O’Keefe (1999) đã kiểm định mối liên hệ giữa các thuộc tính của các dự báo thu nhập và các đặc điểm hoạt động của công ty trong MD&A, trong đó chất lượng MD&A được đo bởi Ủy ban Giao dịch Chứng khoán (SEC) Bài nghiên cứu cho thấy xếp hạng MD&A càng cao thì các
dự báo thu nhập của các nhà phân tích càng chính xác sau khi kiểm soát nhiều ảnh hưởng khác trên dự báo của các nhà phân tích Bài nghiên cứu cũng cho thấy các hệ
số hồi quy ước lượng được phù hợp với thông tin MD&A có ảnh hưởng đáng kể đến
dự báo thu nhập Những phát hiện này phù hợp với đề xuất của nhiều cơ quan (kể cả SEC) rằng loại thông tin được tìm thấy trong MD&A chất lượng cao có liên quan đặc biệt đến việc dự đoán thu nhập
Levine, Carolyn B., và Michel J Smith, (2006) đã xây dựng cơ sở dữ liệu lớn
về việc công bố thông tin theo yêu cầu của các chính sách kế toán và cung cấp số liệu thống kê mô tả và phân tích các thành phần ảnh hưởng đến chính sách kế toán Các tác giả xác định 25 chính sách quan trọng khác nhau, phổ biến nhất trong số đó là chứng khoán có thể bán, sự suy giảm tài sản và cách ghi nhận doanh thu Là một phần của quy trình pháp lý, SEC yêu cầu các công ty nhận xét về các đề xuất của SEC
Trang 18trước khi tạo công bố quyết định cuối cùng Thông thường, không có đủ thông tin để đưa ra kết luận và các ý kiến bằng văn bản phản ánh quan điểm hoặc phỏng đoán Ví
dụ, đề xuất yêu cầu: “Có bao nhiêu ước tính kế toán mà một công ty thường xác định
là ước tính kế toán quan trọng theo định nghĩa được đề xuất?” Các công ty trong mẫu của các tác giả công bố thông tin từ 0 đến 17 chính sách kế toán quan trọng, với trung bình là 6 Phân tích của các tác giả cho thấy chính sách về công bố thông tin có vai trò quan trọng, liên quan đến độ lớn hiện tại và tương lai của tài sản, rủi ro kiện tụng của công ty và các kế hoạch tài chính trong tương lai Các khoản mục tài sản khác trong bảng cân đối kế toán cũng có tương quan cùng chiều đến việc công bố thông tin, cho thấy rằng các chính sách quan trọng có thể phụ thuộc vào sự liên quan giữa các khoản mục kế toán SEC hỏi: “Thông tin bổ sung được đề xuất liệu có hữu ích cho các nhà đầu tư và những người dùng khác không?” Các tác giả cung cấp bằng chứng cho rằng thị trường đặt trọng số thấp hơn vào thu nhập của các doanh nghiệp
có nhiều thông tin có tính dự báo so với trọng số trước đó để khuyến nghị SEC yêu cầu công bố thông tin có tính dự báo Các tác giả cho rằng trọng số thấp hơn này phù
Trang 19hợp với việc gia tăng cung cấp thông tin dự báo cho các nhà đầu tư về sự không chắc chắn trong việc dự báo thu nhập
Bryan (1997) xem xét bảy chủ đề mà SEC yêu cầu các công ty thảo luận trong MD&A của họ cho một mẫu 250 công ty trong năm 1990 và thấy rằng việc công bố thông tin có liên quan đến thu nhập ngắn hạn và dài hạn cũng như các dự báo của các nhà phân tích Cụ thể, kết quả cho thấy các nội dung trong MD&A, đặc biệt là các nội dung về hoạt động trong tương lai và kế hoạch chi tiêu vốn, có tương quan với hiệu quả hoạt động trong tương lai ngắn hạn và các quyết định đầu tư Tuy nhiên, mối tương quan dài hạn thì không có ý nghĩa thống kê Nghiên cứu này còn cho thấy rằng, cùng với các báo cáo tài chính, các nội dung của MD&A trong báo cáo thường niên, đặc biệt là các nội dung có tính dự báo, có thể hỗ trợ đánh giá triển vọng tương lai của doanh nghiệp trong ngắn hạn
Barron et al (1999) kiểm tra điểm chất lượng MD&A được chỉ định bởi nghiên cứu của SEC năm 1987 cho một mẫu nhỏ các công ty và thấy rằng chất lượng MD&A
có liên quan đến sai số và mức độ phân tán trong các dự báo của các nhà phân tích
Gregory S Miller và Joseph D Piotroski (2000) đã xác định các yếu tố giúp thúc đẩy việc công bố thông tin và mối quan hệ với thu nhập tương lai, những công
bố thông tin này tác động đến giá thị trường do tác động đến dự báo thu nhập trong tương lai Các tác giả xem xét một tập hợp các doanh nghiệp phải đối mặt với tình trạng thu nhập hiện tại thấp, những lo ngại về định giá thấp, sự bỏ bê của nhà đầu tư
và đã nhận thấy sự thay đổi đáng kể của các yếu tố khi các công ty này công bố thông tin về dự báo thu nhập trong tương lai Phù hợp với lý thuyết hiện có, các công ty có thông tin về thu nhập mạnh hơn và bền vững hơn có nhiều khả năng công bố nhiều thông tin hướng tới tương lai hơn Hơn nữa, các tác giả thấy rằng các doanh nghiệp hoạt động trong ngành có tính tranh tụng cao, tính độc quyền mạnh, có thù lao dựa trên quyền chọn cổ phiếu là lớn và đối mặt với các bên liên quan mà không nắm cổ phần lớn có nhiều khả năng cung cấp nhiều thông tin hơn Ngoài ra, các tác giả tìm thấy bằng chứng cho thấy việc sử dụng các cơ chế tài chính thay thế (mua lại cổ phần
Trang 20và tăng cổ tức) làm giảm xác suất mà người quản lý sẽ thực hiện việc công bố thông tin có tính dự báo Các thử nghiệm dựa trên thị trường cho thấy rằng thông tin được công bố có liên quan đến giá cố phiếu Thị trường phản ứng một cách tích cực đáng
