1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

“Tình hình bệnh viêm đường sinh dục và thử nghiệm một số phác đồ điều trị viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại trại lợn thu hà , thuộc thôn mai thưởng xã yên sơn huyện lục nam tỉnh bắc giang”

57 232 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 432 KB
File đính kèm viêm đường sinh dục.rar (71 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nhiều năm vừa qua , chăn nuôi lợn giữ vai trò quan trọng trong ngành nông nghiệp Việt Nam. Con lợn được xếp hàng đầu trong số các vật nuôi cung cấp phần lớn thực phẩm cho con người và phân bón cho sản xuất nông nghiệp. Ngày nay chăn nuôi lợn còn có tầm quan trọng đặc biệt nữa là tăng kim ngạch xuất khẩu, đây cũng là nguồn thu nhập ngoại tệ đáng kể cho nền kinh tế quốc dân. Để cung cấp lợn giống cho nhu cầu chăn nuôi của các trại và các nông hộ thì việc phát triển đàn nái sinh sản là việc làm cần thiết. Tuy vậy, một trong những trở ngại lớn nhất của chăn nuôi lợn nái sinh sản là dịch bệnh xảy ra còn phổ biến gây nhiều thiệt hại cho đàn lợn nái , nhất là lợn ngoại được chăn nuôi theo phương thức công nghiệp thì các bệnh về sinh sản xuất hiện khá nhiều do khả năng thích nghi của đàn lợn nái ngoại với điều kiện khí hậu nước ta còn kém. Mặt khác, trong quá trình sinh đẻ, lợn nái dễ bị các loại vi khuẩn như Streptococcus,Staphylococcus, E.coli... xâm nhập và gây ra một số bệnh nhiễm trùng sau đẻ như viêm âm đạo,viêm âm môn,...đặc biệt hay gặp là viêm tử cung, đây là bệnh ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của lợn mẹ. Nếu không điều trị kịp thời , viêm tử cung có thể dẫn tới các bệnh kế phát như : viêm vú, mất sữa , rối loạn sinh sản, chậm sinh,vô sinh, viêm phú mạc đẫn đến nhiễm trùng huyết và chết... Vì vậy các bệnh đường sinh dục ,đặc biệt là viêm tử cung ở lợn nái ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đàn nái nói riêng, đồng thời ảnh hưởng đến năng suất , chất lượng , hiệu quả ngành chăn nuôi lợn nói chung. Để góp phần vào việc phòng và điều trị bệnh viêm tử cung ở lợn , tôi tiến hành nghiên cứu đề tài : “Tình hình bệnh viêm đường sinh dục và thử nghiệm một số phác đồ điều trị viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại trại lợn Thu Hà , thuộc thôn Mai Thưởng xã Yên Sơn huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang”.

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Qua thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm BắcGiang, bản thân em đã nhận được sự chỉ bảo và dạy dỗ tận tình của các thầy côgiáo Tại đây em đã được trang bị một lượng kiến thức về chuyên môn và xã hội

để khi ra trường em không còn bỡ ngỡ và có thể góp một phần sức lực nho nhỏ củamình để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước

Để hoàn thành tốt đợt thực tập tốt nghiệp được giao và hoàn chỉnh các nộidung của báo cáo tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản thân em còn nhận được sựgiúp đỡ tận tình và tâm huyết của các thầy cô giáo trong khoa chăn nuôi thú y,đặc biệt là sự hướng dẫn chu đáo của thầy T.S Đoàn Văn Soạn và sự giúp đỡ củatất cả cán bộ thú y tại trại lợn Thu Hà – thuộc thôn Mai Thưởng – xã Yên Sơn-huyện Lục Nam- tỉnh Bắc Giang

Em xin chân thành cảm ơn!

Bắc Giang, ngày tháng năm 2018

Sinh viên thực tập

Trang 2

Phần 1

PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1.1 TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI-THÚ Y.

Chăn nuôi là một ngành có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự pháttriển Kinh tế-Xã hội Đặc biệt nó giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nôngnghiệp nước ta Nó tạo ra nguồn lương thực, thực phẩm cần thiết đối với đờisống hàng ngày, không những thế mà nó còn cung cấp một số mặt hàng cho xuấtkhẩu đem lại nguồn thu cho đất nước Ngoài ra, ngành chăn nuôi còn cung cấpnguồn phân bón rất tốt cho ngành trồng trọt Chính vì thế mà hiện nay ngànhchăn nuôi đã và đang chuyển hướng cho phù hợp với sự phát triển của nền kinh

tế đất nước, bằng việc áp dụng các biện pháp KHKT công nghệ hiện đại

1.1.1 Tình hình chăn nuôi.

Chăn nuôi lợn là một hướng chính để phát triển ngành chăn nuôi của cảnước nói chung và trại CP Thu Hà - Lục Nam nói riêng Chăn nuôi lợn hiện nayđang được mở rộng theo phương thức chăn nuôi bán công nghiệp và côngnghiệp tại các trang trại có quy mô vừa và nhỏ trên địa bàn xã

Do nhu cầu thị hiếu của người dân ngày càng cao nên vấn đề chăn nuôiluôn được bà con nông dân quan tâm và đẩy mạnh để tăng năng suất từ chănnuôi lợn Bên cạnh đó thì vấn đề chất lượng đàn lợn cũng được người dân rấtchú trọng

a Cơ cấu

Cơ cấu đàn lợn của trại được thể hiện qua bảng 1.1

Trang 3

Bảng 1.1 Cơ cấu đàn lợn tại trang trại 3 năm gần đây.

(Số liệu do kỹ sư trại cung cấp)

Qua bảng 1.1 cho thấy tuy là trại mới được thành lập và đi vào sản xuấtnhưng cơ cấu đàn lợn nhìn chung luôn ổn định

- Giống lợn nuôi tại trang trại

Lợn nái: Giống lợn Yorkshire

Lợn đực giống: Giống lợn Duroc

b Tình hình thức ăn

Trong chăn nuôi thức ăn đóng vai trò rất quan trọng, có ảnh hưởng trựctiếp tới sự sinh trưởng và phát triển của đàn lợn Nhận thức được điều đó trạiluôn đảm bảo đầy đủ thức ăn về tiêu chuẩn cũng như khẩu phần thức ăn cho lợnnái, lợn con, lợn đực… để đảm bảo sự phát triển và nhằm đạt được hiệu quả cao

Thức ăn đang được và sử dụng để chăn nuôi tại trại là thức ăn hỗn hợphoàn chỉnh có đầy đủ và cân đối chất dinh dưỡng như là cám được nhập từ Công

ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam

Gồm 5 loại cám được sử dụng là:

+ Cám CP 550SF dùng cho lợn con cai sữa

+550P dùng cho lợn con tách mẹ 3 ngày đầu và lợn còi

+ Cám CP 566SF dùng cho lợn nái bầu (từ khi phối đến khi mangthai 7 tuần)

+ Cám CP 567F dùng cho lợn nái nuôi con (nái đẻ), nái bầu từ 7tuần trở lên

+ Cám CP562F dùng cho lợn nái ở chuồng cách ly

Trang 4

Thành phần dinh dưỡng của từng loại cám dành cho từng giai đoạn lợn đượctrình bày ở bảng 1.2.

Bảng 1.2 Thành phần dinh dưỡng của các loại cám được sử dụng trong trại

Tiamulin (min-max) mg 100-200 100-200 100-200 100-200

Amoxicllin (min-max) mg 150-300 150-300 150-300 150-300Photpho (min-max) % 0,4-0,9 0,5-1,0 0,5-1,0 0,5-1,0Bacitra methylene disalicylate

ép thai làm thai bi chết lưu và phải can thiệp vào quá trình sinh sản của lợn, dẫn

Trang 5

tới thời gian khai thác lợn mẹ không bền Nếu giai đoạn nái chửa quá béo dẫntới thời gian động dục trở lại cũng tăngcao,. và với các thành phần cám như vậyđáp ứng đủ yêu cầu chất dinh dưỡng cho lợn theo từng giai đoạn khác nhau, đảmbảo đầy đủ chất dinh dưỡng cho sự sinh trưởng và sinh sản của lợn.

