1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mức sẵn lòng trả của hộ gia đình cho dịch vụ cung cấp nước sinh hoạt trên địa bàn tỉnh bến tre

94 179 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT LUẬN VĂN Đề tài “Mức sẵn lòng trả của hộ gia đình cho dịch vụ cung cấp nước sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Bến Tre” được thực hiện nhằm ước tính mức sẵn lòng trả của hộ gia đình đã

Trang 1

TRẦN THỊ MỘNG NI

MỨC SẴN LÒNG TRẢ CỦA HỘ GIA ĐÌNH CHO DỊCH VỤ CUNG CẤP NƯỚC SINH HOẠT

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2018

Trang 2

TRẦN THỊ MỘNG NI

MỨC SẴN LÒNG TRẢ CỦA HỘ GIA ĐÌNH CHO DỊCH VỤ CUNG CẤP NƯỚC SINH HOẠT

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE

Chuyên ngành: Kinh tế phát triển

Mã số: 8310105

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS LÊ THANH LOAN

TP Hồ Chí Minh – Năm 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài “Mức sẵn lòng trả của hộ gia đình cho dịch vụ cung

cấp nước sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Bến Tre” là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi

Các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn này là trung thực, có trích dẫn rõ

ràng và chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác

TP Hồ Chí Minh, ngày 02 tháng 10 năm 2018

Tác giả luận văn

Trần Thị Mộng Ni

Trang 4

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

TÓM TẮT LUẬN VĂN

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.2.1 Mục tiêu chung 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 4

1.2.3 Câu hỏi nghiên cứu 4

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 4

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 5

1.4 Cấu trúc của luận văn 6

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 7

2.1 Khái niệm 7

2.1.1 Mức sẵn lòng trả 7

2.1.2 Hộ gia đình 8

2.1.3 Nước sinh hoạt 8

2.2 Lý thuyết 8

2.2.1 Tổng giá trị kinh tế của tài nguyên môi trường 8

2.2.2 Lý thuyết lựa chọn công 11

2.3 Lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan 12

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

3.1 Khung phân tích 17

3.2 Mô hình phân tích 19

3.3 Phương pháp định giá ngẫu nhiên 21

Trang 5

3.4.1 Mô hình ước tính MWTP của hộ gia đình đã lắp đặt nước máy để

cải thiện chất lượng nước máy 25

3.4.2 Mô hình ước tính MWTP của hộ gia đình chưa lắp đặt hệ thống nước máy cho dịch vụ lắp đặt đường ống để kết nối nước máy 29

3.5 Dữ liệu nghiên cứu 33

3.5.1 Dữ liệu thứ cấp 33

3.5.2 Dữ liệu sơ cấp 33

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35

4.1 Tổng quan về thực trạng sử dụng nước sinh hoạt trên địa bàn huyện Bình Đại 35

4.1.1 Đặc điểm tự nhiên 35

4.1.2 Tài nguyên nước mặt 35

4.1.3 Vấn đề xâm nhập mặn 36

4.1.4 Thực trạng sử dụng nước sinh hoạt trên địa bàn huyện Bình Đại 37 4.2 Thống kê mô tả mẫu khảo sát 39

4.2.1 Mô tả thống kê đặc điểm mẫu khảo sát 40

4.2.2 Đặc điểm kinh tế xã hội của mẫu khảo sát 42

4.2.3 Đánh giá về thực trạng cung cấp nước sinh hoạt tại huyện Bình Đại 44

4.3 Kết quả hồi quy 48

4.3.1 Ước tính MWTP của hộ gia đình đã lắp đặt nước máy để cải thiện chất lượng nước máy 48

4.3.2 Ước tính MWTP của hộ gia đình chưa lắp đặt nước máy để lắp đặt đường ống kết nối nước máy 52

4.4 Ý nghĩa của kết quả nghiên cứu 59

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 61

5.1 Kết luận 61

5.2 Khuyến nghị chính sách 62

5.3 Hạn chế của nghiên cứu 63

TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CVM Phương pháp định giá ngẫu nhiên

MWTP Mức sẵn lòng trả trung bình ước lượng WTP Mức sẵn lòng trả

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Phương pháp Kaplan-Meier-Turnbull 20

Bảng 3.2: Các biến số trong mô hình logit đối với mẫu khảo sát hộ đã được lắp đặt nước máy 28

Bảng 3.3: Các biến số trong mô hình logit đối với mẫu khảo sát hộ chưa được lắp đặt nước máy 31

Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến giải thích trong mô hình 40

Bảng 4.2: Mô tả đặc điểm kinh tế xã hội của mẫu khảo sát 42

Bảng 4.3: Mô tả đặc điểm sử dụng nước sinh hoạt của mẫu khảo sát 44

Bảng 4.4: Kết quả hồi quy logit để cải thiện chất lượng nước máy 49

Bảng 4.5: Kết quả kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến của hồi quy logit để cải thiện chất lượng nước máy 50

