Tuy nhiên, cả hai nghiên cứu này đều phân tích tác động của một loại thiên tai duy nhất đến tình trạng sức khỏe của người dân ở các tỉnh/thành phố cụ thể phạm vi không gian nghiên cứu hẹ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
- -
LÊ MỸ KIM
TÁC ĐỘNG CỦA THIÊN TAI ĐẾN TÌNH TRẠNG SỨC KHỎE NGƯỜI DÂN VÀ TRẺ EM Ở KHU
VỰC NÔNG THÔN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh - Năm 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
- -
LÊ MỸ KIM
TÁC ĐỘNG CỦA THIÊN TAI ĐẾN TÌNH TRẠNG SỨC KHỎE NGƯỜI DÂN VÀ TRẺ EM Ở KHU
VỰC NÔNG THÔN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 8310105
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS VÕ TẤT THẮNG
TP Hồ Chí Minh - Năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Tác động của thiên tai đến tình trạng sức khỏe
người dân ở khu vực nông thôn Việt Nam” là công trình nghiên cứu khoa học của
riêng tôi Các thông tin và số liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định Kết quả nghiên cứu của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác cho
tới thời điểm hiện tại
TP Hồ Chí Minh, tháng 08 năm 2018
Học viên
Lê Mỹ Kim
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH VẼ
TÓM TẮT LUẬN VĂN
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.4 Cấu trúc của luận văn 4
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 5
2.1 Lược khảo lý thuyết 5
2.1.1 Các khái niệm liên quan 5
2.1.1.1 Thiên tai 5
2.1.1.2 Các chỉ số phát triển ở trẻ em 6
2.1.2 Khung lý thuyết 7
2.2 Lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm liên quan 10
2.2.1 Tác động của thiên tai đến thu nhập của hộ gia đình 11
2.2.2 Tác động của thiên tai đến chi tiêu của của hộ gia đình 12
2.2.3 Tác động của thiên tai đến sức khỏe trẻ em 15
2.2.4 Tác động của thiên tai đến sức khỏe của các thành viên hộ gia đình 17
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Khung phân tích 20
3.2 Mô hình phân tích 22
3.3 Phương pháp kinh tế lượng 27
Trang 53.3.1 Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến 27
3.3.2 Mô hình Logit 29
3.3.3 Các khuyết tật của mô hình 30
3.4 Dữ liệu nghiên cứu 32
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
4.1 Tổng quan về tình hình thiên tai ở Việt Nam 34
4.2 Thống kê mô tả 38
4.2.1 Mẫu dữ liệu 1 38
4.2.2 Mẫu dữ liệu 2 40
4.2.3 Mẫu dữ liệu 3 43
4.3 Kết quả kiểm định khuyết tật 46
4.3.1 Đa cộng tuyến 46
4.3.2 Phương sai sai số thay đổi 47
4.3.3 Nội sinh 47
4.4 Kết quả hồi quy 48
4.4.1 Tác động của thiên tai đến sức khỏe của các thành viên trong hộ 48
4.4.2 Tác động của thiên tai đến chi tiêu y tế của các hộ gia đình 49
4.4.3 Tác động của thiên tai đến tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em 52
4.5 Thảo luận kết quả nghiên cứu 59
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 61
5.1 Kết luận 61
5.2 Hàm ý chính sách 63
5.3 Hạn chế của đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo 64 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CDC Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ CEM Trung tâm Quan trắc môi trường Việt Nam
CRED Trung tâm nghiên cứu dịch tễ học về thiên tai
DMC Trung tâm phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
GSO Tổng cục thống kê Việt Nam
HAZ Chỉ số Z chiều cao theo tuổi
MICS Điều tra đánh giá các mục tiêu về trẻ em và phụ nữ Việt Nam OLS Phương pháp bình phương nhỏ nhất
UNICEF Quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc
VHLSS Điều tra khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam
VIF Hệ số phóng đại phương sai
WAZ Chỉ số Z cân nặng theo tuổi
WHO Tổ chức Y tế thế giới
WHZ Chỉ số Z cân nặng theo chiều cao
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 4.1 Thống kê mô tả các biến số trong mẫu dữ liệu 1 39
Bảng 4.2 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mẫu dữ liệu 1 40
Bảng 4.3 Thống kê mô tả các biến số trong mẫu dữ liệu 2 41
Bảng 4.4 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mẫu dữ liệu 2 43
Bảng 4.5 Thống kê mô tả các biến số trong mẫu dữ liệu 3 44
Bảng 4.6 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mẫu dữ liệu 3 46
Bảng 4.7 Hệ số VIF của các biến trong mô hình sức khỏe trẻ em 48
Bảng 4.8 Kết quả hồi quy logit cho xác suất bị bệnh của các thành viên trong hộ 49 Bảng 4.9 Kết quả hồi quy OLS cho chi tiêu y tế của các hộ gia đình 51
Bảng 4.10 Kết quả hồi quy OLS cho chỉ số chiều cao theo tuổi (HAZ) ở trẻ em 54
Bảng 4.11 Kết quả hồi quy OLS cho chỉ số cân nặng theo tuổi (WAZ) ở trẻ em 56
Bảng 4.12 Kết quả hồi quy OLS cho chỉ số cân nặng theo chiều cao (WHZ) ở trẻ em 58
Trang 8DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2.1 Khung lý thuyết cho mối quan hệ giữa thiên tai và sức khỏe 8
Hình 3.1 Khung phân tích 21
Hình 3.2 Đồ thị minh họa cho phương sai sai số thay đổi 32
Hình 4.1 Số lượng thiên tai ở một số nước Đông Nam Á (2010-2017) 35
Hình 4.2 Thiệt hại về người và tài sản do thiên tai gây ra giai đoạn 2011-2017 36
Hình 4.3 Đồ thị phân phối cho biến chi tiêu y tế 44
Hình 4.4 Đồ thị phân phối của biến WHZ 47
Trang 9TÓM TẮT LUẬN VĂN
Nghiên cứu nhằm mục đích ước tính tác động của các loại thiên tai phổ biến như bão, hạn hán và lũ lụt đến sức khỏe và chi tiêu y tế của các hộ gia đình ở vùng nông thôn Việt Nam Nghiên cứu có ba mục tiêu cụ thể: Mục tiêu thứ nhất là đo lường ảnh hưởng của thiên tai đến xác suất mắc bệnh của các thành viên trong hộ gia đình Nếu thiên tai có tác động đến xác suất mắc bệnh của các thành viên trong hộ thì liệu
có dẫn đến những thay đổi trong chi tiêu y tế của những hộ này hay không? và nếu
có thì thay đổi như thế nào? Vì vậy, mục tiêu nghiên cứu thứ hai là ước tính tác động của thiên tai đến chi tiêu y tế của các hộ gia đình Mục tiêu thứ ba là đánh giá tác động của thiên tai đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi Để đạt được các mục tiêu trên, tác giả sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến và mô hình logistic để phân tích dữ liệu chéo từ cuộc Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS 2012 và VHLSS 2016) kết hợp với dữ liệu từ cuộc Điều tra đánh giá các mục tiêu về trẻ em và phụ nữ ở Việt Nam năm 2011 (MICS 4)
Kết quả cho thấy, bão và hạn hán đều có ảnh hưởng tiêu cực đến tình trạng sức khỏe của người dân ở vùng nông thôn Việt Nam nhưng mức độ tác động của bão và hạn hán là không giống nhau Cụ thể, những người sống ở khu vực chịu ảnh hưởng của hạn hán và bão có xác suất bị bệnh cao hơn so với những người sống ở vùng không chịu ảnh hưởng lần lượt là 1,34 điểm % và 0,78 điểm %, gia tăng gánh nặng tài chính cho các hộ gia đình do phát sinh các khoản chi phí khám chữa bệnh Kết quả hồi quy cho thấy, khi xác xuất bị bệnh tăng 1 điểm % thì mức chi tiêu y tế của
hộ gia đình tăng lên 1,09 điểm % và những hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi lũ có mức chi tiêu y tế cao hơn những hộ không bị ảnh hưởng là 11,34 điểm % Ngoài ra, thiên tai cũng có tác động tiêu cực đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ vì làm giảm điểm z-score của các chỉ số HAZ, WAZ và WHZ Những kết quả từ nghiên cứu này có thể cung cấp thông tin hữu ích làm cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách cũng như các cơ quan quản lý rủi ro thiên tai Việt Nam đề xuất các giải pháp nhằm quản lý, phòng ngừa và khắc phục hậu quả thiên tai cho vấn đề sức khỏe người dân, đặc biệt
là sức khỏe của trẻ em một cách hữu hiệu nhất
Trang 10CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề
Theo World Bank (2017), hàng năm có hơn 70% dân số Việt Nam phải đối mặt với những rủi ro do các thảm họa thiên tai mang lại Thiên tai có tác động đến mọi mặt đời sống kinh tế-xã hội của người dân như gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản, phá hủy mùa màng, ảnh hưởng đến mức thu nhập, chi tiêu, sinh kế, sức khỏe, giáo dục và các vấn đề xã hội khác Ước tính trung bình mỗi năm thiên tai làm cho hơn 300 người thiệt mạng và mất tích, gây thiệt hại về kinh tế khoảng 1-1,5% GDP và có thể lên đến 4% GDP trong những trường hợp thiên tai lớn, trong
đó nông nghiệp là ngành dễ bị tổn thương nhất Theo số liệu thống kê, trong 20 năm qua tổng số người chết do thiên tai lên đến 13.000 người và tổng mức thiệt hại về kinh tế là 6,4 tỷ USD Nếu chỉ tính riêng cho năm 2016 thì thiên tai đã làm cho 264 người thiệt mạng và mất tích, 431 người bị thương, 5.431 ngôi nhà bị sập, 364.997 ngôi nhà bị hư hại, 828.661 ha diện tích lúa và hoa màu bị thiệt hại và hàng trăm triệu mét khối đất đá, giao thông, thủy lợi, đê kè bị sạc lỡ gây tổng thiệt hại về kinh
tế khoảng 39.726 tỷ đồng
Bên cạnh đó, thiên tai cũng ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống và sức khỏe của người dân Việt Nam Vì bão, lũ lụt thường cuốn trôi và hòa tan nhiều chất bẩn tích tụ trong mùa khô hay các chất thải từ các bãi rác, các chất hóa học từ kho chứa thuốc bảo vệ thực vật, làm ô nhiễm nguồn nước, gia tăng lượng sinh vật gây bệnh
ở các vùng bị ngập lụt lâu ngày, đồng thời làm cho thức ăn bị nhiễm bẩn Như vậy, thiếu nguồn nước sạch là nguyên nhân chính dẫn đến việc sinh hoạt không đảm bảo được an toàn vệ sinh, làm tăng nguy cơ bùng phát các dịch bệnh như sốt rét, sốt xuất huyết, viêm não, cúm, các bệnh về đường ruột và suy dinh dưỡng (Roger Few
et al., 2007, Bộ Y tế, 2015, CEM, 2016) Trong báo cáo của Roger Few et al (2007), các nhân viên y tế ở thành phố Cao Lãnh - tỉnh Đồng Tháp cho biết tỷ lệ người mắc bệnh tiêu chảy tăng lên khoảng 20% vào mùa lũ, CEM (2016) cũng dẫn chứng rằng tại huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình đã xảy ra dịch mắt đỏ lây lan ở
Trang 11các xã vùng bị ngập lụt như Thượng Hóa, Trung Hóa, và có hơn 200 trường hợp bị nhiễm bệnh Dù Bộ Y tế luôn có kế hoạch ứng phó với tình hình dịch bệnh sau thiên tai nhưng công tác khám chữa bệnh và phòng dịch gặp rất nhiều khó khăn do cơ sở vật chất của các trung tâm y tế địa phương bị thiên tai tàn phá, thiếu thốn phương tiện và nhân lực trong việc phòng chống dịch bệnh Hơn nữa, biến đổi khí hậu diễn
ra ngày càng nghiêm trọng cùng với sự gia tăng các hoạt động kinh tế ở Việt Nam khiến cho tình hình thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp theo hướng tăng cả về tần suất lẫn cường độ nên mức độ ảnh hưởng của thiên tai đến sức khỏe người dân cũng
sẽ nghiêm trọng hơn (CEM, 2016, Ban chỉ đạo TW về PCTT, 2018)
Trên thế giới, nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã được tiến hành và tìm thấy mối quan hệ giữa thiên tai và tình trạng sức khỏe người dân tại nhiều nước khác nhau Thiên tai có thể trực tiếp gây ra bệnh tật do điều kiện môi trường sống không đảm bảo hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến chi tiêu cho thực phẩm và y tế dẫn đến không đảm bảo được chế độ dinh dưỡng và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho gia đình (Campanella, 1999, Goenjian et al., 2001, Van Griensven et al., 2006, Watson et al.,
2007, Callaghan et al., 2007, Bich et al., 2011, Lohmann and Lechtenfeld, 2015)
Cụ thể, điều kiện thời tiết nắng nóng là môi trường thuật lợi cho các loại sâu bọ tồn tại, sinh sản và phát triển, đặc biệt là các sinh vật gây bệnh, làm gia tăng khả năng xảy ra dịch bệnh trên diện rộng (Kovats et al., 2003, Chase and Knight, 2003) Đồng thời, hạn hán và lũ lụt cũng làm tăng tỷ lệ mắc một số bệnh đường ruột do tình trạng xuống cấp nước uống, nguồn thực phẩm nhiễm bẩn không đảm bảo được
an toàn vệ sinh (World Bank 2010b, CDC, 2010) Ngoài ra, thiên tai làm giảm sản lượng nông nghiệp và thức ăn cho gia súc (World Bank 2010b, CDC, 2010, Warner and van der Geest, 2013, Gaurav, 2015) dẫn đến sụt giảm thu nhập nông nghiệp, điều này không chỉ trực tiếp làm suy giảm nguồn thực phẩm và các chất dinh dưỡng
cơ bản mà các hộ gia đình có thể tự cung cấp cho mình thông qua hoạt động sản xuất nông nghiệp mà còn làm giảm khả năng đảm bảo lượng dinh dưỡng cần thiết thông qua tiêu dùng thực phẩm trên thị trường, gia tăng tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em, suy giảm hệ miễn dịch và thể chất cho các thành viên trong hộ (Foster,
Trang 121995, Jensen, 2000, Del Ninno and Lundberg, 2005, Alderman et al., 2006, Baez and Santos, 2007, Cord et al., 2008, Baez et al., 2010, Groppo and Kraehnert, 2016).