1.1.2 Tình hình thú y

a Phòng bệnh bằng vaccine

Xác định được thiệt hại do dịch bệnh gây ra là rất lớn do vậy công tácphòng bệnh trong trại được coi trọng Trại luôn tiến hành các đợt tiêm phòngbằng vaccine cho đàn lợn theo đúng quy định

Phòng bệnh bằng vaccine có vai trò vô cùng quan trọng, ngăn chặn đượcmột số dịch bệnh xảy ra trên đàn lợn

Kết quả tiêm phòng vaccine tại cơ sở trong 3 năm gần đây:

Bảng 1.3 Kết quả tiêm phòng cho đàn gia súc của trại CP THU HÀ trong 3 năm gần đây:

Đãtiêm(con)

Tỷ lệ(%)

DILUVAC FORTE, AD, FMD

DILUVAC FORTE, AD,

Trang 6

Tỷ lệ(%)FMD

DILUVAC FORTE, AD, FMD

Lợn con 32830 CICRO,

INGELVAC MYCOFLEX

(Số liệu do kỹ sư trại cung cấp) Ghi chú: PRRS - Vaccine Tai xanh

AD - Vaccine Giả dại

PV - Vaccine Khô thai FMD - Vaccine Lở mồm long móng

SF - Vaccine Dịch tả CICRO - Vaccine virus PCV2

INGELVAC MYCOFLEX - Vaccine giảm viêm phổi do Mycoplasma gây ra

Qua bảng số liệu trên ta thấy tỷ lệ tiêm phòng là tương đối đạt từ 95-98%, vìtrại đã nhận thức được tầm quan trọng của công tác phòng bệnh Đặc biệt quan trọng đó là phòng bệnh bằng tiêm phòng vaccin nó luôn đứng hàng đầu Khi tiêm phòng những con yếu hoặc những con đang trong quá trình điều trị thì trại có kế hoạch tiêm bổ sung Vì vậy trong 3 năm vừa qua dịch bệnh gần như không còn, do trại luôn tiêm phòng vaccine và vệ sinh phòng bệnh tốt

Trang 7

Với nhận định “phòng bệnh hơn chữa bệnh”, phòng bệnh đóng vai trò chủ

yếu trong công tác thú y còn chữa bệnh chỉ là biện pháp tình thế khi dịch bệnhxảy ra Do vậy, công tác phòng bệnh được trại thực hiện rất chặt chẽ, việc vệsinh phòng bệnh được tiến hành thường xuyên, định kì theo những nội dung rất

cụ thể

Toàn bộ khu chuồng nuôi của trại đều có tường rào bao xung quanh khôngcho người và súc vật lạ ra vào Cổng ra vào khu chăn nuôi và trước cửa cácchuồng nuôi đều có hố vôi sát trùng Hàng ngày người công nhân phải thực hiện

vệ sinh chuồng trại, thu gom phân cho gia súc, khơi thông cống rãnh khu vựcchuồng nuôi đổ ra hố Bioga để xử lý, đồng thời người công nhân cũng phát hiện

và đánh dấu những con ốm tiến hành cách ly và điều trị

Hàng tuần, trại tổng vệ sinh, tẩy uế sát trùng khu vực chuồng nuôi là1lần/tuần, trong khu vực chuồng nuôi, quét mạng nhện và rắc vôi bột trên lối đilại, đổ vôi gầm chuồng đẻ và chuồng bầu trong trại, khơi thông cống rãnh

c Chữa bệnh

* Các loại bệnh đã xảy ra trong trại.

Trại chăn nuôi công nghiệp và chuyên môn hóa vì vậy quy trình vệ sinh phòngbệnh rất nghiêm ngặt Tuy nhiên do điều kiện vệ sinh chuồng trại chưa đảm bảo

và do thời tiết thay đổi đột ngột nên lợn cũng có một vài ca mắc bệnh lẻ tẻ

Trong đó những bệnh thường xảy ra ở trại như bệnh tiêu chảy, bệnh viêmphổi, viêm khớp, sót nhau và viêm sau đẻ…

Tuy nhiên những ca lẻ tẻ xảy ra nhưng có sự kiểm tra theo dõi của côngnhân chăn nuôi và của cán bộ kỹ thuật nên hầu hết các ca bệnh đều được phát hiện

và điều trị kịp thời nên tỷ lệ khỏi bệnh rất cao

*Công tác điều trị và kết quả điều trị tại cơ sở

Trang 8

Qua tìm hiểu, điều tra có bảng điều trị bệnh của trại 3 năm gân đây nhưsau:

Bảng 2.5 Tình hình dịch bệnh của trại 3 năm gần đây

Liều dùng (ml/co n)

Sô mắc bênh (con)

Tỷ lệ (%)

Kết quả điều trị Số

khỏi (con)

Tỷ lệ (%)

Số chết (con)

Tỷ lệ (%)

2015

33824

Viêmphổi

Gentatylo,Paxxcell, Floject 1-2 5240 15 5240 100 0 0Viêm tử

cung

Vetrimoxin hoặc

Viêmkhớp

Dexa+Vetrimoxin

Tiêuchảy Paxxcell, Amcoli 2 8550 25 5301 62 3249 382016

34099

Viêmphổi

Gentatylo,Paxxcell, Floject 1-2 4202 12 4202 100 0 0Viêm tử

cung

Vetrimoxin hoặc

Viêmkhớp

Dexa+Vetrimoxin

Tiêuchảy Paxxcell, Amcoli 2 7184 21 5100 71 2084 292017

33550

Viêmphổi

Gentatylo,Paxxcell, Floject 1-2 3927 12 3927 100 0 0Viêm

khớp

Dexa+Vetrimoxin

Viêm tửcung

Vetrimoxin hoặc

Tiêu

(Số liệu do kỹ sư cung cấp)

Qua bảng điều tra cho thấy tình hình dịch bệnh của trại đối đã giảm quacác năm, đối với bệnh viêm khớp, viêm tử cung, viêm phổi tỷ lệ khỏi bệnh100% Còn đối với bệnh tiêu chảy đạt tỷ lệ 93%, lợn con ở độ tuổi còn nhỏ rất

dễ bị mắc bệnh tiêu chảy, do thức ăn có độ tiêu hoá kém, không cân đối chấtdinh dưỡng, thiếu sắt và vitamin Tuy nhiên nhìn chung tình hình dịch bệnh ở

Trang 9

trại đã giảm dần qua các năm Đó là do công tác vệ sinh phòng bệnh của trạicàng ngày càng nghiêm ngặt, điều này thể hiện qua việc thực hiện đúng lịch,phun sát trùng hàng ngày, lịch phân công rắc vôi bột xung quanh khu chuồng đẻ

và ao, bên cạnh đó là công tác điều trị cũng chặt chẽ hơn

1.2 PHỤC VỤ SẢN XUẤT.

1.2.1 Công tác chăn nuôi.

Ngoài việc học tập trên sách vở thì việc tiếp thu những kinh nghiệm thực

tế cũng rất quan trọng Vì nó giúp ta không những hiểu sâu hơn về lý thuyết màcòn góp phần nâng cao tay nghề

Trong thời gian thực tập tại trại lợn Thu Hà tôi đã tiến hành trực tiếp thamgia vào sản xuất cùng với các cán bộ kỹ thuật và công nhân trong trại Mặc dùcông việc còn nhiều khó khăn, bỡ ngỡ nhưng nhờ có sự giúp đỡ nhiệt tình củacán bộ kỹ thuật và anh, em công nhân trong trại, cùng với sự nỗ lực của bản thântôi đã tiếp thu, học hỏi được rất nhiều kinh nghiệm và đã thu được một số kếtquả sau