kể với dự báo thu nhập (tức là các báo cáo có tính dự báo được cung cấp ngoài các thông báo về thu nhập) cũng như các báo cáo dự báo đi kèm trong thông báo thu nhập hiện tại (sau khi kiểm soát thông tin thu nhập của kỳ hiện tại) Hơn nữa, những phản ứng này có tương quan tích cực với những thay đổi trong tương lai được điều chỉnh theo mùa trong thu nhập, cho thấy sự công bố thông tin là có hiệu quả
Lý thuyết kinh tế cung cấp các lập luận hấp dẫn rằng cam kết của công ty về việc tăng mức độ công bố thông tin sẽ làm giảm bất cân xứng thông tin của công ty Tuy nhiên, việc kiểm định mối quan hệ này lại rất khó khăn Leuz, Christian, và Robert E Verrecchia (2000) đã nghiên cứu mẫu các công ty ở Đức áp dụng các tiêu chuẩn kế toán MS hoặc GAAP của Hoa Kỳ trong báo cáo tài chính hợp nhất Tiêu chuẩn này buộc các công ty phải tăng mức độ công bố thông tin đáng kể Hơn nữa, mức độ công bố thông tin ở Đức theo GAAP của Đức được mô tả là thấp Vì những
lý do này, thử nghiệm nghiên cứu của các tác giả có vẻ đặc biệt phù hợp với việc ghi lại các kết quả kinh tế của việc công bố thông tin tăng lên Bằng chứng của các tác giả phù hợp với khái niệm rằng các công ty cam kết tăng mức độ công bố thông tin thu được lợi ích đáng kể về mặt kinh tế và các kiểm định có ý nghĩa thống kê Các tác giả đã cho thấy chính sách công bố thông tin của quốc tế có liên quan đến chênh lệch chi phí thấp hơn và lợi nhuận cổ phiếu cao hơn khi các tác giả kiểm soát các đặc tính khác nhau của doanh nghiệp (ví dụ: hiệu suất, quy mô doanh nghiệp…) Đối với biến động giá cổ phiếu, các tác giả không tìm thấy sự giảm giá theo giả thuyết Các tác giả cũng chỉ tìm thấy sự khác biệt nhỏ giữa các công ty tuân theo GAAP (các nguyên tắc kế toán chấp nhận chung) của Hoa Kỳ và các công ty tuân theo IAS (chuẩn mực kế toán quốc tế) Trong khi so sánh này dựa trên một mẫu tương đối nhỏ, và do
đó chỉ được xem là tham khảo, nó phù hợp với khái niệm rằng cam kết gia tăng công
bố thông tin không phải là tiêu chuẩn hay là điều quan trọng của công ty Một mở rộng khác của nghiên cứu là đã bao gồm các công ty từ các quốc gia khác mà có áp
Trang 21dụng IAS hoặc GAAP của Hoa Kỳ cho báo cáo tài chính của họ Trong khi một nghiên cứu xuyên quốc gia rõ ràng là làm tăng mẫu đáng kể, nó có thể làm trầm trọng thêm vấn đề kiểm soát bởi vì nhiều quy định thể chế khác nhau (như quy định thị trường vốn)
Miller, Gregory S (2002) đã xem xét việc công bố thông tin toàn diện từ một mẫu các công ty trải qua một khoảng thời gian gia tăng thu nhập điều chỉnh Tác giả nghiên cứu cách các công ty này điều chỉnh công bố thông tin để đáp ứng với thu nhập tăng lên, cách các công ty này điều chỉnh công bố thông tin khi giai đoạn tỷ suất sinh lời mạnh gần kết thúc và cách công ty công bố thông tin trong giai đoạn thu nhập giảm Tác giả thấy có sự gia tăng công bố thông tin trong thời gian thu nhập tăng Mức tăng này phổ biến trên tất cả các loại hình công bố thông tin và có xu hướng đi kèm với thông báo về thu nhập Thị trường phản ứng tích cực với sự công bố thông tin này Các công ty tiếp tục công bố thông tin ở mức cao khi họ thấy thu nhập sụt giảm Tuy nhiên, họ chuyển sang công bố thông tin tập trung vào các kết quả ngắn hạn tích cực và không thảo luận về sự sụt giảm sắp xảy ra Thị trường dường như không dự đoán thu nhập tiếp theo sẽ giảm Khi các công ty thông báo thu nhập giảm, mức độ công bố thông tin trở lại mức trước khi thu nhập tăng lên
Hirshleifer, D., và S Teoh (2003) đã xem xét mối quan hệ của cách tiếp cận thông tin, chính sách báo cáo tài chính và giao dịch thị trường Cách tiếp cận của các tác giả giải quyết vấn đề tại sao giới chuyên môn quan tâm đến các hình thức công
bố thông tin Những lựa chọn như vậy có thể ảnh hưởng đến nhận thức của nhà đầu
tư và giá thị trường của công ty Trong cách tiếp cận của các tác giả, các nhà đầu tư đôi khi bỏ qua các khía cạnh liên quan của môi trường kinh tế, chẳng hạn như các ưu đãi của các công ty Các tác giả đã tập trung vào phần báo cáo thị trường của báo cáo tài chính và sự công bố thông tin, thay vì các vấn đề như hiệu quả hoạt động, thuế và vấn đề chính trị (xem thêm Watts và Zimmerman, 1986; Lambert (2001)) Trọng tâm của các tác giả không chủ yếu là phân tích thu nhập (mặc dù nghiên cứu của các tác giả có xem xét đến thu nhập được báo cáo) mà là về lựa chọn giữa các bản trình bày thông tin tương đương và về hiệu ứng nội dung của các lựa chọn này đối với nhà đầu
Trang 22tư Vì chi phí vốn có ảnh hưởng đến quyết định đầu tư, cách tiếp cận của các tác giả cho thấy rằng cách tiếp cận thông tin có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận của nhà đầu tư
Hutton, Amy, Gregory Miller, và Douglas Skinner (2003) đã kiểm định xem nhà quản lý có đưa các thông tin bổ sung khi họ dự báo thu nhập hay không và nếu
có, các thông tin này có liên quan hệ thống đến bản chất của thông tin dự báo hay không và liệu chúng có ảnh hưởng đến nội dung thông tin của dự báo thu nhập hay không Các tác giả thấy rằng các thông tin bổ sung của nhà quản lý đi kèm với thu nhập dự đoán được trong hai phần ba thời gian xem xét Các tác giả phân loại các thông tin này thành các thông tin có tính không chính thức định tính và các thông tin