Nhưng hầu như có rất ít nghiên cứu về mối quan hệ giữa thiên tai và tình trạng sức khỏe người dân trong bối cảnh của Việt Nam Theo tổng quan của tác giả, chỉ
có hai nghiên cứu của Bich et al (2011) và Lohmann and Lechtenfeld (2015) kiểm tra mối quan hệ trên Tuy nhiên, cả hai nghiên cứu này đều phân tích tác động của một loại thiên tai duy nhất đến tình trạng sức khỏe của người dân ở các tỉnh/thành phố cụ thể (phạm vi không gian nghiên cứu hẹp), trong đó Bich et al (2011) sử dụng phương pháp khá đơn giản là thống kê mô tả để phân tích dữ liệu Thêm nữa
là chưa có nghiên cứu nào thực hiện với đối tượng trẻ em, do đó chưa có nghiên cứu nào trả lời câu hỏi liệu thiên tai có tác động đến sức khỏe, cụ thể là tình trạng dinh
dưỡng ở trẻ em hay không Với những lý do trên, nghiên cứu “Tác động của thiên
tai đến tình trạng sức khỏe người dân ở khu vực nông thôn Việt Nam” sẽ được
tiến hành để tìm ra câu trả lời cho những mối quan hệ trên Nghiên cứu này không chỉ điều tra tác động của các loại thiên tai đến xác suất bị bệnh của các thành viên trong hộ gia đình, mà còn tiếp tục kiểm tra xem thiên tai tác động đến chi tiêu y tế của hộ gia đình như thế nào trong trường hợp thiên tai có ảnh hưởng đến xác suất bị bệnh của các thành viên trong hộ Đặc biệt, nghiên cứu cũng sẽ tập trung đánh giá tác động của thiên tai đến tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi (đối tượng dễ
bị tổn thương) Đây là nghiên cứu có ý nghĩa về mặt chính sách, nếu nghiên cứu tìm
ra tác động tiêu cực của thiên tai đến tình trạng sức khỏe của các đối tượng nghiên cứu thì sẽ tạo cơ sở giúp các nhà làm chính sách đề xuất những giải pháp nhằm quản lý, phòng ngừa và khắc phục hậu quả thiên tai để giảm nhẹ rủi ro sức khỏe người dân một cách hữu hiệu nhất
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát mà nghiên cứu hướng đến là phân tích tác động của thiên tai đến sức khỏe người dân và trẻ em ở khu vực nông thôn Việt Nam Trong đó, nghiên cứu sẽ tập trung vào ba mục tiêu cụ thể: Thứ nhất là phân tích tác động của thiên tai
Trang 13đến xác suất mắc bệnh của các thành viên trong hộ gia đình Thứ hai là phân tích tác động của thiên tai đến chi tiêu y tế của các hộ gia đình Và thứ ba là phân tích tác động của thiên tai đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi Để thực hiện được các mục tiêu đề ra, nghiên cứu sẽ tiến hành trả lời ba câu hỏi sau:
- Thiên tai có tác động đến xác suất mắc bệnh của các thành viên trong hộ gia đình ở khu vực nông thôn Việt Nam hay không?
- Thiên tai có tác động đến chi tiêu y tế của các hộ gia đình ở khu vực nông thôn Việt Nam hay không?
- Thiên tai có tác động đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi ở khu vực nông thôn Việt Nam hay không?
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Tùy vào mục tiêu nghiên cứu cụ thể mà đối tượng và phạm vi nghiên cứu sẽ có
sự thay đổi tương ứng Để thực hiện mục tiêu thứ nhất và thứ hai thì đối tượng chính mà nghiên cứu hướng đến là hộ và các cá nhân trong hộ, với không gian nghiên cứu là khu vực nông thôn Việt Nam và thời gian nghiên cứu là năm 2016 Với mục tiêu thứ ba thì đối tượng nghiên cứu là trẻ em dưới 5 tuổi, không gian nghiên cứu là khu vực nông thôn Việt Nam và thời gian nghiên cứu là năm 2011
1.4 Cấu trúc của luận văn
Luận văn được cấu trúc thành 5 chương Chương 1 giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu như trình bày lý do vì sao lựa chọn chủ đề nghiên cứu, giới thiệu mục tiêu, đối tượng, phạm vi và kết cấu của nghiên cứu Chương 2 trình bày tổng quan các ý tưởng chính về cơ sở lý thuyết cho mối quan hệ giữa thiên tai và sức khỏe con người, đồng thời lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm cùng chủ đề đã được thực hiện ở trong và ngoài nước và đề xuất khung lý thuyết cho phân tích Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu được áp dụng trong phân tích và mô tả dữ liệu
mà nghiên cứu sử dụng Chương 4 trình bày kết quả tác động của thiên tai đến tình trạng sức khỏe của người dân và trẻ em ở khu vực nông thôn Việt Nam Chương 5 kết luận và đưa ra các gợi ý chính sách
Trang 14CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2.1 Lược khảo lý thuyết
2.1.1 Các khái niệm liên quan
2.1.1.1 Thiên tai
Theo Luật Phòng, chống thiên tai Việt Nam năm 2013, “Thiên tai là hiện tượng
tự nhiên bất thường có thể gây thiệt hại về người, tài sản, môi trường, điều kiện sống và các hoạt động kinh tế - xã hội, bao gồm: bão, áp thấp nhiệt đới, lốc, sét, mưa lớn, lũ, lũ quét, ngập lụt, sạt lở đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, nước dâng, xâm nhập mặn, nắng nóng, hạn hán, rét hại, mưa đá, sương muối, động đất, sóng thần và các loại thiên tai khác”
Một định nghĩa tương tự về thiên tai cũng được đưa ra bởi Trung tâm phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai như sau: “Thiên tai là quá trình hay hiện tượng tự nhiên
có thể gây chết người, thương tích hoặc các tác động khác tới sức khỏe, gây thiệt hại về tài sản, sinh kế và các dịch vụ, làm gián đoạn các hoạt động kinh tế - xã hội, hoặc gây thiệt hại về môi trường” Các loại hình thiên tai gồm: Lũ, lũ quét, ngập lụt, bão, áp thấp nhiệt đới, mưa lớn, lốc, sét, sạt lở đất do mưa lũ, động đất, sóng thần, nước dâng, hạn hán, nắng nóng, rét hại, mưa đá, sương muối, sụt lún đất do mưa lũ hoặc xâm nhập mặn (DMC, 2018)
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chỉ đề cập đến ba loại thiên tai phổ biến ở Việt Nam là bão, lũ lụt và hạn hán Và được định nghĩa như sau: Theo DMC (2018), “Bão là một xoáy thuận nhiệt đới có sức gió mạnh nhất từ cấp 8 trở lên và
có thể có gió giật Bão có sức gió mạnh nhất từ cấp 10 đến cấp 11 gọi là bão mạnh,
từ cấp 12 đến cấp 15 gọi là bão rất mạnh, từ cấp 16 trở lên gọi là siêu bão” Lũ được định nghĩa là “hiện tượng mực nước sông dâng cao trong khoảng thời gian nhất định, sau đó xuống” Và hạn hán được định nghĩa là “hiện tượng thiếu nước nghiêm trọng xảy ra trong thời gian dài do không có mưa và cạn kiệt nguồn nước” Định nghĩa của những loại thiên tai khác cũng có thể tìm thấy trên Website của Trung tâm phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai
Trang 15Một định nghĩa khác về thiên tai được đưa ra bởi Trung tâm nghiên cứu dịch tễ học về thiên tai như sau: Thiên tai là một sự kiện bất ngờ, phá hủy và gây ra những thiệt hại hoặc tổn thương lớn cho con người, phải cần đến sự trợ giúp ở cấp quốc gia hoặc quốc tế Có 3 tiêu chí để xác định một sự kiện là thiên tai: (1) 10 người trở lên được báo cáo là bị thiệt mạng; (2) 100 người trở lên được báo cáo là bị ảnh hưởng; (3) Cần sự trợ giúp của quốc tế hoặc tình trạng khẩn cấp được công bố (CRED, 2013) Có nhiều định nghĩa về thiên tai được đưa ra, tuy nhiên nghiên cứu này chỉ
sử dụng một định nghĩa thiên tai duy nhất của Trung tâm phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai
2.1.1.2 Các chỉ số phát triển ở trẻ em
WHO (2008) đã đưa ra diễn giải chi tiết cho các chỉ số phát triển ở trẻ em như sau: Chiều cao theo độ tuổi (Lengtht/Height for age z-score) là chỉ số phản ánh sự tăng trưởng về chiều dài hoặc chiều cao của trẻ em theo từng độ tuổi Chỉ số này là
cơ sở để xác định một trẻ em có bị còi cọc (dưới chiều cao trung bình) do suy dinh dưỡng kéo dài hoặc do bệnh tật thường xuyên hay không Đồng thời, chỉ số này cũng có thể xác định được những trẻ em có chiều cao cao hơn so với độ tuổi, nhưng chiều cao hiếm khi là vấn đề trừ khi nó quá mức và phản ánh các rối loạn nội tiết khác thường
Cân nặng theo độ tuổi (Weight for age z-score) là chỉ số phản ánh trọng lượng cơ
thể so với độ tuổi của trẻ em Chỉ số này được sử dụng để đánh giá xem trẻ em có bị thiếu cân hoặc thiếu cân nghiêm trọng hay không, nhưng không được sử dụng để phân loại trẻ em thừa cân hoặc béo phì Bởi vì trọng lượng tương đối dễ đo, chỉ số này thường được sử dụng nhưng sẽ không chính xác trong những tình huống mà tuổi của trẻ không thể xác định được, chẳng hạn trong tình huống của người tị nạn Điều quan trọng cần lưu ý là trẻ có thể bị thiếu cân do chiều dài/chiều cao dưới mức
trung bình (thấp còi) hoặc gầy hoặc cả hai
Cân nặng theo chiều cao (Wieght for height z-score) là chỉ số phản ánh trọng
lượng cơ thể theo chiều dài hoặc chiều cao Chỉ số này đặc biệt hữu ích trong các
Trang 16tình huống mà tuổi của trẻ không thể xác định chính xác như tình huống của người
tị nạn Biểu đồ trọng lượng theo chiều dài/chiều cao giúp xác định những trẻ có chỉ
số trọng lượng theo chiều cao thấp, là những trẻ thường bị gầy gò ốm yếu Tình trạng gầy gò ốm yếu thường do một căn bệnh hoặc tình trạng thiếu hụt lương thực dẫn đến sự sụt cân nghiêm trọng, suy dinh dưỡng mãn tính hoặc bệnh tật cũng có thể gây ra tình trạng này Đồng thời, các biểu đồ này cũng giúp xác định những trẻ
em có chỉ số trọng lượng theo chiều dài/chiều cao cao, là những trẻ có nguy cơ bị thừa cân hoặc béo phì
Trong nghiên cứu này, các chỉ số phát triển ở trẻ em sẽ được đo lường bằng công thức do De Onis et al (1997) đề xuất như sau:
𝑧𝑖 = 𝑋𝑖− 𝑋𝑟
𝜎𝑟Trong đó: Xi là giá trị quan sát của trẻ i trong mẫu khảo sát
Xr là giá trị trung bình và 𝜎𝑟 là độ lệch chuẩn (do WHO công bố)
Có thể tính được 3 chỉ số z tương ứng: chiều cao theo độ tuổi (HAZ: cho biết tình trạng suy dinh dưỡng ở thể thấp còi), cân nặng theo độ tuổi (WAZ: cho biết tình trạng suy dinh dưỡng ở thể nhẹ cân), cân nặng theo chiều cao (WHZ: cho biết tình trạng suy dinh dưỡng ở thể còi cọc)