1.2.1.1 Chọn giống.

“ Tốt nái tốt một ổ, tốt đực tốt cả đàn”, kinh nghiệm này của nhân dân ta đủ

thấy công tác chọn giống trong chăn nuôi có vai trò quan trọng quyết định đếnchất lượng đàn vật nuôi nhất là đối với cơ sở chăn nuôi lợn giống Nếu các yếu

tố đều tốt mà giống không tốt thì người chăn nuôi không thể đạt năng suất vàchất lượng cao Cho nên trong thời gian thực tập tôi đã phổ biến cho trại vềphương pháp chọn giống như sau:

* Chọn giống cần căn cứ vào đời trước và qua bản thân con giống đó

- Chọn qua đời trước: Căn cứ và so sánh lý lịch của từng nái nuôi trong trại.Đàn lợn nuôi trong trại với những loại như: Duroc, Yorkshire và các đời lai củachúng Đó đều là những giống lợn ngoại siêu nạc có tỷ lệ nạc cao và khả năngtăng trọng nhanh hiện được nuôi phổ biến ở Việt Nam và nhiều nước trên thếgiới

Trang 10

- Chọn lọc bản thân: Chọn những con nái có đặc điểm ngoại hình đặc trưngcủa giống Khi lợn đẻ ra lợn con đều được cân trọng lượng sơ sinh, cân trọnglượng sau cai sữa, nếu nái nào đẻ số con nhiều, trọng lượng sơ sinh cao thì sẽgiữ lại làm giống tiếp nếu không sẽ loại thải thay thế vào đó là những con lợnhậu bị mới mang những đặc trưng của giống.

* Lợn Duroc:

Có nguồn gốc từ Mỹ nhập vào Việt Nam năm 1976

Đặc điểm: Màu lông hung đỏ, màu vàng sẫm, đầu to, mõm ngắn, tai tohướng về phía trước

Mông vai nở nang, ngực sâu, bốn chân to cao, chắc chắn, đi móng, bốnchân có màu đen Có 15 cặp xương sườn, có khả năng chịu nóng tốt Khả năngtăng trọng 785g/ngày, nuôi 6 tháng khoảng 100kg, độ dày mỡ lưng 3,2 cm Khả năng sinh sản 1,9-2 lứa/ năm, mỗi lứa đẻ 9-10con, tỷ lệ nạc 55- 58%

* Giống lợn Yorkshire:

Giống lợn này được nhập vào Việt Nam từ năm 1964 do Liên Xô tài trợ Đặc điểm: toàn thân lợn màu trắng, tai đứng thể chất vững chắc, có số vú 12-14

vú có 15 cặp xương sườn, tỷ lệ nạc 55- 60% Trong lượng lúc trưởng thành

300-400 kg/con, mỗi năm đẻ 1,8 - 2 lứa/ năm Mỗi lứa đẻ 10- 12 con, khối lượng sơsinh trung bình 1,3-1,4kg/con

Lợn đực giống: Chọn con đực khỏe mạnh, tốt nhất trong đàn, lưng thẳng,vai cứng, bốn chân thẳng, lông mềm và thưa, da mỏng hồng hào, nhanh nhẹn,móng chân bằng, gọn, đuôi to xoắn Có 6 cặp vú đều đặn không lép Dịch hoànđều 2 bên, nổi rõ, gọn và chắc

Lợn nái sinh sản: chọn con đầu to vừa phải, cân đối với thân Mõm bẹ, mông nở,chân to, không có ngấn đai vai cổ, lưng thẳng, bụng gọn Chọn con có hàng vú

Trang 11

dọc thẳng hàng và cách đều nhau, hàng vú ngang rộng Vú chẵn, từ 12 vú trởlên.

1.2.1.2 Quy trình phối giống cho lợn nái.

Thụ tinh nhân tạo cho lợn

Các bước thực hiện kỹ thuật thụ tinh nhân tạo như sau:

- Chuẩn bị dụng cụ dẫn tinh bao gồm: Túi đựng tinh dịch, dẫn tinh quản,pank, bông Luộc sạch các dụng cụ dẫn tinh trong nước sôi 15 phút, để nguội

- Vệ sinh vùng âm hộ lợn, vuốt nhẹ vào lưng cho lợn nái đứng yên, bôivaseline vào đầu dẫn tinh quản

- làm ấm tinh dịch lên 35-37oC bằng cách cho vào nước ấm để trong 30phút đem ra phối

- Gãi, ấn nhẹ vùng mông hoặc kích thích âm hộ lợn nái để lợn đứng yên.Nhẹ nhàng đưa đầu dẫn tinh quản vào âm hộn lợn nái, hơi chếch lên phía trên,vừa đưa vào âm đạo vừa xoay ngược chiều kim đồng hồ, đồng thời một tay đặtlên lưng lợn nái ấn nhẹ kích thích cho lợn đứng yên, đưa đầu dẫn tinh quản vàođến khi có cảm giác bị cản rồi dừng lại Lắp lọ tinh bằng nhựa và bơm từ từ đểtinh dịch đi vào, để lợn nái tự hút tinh vào là tốt nhất, lúc rút ra phải xoay theochiều kim đồng hồ Thời gian phối tinh khoảng 5-10 phút

- Sau khi dẫn tinh xong đuổi lợn đực lên vào ô trống ngay sát bên cạnh náimới phối xong để kích thích quá trình thụ tinh, để trong 5 phút

1.2.1.3 Chăm sóc lợn nái mang thai.

Việc chăm sóc heo nái mang thai rất quan trọng đối với sự thành công củangười chăn.Sau khi phối 21 ngày không thấy nái động dục trở lại xem như đãmang thai Thời gian mang kéo dài từ 3 tháng + 3 tuần + 3 ngày ( trung bình từ

114 – 116 ngày) Nhưng nếu nái sinh sớm từ ngày 108 trở lại thường rất khónuôi con, dù có sữa nhưng con yếu ớt, sức bú mẹ kém và khả năng đề khángkém nên tỷ lệ nuôi sống thấp Trong thời kỳ mang thai có thể chia ra làm 2 giaiđoạn như sau: Giai đoạn chửa kỳ 1: 1-84 ngày mang thai Thời kỳ này phôi và

Trang 12

thai còn nhỏ, sử dụng ít chất trong máu của mẹ, dưỡng chất còn lại nái dùng để

dự trữ tạo sữa sau này Thiếu chất dinh dưỡng trong giai đoạn này có ảnh hưởngxấu đến sự phát triển của phôi thai như hiện tượng tiêu phôi, nái còn ít thai sốngkhi đẻ mà chứa nhiều thôi khô (thai gỗ) Thừa chất dinh dưỡng cũng dẫn đếntiêu phôi và làm nái trở nên mập mỡ Nái khi cai sữa quá gầy ốm không dự trữ

đủ dưỡng chất trong giai đoạn này sẽ thiếu sữa khi cho con bú trong lứa đẻ kếtiếp Vì vậy phải định lượng thức ăn cho nái ở giai đoạn này phải hết sức chặtchẽ

Thường trong giai đoạn mang thai kỳ một khẩu phần ăn : 1,8 -2 kg thức ăn

* Giai đoạn heo nái chửa kỳ 2 : 85 ngày – 110 ngày

Đây là thời kỳ thai đã lớn và sử dụng nhiều dưỡng chất trong máu mẹ đểphát triển Do đó việc bổ sung dưỡng chất đầy đủ trong giai đoạn này là rất quantrọng