có tính xác minh được Các tác giả dự đoán rằng các thông tin bổ sung của nhà quản
lý khác nhau tùy theo việc họ dự báo tin tốt hay xấu Bởi vì tin xấu có khả năng đáng tin cậy, các nhà quản lý ít có khả năng đưa ra các tuyên bố để thuyết phục các nhà đầu tư về tính xác thực của tin xấu Thay vào đó, các nhà quản lý có thể tìm cách giải thích các tin tức thu nhập bất lợi bằng cách phân bổ hiệu suất kém cho các yếu tố ngoài tầm kiểm soát của họ Kết quả của các tác giả không ủng hộ dự đoán này và cho thấy rằng xu hướng của nhà quản lý để cung cấp thông tin có tính không chính thức là như nhau đối với dự báo thu nhập tin tức tốt và xấu Ngược lại, bởi vì các nhà đầu tư hoài nghi hơn về các tin tức dự báo tốt, các tác giả hy vọng rằng các nhà quản
lý có nhiều khả năng bổ sung tin tức dự báo tốt của họ với các tuyên bố có thể kiểm chứng được Phù hợp với điều này, các tác giả thấy rằng các nhà quản lý cung cấp các báo cáo có thể kiểm chứng về tương lai một cách đáng kể thường xuyên hơn khi
họ thông tin các tin tức dự báo tốt hơn là khi họ thông tin các tin tức dự báo xấu Các mẫu công bố thông tin khác nhau cho tin tức dự báo tốt và xấu ảnh hưởng đến nội dung thông tin của dự báo thu nhập của nhà quản lý Mặc dù các tin tức dự báo xấu khiến giá cổ phiếu phản ứng tiêu cực mạnh, nhưng nội dung thông tin của các tin tức
dự báo tốt phụ thuộc vào việc công bố thông tin bổ sung Việc công bố thông tin một cách không chính thức không ảnh hưởng đến nội dung thông tin của các dự báo thu nhập, có lẽ vì những phát biểu này quá mơ hồ để đáng tin cậy đối với các nhà đầu tư Tuy nhiên, các tác giả thấy rằng các tin dự báo tốt chỉ mang tính thông tin (với các
Trang 23phản ứng giá cổ phiếu trung bình trên 3%) khi kèm theo các báo cáo có thể kiểm chứng được, cho thấy các báo cáo này làm tăng độ tin cậy của các tin tức dự báo tốt Những kết quả này là mạnh mẽ để kiểm tra cho nhiều giải thích thay thế Nhìn chung, bằng chứng của các tác giả mở rộng nghiên cứu trước đây về hiệu quả của các chiến lược tiết lộ tự nguyện của nhà quản lý Tương tự như nghiên cứu trước đây, các tác giả thấy rằng các nhà quản lý thường bổ sung dự báo thu nhập của các công ty của
họ với các công bố thông tin khác Tuy nhiên, các tác giả cũng thấy rằng các nhà quản
lý bổ sung tin tức thu nhập tốt và xấu theo những cách khác nhau phù hợp với nhu cầu tăng cường độ tin cậy của tin tốt nhưng không phải là tin xấu và chiến lược này hiệu quả trong việc tăng độ tin cậy của các tin tức dự báo tốt, mà các nhà đầu tư hoài nghi
Lang, Mark, và Russell Lundholm (2003) đã xem xét hoạt động công bố thông tin của công ty cổ phần về các dịch vụ có thời hạn và mối quan hệ như thế nào với giá cổ phiếu Bắt đầu sáu tháng trước khi chào bán, các công ty trong mẫu nghiên cứu
đã tăng đáng kể hoạt động công bố thông tin, đặc biệt đối với các loại thông tin mà công ty có toàn quyền quyết định nhất Mức tăng này là đáng kể sau khi kiểm soát hiệu suất thu nhập hiện tại và tương lai của công ty và có xu hướng lớn nhất đối với các công ty có các cổ đông cũng tham gia chào bán Tuy nhiên, không có sự thay đổi
về tần suất của các báo cáo kỳ hạn trước khi chào bán cổ phần, một điều gì đó không được khuyến khích bởi luật chứng khoán Giá cổ phiếu của các công ty mà duy trì mức công bố thông tin thì tăng trước khi chào bán và chỉ giảm giá nhẹ tại thời điểm thông báo chào bán cho thấy việc công bố thông tin có thể đã giảm sự bất cân xứng thông tin vốn có trong đợt chào bán Các doanh nghiệp cũng tăng đáng kể hoạt động công bố thông tin trong sáu tháng trước khi chào bán cũng có giá cổ phiếu tăng trước khi chào bán ở mức tương đối so với các công ty không tăng hoạt động công bố thông tin, nhưng lại bị giảm giá nhiều hơn nhiều khi công bố ý định phát hành cổ phiếu, cho thấy rằng việc tăng công bố thông tin có thể đã được sử dụng để "thổi phồng cổ phiếu"
và thị trường có thể đã điều chỉnh một phần cho việc tăng giá trước đó Các công ty duy trì mức độ công bố thông tin không có đặc điểm giảm giá bất thường so với các
Trang 24công ty kiểm soát sau thông báo, trong khi các công ty "thổi phồng" cổ phiếu của họ tiếp tục chứng kiến cổ phiếu giảm giá mạnh, điều này cung cấp thêm bằng chứng cho thấy việc tăng công bố thông tin có thể làm giảm chi phí vốn chủ sở hữu của công ty