2.1.2 Khung lý thuyết
Biến đổi khí hậu gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho con người như gia tăng tần suất xuất hiện và mức độ tác động của các loại thiên tai như bão, lũ lụt và hạn hán gây thiệt hại lớn về người và tài sản, phá hủy mùa màng, ảnh hưởng đến mức thu nhập, chi tiêu, sinh kế, giáo dục và các vấn đề xã hội khác, đặc biệt là tác động tiêu cực đến sức khỏe của người dân Mối quan hệ giữa thiên tai và sức khỏe đã được nhiều học giả nghiên cứu trên thế giới quan tâm, bàn luận trên lý thuyết cũng như kiểm chứng bằng các nghiên cứu thực nghiệm Khung lý thuyết để phân tích mối quan hệ này được Banwell et al (2018) xây dựng như sau:
Trang 17Hình 2.1 Khung lý thuyết cho mối quan hệ giữa thiên tai và sức khỏe
Nguồn: Banwell et al (2018)
Theo Skoufias and Vinha (2012), thiên tai có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con người bao gồm tử vong, chấn thương, bệnh tật, ảnh hưởng sức khỏe tâm thần và các vấn đề sức khỏe khác, nguyên nhân chủ yếu là do những thay đổi về khí hậu và thời tiết như sóng nhiệt và hạn hán, thời tiết lạnh và lượng mưa Những thay đổi bất thường này của thời tiết có thể làm gia tăng tỷ lệ mắc bệnh truyền nhiễm hoặc tăng nguy cơ gây hại cho sức khỏe do tiếp xúc với môi trường có nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp Tỷ lệ mắc bệnh và phạm vi lây lan của một mầm bệnh hay sinh vật gây bệnh cụ thể được xác định bởi các mức độ nhiệt độ, lượng mưa và độ ẩm cụ thể (Patz et al., 2003) Nhiều khu vực trước đây không phải là môi trường để các
Sức khỏe
- Tử vong
- Bị thương và bệnh tật
- Phúc lợi tinh thần
- Ngộ độc
- Bệnh về đường hô hấp
- Thay đổi đa dạng sinh học
Trang 18sinh vật gây bệnh có thể tồn tại, nhưng do sự thay đổi về lượng mưa, nhiệt độ hoặc
độ ẩm làm cho điều kiện thời tiết của các khu vực này trở nên phù hợp để các sinh vật gây bệnh có thể sinh sản và phát triển Cùng quan điển này, Chase and Knight (2003) cho rằng điều kiện thời tiết nắng nóng là môi trường thuật lợi cho các loại sâu bọ tồn tại, sinh sản và phát triển, đặc biệt là các sinh vật gây bệnh, tăng khả năng xảy ra dịch bệnh trên diện rộng (Kovats et al., 2003) Hạn hán và lũ lụt có thể liên quan trực tiếp đến tỷ lệ mắc một số bệnh đường ruột do tình trạng xuống cấp nước uống, không đảm bảo được an toàn vệ sinh (World Bank 2010b, CDC, 2010) Bên cạnh đó, các thảm họa thiên nhiên còn tác động gián tiếp đến tình trạng sức khoẻ người dân thông qua những thay đổi trong thu nhập hoặc sản xuất nông nghiệp, vì năng suất nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào nhiệt độ và lượng mưa Điều kiện lượng mưa thấp có thể làm giảm sản lượng nông nghiệp và thức ăn cho gia súc (World Bank 2010b, CDC, 2010, Warner and van der Geest, 2013, Gaurav, 2015) hoặc nếu lượng mưa quá cao lại làm cho cây trồng ngập úng, gia súc bị cuốn trôi hoặc bị giết chết, nhà ở và cơ sở hạ tầng bị phá hủy dẫn đến sự sụt giảm đáng kể trong tổng thu nhập của các hộ gia đình nông dân, vì đa phần thu nhập của họ đều đến từ cây trồng và gia súc Sự sụt giảm trong thu nhập không chỉ trực tiếp làm suy giảm nguồn thực phẩm và các chất dinh dưỡng cơ bản mà các hộ gia đình có thể tự cung cấp cho mình thông qua hoạt động sản xuất nông nghiệp mà còn làm giảm khả năng đảm bảo lượng dinh dưỡng cần thiết thông qua tiêu dùng thực phẩm trên thị trường, dẫn đến gia tăng tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em, suy giảm hệ miễn dịch
và thể chất đối với các thành viên trong gia đình Tùy thuộc vào khả năng đối phó của mỗi hộ gia đình với những biến động thu nhập mà mức độ chịu ảnh hưởng nhiều hay ít, nhưng nhìn chung các cú sốc tiêu cực liên quan đến thời tiết làm giảm tiêu dùng của hộ gia đình (Jacoby and Skoufias, 1998, Dercon and Krishnan, 2000) Mặt khác, sản lượng nông nghiệp sụt giảm sẽ đẩy giá lương thực thực phẩm tăng cao Trong bối cảnh thu nhập giảm sút và giá lương thực thực phẩm tăng cao thì nhiều hộ gia đình đã lựa chọn tiêu thụ những thực phẩm kém chất lượng hơn để giảm chi tiêu (Gibson and Kim, 2013), các thực phẩm này không những không đảm
Trang 19bảo lượng chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể mà còn có thể chứa các chất độc hại ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, suy giảm thể chất và khả năng miễn dịch, tăng tính dễ
bị tổn thương đối với các bệnh truyền nhiễm và không lây nhiễm Thêm nữa, để đối phó với sự sụt giảm trong thu nhập thì các hộ gia đình sẽ cắt giảm lượng thực phẩm tiêu dùng nhưng do giá cao nên khoản chi cho thực phẩm vẫn có thể cao hơn trước
Và nguồn lực còn lại để phân bổ cho các hoạt động khác sẽ giảm xuống, trong đó có việc cắt giảm chi tiêu cho khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe dự phòng
Sau thiên tai, lao động nông nghiệp trở nên vất vả hơn vì điều kiện đất đai xấu đi
do đất bị nhiễm phèn, nhiễm mặn, do hiện tượng sa bồi thủy phá hoặc họ phải lao động với cường độ cao hơn để tái thiết lại những tài sản đã bị phá hủy, ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất và tăng khả năng mắc các bệnh về cơ xương (Burgess et al., 2011) Ngoài ra, thiên tai còn tác động tiêu cực đến sức khỏe con người thông qua việc phá hủy các trung tâm y tế, cơ sở khám chữa bệnh, thiết bị và vật tư y tế, và các yếu tố quan trọng liên quan đến hoạt động của hệ thống y tế như hồ sơ y tế, tính mạng và sức khỏe của các nhân viên y tế (Baez et al., 2010) Hậu quả là làm giảm năng lực cung cấp các dịch vụ y tế của hệ thống y tế cơ sở và công cộng dẫn đến tình trạng quá tải, người bệnh không được điều trị hoặc chăm sóc sức khỏe kịp thời ngay sau khi thiên tai xảy ra Đồng thời, khi năng lực của hệ thống y tế suy giảm có thể dẫn đến hệ quả là gia tăng các bệnh truyền nhiễm và bùng phát thành dịch bệnh trong thời gian dài, do gián đoạn chương trình kiểm soát mầm bệnh sau thiên tai
2.2 Lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm liên quan
Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã được tiến hành để kiểm tra tác động của thiên tai đến kinh tế và đời sống của người dân, các nghiên cứu này được thực hiện với nhiều đối tượng, phạm vi và phương pháp khác nhau Và đa phần là đánh giá tác động của thiên tai trên các khía cạnh tăng trưởng kinh tế địa phương, phúc lợi hộ gia đình và bất bình đẳng xã hội Trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả chỉ lược khảo các nghiên cứu đánh giá tác động của thiên tai đến phúc lợi hộ gia đình ở các mặt như thu nhập, chi tiêu cho y tế và thực phẩm, sức khỏe Có thể sắp xếp các nghiên cứu thực nghiệm vào 4nhóm như sau:
Trang 202.2.1 Tác động của thiên tai đến thu nhập của hộ gia đình
Hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm đều tìm thấy tác động tiêu cực của thiên tai đến thu nhập của hộ gia đình (Dercon et al., 2005, Masozera et al., 2007, Baez and Santos, 2008, Kurosaki, 2010, Thomas et al., 2010, Mottaleb et al., 2013, Bui et al.,
2014, Arouri et al., 2015)
Baez và Santos (2008) ước lượng tác động của hai trận động đất có cường độ lớn xảy ở El Salvador vào năm 2001 đến thu nhập và tình trạng nghèo đói của các hộ gia đình ở khu vực nông thôn, bằng cách sử dụng dữ liệu bảng của 653 hộ gia đình
từ cuộc điều tra hộ gia đình nông thôn El Salvador (BASIS) giai đoạn 2000-2002 do Quỹ phát triển kinh tế và xã hội Salvador thực hiện với sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới Nghiên cứu sử dụng phương pháp ước lượng khác biệt trong khác biệt (DID) để so sánh sự khác biệt trong thu nhập và mức nghèo đói trước và sau khi hai trận động đất xảy ra, và kết quả được tìm thấy là hai trận động đất ở El Salvador đã làm giảm một phần ba thu nhập của các hộ gia đình nông thôn so với trước khi xảy
ra động đất, không có ý nghĩa thống kê cho tác động của hai trận động đất này đến tình trạng nghèo đói Ngoài ra, các tác giả cũng lưu ý rằng các cú sốc địa chất không những có ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập của các thế hệ hiện tại mà còn tác động tiêu cực đến thu nhập của thế hệ tương lai thông qua việc giảm tích lũy vốn vật chất và vốn con người
Bui et al (2014) sử dụng dữ liệu chéo từ Cuộc điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) năm 2008 để xem xét ảnh hưởng của thiên tai đối với thu nhập, chi tiêu, nghèo đói và bất bình đẳng của hộ gia đình Mô hình kinh tế lượng được tác giả lựa chọn để thực hiện hồi quy là mô hình Fixed effect (FEM), tuy nhiên, một vấn đề găp phải là xác suất xảy ra thiên tai ở một vùng nhất định lại có tương quan với việc vùng đó có nằm trong khu vực thường có thiên tai hay không, điều này có thể ảnh hưởng đến mức độ tiêu thụ Bởi vì,các hộ gia đình ở những vùng mà thiên tai xảy ra thường xuyên sẽ có các chiến lược đối phó để thích ứng với những điều kiện bất lợi, và có thể dẫn đến vấn đề nội sinh tiềm ẩn khi đưa ra một biến giả cho thiên tai Vì thế, phương pháp hồi quy hai giai đoạn (2SLS) được sử dụng với biến
Trang 21công cụ được chọn là tỷ lệ gia đình chịu ảnh hưởng bởi các cú sốc thiên nhiên trên tổng số hộ gia đình của một địa phương Kết quả của nghiên cứu cho thấy, thiên tai làm giảm khoảng 7% thu nhập trung bình của hộ gia đình và làm giảm 342.800 đồng trong thu nhập bình quân đầu người.