Khác với thời kỳ 1, thời kỳ này cần cho nái vận động để có hệ cơ tốt, chânkhỏe, khung xương chậu nở rộng( đối với nái đẻ lứa đầu), nên cho nái ra sân cỏhay sân cát vận động tùy thích, tiếp xúc với môi trường tự nhiên, để tăng sức đềkháng bệnh và nhờ đó gia tăng hàm lượng kháng thể chống bệnh cho heo controng sữa đầu

Ở thời kỳ này, tầm vóc nái năng nề chuồng trại phải khô tránh mưa, giólùa, mật độ phù hợp, theo dõi kỹ bộ vú và bộ phận sinh dục, vệ sinh chuồngđẻ…

Thời kỳ này khẩu phần ăn của nái vẫn giữ nguyên như thời kỳ 1

* Giai đoạn heo nái chửa kỳ 3: 110 -116 ngày(sinh)

Lúc này nái sắp đẻ nên chuyển nái đến chuồng đẻ Khu chuồng đẻ cầnphải vệ sinh trước đó và chuẩn bị chuồng úm cho lợn con

Khẩu phần ăn của lợn trong giai đoạn này cân giảm dần cho đến lúc náiđẻ: 2,5kg – 2kg – 1,5kg – 1kg – 0,5kg – 0 Việc giảm khẩu phần ăn cho nái khigần đến ngày sinh, giúp cho bào thai không bị chèn ép và tạo stress làm cho náităng tiết hoocmon, làm nái dễ đẻ

Trang 13

Heo nái chửa rất cần chế độ dinh dưỡng đặc biệt và phù hợp nhằm đápứng cho sự phát triển của bào thai, duy trì sự hoạt động của bản thân heo mẹ vàtích lũy cho sự tiết sữa nuôi con sau này.

a Nhu cầu dinh dưỡng

Heo nái chửa trong thời gian từ 113 -116 ngày, gồm 2 giai đoạn: Giaiđoạn I (84 ngày chửa đầu) khối lượng bào thai đạt khoảng 25-30%; giai đoạn II(khoảng 30 ngày chửa cuối) bào thai phát triển nhanh, chiếm khoảng 65-70%khối lượng heo con sơ sinh Vì vậy, để heo con đạt khối lượng sơ sinh cao cầntăng khoảng 25-30% lượng thức ăn cho heo nái chửa kỳ II Thông thường, heonái chửa cần 14% tỉ lệ protein thô, 0,9% tỉ lệ canxi và 0,45% tỉ lệ phốt pho trongkhẩu phần ăn Mùa hè có thể giảm mức ăn nhưng phải tăng lượng protein từ14% lên 16%, nâng mức khoáng và vitamin trong khẩu phần

Lưu ý: Bã rượu và thức ăn ủ men có chứa chất kích thích, dễ gây sẩy thai

Vì vậy chỉ nên cho heo ăn dưới 15% trong khẩu phần

* Khẩu phần ăn của heo nái chửa:

Trong thời kỳ mang thai, heo nái cần lượng chất khoáng nhiều hơn đểphát triển hệ xương của bào thai Khi khẩu phần ăn của heo mẹ không đủ, sẽphải huy động nhiều chất khoáng từ cơ thể heo mẹ (đặc biệt là canxi và phốt pho

từ xương) để nuôi thai Vì thế, heo mẹ bị thiếu chất khoáng dễ dẫn tới bại liệt.Tuy nhiên cũng cần tránh vỗ béo heo quá mức trong giai đoạn heo gần sinh

– Chửa kỳ I: Cho ăn từ 1,8 – 2 kg/con/ngày

– Chửa kỳ II:

+ 85 – 110 ngày, cho ăn: 2 – 2,5 kg/con/ngày

+ 111 – 113 ngày, cho ăn : 2 kg/con/ngày

+ Trước khi đẻ 1 ngày – không nên cho ăn

* Mức ăn cho heo nái chờ phối và nái chửa(kg thức ăn/ ngày) (xem bảngdưới)

b Chăm sóc & Thú y

Trang 14

Tắm chải cho heo nái, tăng cường xoa bóp bầu vú để mạch máu dễ lưuthông, phát triển tuyến sữa, heo dễ quen người và dễ tiếp xúc khi đỡ đẻ, khôngtắm chải 5 ngày trước khi đẻ.

Tiêm phòng định kỳ 1 năm 2 lần (tháng 5 và tháng 10 hoặc trước khi phốigiống) các loại vắc xin dịch tả, tụ dấu, lép to, LMLM

Chú ý: Không tiêm phòng cho heo nái những loại vắc xin trên từ giai đoạnphối giống đến 30 ngày sau phối giống (trừ trường hợp có dịch bệnh xảy ra)

1.2.1.4 Chăm sóc lợn nái nuôi con.

a Chuồng trại Chuồng nuôi đảm bảo yên tĩnh, khô, sạch, ấm áp mùa

đông, thoáng mát mùa hè, có rác khô độn chuồng (nhất là mùa đông) và rác khôthay hàng ngày Sưởi ấm cho heo con trong tuần đầu mới đẻ Nhiệt độ chuồngnuôi đảm bảo: tuần tuổi đầu là 32 – 34 oC, tuần thứ 2 là 30 – 32 oC, tuần 3 là 28– 30 oC; Độ ẩm thích hợp là 65 – 70%

b Cố định đầu vú, cho heo con bú sữa đầu càng sớm càng tốt

Vì những vú vùng ngực thường có sản lượng và chất lượng sữa tốt hơn các vúvùng bụng, nên khi cho bú lần đầu sau khi đỡ đẻ, ta chọn con nhỏ, con yếu cho

bú các vú vùng ngực, con lớn, con khỏe cho bú vùng sau bụng để sau này đàncon đồng đều Phải cho heo con bú sữa đầu càng sớm càng tốt, vì sữa đầu cóhàm lượng VCK cao, dinh dưỡng cao hơn sữa thường, đặc biệt trong sữa đầucòn có chất kháng thể g globulin mà trong sữa thường không có hoặc hàm lượngkhông đáng kể Vì vậy khi cho heo con bú sữa đầu sớm, sớm tiếp nhận được

Trang 15

kháng thể g globulin để sớm chống được bệnh trong đời sống cá thể heo con, tẩyrửa “cứt su”, đồng thời sớm tiếp nhận được dinh dưỡng, chống giảm đườnghuyết ở heo con Do đó quy trình quy định cho bú sữa đầu chậm nhất 1 giờ saukhi đẻ hay càng sớm càng tốt.Heo ngoại tốt nhất nên dùng chuồng lồng để nuôi

c Tiêm Nova Fe cho heo con

Hàm lượng Fe trong máu heo con giảm nhanh sau khi đẻ, trong khi hàm ượng Fe cung cấp từ sữa heo mẹ quá thấp so với nhu cầu sinh trưởng của heocon và chỉ đáp ứng từ 30 – 40% Do vậy việc cung cấp thêm sắt cho heo conthông qua tiêm Dextran Fe cho heo con lúc 3 và 10 ngày tuổi là cần thiết (tiêm 1ml/con/lần tiêm) trong qui trình nuôi dưỡng heo con theo mẹ Đối với heo ngoại

l-có thể tiêm 1 lần vào lúc 3 ngày tuổi với liều cao (200 mg/con) Tuy nhiên lợnvẫn thường dễ mắc các bệnh về tiêu hóa mà điển hình trong giai đoạn này làbệnh heo con ỉa phân trắng Chính vì vậy ngoài việc tiêm sắt, người chăn nuôicần phải có chuồng trại tốt và đảm bảo nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp, ấm áp vàkhô ráo

d Ghép ổ cho heo con

Ở những ổ đẻ quá ít con để không lãng phí ổ đẻ của heo Khi ghép ổ chúý: không cho heo mẹ phát hiện được con lạ trong đàn, nên ghép vào buổi tối, cóthể dùng nước mùi phun lên tất cả đàn con mới và cũ Đồng thời những con đighép phải được bú sữa đầu của mẹ nó đã trước khi ghép và chú ý ghép heo con ởcác ổ có tuổi tương tự