Callahan, Carolyn M., và Rodney E Smith (2004) đã nghiên cứu các thông tin trong MD&A và phần I của báo cáo thường niên các công ty thuộc bốn ngành công nghiệp khác nhau (ngân hàng, hàng không, dược phẩm và điện tử) có khác nhau hay không, có liên quan đến hoạt động và định giá hoạt động trong tương lai của công ty không Các tác giả đã cho thấy các thông tin trong MD&A và phần I của báo cáo thường niên cung cấp khả năng dự đoán hiệu quả hoạt động của công ty trong tương lai và định giá thị trường trong khi kiểm soát thu nhập hiện tại và các yếu tố liên quan khác Kết quả của bài nghiên cứu thay đổi theo tính chất của ngành mà công ty hoạt động Điều này cho thấy mối quan tâm hiện tại của SEC đối với ý nghĩa trong nội dung MD&A có thể được định hướng rõ ràng hơn cho các ngành cụ thể, ví dụ như các ngành ngân hàng và dược phẩm Bài nghiên cứu cũng cho thấy rằng thị trường định giá trị cao hơn cho các doanh nghiệp trả cổ tức trước cho nhà đầu tư Trong ngắn hạn, các thông tin có tương quan đến hiệu quả hoạt động của công ty trong hiện tại
và tương lai và mức độ tương quan khác nhau theo từng ngành Nhìn chung, kết quả nghiên cứu cho thấy các chỉ số dựa trên phân tích nội dung có mối liên quan mạnh đến hoạt động của công ty trong tương lai và giá trị thị trường khi kiểm soát thu nhập hiện tại và các yếu tố khác
Trong khi các nghiên cứu này thú vị, nhược điểm chính của chúng là các mẫu nhỏ và hạn chế Bên cạnh đó, ngoại trừ Bryan, không có nghiên cứu nào khác trực tiếp kiểm tra nội dung của MD&A Lưu ý đến giới hạn này, Cole và Jones (2005) trong việc xem xét nghiên cứu liên quan đến MD&A, đã kêu gọi nghiên cứu bổ sung thông tin trong MD&A mà sử dụng các mẫu lớn hơn và rộng hơn
H¨ufner, Bernd (2007) nghiên cứu xem các nội dung trong MD&A được yêu cầu bởi SEC có cung cấp đầy đủ thông tin cho các nhà đầu tư hay không Tác giả thực hiện trên cơ sở khái niệm nhu cầu của các nhà đầu tư về báo cáo của công ty
Trang 25Tác giả thấy rằng thực tế các kỳ vọng về nội dung trong MD&A cơ bản được thiết lập dựa trên các yêu cầu đầy tham vọng, nhưng có nội dung rất chung chung và rất lỏng lẻo Mặc dù MD&A được sử dụng để tạo điều kiện thuận lợi cho việc dự báo của các nhà đầu tư, quy định về MD&A bị chỉ trích vì thiếu các quy tắc dứt khoát yêu cầu phân tích chiến lược của một công ty Không có thông tin về mục tiêu và chiến lược của công ty hoặc về các yếu tố thành công quan trọng của nó được yêu cầu một cách rõ ràng, thậm chí không phải trên các tài sản vô hình đang ngày càng trở thành nguồn kiếm tiền không thể thiếu của công ty Ngoài phân tích tài chính và thu nhập thông thường, MD&A không yêu cầu phân tích rõ ràng tài sản của công ty và bất kỳ tiềm năng tạo thu nhập nào có liên quan Đối với các nguyên tắc báo cáo theo định hướng của nhà đầu tư, dựa trên các yêu cầu báo cáo MD&A hiện tại, chắc chắn các công ty sẽ cung cấp báo cáo MD&A đầy đủ dự đoán, có thể dựa trên thông tin liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp Vì quy định MD&A của SEC chỉ tình cờ phục vụ nhu cầu thông tin của nhà đầu tư để hoàn thành nhiệm vụ dự báo của họ Việc thiếu định hướng phụ thuộc lẫn nhau của việc công bố thông tin trong MD&A bắt buộc là đáng chú ý Dựa trên cơ sở thông tin được yêu cầu của SEC, nhà đầu tư có thể không đạt được những dự đoán cần thiết Bất chấp mọi lời chỉ trích, việc SEC yêu cầu bổ sung trong kế toán tài chính thông tin có tính dự đoán và chất lượng phân tích về điều kiện tài chính của công ty và khả năng kiếm tiền có vẻ phù hợp về mặt kinh tế Tuy nhiên, việc chuyển đổi ý tưởng này thành các quy tắc cụ thể vẫn chưa được thuyết phục, ngay cả khi các quy tắc chú ý đến các yêu cầu bảo vệ của công ty tránh việc tiết lộ thông tin quá chi tiết Hơn nữa, hướng dẫn của MD&A trong “thời đại hậu Enron” gây ra mối quan ngại: vì MD&A dường như ngày càng định hướng tránh sự xuất hiện của “những phát biểu sai lầm” kể từ khi có nhiều vụ bê bối kế toán xảy ra Một MD&A được tăng cường bởi các thông tin như vậy sẽ làm giảm mục đích thực sự của MD&A cho các nhà đầu tư, tức là cung cấp thông tin hữu ích về dự báo
Đại hội đồng cổ đông được tổ chức cùng với việc công bố thu nhập của công
ty đã trở nên ngày càng phổ biến trong những năm gần đây, nhưng có rất ít bằng chứng liên quan đến những lý do mà các cuộc họp này tăng dần về lượng cung cấp
Trang 26thông tin trong thông cáo báo chí kèm theo Sử dụng mẫu hơn 10.000 bản ghi Đại hội đồng cổ đông, Matsumoto, Dawn, Maarten Pronk, và Erik Roelofsen, (2008) đã kiểm tra nội dung thông tin của cả hai phân đoạn cuộc họp — phần trình bày và phân đoạn thảo luận Các tác giả thấy rằng cả hai phân đoạn đều có nội dung thông tin gia tăng trên bản phát hành báo chí kèm theo Tuy nhiên, thời gian thảo luận tương đối nhiều thông tin hơn so với thời gian trình bày và nội dung thông tin lớn hơn này có liên quan tích cực với nhà phân tích sau đó Các tác giả cũng thấy rằng các nhà quản lý cung cấp thêm các thông tin trong phân đoạn trình bày khi hoạt động của doanh nghiệp là kém, nhưng tương đối nhiều thông tin được phát hành trong thời gian thảo luận trong những trường hợp này Nhìn chung, kết quả của các tác giả phù hợp với khái niệm rằng những thông tin có tính dự báo tích cực trong Đại hội đồng cổ đông làm tăng nội dung thông tin của các cuộc họp, đặc biệt khi hoạt động của công ty là kém