Arouri et al (2015) đo lường ảnh hưởng của 3 loại thiên tai phổ biến ở Việt Nam
là bão, lũ lụt và hạn hán đến phúc lợi xã hội và khả năng phục hồi của các hộ gia đình ở khu vực nông thôn, bằng cách sử dụng dữ liệu bảng từ Cuộc điều tra mức sống hộ gia đình (VHLSS) giai đoạn 2004-2010 do Tổng cục thống kê Việt Nam thực hiện Nghiên cứu này hướng đến ba mục tiêu cụ thể: Thứ nhất, đánh giá tác động của thiên tai đến phúc lợi hộ gia đình và nghèo đói; Thứ hai, kiểm tra xem liệu các đặc điểm của hộ gia đình và địa phương có làm tăng khả năng phục hồi của các
hộ gia đình Việt Nam khi thiên tai xảy ra hay không; Thứ ba, ước tính sự ảnh hưởng không đồng nhất về mặt địa lý của thiên tai Nghiên cứu sử dụng mô hình fixed effects (FEM) để thực hiện hồi quy và tìm thấy kết quả cả 3 loại thiên tai đều có ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình, trong đó lũ lụt có ảnh hưởng lớn nhất Cụ thể, bão, lũ lụt và hạn hán làm giảm thu nhập bình quân hộ gia đình xuống 1,9%, 5,9% và 5,2%, đồng thời cũng giảm chi tiêu bình quân của hộ gia đình xuống 1,5%, 4,4% và 3,5% Thêm nữa, những hộ gia đình sống ở địa phương
bị lũ lụt sẽ gia tăng xác suất rơi vào nghèo đói là 0,018 Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những hộ gia đình thuộc dân tộc Kinh, quy mô hộ nhỏ, tỷ lệ thành viên trong độ tuổi lao động cao, trình độ học vấn cao hơn thì sẽ có khả năng phục hồi sau thiên tai nhanh hơn so với các hộ khác
2.2.2 Tác động của thiên tai đến chi tiêu của của hộ gia đình
Sau thiên tai các hộ gia đình thường phải đối mặt với cú sốc về kinh tế do thiệt hại về mùa màng và tài sản Để đối phó với sự sụt giảm đột ngột trong thu nhập và tài sản thì các hộ gia đình sẽ chủ động cắt giảm tổng chi tiêu và có sự cơ cấu lại tỷ trọng các khoản chi cho phù hợp với nhu cầu và tình hình tài chính sau thiên tai
Trang 22(Dercon et al., 2005, Sawada, 2007, Thomas et al., 2010, Mottaleb et al., 2013, Lohmann and Lechtenfeld, 2015, Arouri et al., 2015)
Dercon et al (2005) sử dụng dữ liệu bảng từ cuộc khảo sát hộ gia đình nông thôn Ethiopia (ERHS) giai đoạn 1999-2004 để đánh giá tác động của một loạt các cú sốc
về khí hậu, kinh tế, sức khoẻ, chính trị và các cú sốc khác đến phúc lợi của các hộ gia đình nông thôn ở 15 làng thuộc Ethiopia Sử dụng mô hình fixed effects (FEM), nghiên cứu đã tìm thấy bằng chứng chứng minh rằng các cú sốc về khí hậu mà đặc biệt là hạn hán có tác động quan trọng đến phúc lợi của các hộ gia đình ở Ethiopia
Cụ thể, hạn hán làm giảm khoảng 20% mức tiêu dùng của các hộ gia đình, đồng thời làm giảm thu nhập và gia tăng mức nghèo đói Tuy nhiên, nghiên cứu này gặp phải một hạn chế là có thể bỏ xót một số sự kiện và xu hướng quan trọng như sự xuống cấp của đất, sự giảm dần về lợi nhuận và giá cả của một số hoạt động có thể liên quan đến kết quả nhưng không được thu thập trong bảng hỏi của nghiên cứu
Do vậy, cần phải có thêm bằng chứng để làm thế nào có thể thu thập thông tin một cách hiệu quả về các cú sốc, các sự kiện và xu hướng khác để phân tích tác động của thiên tai và các biện pháp can thiệp một cách chính xác nhất
Sawada (2007) khai thác cơ sở dữ liệu thiên tai khẩn cấp (EM-DAT), dữ liệu của Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) và một số nghiên cứu khác ở giai đoạn 1990-2004 để kiểm tra tác động của các thảm họa thiên nhiên
và nhân tạo đến phúc lợi của hộ gia đình Kết quả cho thấy, để đối phó với các cú sốc kể cả tự nhiên lẫn nhân tạo thì phản ứng đầu tiên của các hộ gia đình là cắt giảm chi tiêu như các khoản chi cho y tế, giáo dục và các khoản chi tiêu khác để cố gắng duy trì mức chi tiêu tối thiểu cho thực phẩm Ngoài ra, để đảm bảo tổng lượng dinh dưỡng trong điều kiện phải cắt giảm chi tiêu, các hộ gia đình thường lựa chọn tiêu thụ những thực phẩm có chất lượng thấp hơn và giảm chi tiêu cho những mặt hàng
xa xỉ Tương tự, Baez et al (2010) tổng quan và đánh giá những nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa thiên tai và sự tích tụ vốn con người, tập trung vào tiêu dùng, dinh dưỡng, giáo dục và sức khoẻ Tác giả kết luận rằng, thiên tai có tác động đáng kể đến phúc lợi hộ gia đình, đặc biệt là trong chi tiêu và đầu tư cho dinh
Trang 23dưỡng, y tế và giáo dục Sự phục hồi chậm của tài sản bị mất hoặc bị bán sau thiên tai có thể cản trở sự tăng trưởng tiêu thụ dài hạn và làm giảm sự tích lũy vốn nhân lực trong trung và dài hạn Nếu các hộ gia đình gặp khó khăn trong việc tái thiết lập sinh kế của mình trước cú sốc thì ưu tiên cho việc đầu tư hoặc duy trì các khoản đầu
tư vào dinh dưỡng, y tế và giáo dục có thể được chuyển hướng hoặc bị trì hoãn Mottaleb et al (2013) sử dụng dữ liệu từ cuộc điều tra thu nhập và chi tiêu hộ gia đình (HIES) của chính phủ Bangladesh trong ba năm 2000, 2005 và 2010 để đánh giá tác động của cơn bão Aila bằng phương pháp ước lượng khác biệt trong khác biệt (DID), nghiên cứu tìm thấy kết quả là cơn bão Aila đã gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho nông dân trồng lúa, sản lượng lúa giảm làm giảm thu nhập đồng thời làm gia tăng các khoản chi tiêu cho việc mua thêm gạo và các mặt hàng thực phẩm khác, vì vậy làm tăng tổng chi tiêu cho thực phẩm Ngoài ra, cơn bão Aila còn gây
ra thương tích cho con người và làm ô nhiễm nguồn nước uống dẫn đến những ảnh hưởng tiêu cực cho sức khỏe con người nên khoản chi phí liên quan đến y tế cũng tăng đáng kể so với những hộ không chịu ảnh hưởng, nghiên cứu này xác nhận rằng các hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi bão đã cắt giảm chi tiêu cho giáo dục của trẻ em
Lohmann and Lechtenfeld (2015) dùng dữ liệu bảng của dự án “Tính dễ tổn thương của nghèo đói ở Đông Nam Á” và Trung tâm khí hậu lũ lụt toàn cầu (GPCC) để định lượng tác động ngắn hạn của hạn hán đối với chi tiêu cho y tế ở khu vực nông thôn Việt Nam Mô hình Tobit được lựa chọn vì biến chi tiêu cho sức khỏe là biến bị chặn, tuy nhiên điều kiện sức khỏe của các thành viên trong hộ có tiềm năng nội sinh với những hành vi không quan sát được của hộ gia đình Điển hình như các thành viên trong gia đình biết trạng thái sức khỏe bất lợi của mình nên thường có các chiến lược đối phó như tìm kiếm các cơ chế bảo hiểm chính thức hoặc không chính thức, gia tăng chi tiêu chăm sóc y tế dự phòng Do đó, việc đánh giá tác động của thiên tai đến chi tiêu cho y tế sẽ không còn chính xác, chi phí cho y
tế có thể bị đánh giá thấp hơn thực tế Nên phương pháp hồi quy biến công cụ được
sử dụng để khắc phục và biến công cụ được lựa chọn là tỷ lệ hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi hạn hán Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc bệnh do hạn hán sẽ làm
Trang 24tăng chi phí y tế bình quân đầu người lên khoảng 115 USD và làm tăng gánh nặng tài chính cho nhiều hộ gia đình vì chi phí cho y tế tăng từ 9-17% trong tổng chi tiêu
2.2.3 Tác động của thiên tai đến sức khỏe trẻ em
Mối quan hệ giữa thiên tai và sức khỏe trẻ em đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu (Foster, 1995, Jensen, 2000, Del Ninno and Lundberg, 2005, Alderman et al., 2006, Baez and Santos, 2007, Cord et al., 2008, Baez et al., 2010, Skoufias and Vinha, 2012, Andalón et al., 2016, Groppo and Kraehnert, 2016), và hầu hết các nghiên cứu này đều cho rằng thiên tai tác động tiêu cực đến sự phát triển thể chất của trẻ, tăng tình trạng suy dinh dưỡng và tăng khả năng bị bệnh ở trẻ Jensen (2000) sử dụng dữ liệu bảng từ cuộc điều tra mức sống hộ gia đình (CLSS) do Ngân hàng thế giới và Bộ Tài chính Bờ Biển Ngà thực hiện trong giai đoạn 1985-1988, để kiểm tra xem liệu những trẻ em sống ở những vùng có các cú sốc bất lợi về thời tiết thì mức đầu tư cho giáo dục và sức khỏe có thấp hơn hay không Tác giả sử dụng mô hình xác suất tuyến tính để ước lượng tác động của một