e Tập và bổ sung thức ăn sớm cho heo con

Đây là một tiến bộ kỹ thuật có ý nghĩa thành bại đến chăn nuôi heo nái vàheo con Tập và bổ sung thức ăn sớm có tác dụng bổ sung được phần dinh dư-ỡng mà sữa mẹ thiếu kể từ sau 3 tuần tiết sữa trở đi để heo con sinh trưởng bìnhthường Tuy nhiên, đến nay nhiều trang trại chăn nuôi đã cai sữa heo con lúc 21ngày tuổi, từ đó việc tập ăn sớm cho heo con bú sữa có ý nghĩa rất quan trọng

f Tập và bổ sung thức ăn sớm cho heo con

Trang 16

Bổ sung thức ăn sớm có nhiều tác dụng cho cả lợn mẹ và cả heo con trongquá trình nuôi dưỡng Vừa có tác dụng bù đắp phần dinh dưỡng thiếu hụt theoqui luật tiết sữa của heo mẹ làm giảm sự khai thác sữa mẹ, heo mẹ ít bị hao mòntrong giai đoạn nuôi con, sớm động dục lại sau cai con, tăng số lứa đẻ trongnăm, vừa có tác dụng rèn luyện bộ máy tiêu hoá của heo con sớm hoàn thiện,sớm quen với thức ăn nhân tạo, nên khi cai sữa heo con sinh trưởng phát triêntbình thường, ít bị ỉa chảy, rối loạn tiêu hoá Từ đó, người chăn nuôi có thể giảmchí phí thức ăn, nâng cao hiệu quả kinh tế.

g Vận động

Vận động có tác dụng làm cho heo khoẻ mạnh, trao đổi chất tăng, tăngtiêu hoá thức ăn, tránh bệnh bại liệt sau khi đẻ Bên cạnh đó, vận động giúp heocon khoẻ mạnh hơn, tránh hiện tượng thiếu vitamin D Thông thường sau khi đẻ

3 – 5 ngày, chúng ta nên cho heo con vận động tự do, tránh cho chúng vận độngvào lúc thời tiết xấu Cần chuẩn bị tốt sân bãi bằng phẳng, khô ráo và sạch sẽ.Trong sân bãi có các bể nước sạch hay vòi nước cho heo uống tự do

1.2.1.5 Quản lý lợn con sau cai sữa.

a Đặc điểm và kỹ thuật cai sữa lợn con

Chỉ cai sữa cho lợn con khi lợn con đã ăn quen thức ăn tập ăn Không cai sữakhi trong đàn đang có lợn con ốm Lợn con có thể cai sữa sớm hoặc muộn phụthuộc vào thể trạng của lợn mẹ và lợn con Nên cai sữa cho lợn con trongkhoảng 28 ngày tuổi đối với lợn lai; 21 ngày đối với lợn ngoại

Trong thời gian từ 3 – 5 ngày trước khi cai sữa, hạn chế lượng thức ăn, nướcuống hàng ngày của lợn mẹ, không cho lợn mẹ ăn rau xanh và củ quả để giảmdần tiết sữa

Trước khi cai sữa lợn con từ 3 – 5 ngày, hạn chế dần số lần cho bú Thời giantách mẹ tốt nhất là vào ban ngày

Khi cai sữa, nên để lợn con lại chuồng một thời gian để tránh lợn con không bịthay đổi môi trường đột ngột và chuyển lợn mẹ đi nơi khác nếu có điều kiện

Trang 17

*Tách mẹ ra khỏi đàn

– Giảm nhẹ mức ăn của lợn con trong 3 – 4 ngày cai sữa đầu tiên để tránhtiêu chảy Không thay đổi loại thức ăn cho lợn con vào ngày cai sữa Tiếptục cho lợn con ăn thức ăn tập ăn chất lượng cao trong 20 – 30 ngày tiếp saucai sữa

– Khi lợn mẹ đã cạn sữa, cho ăn thức ăn đầy đủ dinh dưỡng, tăng lượngthức ăn cho lợn nái trong vòng 3 – 5 ngày và chuẩn bị tiếp tục cho phốigiống

– Lợn con dễ bị stress (căng thẳng) sau khi cai sữa vì thiếu lợn mẹ vàchuyển đổi khẩu phần ăn từ sữa sang thức ăn khô

– Bộ máy tiêu hoá của lợn con vẫn chưa phát triển đầy đủ Lợn rất dễ mắccác bệnh về đườngtiêu hoá

– Khả năng điều hoà thân nhiệt của lợn con còn kém Sức đề kháng của cơthể vẫn chưa cao Cần chăm sóc lợn con cẩn thận, cho ăn uống đầy đủ chấtdinh dưỡng để lợn con phát triển tốt

– Lợn con cần được vận động nhiều để phát triển thể chất

b Thức ăn và cách cho ăn

Thức ăn cho lợn con sau cai sữa phải dễ tiêu, có hàm lượng dinh dưỡng cao, đủchất, không bị ôi thiu, mốc… nên dùng thức ăn hỗn hợp cho lợn con sau cai sữa,

có thể phối trộn từ bột ngô, bột đậu tương, gạo lứt, tấm xay, bột cá nhạt, bộtxương…

Cách cho ăn khi cai sữa:

Ngày sau cai

Trang 18

Sau cai sữa, quan sát nếu không thấy hiện tượng tiêu chảy, nâng dần lượng thức

ăn theo mức ăn tăng của đàn lợn Thông thường cho lợn ăn khẩu phần ăn tự do

Máng ăn, máng uống: Cần có máng uống riêng, đặt ở độ cao thích hợp, không

để lợn con trèo vào đái, ỉa và uống phải nước bẩn mất vệ sinh Chiều dài máng

ăn khoảng 20 cm/đầu lợn và nên chia ngăn để tất cả lợn con có thể được ăn cùngmột lúc Chiều cao máng khoảng 12 – 13 cm, chiều rộng đáy khoảng 20 – 22cm

c Điều kiện chuồng nuôi

Chuồng nuôi phải khô ráo, ấm áp, được che chắn để tránh gió lùa

Những ngày đầu lợn con mới tách mẹ nên giữ nhiệt độ chuồng nuôi tươngđương với nhiệt độ chuồng nuôi trước cai sữa Nhiệt độ thích hợp cho lợn consau cai sữa từ 25 – 27°C Thay đổi đột ngột nhiệt độ chuồng nuôi sẽ rất có hạicho lợn con, đặc biệt vào mùa đông lợn dễ bị viêm phổi

Quan sát đàn lợn để biết nhiệt độ chuồng nuôi

– Lợn đủ ấm: Con nọ nằm cạnh con kia

– Lợn bị lạnh: Nằm chồng chất lên nhau, lông dựng, mình mẩy run

– Lợn bị nóng: Nằm tản mạn mỗi nơi 1 con, tăng nhịp thở

d Vệ sinh phòng bệnh

– Lợn con sau cai sữa thường gặp 2 bệnh chính là bệnh tiêu chảy và viêm phổi.Cần phòng tránh và phát hiện sớm, can thiệp kịp thời khi bị bệnh

– Đảm bảo thức ăn, nước uống và chế độ chăm sóc nuôi dưỡng hợp lý

– Vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống thường xuyên

– Không để lợn con bị lạnh, gió lùa, sàn chuồng ẩm ướt

– Tiêm phòng đầy đủ cho lợn con

1.2.2 Công tác thú y.

1.2.2.1 Trang thiết bị dụng cụ thú y.

Trang 19

trại nái Thu Hà được thành lập dưới sự kết hợp giữa nhà đầu tư và công ty cổphần CP Việt Nam, được giám sát chặt chẽ về kỹ thuật của công ty CP trại đượccung cấp đầy đủ dụng cụ trang thiết bị phục vụ cho công tác thú y

1.2.2.2 Đội ngũ thú y của trại.