Henry, Elaine (2008) đã phân tích một cách hùng biện về thể loại thông cáo báo chí thu nhập Bằng phân tích định lượng mà sử dụng dữ liệu thị trường vốn để đánh giá tác động của nhà đầu tư đối với nội dung thông tin và các thuộc tính khác Phân tích cụ thể về tính pháp lý, các thuộc tính cấu trúc và vai trò quảng cáo thông tin kép của các thông cáo báo chí thu nhập, sử dụng các bản phát hành riêng lẻ Phân tích định lượng khám phá mối quan hệ giữa phản ứng của thị trường chứng khoán với các thông cáo báo chí thu nhập và các biện pháp định lượng được phát triển bằng cách sử dụng phân tích nội dung dựa trên máy tính từ một tập hợp các bản phát hành Kết quả cho thấy rằng sắc thái ngôn ngữ của nội dung thông tin có ảnh hưởng đến phản ứng của nhà đầu tư Một giải thích cho kết quả này được cung cấp bởi lý thuyết triển vọng, dự đoán rằng tỷ suất sinh lợi trong điều kiện tích cực làm cho các nhà đầu
tư kỳ vọng kết quả tăng lên so với các điểm tham chiếu Kết quả cũng cho thấy rằng các thông cáo báo chí dài hơn làm giảm tác động thị trường của thu nhập không dự báo
Kothari, S.P., Xu Li, và James E Short (2008) đã ghi lại bằng chứng có hệ thống về tác động rủi ro của việc công bố thông tin được chọn lọc từ một nguồn gần
Trang 27như đầy đủ Bài nghiên cứu của các tác giả phân tích hơn 100.000 báo cáo được công
bố của nhà quản lý, nhà phân tích và phóng viên tin tức (tức là báo chí tài chính) trong việc xây dựng các biện pháp công bố thông tin cụ thể của công ty có định lượng và tuân thủ để nhân rộng trong tương lai Các tác giả hy vọng sự khác biệt về độ tin cậy
và kịp thời trong công bố theo nguồn sẽ chuyển thành chi phí vi phân của các hiệu ứng vốn Các tác giả thấy rằng khi phân tích nội dung cho thấy sự công bố một cách thuận lợi, rủi ro của công ty như chi phí vốn được ủy thác, biến động tỷ suất sinh lợi
và sự phân tán của phân tích dự báo giảm đáng kể Ngược lại, sự công bố một cách không thuận lợi sẽ đi kèm với sự gia tăng đáng kể các biện pháp rủi ro Sự công bố thông tin của các tập đoàn, các nhà phân tích và báo chí cho thấy thông tin tiêu cực
từ các nguồn báo cáo thường niên sẽ dẫn đến chi phí vốn tăng và có tác động trở lại,
và thông tin tích cực từ báo chí tài chính làm giảm chi phí vốn và cũng có tác động trở lại
Feldman, Ronen, Suresh Govindaraj, Joshua Livnat, và Benjamin Segal (2009) đã tìm hiểu xem MD&A trong các báo cáo theo Biểu mẫu 10-Q và 10-K có nội dung thông tin gia tăng vượt ra ngoài các biện pháp tài chính như thu nhập bất ngờ và tích luỹ hay không Bài nghiên cứu sử dụng một lược đồ phân loại các từ thành các danh mục tích cực và tiêu cực để đo lường sự thay đổi giai điệu trong phần MD&A liên quan đến các bản ghi SEC định kỳ trước đó Kết quả của các tác giả cho thấy phản ứng thị trường ngắn hạn xung quanh việc sắp xếp hồ sơ của SEC được liên kết đáng kể với sự thay đổi nội dung của phần MD&A, ngay cả sau khi kiểm soát các khoản thu nhập và thu nhập bất ngờ Các tác giả cho thấy sự thay đổi nội dung của nhà quản lý làm tăng thêm đáng kể lợi nhuận của danh mục đầu tư trong vòng hai ngày sau ngày nộp hồ sơ cho SEC thông qua một ngày sau thông báo thu nhập sơ bộ của quý tiếp theo, ngoài thông tin tài chính được truyền đạt bằng số dư và thu nhập bất ngờ Lợi nhuận trôi dạt bị ảnh hưởng bởi khả năng của tín hiệu thay đổi nội dung
để giúp dự đoán thu nhập của quý tiếp theo nhưng không hoàn toàn do khả năng này
Trang 28Các tác giả cũng thấy rằng thông tin gia tăng về thay đổi nội dung của nhà quản lý phụ thuộc vào mức độ môi trường thông tin của công ty
2.3 Các yêu cầu về nội dung trong báo cáo thường niên tại Việt Nam
Tại Việt Nam, Tổ chức niêm yết phải thực hiện đầy đủ các nội dung trong báo cáo thường niên theo mẫu quy định tại Phụ lục 04 kèm theo Thông tư 155/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 06/10/2015 Một số nội dung trong báo cáo thường niên
mà Doanh nghiệp cần phải có gồm:
- Tóm lược về Công ty, Mục tiêu và Chiến lược phát triển
- Báo cáo của Hội đồng Quản trị bao gồm:
+ Đánh giá tóm lược tình hình hoạt động trong năm; tình hình thực hiện so với
kế hoạch; những thay đổi chủ yếu trong năm
+ Bình luận về các rủi ro lớn đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh và các chiến quản lý rủi ro của doanh nghiệp
+ Công bố những triển vọng kinh doanh và kế hoạch của doanh nghiệp trong thời gian tới
- Báo cáo của Ban Giám đốc:
- Kiểm toán nội bộ
- Các công ty con và công ty liên quan
- Tổ chức và nhân sự
Trang 29- Thông tin về cổ đông và Quản trị công ty:
+ Thông tin liên quan đến Hội đồng quản trị và Ban Kiểm soát
+ Thông tin về hoạt động của Hội đồng quản trị và Ban Kiểm soát
+ Các dữ liệu thống kê về cổ đông
Trong bài nghiên cứu này, tác giả chỉ xem xét những nội dung mang tính chất
dự báo trong MD&A của các báo cáo thường niên Tác giả sẽ chia các nội dung này theo từng nhóm và theo hướng tích cực, trung tính hay tiêu cực
2.3 Các cách đo lường sắc thái ngôn ngữ trong báo cáo thường niên
Thông thường, có 3 cách cơ bản để đo lường sắc thái ngôn ngữ trong báo cáo thường niên:
Thứ nhất là cấp độ hay mức độ lặp lại của nội dung