sự thay đổi lớn trong thu nhập đến việc đầu tư cho trẻ em Tuy nhiên, gặp phải vấn
đề nội sinh do sự thay đổi trong thu nhập còn phụ thuộc vào các quyết định đầu tư khác, do đó tác giả sử dụng biến công cụ là lượng mưa để chỉ xem xét sự thay đổi thu nhập theo điều kiện thời tiết và sau đó dùng phương pháp hồi quy hai giai đoạn (2SLS) để đánh giá tác động Kết quả thu được là các cú sốc bất lợi về thời tiết đã làm giảm đáng kể các khoản đầu tư quan trọng cho trẻ em như giáo dục, sức khỏe
và làm tăng tỷ lệ trẻ bị suy dinh dưỡng lên gấp đôi
Del Ninno and Lundberg (2005) đánh giá tác động lâu dài của trận lũ lụt năm
1998 đến vấn đề dinh dưỡng ở Bangladesh Nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng từ 3 vòng điều tra của cuộc khảo sát những hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi lũ lụt được thu thập từ tháng 11 năm 1998 đến tháng 11 năm 1999, bao gồm 4.433 cá nhân thuộc
757 hộ gia đình của 117 làng ở Bangladesh Kết quả ước lượng mô hình OLS cho thấy, những trẻ em chịu ảnh hưởng của trận lũ lụt năm 1998 kém phát triển hơn so với những trẻ khác không chịu ảnh hưởng, nguyên nhân có thể là do thiếu sự chăm
Trang 25sóc sức khỏe và dinh dưỡng hợp lý, hoặc do trận lũ lụt này có mức độ tác động lớn
và lâu dài đến sức khỏe của trẻ em Tương tự, Skoufias and Vinha (2012) tiến hành
đo lường tác động của các cú sốc thời tiết đến chiều cao của trẻ em từ 1-4 tuổi ở khu vực nông thôn Mexico, bằng cách sử dụng kết hợp dữ liệu sức khỏe của Cuộc điều tra dinh dưỡng quốc gia và Ban thư kí Y tế với dữ liệu khí hậu từ Viện công nghệ nước Mexico (IMTA) trong giai đoạn 1950-2007 Và kết quả thu được là các cú sốc thời tiết có ảnh hưởng tiêu cực đến chiều cao của trẻ theo độ tuổi, nên có khả năng ảnh hưởng đến sức khỏe và năng suất cả trong ngắn hạn và dài hạn
Andalón et al (2016) điều tra mối quan hệ giữa kết quả sức khỏe khi sinh và sự tiếp xúc của thai nhi với các cú sốc nhiệt độ ở khu vực nông thôn Colombia, bằng cách sử dụng dữ liệu về sức khỏe khi sinh như cân nặng, chiều dài, tuổi thai, điểm Apgar và các thông tin khác của mẹ và trẻ từ cơ sở dữ liệu của Cục thống kê quốc gia trong giai đoạn 1999-2008, mẫu bao gồm 1,5 triệu trẻ em sơ sinh Nghiên cứu
sử dụng mô hình Fixed effect (FEM) để phân tích và tìm thấy bằng chứng cho rằng việc tiếp xúc với cú sốc nhiệt cao trong 3 tháng cuối của thai kỳ làm giảm cân nặng của trẻ sơ sinh, mức độ giảm dao động trong khoảng 2,8-4,1 gram Thêm nữa, tiếp xúc với những cú sốc lạnh trong 6 tháng đầu tiên của thai kỳ làm giảm chiều dài lúc sinh khoảng 0,01–0,018 cm Ngoài ra, nghiên cứu cũng tìm thấy bằng chứng về tác động tiêu cực của các cú sốc nhiệt trong các phép kiểm tra Apgar ở độ lớn từ 0,2 đến 0,6 điểm phần trăm điểm số Apgar chuẩn
Groppo and Kraehnert (2016) xác định tác động của cú sốc thời tiết (thời tiết khắc nghiệt của mùa đông năm 2009-2010, gọi là dzud) đến chiều cao của trẻ em Mông Cổ, bằng cách kết hợp dữ liệu từ Cuộc điều tra hộ gia đình ở Mông Cổ, Cuộc tổng điều tra chăn nuôi Mông Cổ, số liệu viện trợ khẩn cấp của MRCS và số liệu về lượng tuyết EC-JRC-MARS trong giai đoạn 2012-2015 Nghiên cứu dùng hồi quy OLS để phân tích dữ liệu và kết quả cho thấy rằng, dzud 2009-2010 làm chậm đáng
kể quỹ đạo tăng trưởng của trẻ em ở các huyện bị ảnh hưởng nặng nề so với trẻ em sống ở các huyện ít bị ảnh hưởng hơn, đặc biệt các bé trai bị ảnh hưởng nhiều hơn các bé gái Tuy nhiên, tác động của dzud chỉ có ý nghĩa thống kê đối với trẻ em của
Trang 26các hộ gia đình chăn nuôi Vì thế, dzud tác động đến sức khỏe trẻ em chủ yếu là do gia súc, nguồn thức ăn chính bị chết và nguồn thu nhập cho các hộ gia đình chăn nuôi bị gảm đi, phản ứng của các hộ gia đình là giảm tiêu dùng cho thực phẩm để phục hồi đàn gia súc Tác động tiêu cực này là liên tục và vẫn kéo dài đến 4 năm sau đó, ngoài ra kết quả nhấn mạnh việc cung cấp viện trợ khẩn cấp sẽ giúp giảm thiểu các hậu quả tiêu cực của cú sốc thời tiết, các khoản vay hay trợ cấp sẽ có tác động tích cực đến chiều cao và sức khỏe của trẻ em
2.2.4 Tác động của thiên tai đến sức khỏe của các thành viên hộ gia đình
Đa phần các nghiên cứu đều xác định thiên tai có tác động tiêu cực đến sức khỏe người dân, có thể trực tiếp gây ra bệnh tật do điều kiện môi trường sống không đảm bảo hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến chi tiêu cho thực phẩm và y tế dẫn đến không đảm bảo được chế độ dinh dưỡng và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho gia đình (Campanella, 1999, Goenjian et al., 2001, Van Griensven et al., 2006, Watson et al.,
2007, Callaghan et al., 2007, Bich et al., 2011, Lohmann and Lechtenfeld, 2015) Callaghan et al (2007) đánh giá tác động của siêu bão Katrina đến tình trạng sức khỏe của phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh từ việc phân tích các dữ liệu thu thập được
từ Trung tâm thống kê sức khỏe quốc gia, Trung tâm kiểm soát và ngăn ngừa dịch bệnh và Hệ thống thống kê sinh tử quốc gia của Hoa kỳ Kết quả cho thấy, có khoảng 56.100 phụ nữ mang thai và 74.900 trẻ sơ sinh bị ảnh hưởng trực tiếp bởi siêu bão Katrina, sức khỏe của họ bị ảnh hưởng nghiêm trọng do thiếu nước sạch cho sinh hoạt, không tiếp cận được nguồn thực phẩm an toàn, môi trường bị ô nhiễm, điều kiện sống ẩm thấp và đông đúc, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe bị gián đoạn vì cơ sở hạ tầng của các trung tâm y tế đã bị phá hủy
Cùng thời gian đó, Neumayer and Plümper (2007) cũng thực hiện nghiên cứu về tác động của thảm họa thiên nhiên đến khoảng cách về giới theo tuổi thọ trung bình
ở 141 quốc gia trong giai đoạn 1981-2002 Mẫu dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau như cơ sở dữ liệu thiên tai khẩn cấp (EM-DAT), cơ sở dữ liệu quốc tế (IDB), cơ sở dữ liệu về quyền con người của Cingranelli và Richards
Trang 27(2004) Nghiên cứu sử dụng mô hình Random effect (REM) để ước lượng và kết quả cho thấy thiên tai làm giảm tuổi thọ của cả phụ nữ và nam giới, nhưng mức độ tác động mạnh hơn ở nữ giới và các thảm họa thiên nhiên càng lớn càng ảnh hưởng nghiêm trọng đến tuổi thọ của nữ
Bich et al (2011) đánh giá tác động của trận lũ lụt lịch sử ở Hà Nội năm 2008 đến sức khoẻ người dân bằng cách xác định những khác biệt về tỷ lệ tử vong, thương tích và bệnh tật giữa những gia đình chịu ảnh hưởng và không chịu ảnh hưởng của lũ lụt Nghiên cứu sử dụng dữ liệu của 871 hộ gia đình từ Cuộc khảo sát
hộ gia đình của dự án MICRODIS thực hiện đầu năm 2009 tại Hà Nội, dùng phương pháp thống kê mô tả và phân tích đã tìm thấy bằng chứng cho rằng lũ lụt đã làm gia tăng đáng kể tỷ lệ người mắc bệnh sốt xuất huyết, mắt đỏ, viêm da và các vấn đề tâm lý cho các hộ gia đình ở những xã bị ảnh hưởng so với những xã không
bị ảnh hưởng, đồng thời trận lũ lụt lịch sử này cũng làm tăng tỷ lệ tử vong và tỷ lệ thương tích cho người dân
Lohmann and Lechtenfeld (2015) định lượng tác động ngắn hạn của hạn hán đối với điều kiện sức khoẻ và chi tiêu cho y tế ở khu vực nông thôn Việt Nam Nghiên cứu sử dụng hai nguồn dữ liệu chính: Nguồn dữ liệu thứ nhất được trích từ dự án