- trại có 01 kỹ sư chăn nuôi, đã được đào tạo của công ty CP ViệtNam

Việc tiêm phòng cho đàn lợn của trại được tiến hành theo định kỳ hàngnăm Sau đây là kết quả tiêm phòng cho đàn lợn của trại mà tôi đã tham giatrong thời gian thực tập tốt nghiệp tại trại

Trang 20

Bảng 2.6 kết quả tiêm phòng vaccine cho đàn lợn trong thời gian thực tập

tại cơ sở.

(con)

loại bệnh /tên vaccine

Liều(ml/con)

Đã tiêm(con)

Nhận xét: Theo bảng tổng kết kết quả tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầmcủa trại ta thấy kết qủa tiêm phòng cao, là do trại nhận thức sâu sắc tầm quantrọng của việc tiêm phòng, và một phần là do công tác tổ chức tiêm phòng theolịch của công ty rõ ràng, do vậy mà kết quả tiêm phòng cao

1.2.2.4 Những bệnh thường gặp trên lợn nái tại trại.

Nái tại trại ít mắc bệnh vì trại có quy trình phòng bệnh nghiêm ngặt chủyếu bị viêm tử cung

- Phác đồ điều trị I:

+ 20ml amoxciject tiêm bắp điều trị liên tục 3-5 ngày

+ 4ml oxytocin/2 lần / ngày (sáng và chiều) tiêm liên tục 2 ngày

+ dùng amox dạng bột hòa tan với nước muối sinh lý và thụt rửa tử cungcho heo nái liên tục 4 ngày sau đẻ

- Phác đồ điều trị II:

+ 20ml amoxykey tiêm bắp điều trị liên tục 3-5 ngày

+ 4ml oxytocin/2 lần / ngày (sáng và chiều) tiêm liên tục 2 ngày

+ dùng amox dạng bột hòa tan với nước muối sinh lý và thụt rửa tử cungcho heo nái liên tục 4 ngày sau đẻ

Ngoài ra nái tại trại còn mắc hội chứng MMA trên nái sinh sản

điều trị:

+ 20ml nova anazine 20% + 20ml MD dexa tiêm bắp điều trị liên tục 3ngày

Trang 21

1.2.3 Đánh giá chung

- Trang trại có diện tích đất rộng, thoáng mát, cây cối xanh tốt, không khí

trong lành mát mẻ, có hệ thống cống rãnh dẫn thải nước tiểu tốt, công tác vệsinh xung quanh chuồng trại và bên trong trại sạch sẽ

- Cơ sở vật chất kỹ thuật được trang bị tương đối hiện đại và đồng bộ, tạođiều kiện cho việc chăm sóc nuôi dưỡng, đồng thời ngăn chặn dịch bệnhlây lan

- Ngoài diện tích chăn nuôi trại cũng có diện tích ao, hồ khá rộng

để thả cỏ, nuôi vịt, ngan để tận dụng thức ăn dư thừa của lợn và diệntích trồng rau xanh giảm cải thiện bữa ăn hàng ngày cho công nhântrong trại

- Chính quyền địa phương luôn tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ cho trangtrại hoạt động

Bên cạnh đó thì trại cũng gặp không ít những khó khăn như:

- Nguồn nước trong chăn nuôi và sinh hoạt hàng ngày của cán bộ côngnhân cũng thiếu, nhất là vào mùa khô hanh hay bị mất nước, nước sinh hoạtchưa đảm bảo vệ sinh, nước vẫn còn vẩn đục và nồng độ Clo trrong nước quácao có mùi nồng nặc khó chịu

- Mặt khác trình độ công nhân trong trại còn hạn chế, đa phần là trình độphổ thông, trung học, số người có bằng cấp về chuyên môn cũng rất ít Vì vậy,trong công việc công nhân vẫn còn thụ động, chưa sắp xếp công việc làm mộtcách khoa học

- Do thời tiết thay đổi đột ngột nên lợn mắc bệnh nhiều và nhiều loại bệnhkhác nhau như bệnh tiêu chảy, bệnh viêm phổi, viêm khớp

Trang 22

Phần 2 CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 ĐẶT VẤN ĐỀ.

2.1.1 Tính cấp thiết của đề tài.

Trong nhiều năm vừa qua , chăn nuôi lợn giữ vai trò quan trọng trong ngànhnông nghiệp Việt Nam Con lợn được xếp hàng đầu trong số các vật nuôi cung cấpphần lớn thực phẩm cho con người và phân bón cho sản xuất nông nghiệp

Ngày nay chăn nuôi lợn còn có tầm quan trọng đặc biệt nữa là tăng kimngạch xuất khẩu, đây cũng là nguồn thu nhập ngoại tệ đáng kể cho nền kinh tếquốc dân Để cung cấp lợn giống cho nhu cầu chăn nuôi của các trại và các nông

hộ thì việc phát triển đàn nái sinh sản là việc làm cần thiết

Tuy vậy, một trong những trở ngại lớn nhất của chăn nuôi lợn nái sinh sản

là dịch bệnh xảy ra còn phổ biến gây nhiều thiệt hại cho đàn lợn nái , nhất là lợnngoại được chăn nuôi theo phương thức công nghiệp thì các bệnh về sinh sảnxuất hiện khá nhiều do khả năng thích nghi của đàn lợn nái ngoại với điều kiệnkhí hậu nước ta còn kém Mặt khác, trong quá trình sinh đẻ, lợn nái dễ bị cácloại vi khuẩn như Streptococcus,Staphylococcus, E.coli xâm nhập và gây ramột số bệnh nhiễm trùng sau đẻ như viêm âm đạo,viêm âm môn, đặc biệt haygặp là viêm tử cung, đây là bệnh ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản củalợn mẹ Nếu không điều trị kịp thời , viêm tử cung có thể dẫn tới các bệnh kếphát như : viêm vú, mất sữa , rối loạn sinh sản, chậm sinh,vô sinh, viêm phúmạc đẫn đến nhiễm trùng huyết và chết Vì vậy các bệnh đường sinh dục ,đặcbiệt là viêm tử cung ở lợn nái ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đàn nái nóiriêng, đồng thời ảnh hưởng đến năng suất , chất lượng , hiệu quả ngành chănnuôi lợn nói chung

Để góp phần vào việc phòng và điều trị bệnh viêm tử cung ở lợn , tôi tiếnhành nghiên cứu đề tài :

“Tình hình bệnh viêm đường sinh dục và thử nghiệm một số phác đồ điềutrị viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại trại lợn Thu Hà , thuộc thôn MaiThưởng- xã Yên Sơn- huyện Lục Nam- tỉnh Bắc Giang”

2.1.2 Mục tiêu nghiên cứu.

Trang 23

- Điều tra tình hình chăn nuôi , vệ sinh phòng bệnh của trại.

- Điều tra tình hình mắc bệnh viêm đường sinh dục , viêm tử cung trênđàn nái ngoại được nuôi tại trang trại

2.1.3 Yêu cầu.

- Điều tra tình hình chăn nuôi của trại

- Thử nghiệm điều trị viêm tử cung và so sánh phác đồ điều trị của cơ sởlàm đối chứng, từ đó rút ra phác đồ điều trị tốt hơn

- Làm tốt thao tác thú y

2.2 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

2.2.1 Cơ sở lý luận.

2.2.1.1 Đặc điểm sinh sản của lợn nái.