Thứ hai là cách diễn đạt
Thứ ba là ý nghĩa của câu hay sắc thái nội dung, ví dụ như có tính chất dự báo tích cực hay tiêu cực
Bài nghiên cứu đầu tiên của Feng Li công bố năm 2008 sử dụng cách đầu tiên
là dùng chỉ số Fog được hình thành từ việc tính toán số lượng từ trong mỗi câu và số
âm tiết của mỗi từ để tạo ra thước đo về mức độ phức tạp của câu văn Sau đó, tác giả tiếp tục sử dụng biến thứ hai là độ dài của báo cáo thường niên Kết quả của tác giả cho thấy 2 biến này có tương quan với mức độ bền vững của thu nhập
Muslu, Volkan, Suresh Radhakrishnan, K R Subramanyam, và Dongkuk Lim (2008) đã sử dụng các kỹ thuật máy tính để nghiên cứu các nguyên nhân và kết quả của việc công bố thông tin có tính dự báo trong MD&A cho một mẫu lớn hơn 40.000 báo cáo 10-K được nộp cho SEC trong giai đoạn 1994-2007 Các tác giả đo lường mức độ dự báo gắn với việc cung cấp thông tin có tính dự báo trong MD&A Các tác giả tìm thấy kết quả phù hợp cho thấy các nhà quản lý cung cấp thông tin có tính dự báo trong MD&A để làm giảm thiểu bất cân xứng thông tin và môi trường thông tin
Trang 30kém Điều này phù hợp với mục tiêu dự định của SEC yêu cầu công bố thông tin có tính dự báo trong MD&A Các tác giả cũng thấy rằng việc công bố thông tin có tính
dự báo cung cấp thông tin hữu ích cho thị trường chứng khoán nhưng không thể giảm thiểu hoàn toàn môi trường thông tin nghèo nàn cho các công ty có cường độ tìm kiếm cao Các tác giả lưu ý những hạn chế sau đây Đầu tiên, phân tích của các tác giả tương tự như một nghiên cứu thăm dò Các tác giả không tạo ra hoặc thử nghiệm các giả thuyết chính thức, mà là rút ra những suy luận thích hợp từ các kết quả thực nghiệm Theo đó, các tác giả sử dụng vô số các bài kiểm tra để kiểm tra xem các hiệp hội có nhất quán hay không Thứ hai, tương tự như các nghiên cứu khác sử dụng các
kỹ thuật máy tính để đo đặc điểm thông tin, nghiên cứu của các tác giả là một thử nghiệm chung về sự phù hợp của biện pháp và suy luận các tác giả lấy được từ phân tích thực nghiệm Thứ ba, đo lường cường độ chỉ kiểm tra số lượng công bố thông tin có tính dự báo Các tác giả không xem xét loại tin tức (tức là tin xấu hoặc tốt), cũng như không kiểm tra sắc thái nội dung của các câu văn
Một vài nghiên cứu khác dựa trên phân tích nội dung theo cách diễn đạt cũng cho thấy MD&A cung cấp thông tin về hoạt động tương lai (Bryan (1997), Barron, Kile, và O’Keefe (1999), và Callahan và Smith (2004))
Phần tiếp theo, tác giả sẽ tổng hợp các kết quả của các bài nghiên cứu về sắc thái thông tin, cũng là phương pháp tác giả áp dụng để nghiên cứu thị trường chứng khoán Việt Nam
2.3 Tổng quan các nghiên cứu về sắc thái thông tin
Sloan (1996) cho thấy các khoản trích lập dự phòng rủi ro có tương quan âm với lợi nhuận tương lai nếu ban lãnh đạo công ty có dự báo tiêu cực về triển vọng tương lai trong phần MD&A Điều này cho thấy sắc thái thông tin của nội dung có
Trang 31tính dự báo trong MD&A sẽ giúp đánh giá tác động của khoản trích lập dự phòng rủi
ro đến lợi nhuận tương lai của công ty chính xác hơn
Nghiên cứu của Bryan (1997), Barron, Kile, và O’Keefe (1999), Callahan và Smith (2004) cho thấy các thông tin từ MD&A có mối liên hệ với hoạt động trong tương lai của công ty
Davis, Angela K., Jeremy M Piger, và Lisa M Sedor (2005) đã kiểm tra xem các nhà quản lý có sử dụng ngôn ngữ lạc quan và bi quan trong thông cáo báo chí để cung cấp thông tin về hiệu quả hoạt động của công ty trong tương lai cho thị trường hay không, liệu thị trường có phản ứng với ngôn ngữ lạc quan và bi quan trong thông cáo báo chí hay không và các yếu tố khác có khả năng ảnh hưởng đến phản ứng của thị trường đối với thông báo Các tác giả đã sử dụng phần mềm phân tích văn bản để
đo lường mức độ của ngôn ngữ lạc quan và bi quan cho một mẫu khoảng 24.000 báo cáo thu nhập được phát hành từ năm 1998 đến năm 2003 Các tác giả tìm thấy một mối liên hệ tích cực (tiêu cực) giữa việc sử dụng ngôn ngữ lạc quan (bi quan) và hiệu quả hoạt động của công ty trong tương lai và phản ứng thị trường gia tăng đáng kể cho việc sử dụng ngôn ngữ lạc quan và bi quan trong báo cáo Kết quả cho thấy các nhà quản lý sử dụng ngôn ngữ lạc quan và bi quan để cung cấp thông tin đáng tin cậy
về hiệu quả dự kiến trong tương lai của công ty cho thị trường và thị trường phản hồi việc sử dụng ngôn ngữ của nhà quản lý
Tetlock, Paul, M Saar-Tsechansky, và S Macskassy (2007) đã công bố kết quả nghiên cứu về tỷ trọng những từ ngữ tiêu cực dự báo thu nhập trong báo cáo thường niên của công ty là thấp Kết quả thứ hai của các tác giả là giá cổ phiếu có tương quan với các từ ngữ tiêu cực trong báo cáo thường niên Các tác giả chứng minh nhà đầu tư có thể kiếm được lợi nhuận trong tương lai từ việc sử dụng chiến lược giao dịch đơn giản là dựa trên sắc thái ngôn từ trong báo cáo thường niên, nhưng thấy rằng những lợi nhuận này có thể dễ dàng biến mất sau khi tính toán chi phí giao dịch hợp lý Cuối cùng, các tác giả cho thấy những ngôn từ tiêu cực về nguyên tắc cơ bản là những yếu tố dự báo đặc biệt hữu ích cho cả tỷ suất sinh lợi của nhà đầu tư và