“Tính dễ tổn thương của nghèo đói ở Đông Nam Á” được tài trợ bởi quỹ nghiên cứu của Đức (DFG), khảo sát hơn 2.000 hộ gia đình ở 200 làng thuộc các vùng nông thôn của Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế và Đắk Lắk ở giai đoạn 2007-2013 Nguồn dữ liệu thứ hai về lượng mưa được kết hợp từ dữ liệu thời tiết hàng tháng từ Trung tâm khí hậu lũ lụt toàn cầu (GPCC) trong khoảng thời gian 50 năm từ 1960 đến 2010 và
dữ liệu từ Cục quản lý đại dương và khí quyển quốc gia (NOAA) Kết quả cho thấy, trong những năm xảy ra hạn hán thì người dân thường phải đối mặt với nguy cơ bệnh tật gia tăng, xác suất mắc bệnh của một cá nhân ở vùng bị hạn hán cao hơn 10 điểm % so với những vùng không bị hạn hán và trong điều kiện tương đối nếu tăng một độ lệch chuẩn trong mức độ hạn hán (0,21) thì xác suất bị bệnh tăng 2 điểm %, trong đó tỷ lệ mắc các bệnh truyền nhiễm tăng trung bình khoảng 1/8 và tỷ lệ mắc các bệnh không truyền nhiễm tăng trung bình khoảng 1/9
Trang 28Tóm lại, phần lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy thiên tai làm giảm phúc lợi của hộ gia đình như giảm thu nhập của người dân, lưu ý là tác động tiêu cực này không chỉ diễn ra trong ngắn hạn mà còn có thể kéo dài trong dài hạn thông qua việc giảm tích lũy vốn vật chất và vốn con người, và có thể đẩy người dân vào tình trạng nghèo đói Bên cạnh đó, hầu hết các nghiên cứu cũng ghi nhận thiên tai làm giảm tổng chi tiêu và có sự cơ cấu lại tỷ trọng các khoản chi cho y tế, thực phẩm, giáo dục và các khoản chi khác cho phù hợp với tình hình tài chính sau thiên tai Tuy nhiên, vẫn tồn tại những tranh luận khi một số nghiên cứu cho rằng sau thiên tai thu nhập giảm nên các hộ gia đình sẽ thích ứng bằng cách giảm chi tiêu cho y tế, thực phẩm và giáo dục Nhưng một số nghiên cứu khác lại lập luận, thiên tai gây thương tích và tăng tỷ lệ bị bệnh cho con người nên làm tăng chi tiêu y tế hoặc sau thiên tai mùa màng bị thiệt hại nên giá cả một số loại thực phẩm tăng dẫn đến tăng chi tiêu thực phẩm Ngoài ra, thiên tai cũng làm tăng tỷ lệ mắc bệnh cho con người, đặc biệt là đối với trẻ em, làm chậm quỹ đạo tăng trưởng của trẻ vì làm giảm cân nặng, chiều cao và gia tăng tình trạng suy dinh dưỡng
Đặc biệt, qua phần lược khảo nghiên cứu trước tác giả nhận thấy chỉ có hai nghiên cứu về mối quan hệ giữa thiên tai và sức khỏe được thực hiện ở Việt Nam, trong đó có một nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê khá đơn giản để phân tích dữ liệu Do vậy, tác giả tiếp tục khai thác mối quan hệ này nhưng điểm khác biệt so với hai nghiên cứu trước là phạm vi và đối tượng nghiên cứu sẽ được mở rộng hơn, thực hiện cho khu vực nông thôn Việt Nam chứ không phải là một tỉnh/ thành phố cụ thể, đồng thời xem xét tác động của cả 3 loại thiên tai phổ biến ở Việt Nam là bão, lũ hụt và hạn hán đến sức khỏe thay vì chỉ đánh giá tác động của một loại thiên tai duy nhất Nghiên cứu cũng xây dựng mô hình kinh tế lượng và sử dụng các kỹ thuật kinh tế lượng để ước lượng mối quan hệ trên Một điểm lưu ý là hiện tại chưa có nghiên cứu nào thực hiện với đối tượng trẻ em, vì vậy nghiên cứu này sẽ tập trung khai thác mối quan hệ giữa thiên tai và sức khỏe trẻ em, cụ thể là tình trạng dinh dưỡng Đây là nghiên cứu đầu tiên đưa ra những bằng chứng thực nghiệm cho mối quan hệ trên đối với trường hợp Việt Nam
Trang 29CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Khung phân tích
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá mối quan hệ giữa thiên tai và tình trạng sức khỏe của người dân, đặc biệt là xem xét tác động của thiên tai đến tình trạng sức khỏe của trẻ em (đối tượng dễ bị tổn thương) Ngoài ra, nghiên cứu cũng tiến hành kiểm tra xem thiên tai có làm thay đổi hành vi tiêu dùng của các hộ gia đình liên quan đến y tế hay không Để hoàn thành các mục tiêu này, tác giả tiến hành lược khảo lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm liên quan, từ đó đề xuất khung phân tích như sau:
Hình 3.1 Khung phân tích
Nguồn: Đề xuất của tác giả
- Tài sản của hộ:
+ Diện tích đất canh tác + Diện tích đất ở + Loại nhà ở
- Đặc tính của hộ:
+ Tuổi của chủ hộ + Giới tính của chủ hộ + Học vấn của chủ hộ + Dân tộc
+ Quy mô hộ + Tỷ lệ người phụ thuộc + Tỷ lệ nữ
+ Diện tích đất canh tác + Diện tích đất ở + Loại nhà ở
- Đặc điểm địa phương:
+ Đường xá
Sức khỏe
Thiên tai
Trang 30Khung phân tích ở trên được xây dựng dựa trên nền tảng khung lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa thiên tai và sức khỏe, gồm ba phần: Phần thứ nhất là khung phân tích dành cho tình trạng sức khỏe cá nhân Có ba nhóm yếu tố tác động đến tình trạng sức khỏe của một cá nhân là thiên tai, đặc tính của cá nhân và tài sản của hộ gia đình Trong đó, thiên tai là nhóm yếu tố chính mà nghiên cứu quan tâm, một số nghiên cứu đã chứng minh rằng tồn tại mối quan hệ giữa thiên tai và tình trạng sức khỏe của cá nhân như nghiên cứu của Callaghan et al (2007), Bich et al (2011) và Lohmann and Lechtenfeld (2015) Ngoài ra, các đặc tính riêng của cá nhân như tuổi và giới tính cũng góp phần giải thích cho kết quả sức khỏe, đồng thời cá nhân sống trong hộ gia đình có tích lũy tài sản cũng được kỳ vọng có sức khỏe tốt hơn, được xác nhận bởi Lohmann and Lechtenfeld (2015) Phần thứ hai là khung phân tích dành cho chi tiêu y tế của hộ gia đình Trong khung phân tích này gồm có ba nhóm yếu tố là thiên tai, các đặc tính riêng của hộ
và các đặc điểm của địa phương, trong đó nhóm yếu tố chính mà nghiên cứu quan tâm là thiên tai Mối quan hệ giữa chi tiêu y tế và thiên tai đã được ghi nhận bởi nghiên cứu của Sawada (2007), Baez et al (2010) và Lohmann and Lechtenfeld (2015) Bên cạnh đó, nghiên cứu của Mottaleb et al (2013) và Lohmann and Lechtenfeld (2015) cho thấy các đặc tính riêng của hộ gia đình về nhân khẩu học và tài sản có tác động đến mức chi tiêu y tế của hộ Ngoài ra, các đặc điểm về cơ sở hạ tầng của địa phương cũng được đưa vào trong phân tích chi tiêu của hộ như trong nghiên cứu của (Arouri et al., 2015)
Phần thứ ba là khung phân tích dành cho sức khỏe trẻ em (thể hiện qua các chỉ số phát triển) Có bốn nhóm yếu tố tác động đến chỉ số phát triển của trẻ em dưới 5 tuổi là thiên tai, đặc tính của trẻ, mẹ và hộ gia đình Nhiều nghiên cứu thực nghiệm
đã xác nhận là tồn tại mối quan hệ giữa thiên tai và sức khỏe trẻ em, điển hình như nghiên cứu của Skoufias and Vinha (2012), Andalón et al (2016) và Groppo and Kraehnert (2016) Ngoài ra, nhóm yếu tố kiểm soát liên quan đến đặc tính của trẻ,
mẹ và hộ gia đình cũng có ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe của trẻ em như trong nghiên cứu của Groppo and Kraehnert (2016) và Skoufias and Vinha (2012)
Trang 31- Biến phụ thuộc là illness, biến nhị phân cho biết cá nhân có bị bệnh trong vòng
12 tháng qua hay không, với hai giá trị 1=Yes và 0=No
- Biến giải thích gồm:
+ Flood là biến nhị phân có hai giá trị, 1=Yes cho biết cá nhân đó sống ở vùng bị ảnh hưởng của lũ lụt, 0=No cá nhân đó sống ở vùng không bị ảnh hưởng của lũ lụt Những người sống ở vùng lũ được kỳ vọng là có xác suất bị bệnh cao hơn (+) + Storm là biến nhị phân cho biết cá nhân có sống ở khu vực chịu ảnh hưởng của bão hay không, có hai giá trị 1=Yes, 0=No Những người sống ở vùng bão được kỳ vọng là có xác suất bị bệnh cao hơn (+)