2.2.1.1.1 Cấu tạo cơ quan sinh dục cái.

Cũng giống như các loài gia súc khác, cơ quan sinh dục của lợn nái gồm : bộphận sinh dục bên ngoài và bộ phận sinh dục bên trong

a Bộ phận sinh dục bên ngoài gồm: Âm môn, âm vật và tiền đình

* Âm môn : Hay còn gọi là âm hộ (Vulva) , nằm dưới hậu môn Bênngoài có hai môi (Labia Vulvae) Nối liền hai môi bằng hai mép (Bimavulvae ) Bờ trên hai môi của âm môn có sắc tố đen, nhiều tuyến tiết chất nhờn

và tuyến tiết mồ hôi

* Âm vật (Clitois), giống như dương vật được thu nhỏ lại Bên trong cócác thể hổng , trên âm vật có nếp da tạo ra mu âm vật (praepatium clitoridis)

* Tiền đình (Vestibulum vaginae sinus progenitalis), là giới hạn giữa

âm môn và âm đạo Trong tiền đình có màng trinh, phía trước màng trinh

âm môn, phía sau màng trinh là âm đạo Màng trinh có các sợi đàn hồi ởgiữa

và do hai lá niêm mạc gấp thành một nếp Sau màng trinh có lỗ niệu đạo

b Bộ phận sinh dục bên trong gồm: Âm đạo, tử cung , buồng trứng vàống dẫn trứng

* Âm đạo (Vagina), trước là cổ tử cung, phía sau là tiền đình có màng trinh (Hymen) che lỗ âm đạo Âm đạo là một ống tròn để chứa cơ quansinh dục khi giao phối, đồng thời là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình

Trang 24

liên kết với các cơ ở cổ tử cung

▪ Lớp niêm mạc: có nhiều tế bào thượng bì, gấp nếp dọc hai bên nhiềuhơn ở giữa

*Tử cung (Uterus): có cấu tạo phù hợp với chức năng phát triển và dinhdưỡng bào thai Trứng được thụ tinh ở ống dẫn trứng rồi trở về tử cung làm tổ ,

ở đây hợp tử phát triển là nhờ chất dinh dưỡng từ cơ thể mẹ thông qua lớp niêmmạc tử cung cung cấp Tử cung còn có nhiệm vụ đẩy thai ra ngoài trong quátrình sinh đẻ nhờ vào các lớp cơ

Tử cung được cấu tạo bởi ba lớp:

 Ngoài cùng là tổ chức liên kết (Perimetrium)

Lớp cơ trơn (Myometrium): giữ vai trò quan trọng trong việc đẩy thai rangoài Nó là lớp cơ trơn khỏe nhất trong cơ thể Bên trong các cơ trơn có nhữngsợi liên kết đàn hồi và tĩnh mạch lớn Các lớp cơ đó đan vào nhau làm cho tửcung chắc , tính đàn hồi cao

Lớp niêm mạc tử cung (Endometrium): màu hồng, được phủ lên bằngnhững tế bào biểu mô kéo dài thành lông nhung Xen kẽ giữa các tế bào biểu mô

là các tuyến tiết chất nhầy Chất nhầy được gạt về cổ tử cung khi các lông rungđộng

Tử cung của lợn thuộc loại tử cung phân nhánh (Uterus Bicorus) Tửcung được chia làm ba phần: cổ, thân và sừng tử cung Sừng tử cung thông vớiống dẫn trứng Cổ tử cung thông với âm đạo Tử cung nằm trong xoang chậu,phía trên là trực tràng, phía dưới là bàng quang

Tử cung lợn rất dài, trong đó thân tử cung ngắn, hai sừng tử cung dài Cổ

tử cung lợn dài, tròn, không gấp nếp dễ cho thụ tinh nhân tạo hơn trâu bò

*Buồng trứng (Ovarium), gồm một đôi Bên ngoài là một lớp màng liênkết sợi chắc như màng bao dịch hoàn, bên trong chia làm hai miền: Miền vỏ vàmiền tủy, hai miền đó được cấu tạo bằng lớp mô liên kết sợi xốp tạo ra chobuồng trứng một chất đệm (Stromaovaris) Ở miền tủy có nhiều mạch máu và tổchức xốp cũng dày hơn Miền vỏ có tác dụng về sinh dục vì ở đó xảy ra quátrình trứng chín và rụng trứng

Trang 25

*Ống dẫn trứng: Còn gọi là vòi Fallop, nằm ở màng treo buồng trứng, khi

có tinh trùng vào đường sinh dục của gia súc cái, tế bào trứng có thể bị đứng lại

ở các đoạn khác nhau của ống dẫn trứng

Ống dẫn trứng được chia thành hai đoạn:

Đoạn ống dẫn trứng phía buồng trứng, được phát triển to tạo thành mộtcái phễu để hứng tế bào trứng Loa kèn có nhiều tua, nhung mao rung động đểhứng tế bào trứng Quá trình thụ tinh thường xảy ra khi trứng và tinh trùng gặpnhau ở 1/3 phía trên ống dẫn trứng

 Đoạn ống dẫn trứng phía sừng tử cung: gắn với mút sừng tử cung.Đoạn này phía ngoài là lớp liên kết sợi, được kéo dài từ màng treo buồng trứng

Ở giữa là hai lớp cơ, cơ vòng phía trong, cơ dọc phía ngoài Trong cùng là lớpniêm mạc có lớp nhung mao luôn rung động để đẩy tế bào trứng hay hợp tửxuống tử cung làm tổ

Cấu tạo của ống dẫn trứng (vòi Fallop) gồm có phễu, phần rộng và phần

co Phễu mở ra để tiếp nhận noãn và có những sợi lông nhung để tăng diện tíchtiếp xúc với buồng trứng khi xuất noãn Phễu tiếp nối với phần rộng Phần rộngchiếm khoảng 1/2 chiều dài của ống dẫn trứng, đường kính tương đối lớn và mặttrong có nhiều nếp gấp với tế bào biểu mô có lông nhỏ Phần eo nối tiếp phầnsừng tử cung, nó có thành dày hơn phần rộng và ít nếp gấp hơn

Vai trò cơ bản của ống dẫn trứng là vận chuyển trứng và tinh trùng đếnnơi thụ tinh trong ống dẫn trứng (1/3 phía trên ống dẫn trứng), tiết các chất đểnuôi dưỡng trứng, duy trì sự sống và tăng khả năng sống của tinh trùng, tiết cácchất nuôi dưỡng phôi trong vài ngày trước khi phôi đi vào tử cung

2.2.1.1.2 Đặc điểm sinh lý sinh dục lợn nái.

2.2.1.1.2.1 Sự thành thục về tính.

Khi cơ quan sinh dục của gia súc cái phát triển đến mức độ hoàn thiện,buồng trứng có bao noãn chín, có trứng rụng và trứng có khả năng thụ thai, tửcung biến đổi theo, đủ điều kiện cho thai phát triển trong tử cung Những dấuhiệu động dục xuất hiện đối với gia súc như vậy gọi là sự thành thục về tính và

sự thành thục về tính thường đến sớm hơn sự thành thục về thể vóc

Trang 26

Theo A.A Xuxoep (1985) [1] sự thành thục của gia súc được đặc trưng bởinhững thay đổi bên trong và bên ngoài cơ thể, đặc biệt là sự biến đổi bên trongcủa cơ quan sinh dục.