Trang 32lợi nhuận của công ty trong tương lai Ấn tượng tổng thể của các tác giả là thị trường chứng khoán tương đối hiệu quả đối với các nguyên tắc cơ bản khó định lượng của các công ty Sự thiếu phản ứng của thị trường đối với các từ tiêu cực sau ngày 0 thường nhỏ so với phản ứng ban đầu của thị trường đối với các từ tiêu cực vào ngày thứ 0 Tuy nhiên, các tác giả nhận thấy rằng giá cổ phiếu liên tục phản ứng tiêu cực với những từ tiêu cực trong những thông tin cụ thể, đặc biệt là những thông tin có tính chất cơ bản Các nhà giao dịch sẽ không có động lực để theo dõi và đọc các bản tin mới hàng ngày Nghiên cứu trong tương lai về định lượng ngôn ngữ có tiềm năng
để cải thiện sự hiểu biết của chúng ta về cách thông tin được kết hợp trong giá tài sản
Somnath Das, Kyonghee Kim và Sukesh Patro (2007) đã xem xét phản ứng của thị trường đối với các thông tin có tính dự báo xấu/tốt trong báo cáo thường niên của công ty Cụ thể, các tác giả sử dụng dự báo thu nhập hàng quý để kiểm tra lợi tức hàng ngày trong thời gian dự báo, bắt đầu từ đợt phát hành và kết thúc thông báo thu nhập thực tế Tương tự như các nghiên cứu trước đây, kiểm tra phản ứng thị trường ngắn hạn đối với các dự báo của nhà quản lý, các tác giả nhận thấy giá cổ phiếu giảm (tăng) đáng kể trong ba ngày xung quanh ngày công bố thông tin có tính dự báo xấu (tốt) Giá cổ phiếu trung bình đã tăng lên đối với cả thông tin có tính dự báo tốt và dự báo xấu Các kết quả được kết hợp với nhau cho thấy rõ ràng rằng phản ứng thị trường đối với các dự báo thu nhập hàng quý của nhà quản lý kéo dài lâu hơn Hơn nữa, việc nắm giữ cổ phiếu trong khoảng thời gian từ 15 đến 30 ngày trong giai đoạn hậu thông báo sẽ mang lại lợi nhuận đáng kể về mặt kinh tế, giảm chi phí giao dịch ròng
Rogers, Jonathan L., Varew Van Buskirk, và Sarah L.C Zechman (2009) đã kiểm tra mối quan hệ giữa nội dung thông tin và tranh chấp giữa các cổ đông để xác định liệu người quản lý sử dụng ngôn ngữ lạc quan có làm tăng nguy cơ tranh tụng hay không Sử dụng cả từ điển văn bản có mục đích chung và ngữ cảnh cụ thể theo ngữ cảnh để định lượng TONE, các tác giả thấy rằng nguyên đơn nhắm nhiều đến tuyên bố lạc quan hơn trong các vụ kiện của họ và đã kiện các thông báo về thu nhập của công ty có sự lạc quan bất thường so với các doanh nghiệp khác có điều kiện kinh
tế tương tự Những phát hiện này phù hợp với việc ngôn ngữ lạc quan làm tăng nguy
Trang 33cơ kiện tụng Ngoài ra, các tác giả tìm thấy rủi ro kiện tụng gia tăng lớn hơn khi các nhà quản lý đều lạc quan bất thường và tham gia vào các giao dịch bất thường Phát hiện này cho thấy rằng các doanh nghiệp có thể giảm thiểu rủi ro kiện tụng bằng cách đảm bảo rằng các báo cáo lạc quan không bị mâu thuẫn bởi các giao dịch nội gián Cuối cùng, các tác giả thấy rằng việc giao dịch nội gián có liên quan đến rủi ro kiện tụng chỉ khi đồng thời việc công bố thông tin là lạc quan bất thường
Một số nghiên cứu khác tập trung vào phân tích sắc thái thông tin của nội dung các câu trong báo cáo thường niên như Mayew và Venkatachalam (2008), Bryan (1997), Callahan và Smith (2004) Có hai khó khăn khi thực hiện nghiên cứu về ý nghĩa câu văn: chi phí tổng hợp dữ liệu và tính chủ quan của người làm phân tích
Feng Li (2010) dựa vào phương pháp “Na¨ıve Bayesian learning algorithm” thay vì phương pháp dựa trên từ điển (ví dụ nghiên cứu của Kothari, Li, và Short (2008)) để khai thác dữ liệu và chia dữ liệu làm 2 loại là (1) TONE (gồm tích cực và tiêu cực) và (2) nội dung (là Khả năng sinh lợi, Thanh khoản…) Tác giả đưa ra kết luận các công ty có tình hình hiện tại tốt hơn, các khoản trích trước thấp hơn, quy mô nhỏ hơn, tỷ số giá trị thị trường trên sổ sách thấp hơn và xu hướng biến động thu nhập thấp hơn sẽ có nhiều câu dự báo tích cực trong MD&A Tác giả cũng cho thấy TONE
có tương quan dương với lợi nhuận tương lai, tính thanh khoản và có sự ảnh hưởng mạnh đến các biến khác trong việc dự báo hoạt động tương lai Ví dụ, ROA trong năm tới của công ty có TONE hoàn toàn tích cực cao hơn 8% so với công ty có TONE hoàn toàn tiêu cực Những ảnh hưởng này xảy ra sau khi đã kiểm soát thu nhập hiện tại, tỷ suất sinh lợi, thanh khoản và các yếu tố khác có thể tác động đến hoạt động tương lai Tác giả chia TONE làm 3 nhóm chính: nhóm liên quan đến lợi nhuận (là doanh thu, chi phí và sự hoạt động), nhóm liên quan đến thanh khoản (là vốn sở hữu, việc tài trợ và đầu tư) và nhóm còn lại Kết quả hồi quy của tác giả cho thấy nhóm liên quan đến lợi nhuận và thanh khoản có các nội dung cơ bản về tương lai, trong đó nhóm thanh khoản có ý nghĩa kinh tế và thống kê cao hơn Đóng góp của bài nghiên cứu này là phương pháp thống kê “learning algorithm” (đã được sử dụng rộng rãi trong các bài nghiên cứu trước, ví dụ Mitchell (2006)) có thể áp dụng thành công