+ Drought là biến nhị phân cho biết cá nhân có sống ở khu vực chịu ảnh hưởng của hạn hán hay không, có hai giá trị 1=Yes, 0=No Những người sống ở vùng hạn hán được kỳ vọng là có xác suất bị bệnh cao hơn (+)
+ Age 0-15 là biến nhị phân, có hai giá trị 1=Yes cho biết cá nhân có độ tuổi từ 0 đến 15 tuổi, 0=No cá nhân lớn hơn 15 tuổi Những người trong độ tuổi từ 0-15 được
kỳ vọng có xác suất bị bệnh cao hơn so với những người khác (+)
+ Gender là biến nhị phân cho biết giới tính của cá nhân với 1=Male, 0=Female Nam giới được kỳ vọng là có xác suất bị bệnh thấp hơn nữ giới (-)
+ Crop land area là biến liên tục cho biết diện tích canh tác mà hộ gia đình sở hữu gồm diện tích đất nông nghiệp, lâm nghiệp và mặt nước nuôi trồng thủy sản, đơn vị m2 Diện tích đất canh tác của hộ tăng được kỳ vọng làm giảm xác suất mắc bệnh của cá nhân (-)
Trang 32+ Living area là biến liên tục cho biết tổng diện tích đất ở của hộ gia đình, được tính bằng cách cộng diện tích của tất cả các ngôi nhà mà hộ đang sở hữu, đơn vị m2 Diện tích đất ở của hộ tăng được kỳ vọng làm giảm xác suất bị bệnh của cá nhân (-) + Type of housing là biến phân loại cho biết hộ gia đình đang sở hữu loại nhà ở nào, 1=Biệt thự, 2=Nhà kiên cố khép kín, 3=Nhà kiên cố không khép kín, 4=Nhà bán kiên cố, 5=Nhà tạm và khác Hộ sở hữu loại nhà có giá trị cao được kỳ vọng làm giảm xác suất mắc bệnh của cá nhân, nếu lấy 1=Biệt thự làm base outcome thì dấu của các biến còn lại mang dấu (+)
- Các chỉ số i,h,d lần lượt là cá nhân i, hộ gia đình h và địa phương d
- β0 và μihd lần lượt là hệ số cắt và phần dư của mô hình
Mô hình 2: Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu thứ hai là đánh giá tác động của
thiên tai đến chi tiêu y tế của hộ gia đình, tác giả đề xuất mô hình phân tích như sau: 𝑙𝑛𝑒𝑥𝑝𝑒𝑛𝑑𝑖𝑡𝑢𝑟𝑒_ℎ𝑒𝑎𝑙𝑡ℎℎ =𝛽0+ 𝛽1𝑖𝑙𝑙𝑛𝑒𝑠𝑠ℎ/Natural disasters+𝛽2 𝐴𝑔𝑒 ℎ𝑒𝑎𝑑ℎ+ 𝛽3𝐺𝑒𝑛𝑑𝑒𝑟 ℎ𝑒𝑎𝑑ℎ
+ 𝛽4 𝐸𝑑𝑢 ℎ𝑒𝑎𝑑ℎ + 𝛽5 𝑅𝑒𝑙𝑖𝑔𝑖𝑜𝑛ℎ+ 𝛽6 𝑇𝑜𝑡𝑎𝑙 𝑚𝑒𝑚𝑏𝑒𝑟𝑠ℎ+ 𝛽7 𝐷𝑒𝑝𝑒𝑛𝑑𝑠ℎ𝑎𝑟𝑒ℎ +𝛽8𝐹𝑒𝑚𝑎𝑙𝑒𝑠ℎ𝑎𝑟𝑒ℎ+𝛽9𝐶𝑟𝑜𝑝𝑙𝑎𝑛𝑑𝑎𝑟𝑒𝑎ℎ+ 𝛽10 𝐿𝑖𝑣𝑖𝑛𝑔 𝑟𝑒𝑎ℎ + 𝛽 11 𝑇𝑦𝑝𝑒𝑜𝑓ℎ𝑜𝑢𝑠𝑖𝑛𝑔 ℎ + 𝛽12 𝑅𝑜𝑎𝑑𝑑 + 𝜇ℎ (3.2)
+ Natural disasters là nhóm biến thiên tai gồm Flood, Storm và Drought, là các biến giả cho biết hộ có thuộc vùng bị ảnh hưởng của bão, lũ lụt và hạn hán hay không với 1=Yes, 0=No Hộ thuộc vùng ảnh hưởng của thiên tai được kỳ vọng có mức chi tiêu y tế cao hơn (+)
+ Age head là biến liên tục cho biết độ tuổi của chủ hộ, đơn vị tính là tuổi Khi tuổi chủ hộ tăng được kỳ vọng làm tăng chi tiêu y tế của hộ (+)
Trang 33+ Gender head là biến nhị phân cho biết giới tính của chủ hộ, có giá trị 1 khi chủ
hộ là nam giới, có giá trị 0 khi chủ hộ là nữ giới Hộ có chủ hộ là nam giới được kỳ vọng chi tiêu y tế cao hơn so với hộ có chủ hộ là nữ giới (+)
+ Edu head là biến phân loại cho biết trình độ học vấn của chủ hộ Edu head có giá trị 0 nếu chủ hộ không có trình độ học vấn, có giá trị 1 khi chủ hộ có trình độ học vấn ở bậc tiểu học, có giá trị 2 khi chủ hộ có trình độ học vấn ở bậc trung học
cơ sở, có giá trị 3 khi chủ hộ có trình độ học vấn ở bậc trung học phổ thông và có giá trị 4 khi chủ hộ có trình độ học vấn ở bậc trung cấp/cao đẳng/đại học Hộ có chủ
hộ có trình độ học vấn được kỳ vọng chi tiêu y tế cao hơn so với hộ có chủ hộ không có trình độ học vấn (+)
+ Religion là biến nhị phân với 1= Kinh và 0= Non-Kinh Hộ gia đình dân tộc kinh được kỳ vọng chi tiêu y tế cao hơn hộ dân tộc thiểu số (+)
+ Total members là biến liên tục cho biết tổng số thành viên có trong một hộ, đơn
vị là người Quy mô hộ gia đình càng lớn được kỳ vọng có mức chi tiêu y tế càng cao (+)
+ Dependshare là biến liên tục trong [0; 1], cho biết tỷ lệ người phụ thuộc trong
hộ và được tính bằng cách chia tổng số người phụ thuộc cho tổng số thành viên trong hộ Hộ có tỷ lệ phụ thuộc cao hơn được kỳ vọng có chi tiêu y tế thấp hơn (-) + Femaleshare là biến liên tục trong [0; 1], cho biết tỷ lệ nữ trong hộ và được tính bằng cách chia tổng số nữ cho tổng số thành viên trong hộ Hộ có tỷ lệ nữ cao hơn được kỳ vọng có chi tiêu y tế thấp hơn (-)
+ Crop land area là biến liên tục cho biết diện tích đất canh tác mà hộ sở hữu gồm diện tích đất nông nghiệp, lâm nghiệp và mặt nước nuôi trồng thủy sản, đơn vị
m2 Diện tích đất canh tác của hộ tăng thì mức chi tiêu y tế được kỳ vọng tăng (+) + Living area là biến liên tục cho biết tổng diện tích đất ở của hộ gia đình, được tính bằng cách cộng diện tích của tất cả các ngôi nhà mà hộ đang sở hữu, đơn vị m2 Diện tích đất ở của hộ tăng thì mức chi tiêu y tế được kỳ vọng tăng (+)
+ Type of housing là biến phân loại cho biết hộ gia đình đang sở hữu loại nhà ở nào, 1=Biệt thự, 2=Nhà kiên cố khép kín, 3=Nhà kiên cố không khép kín, 4=Nhà
Trang 34bán kiên cố, 5=Nhà tạm và khác Nếu 1=Biệt thự làm base outcome thì kỳ vọng mức chi tiêu y tế của các hộ sở hữu các loại nhà ở khác cao hơn (+)
+ Road là biến nhị phân cho biết hộ gia đình sống ở địa phương có đường xá đi lại hay không với 1=Yes và 0=No Hộ sống ở địa phương có giao thông thuận lợi được kỳ vọng có mức chi tiêu y tế cao hơn những hộ khác (+)
- Các chỉ số h,d lần lượt là hộ gia đình h và địa phương d
- β0 và μh lần lượt là hệ số cắt và phần dư của mô hình
Mô hình 3: Với mục tiêu nghiên cứu thứ ba là kiểm tra tác động của thiên tai
đến sức khỏe của trẻ em thì mô hình phân tích được đề xuất như sau:
𝐻𝐴𝑍, 𝑊𝐴𝑍, 𝑊𝐻𝑍𝑖ℎ𝑑 = 𝛽0+ 𝛽1 𝐹𝑙𝑜𝑜𝑑𝑑+ 𝛽2 𝑆𝑡𝑜𝑟𝑚𝑑+ 𝛽3 𝐷𝑟𝑜𝑢𝑔ℎ𝑡𝑑+ 𝛽4𝐺𝑒𝑛𝑑𝑒𝑟 𝑐ℎ𝑖𝑙𝑑 𝑖ℎ𝑑 + 𝛽5 𝐸𝑡ℎ𝑛𝑖𝑐𝑖𝑡𝑦𝑖ℎ𝑑+ 𝛽6 𝐴𝑔𝑒 𝑚𝑜𝑡ℎ𝑒𝑟𝑖ℎ𝑑+ 𝛽7 𝐸𝑑𝑢 𝑚𝑜𝑡ℎ𝑒𝑟𝑖ℎ𝑑+ 𝛽8 𝑇𝑜𝑡𝑎𝑙 𝑚𝑒𝑚𝑏𝑒𝑟𝑠ℎ𝑑 + 𝛽9 𝐺𝑒𝑛𝑑𝑒𝑟 ℎ𝑒𝑎𝑑ℎ𝑑+ 𝛽10 𝑁𝑢𝑚𝑏𝑒𝑟 𝑜𝑓 𝑐ℎ𝑖𝑙𝑑 𝑢𝑛𝑑𝑒𝑟 5ℎ𝑑+ 𝛽11 𝑊𝑒𝑎𝑙𝑡ℎ 𝑖 𝑞𝑢𝑖𝑛𝑡𝑖𝑙𝑒𝑠ℎ𝑑 + 𝜇𝑖ℎ𝑑 (3.3)
Trong đó:
- Biến phụ thuộc là HAZ, WAZ và WHZ, tương ứng là chỉ số chiều cao theo tuổi, cân nặng theo tuổi và cân nặng theo chiều cao của trẻ em dưới 5 tuổi Là các biến liên tục và được tính theo công thức đã được trình bày cụ thể trong chương 2
- Biến giải thích gồm:
+ Flood là biến nhị phân, cho biết trẻ có sống ở vùng chịu ảnh hưởng của lũ lụt hay không, có hai giá trị 1=Yes và 0=No Trẻ sống ở vùng lũ được kỳ vọng có các chỉ số phát triển thấp hơn trẻ sống ở vùng không chịu ảnh hưởng (-)
+ Storm là biến nhị phân cho biết trẻ có sống ở khu vực chịu ảnh hưởng của bão hay không, có hai giá trị 1=Yes, 0=No Trẻ sống ở vùng bão được kỳ vọng có các chỉ số phát triển thấp hơn trẻ sống ở vùng không chịu ảnh hưởng (-)
+ Drought là biến nhị phân cho biết trẻ có sống ở khu vực chịu ảnh hưởng của hạn hán hay không, có hai giá trị 1=Yes, 0=No Trẻ sống ở vùng hạn hán được kỳ vọng có các chỉ số phát triển thấp hơn trẻ sống ở vùng không chịu ảnh hưởng (-) + Gender child là biến nhị phân cho biết giới tính của trẻ với 1=Male và 0=Female Trẻ em nam được kỳ vọng có các chỉ số phát triển cao hơn trẻ em nữ (+)
Trang 35+ Ethnicity là biến nhị phân, có giá trị 1 nếu trẻ là người dân tộc kinh và có giá trị là 0 nếu trẻ là người dân tộc thiểu số Trẻ em người dân tộc kinh được kỳ vọng
có các chỉ số phát triển cao hơn trẻ em người dân tộc thiểu số (+)
+ Age mother là biến liên tục cho biết tuổi của mẹ khi sinh trẻ, đơn vị tính là tuổi Được kỳ vọng là có tác động tích cực đến các chỉ số phát triển của trẻ (+) + Edu mother là biến phân loại, có giá trị 0 khi mẹ không có trình độ học vấn, 1 khi mẹ có trình độ học vấn ở bậc tiểu học, có giá trị 2 khi mẹ có trình độ học vấn ở bậc trung học cơ sở, có giá trị 3 khi mẹ có trình độ học vấn ở bậc trung học phổ thông và có giá trị 4 khi mẹ có trình độ học vấn ở bậc cao đẳng/đại học Trẻ có mẹ