Tùy thuộc vào từng loài gia súc khác nhau mà thời gian thành thục về tínhkhác nhau Tuổi thành thục về tính của lợn khoảng 6 tháng, giới hạn giao động

từ 4-8 tháng Theo Trần Tiến Dũng và cộng sự (2002) [11] ở lợn tuổi thành thụctính là 6-8 tháng

Mặt khác, tuổi thành thục tính sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc Vì vậy

để đảm bảo sự sinh trưởng và phẩm chất giống ở thế hệ sau nên cho gia súc giaophối sau khi đã hoàn toàn thành thục về tính và trước thời gian thành thục về thểvóc Tuy nhiên, không nên cho lợn phối giống quá muộn vì nó ảnh hưởng đếnthế hệ sau của chúng Theo Phạm Hữu Danh – Lưu Kỳ (1994) [6] thì tuổi phốigiống lần đầu cho lợn cái tốt nhất là lúc 8 tháng tuổi và khối lượng là ≥70 kghoặc ở 9 tháng tuổi với khối lượng là 80-90 kg

Các yếu tố ảnh hưởng đến tuổi thành thục về tính:

* Giống: các giống gia súc khác nhau thì tuổi thành thục về tính cũngkhác nhau, sự thành thục về tính ở những gia súc có tầm vóc nhỏ thường sớmhơn gia súc có tầm vóc lớn Các giống lợn nội tuổi thành thục về tính là 4-5tháng, các giống lợn Landrace, Yorkshire tuổi thành thục về tính là 6-7 tháng

Theo Phạm Hữu Doanh và cộng sự (1985) thì tuổi thành thục về tính ởlợn lại muộn hơn lợn cái nội thuần chủng (Ỉ, Móng Cái ) thường ở tháng thứ 4,thứ 5 (120- 150 ngày tuổi ) Lợn F1 thường động dục lần đầu ở 6 tháng tuổi, lợnngoại 6-8 tháng tuổi

* Dinh dưỡng và cách thức nuôi dưỡng:

Nguyễn Tấn Anh (1998), [3], cho biết kinh nghiệm từ thực tiễn chăn nuôiHoa Kỳ, để duy trì năng suất sinh sản cao thì cần chú ý tới nhu cầu dinh dưỡng

và cách thức nuôi dưỡng Cho ăn tự do đến khi đạt khối lượng 80- 90 kg, sau đócho ăn hạn chế đến lúc phổi giống (ở chu kỳ động dục thứ 2 hoặc thứ 3)

Hoặc có thể điều chỉnh để khối lượng cơ thể đạt 120- 140 kg ở chu kỳđộng dục thứ 3 và cho phối giống Trước khi phối giống 14 ngày cho ăn chế độ

Trang 27

kích dục, tăng lượng thức ăn từ 1- 1,5 kg, có nổ sung khoáng và sinh tố chỉ trong

14 ngày, sẽ giúp lợn nái ăn được nhiều hơn và tăng số trứng rụng từ 2- 2,1trứng / lần động dục / nái

*Sự kích thích của con đực cũng ảnh hưởng đến tuổi thành thục về tínhcủa lợn cái hậu bị:

Cách ly lợn cái hậu bị (ngoài 5 tháng tuổi) khỏi lợn đực sẽ dẫn đến làmchậm trễ sự thành thục so với những lợn nái hậu bị cùng độ tuổi được tiếp xúcvới con đực Theo Paul Hughes (1996) [1], nếu cho lợn nái hậu bị tiếp xúc vớilợn đực 2 lần / ngày với thời gian từ 15 – 20 phút/lần thì 83% lợn nái (ngoài 90

kg thể trọng) động dục lúc 165 ngày tuổi

2.2.1.1.2.2 Chu kỳ động dục ( chu kỳ tính).

Khi gia súc thành thục về tính thì cơ thể con cái đặc biệt là cơ quan sinhdục có sự biến đổi, đồng thời có rụng trứng, trứng phát triển nhờ quá trình điềukhiển của hocmon thùy trước tuyến yên làm trứng chín và rụng một cách có chu

kỳ, con vật biểu hiện bằng những triệu chứng động dục theo chu kỳ được gọi làchu kỳ tính (K Sato và Junichi Mori, 1992)

Chu kỳ tính có sự khác nhau giữa các loài, thời gian kéo dài chu kỳ giữacác loài cũng có sự khác nhau Ở thời gian đầu, do mới có sự thành thục về tínhnên chu kỳ chưa ổn định, phải sau 2-3 chu kỳ tiếp theo mới có được sự ổn định

Theo Trần Tiến Dũng và cộng sự (2002) [11] , lợn động dục không theomùa, chu kỳ sinh dục thường là 21 ngày, thời gian dao động từ 18-22 ngày

Nguyễn Văn Thành (2002) [13] cho rằng: chu kỳ động dục của lợn liênquan chặt chẽ với quá trình điều hòa kích tố trong cơ thể, và chịu sự điều khiểncủa hệ thống thần kinh thể dịch

Chu kỳ động dục là khoảng thời gian giữa 2 lần động dục và nó chia làm

4 giai đoạn sau:

a giai đoạn trước động dục (Preoestrus)

Đây là giai đoạn đầu của chu kỳ sinh dục, nó xuất hiện đầy đủ các hoạtđộng về sinh lý, tính thành thục trong đó sự phát triển noãn bao thành thục nổi

rõ lên bề mặt buồng trứng, buồng trứng to hơn bình thường, các tế bào của váchống dẫn trứng tăng sinh, số lượng lông nhung tăng lên Đường sinh dục xung

Trang 28

huyết, nhu động sừng tử cung tăng, các dịch nhầy ở âm đạo nhiều, niêm dịch cổ

tử cung tiết ra, kích thích cho cổ tử cung hé mở, bộ phận sinh dục phù thũng,niêm dịch ở đường sinh dục chảy ra nhiều, con vật bắt đầu xuất hiện tính dục.Giai đoạn này ở lợn kéo dài từ 1- 2 ngày

Tất cả những biến đổi đó tạo điều kiện thuận lợi cho tinh trùng vào đườngsinh dục cái để thụ tinh với tế bào trứng

b Giai đoạn động dục (Oestrus)

Là giai đoạn tiếp theo thường kéo dài từ 2- 3 ngày Trong giai đoạn nàynhững biến đổi về sinh lý so với giai đoạn trước động dục càng rõ ràng hơn Bênngoài âm hộ phù thũng, niêm mạc xung huyết, niêm dịch trong suốt từ âm đạochảy ra nhiều Cuối giai đoạn này tính hưng phấn của con vật cao độ, gia súc ởtrạng thái không yên tĩnh, ăn uống giảm rõ, kêu rống, phá chuồng, đứng ngẩnngơ, nhảy lên lưng con khác hay để con khác nhảy lên lưng, đái rắt, thích gầncon đực, xuất hiện các tư thế của phản xạ giao phối Sau đó khoảng 20 giờ thìtrứng mới bắt đầu rụng, thời gian trứng rụng kéo dài từ 4- 6 giờ, số trứng rụngmỗi lần từ 8- 25 trứng hoặc hơn

Giai đoạn này nếu tế bào trứng ra khỏi buồng trứng gặp tinh trùng vàđược thụ thai thì chu kỳ sinh dục sẽ ngừng lại, gia súc cái ở giai đoạn có thai vàđến một thời gian sau khi sinh đẻ xong chu kỳ tính mới xuất hiện trở lại Trườnghợp tế bào trứng không được thụ thai thì nó sẽ chuyển sang giai đoạn sau chu

kỳ

c Giai đoạn sau động dục (Metoestrus)

Được tính từ khi kết thúc động dục, thường kéo dài từ 3- 4 ngày, hoạtđộng sinh lý bắt đầu lắng xuống, con vật dần trở lại trạng thái sinh lý bìnhthường, rồi chuyển sang giai đoạn yên tĩnh làm giảm tiếp hocmon Oestrogen, từ

đó làm giảm hưng phấn thần kinh, ức chế sự tăng và tiết thể dịch, làm cho convật trở nên bình thường, chuyển sang giai đoạn yên tĩnh

d Giai đoạn yên tĩnh (dioestrus)

Là giai đoạn chiếm phần lớn chu kỳ động dục, bắt đầu từ ngày thứ 4 saukhi trứng rụng và không được thụ tinh, kết thúc sau khi thể vàng tiêu hủy không

Ngày đăng: 07/12/2018, 12:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w