Trang 34trong nghiên cứu báo cáo thường niên Tuy nhiên, do các báo cáo thường niên ở Việt Nam chưa có dạng chuẩn theo định dạng đọc pdf nên tác giả không thể sử dụng phương pháp này mà tiến hành đọc từng câu và tự phân loại theo tính chất của câu Tác giả cũng đã mở rộng nghiên cứu nội dung thông tin của các nghiên cứu trước đây
về lợi nhuận (Davis, Piger, và Sedor (2005), Rogers, Buskirk, và Zechman (2009)), chính sách kế toán (Levine và Smith (2006)), ý kiến kiểm toán (Butler, Leone, và Willenborg (2004)), thông tin tài chính (Tetlock, Saar-Tsechansky, và Macskassy (2007), và Core, Guay, và Larcker (2008)), thông tin cổ phiếu trên internet (Antweiler
và Frank (2004)), các nguồn dữ liệu tài chính (Kothari, Li, và Short (2008)), chiến dịch bầu cử tổng thống (Pennebaker và Stone (2001)) và lịch sử nghệ thuật (Martindale (1990))
Feldman, Govindaraj, Livnat, và Segal (2009) cho thấy sự thay đổi của TONE – một biến đo lường sắc thái thông tin trong MD&A có tương quan với biến động giá
cổ phiếu
Tác giả tóm tắt các nghiên cứu trước đây theo bảng sau:
Tác giả Nội dung nghiên cứu Kết quả nghiên cứu
Mức độ dễ đọc của các ghi chú này là rất thấp
Healy
(1977)
Nghiên cứu tính dễ đọc của các chú thích trong báo cáo tài chính của 50 công ty New Zealvà Lebar (1982) nghiên cứu báo cáo 10-K, báo cáo hàng năm và thông cáo báo
Báo cáo thường niên của công ty là khá khó đọc và có thể được phân loại là tài liệu kỹ thuật
Trang 35Tác giả Nội dung nghiên cứu Kết quả nghiên cứu
chí của 10 công ty NYSE năm
1978
Báo cáo thường niên của công ty là khá khó đọc và có thể được phân loại là tài liệu kỹ thuật
Verrechia,
1983
Mối quan hệ giữa chi phí sở hữu độc quyền việc công bố thông tin của công ty
Các công ty có thể không công bố thông tin liên quan do các lo ngại về chi phí sở hữu độc quyền
Pava và
Epstein
(1993)
Xác định xem MD&A có cung cấp những thông tin hữu ích về hoạt động công ty trong tương lai hay không bằng cách chọn ngẫu nhiên 25 công
ty từ danh sách của Moody's
Hầu hết 25 công ty được lựa chọn ngẫu nhiên đã mô tả chính xác các sự kiện lịch
sử, nhưng rất ít công ty cung cấp các dự báo hữu ích và có tính chính xác trong MD&A
Các công ty có điểm số cao có kết quả hoạt động tốt, tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu cao
Lang, Mark,
và Russell
Phân tích mối quan hệ giữa việc công bố thông tin của công ty, số lượng bài phân
Những công ty có chính sách công bố thông tin nhiều hơn có số lượng phân tích đi theo nhiều hơn, các dự báo về thu
Trang 36Tác giả Nội dung nghiên cứu Kết quả nghiên cứu
Lundholm
(1996)
tích về công ty và các đặc điểm của phân tích dự báo thu nhập
nhập chính xác hơn, ít sự phân tán giữa các phân tích cá nhân và ít biến động về phân tích thu nhập
Sloan
(1996)
Mối quan hệ giữa sắc thái thông tin trong MD&A và các đặc điểm của công ty
Các khoản trích lập dự phòng rủi ro có tương quan âm với lợi nhuận tương lai nếu ban lãnh đạo công ty có dự báo tiêu cực về triển vọng tương lai trong phần MD&A
Các báo cáo phân tích bên bán chủ yếu dựa vào các phần tường thuật của báo cáo thường niên
Một nửa báo cáo phân tích dựa trên thông tin không có trong báo cáo thường niên
Các nhà phân tích thường dựa nhiều nhất vào MD&A để lấy thông tin
1990
Các nội dung của MD&A trong báo cáo thường niên, đặc biệt là các nội dung có tính dự báo, có thể hỗ trợ đánh giá triển vọng tương lai của doanh nghiệp trong ngắn hạn
Tavcar
(1998)
Đánh giá các nội dung được nhà đầu tư quan tâm nhất trong báo cáo thường niên của công ty
MD&A là nội dung được đọc nhiều nhất
và quan trọng nhất trong phần tài chính của công ty
Trang 37Tác giả Nội dung nghiên cứu Kết quả nghiên cứu
Xếp hạng MD&A càng cao thì các dự báo thu nhập của các nhà phân tích càng chính xác sau khi kiểm soát nhiều ảnh hưởng dự kiến khác trên dự báo của các nhà phân tích
Các công ty có thông tin về thu nhập cao hơn và bền vững hơn có nhiều khả năng công bố nhiều thông tin hướng tới tương lai hơn
Các công ty cam kết tăng mức độ công
bố thông tin thu được lợi ích đáng kể về mặt kinh tế
Cách tiếp cận thông tin có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận của nhà đầu tư
Giá cổ phiếu của các công ty mà duy trì mức công bố thông tin thì tăng trước khi chào bán và chỉ giảm giá nhẹ tại thời điểm thông báo chào bán cho thấy việc công bố thông tin có thể đã giảm sự bất
Trang 38Tác giả Nội dung nghiên cứu Kết quả nghiên cứu
cân xứng thông tin vốn có trong đợt chào bán
Các chỉ số dựa trên phân tích nội dung
có mối liên quan mạnh đến hoạt động của công ty trong tương lai và giá trị thị trường
Mối liên hệ tích cực (tiêu cực) giữa việc
sử dụng ngôn ngữ lạc quan (bi quan) và hiệu quả hoạt động của công ty trong tương lai và phản ứng thị trường gia tăng đáng kể cho việc sử dụng ngôn ngữ lạc quan và bi quan trong báo cáo
kê mô tả và phân tích các thành phần ảnh hưởng đến chính sách kế toán
Chính sách về công bố thông tin có vai trò quan trọng, liên quan đến độ lớn hiện tại và tương lai của tài sản, rủi ro kiện tụng của công ty và các kế hoạch tài chính trong tương lai