có trình độ học vấn được kỳ vọng có chỉ số phát triển cao hơn so với trẻ có mẹ không có trình độ học vấn (+)
+ Total members là biến liên tục cho biết tổng số người trong hộ, đơn vị tính là người Được kỳ vọng có tác động tiêu cực đến các chỉ số phát triển của trẻ (-)
+ Number of child under 5 là biến liên tục cho biết tổng số trẻ em dưới 5 tuổi trong hộ, đơn vị người Được kỳ vọng tác động tiêu cực đến chỉ số phát triển của trẻ
em (-)
+ Gender head là biến nhị phân cho biết giới tính của chủ hộ, với 1=Male và 0=Female Trẻ thuộc hộ gia đình có chủ hộ là nam được kỳ vọng có các chỉ số phát triển cao hơn trẻ thuộc hộ gia đình có chủ hộ là nữ (+)
+ Wealth index quintiles là biến phân loại cho biết hộ gia đình thuộc nhóm thu nhập nào Wealth index quintiles có giá trị 1 khi hộ gia đình thuộc nhóm 20% dân
số có thu nhập thấp nhất, có giá trị 2 khi hộ gia đình thuộc nhóm 20% dân số có thu nhập thấp thứ hai, có giá trị 3 khi hộ gia đình thuộc nhóm 20% dân số có thu nhập trung bình, có giá trị 4 khi hộ gia đình thuộc nhóm 20% dân số có thu nhập cao thứ hai và có giá trị 5 khi hộ gia đình thuộc nhóm 20% dân số có thu nhập cao nhất Trẻ thuộc hộ gia đình có thu nhập cao được kỳ vọng có chỉ số phát triển cao hơn trẻ thuộc hộ gia đình có thu nhập thấp (+)
Trang 363.3 Phương pháp kinh tế lượng
Trong nghiên cứu này, tác giá sử dụng hai dạng mô hình kinh tế lượng là mô hình hồi quy tuyến tính đa biến (hay mô hình hồi quy bội) và mô hình Logit (hay
mô hình Logistic) Thông tin cơ bản về hai dạng mô hình này sẽ được trình bày ở các phần sau:
3.3.1 Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến
Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến là mô hình gồm nhiều biến độc lập cùng giải thích cho một biến phụ thuộc, nghĩa là mô hình này cho phép kiểm soát nhiều yếu
tố khác nhau có tác động đồng thời lên biến phụ thuộc (Wooldridge, 2015) Và được viết dưới dạng tổng quát như sau:
𝑌𝑖 = 𝛽0+ 𝛽1𝑋1𝑖 + 𝛽2𝑋2𝑖 + 𝛽3𝑋3𝑖 + … + 𝛽𝑘𝑋𝑘𝑖+ 𝑢𝑖 (3.4) Trong đó:
Y là biến phụ thuộc
X1, X2, , Xk là các biến độc lập
β0 là hệ số chặn
β1, β2, , β𝑘 là hệ số hồi quy riêng phần của X1, X2, , Xk
u là sai số của mô hình
i là quan sát thứ i
Damodar (1995) đưa ra một số giả định dành cho mô hình hồi quy tuyến tính đa biến như sau:
Giả định 1: Giá trị trung bình của ui bằng 0, hay 𝐸(𝑢𝑖|𝑋1𝑖, 𝑋2𝑖… 𝑋𝑘𝑖) = 0
Giả định 2: Không có tương quan chuỗi, hay cov (ui, uj) = 0 với 𝑖 ≠ 𝑗
Giả định 3: Phương sai không đổi, hay var(ui) = 𝜎2
Giả định 4: Tích sai giữa ui và mỗi biến độc lập bằng 0, hay cov (ui, X1i) = cov (ui, X2i) = = cov (ui, Xki) = 0
Giả định 5: Mô hình được xác định đúng
Giả định 6: Không có quan hệ tuyến tính rõ ràng giữa các biến độc lập
Trang 37Theo Wooldridge (2015), phương pháp được sử dụng để ước lượng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến là phương pháp bình phương tối thiểu thông thường (Ordinary least squares - OLS) Để tìm các hàm ước lượng OLS, đầu tiên phải viết lại hàm hồi quy mẫu (SRF) từ hàm hồi tổng thể (PRF) của (3.4) như sau:
𝑌̂ = 𝛽𝑖 ̂ + 𝛽0 ̂𝑋1 1𝑖 + 𝛽̂𝑋2 2𝑖 + 𝛽̂𝑋3 3𝑖 + … + 𝛽̂𝑋𝑘 𝑘𝑖 (3.5) Trong đó: β̂ là ước lượng của hệ số chặn 𝛃0 𝟎
β̂, β1 ̂, , β2 ̂ là ước lượng của hệ số hồi quy riêng phần βk 1, β2, , βk Xác định hàm SRF sao cho giá trị ước lượng của Y phải gần với giá trị quan sát của Y nhất Để thõa mãn tiêu chí này, phương pháp bình phương tối thiểu thông thường sẽ lựa chọn các giá trị của các thông số chưa biết sao cho tổng các bình phương của phần dư (RSS) là nhỏ nhất, được viết dưới dạng toán học như sau: min ∑𝑛𝑖=1𝑢𝑖2 = ∑𝑛𝑖=1(𝑌𝑖 − 𝛽̂ − 𝛽0 ̂𝑋1 1𝑖 − 𝛽̂𝑋2 2𝑖 − 𝛽̂𝑋3 3𝑖 − … − 𝛽̂𝑋𝑘 𝑘𝑖)2 (3.6) Phương pháp để tối thiểu hóa biểu thức (3.6) là giải hệ phương trình gồm k+1 phương trình tuyến tính với k+1 ước lượng β̂, β0 ̂, β1 ̂, , β2 ̂ chưa biết, bằng cách klấy đạo hàm biểu thức (3.6) theo các đại lượng chưa biết Được mô tả dưới dạng toán học như sau:
Trang 383.3.2 Mô hình Logit
Mô hình logit được sử dụng trong trường hợp biến phụ thuộc là biến nhị phân,
mô hình này tránh được những nhược điểm của mô hình xác suất tuyến tính (Wooldridge, 2015) Giả sử xác suất của biến Y phụ thuộc vào một chỉ số 𝐼𝑖∗ không quan sát được Và chỉ số này là một hàm của các biến độc lập:
𝐼𝑖∗ = 𝛽𝑋𝑖 + 𝑢𝑖 (3.7) Trong đó: 𝛽𝑋 = 𝛽1𝑋1+ 𝛽2𝑋2+ ⋯ + 𝛽𝑘𝑋𝑘
𝑢 là sai số
𝑖 là quan sát thứ i Giả định rằng: Yi = 1 if Ii∗ ≥0
Yi = 0 if Ii∗ ≤0 Xác suất của Y=1 được xác định như sau:
𝑃(𝑌𝑖 = 1) = 𝑃(𝐼𝑖∗≥ 0) = 𝑃(𝛽𝑋𝑖 + 𝑢𝑖 ≥ 0) = 𝑃(𝑢𝑖 ≥ −𝛽𝑋𝑖) (3.8)
Xác suất này phụ thuộc vào phân phối xác suất của 𝑌𝑖, mà 𝑌𝑖 lại phụ thuộc vào phân phối xác suất của ui Nếu phân phối xác suất này là đối xứng quanh giá trị trung bình của nó thì phương trình (3.8) được viết lại như sau:
Tỷ số Odd là tỷ số giữa P(Y=1) và P(Y=0): 𝑃𝑖
1−𝑃𝑖 = 1+𝑒𝑍𝑖
1+𝑒 −𝑍𝑖 = 𝑒𝑍𝑖 (3.12) Lấy logarit hai vế phương trình (3.12) ta được dạng hàm của mô hình logit:
Li = ln( 𝑃𝑖
1−𝑃𝑖) = 𝛽𝑋𝑖 (3.13) Hoặc cũng có thể viết mô hình logit dướng dạng: P (Y=1|X) = 1
1+𝑒−𝛽𝑋 (3.14)
Trang 39Phương pháp được sử dụng để ước lượng mô hình logit là phương pháp ước lượng hợp lý cực đại (Maximum likelihood estimation-MLE) Đây là phương pháp
xác định các hệ số β sao cho giá trị dự báo của Y phải gần nhất so với giá trị quan sát của Y, hay nói cách khác là xác định các hệ số β sao cho hàm log L đạt cực đại:
𝑙𝑜𝑔𝐿 = ∑𝑛𝑖=1[𝑌𝑖log 𝑃𝑖 + (1 − 𝑌𝑖) log( 1 − 𝑃𝑖 )]→ 𝑚𝑎𝑥 (3.15) Lưu ý là hệ số hồi quy của mô hình logit chỉ cho biết chiều tác động của các biến độc lập X lên biến phụ thuộc Y, nếu muốn biết chính xác khi X tăng lên 1 đơn vị thì xác suất Pi thay đổi như thế nào thì cần phải tính tác động biên theo công thức sau:
𝛾1𝑋1+ 𝛾2𝑋2+ ⋯ + 𝛾𝑘𝑋𝑘 = 0 (3.17) Trong đó, γ1, γ2, , γk là các hằng số và không đồng thời bằng 0
Tuy nhiên, Damodar (1995) cho rằng khái niệm đa cộng tuyến có thể được dùng với nghĩa rộng hơn, không những là trường hợp đa cộng tuyến hoàn hảo mà còn cả trường hợp các biến độc lập X có tương quan với nhau nhưng không hoàn hảo:
𝛾1𝑋1+ 𝛾2𝑋2+ ⋯ + 𝛾𝑘𝑋𝑘 + 𝑉𝑖 = 0 (3.18) Với Vi là số hạng sai số ngẫu nhiên
Hậu quả của đa động tuyến là sai số chuẩn Se(β) bị phóng đại dẫn đến thống kê t thấp, p-value cao và có khuynh hướng không bác bỏ giả thuyết H0 (β = 0) Do đó, nhiều biến trong mô hình không có ý nghĩa thống kê một cách sai lệch
Trang 40Có nhiều cách để kiểm tra mô hình có bị hiện tượng đa cộng tuyến hay không, trong phần này tác giá chỉ trình bày một phương pháp thông dụng là sử dụng hệ số phóng đại phương sai (Variance Inflation Factor -VIF) VIF được tính như sau:
1−𝑟232 (3.19) VIF cho thấy khi tồn tại đa cộng tuyến thì phương sai của một hàm ước lượng sẽ tăng như thế nào Khi 𝑟232 =1 thì VIF → ∞, nếu không có đa cộng tuyến 𝑟232 =0 thì VIF=1
Var(𝛽̂) = 2 𝜎2
∑ 𝑋2𝑖2(1−𝑟232 ) = 𝜎2
∑ 𝑋2𝑖2 VIF (3.20)Công thức (3.20) cho thấy phương sai của 𝛽̂ tỷ lệ với hệ số VIF Nghĩa là VIF 2càng tăng thì phương sai 𝛽̂ càng tăng và ngược lại Thường hệ số VIF vượt quá 10 2thì có thể kết luận tồn tại hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình
Phương sai sai số thay đổi
Phương sai sai số thay đổi được hiểu là phương sai có điều kiện của Yi (bằng với phương sai của ui) thay đổi khi các biến độc lập X thay đổi, ký hiệu là E(ui)=𝜎𝑖2 và được tính theo công thức sau:
Var(𝛽̂) 2 = ∑ 𝑋𝑖2𝜎𝑖2
(∑ 𝑋𝑖2)2 (3.21) Hiện tượng phương sai sai số thay đổi được minh họa bằng đồ thị như sau:
Hình 3.2 Đồ thị minh họa cho phương sai sai số thay đổi
Nguồn: Damodar (1995)