Bảng 4.6: Kết quả hồi quy logit để lắp đặt nước máy 53

Bảng 4.7: Kết quả kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến của hồi quy logit để lắp đặt nước máy 54

Bảng 4.8: Các giá trị ước tính WTP cho 1 m3 nước máy của hộ gia đình chưa lắp đặt nước máy 57

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 2.1: Tổng giá trị kinh tế của tài nguyên môi trường 9

Hình 2.2: Các phương pháp định giá tài nguyên môi trường 10

Hình 3.1: Khung phân tích 18

Hình 3.2: Đồ thị Kaplan-Meier-Turnbull 21

Hình 4.1: Bản đồ các nhà máy nước trên địa bàn huyện Bình Đại 38

Hình 4.2: Cơ cấu nghề nghiệp của mẫu khảo sát 43

Hình 4.3: Mức sẵn lòng trả để cải thiện chất lượng nước máy của mẫu khảo sát 47

Hình 4.4: Mức sẵn lòng trả để lắp đặt nước máy của mẫu khảo sát 48

Trang 9

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Đề tài “Mức sẵn lòng trả của hộ gia đình cho dịch vụ cung cấp nước sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Bến Tre” được thực hiện nhằm ước tính mức sẵn lòng trả của hộ gia đình đã lắp đặt nước máy để cải thiện chất lượng nước máy, ước tính mức sẵn lòng trả cho dịch vụ lắp đặt đường ống để kết nối nước máy và ước tính mức sẵn lòng trả cho 1 m3 nước máy đối với hộ gia đình chưa lắp đặt nước máy

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên để ước tính mức sẵn lòng trả và các nhân tố tác động đến mức sẵn lòng trả để cải thiện dịch vụ cung cấp nước sinh hoạt của hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Bến Tre Nghiên cứu sử dụng 390 quan sát gồm 246 quan sát là các hộ đã lắp đặt nước máy và 144 quan sát là các hộ chưa lắp đặt nước máy tại 08 xã của huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre Một hộ gia đình

đã lắp đặt nước máy có mức sẵn lòng trả trung bình ước lượng là 83,51 nghìn đồng

để cải thiện chất lượng nước máy Mức sẵn lòng trả trung bình ước lượng để cải thiện chất lượng nước máy chiếm 1,4% thu nhập trung bình hàng tháng, chiếm 1,6% chi tiêu trung bình hàng tháng và bằng 98,96% hóa đơn tiền nước hàng tháng Một hộ gia đình chưa lắp đặt nước máy có mức sẵn lòng trả trung bình ước lượng là 1.833 nghìn đồng để lắp đặt nước máy, cao hơn 1,6 lần mức phí trung bình lắp đặt tại địa phương năm 2018 Với các mức phí lắp đặt đường ống khác nhau, giá nước máy mà các hộ gia đình sẵn lòng chi trả dao động từ 5 đến 11,91 nghìn đồng/m3, cao hơn 1,02 đến 1,24 lần so với giá 1m3 nước máy tại địa phương hiện nay

Các hộ gia đình sẵn lòng trả 32,2 tỷ đồng để cải thiện dịch vụ cung cấp nước sinh hoạt trên địa bàn huyện Bình Đại Với mức sẵn lòng trả này thì một dự án xây dựng mới hoặc mở rộng hệ thống cung cấp nước sinh hoạt hiện có trên địa bàn huyện là hoàn toàn khả thi Các dịch vụ cung cấp nước máy có thể lựa chọn các phương án kết hợp giữa các mức phí lắp đặt đường ống và giá 1 m3 nước máy mà

hộ gia đình sẵn lòng trả để xây dựng dự án cải thiện dịch vụ cung cấp nước sinh hoạt mang lại hiệu quả kinh tế cho hoạt động của nhà máy nước và bảo đảm lợi ích cho người tiêu dùng

Trang 10

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU

1.1 Đặt vấn đề

Nước là một thành phần cơ bản của hệ sinh thái, xã hội và là hàng hóa kinh tế (Rogers và cộng sự, 1998; Cole và cộng sự, 1999) Sử dụng tài nguyên nước đang nhận được nhiều quan tâm, đặc biệt khi nhu cầu sử dụng nước tiếp tục gia tăng (Mintz và cộng sự, 2001) Tại nhiều nơi ở các nước đang phát triển, mọi người phải dựa vào nguồn nước để sử dụng cho cả con người và động vật Ngay cả khi nguồn nước mặt là vô tận, nhưng thường bị ô nhiễm bởi chất thải của động vật và con người (Water World, 2000) Cung cấp nước từ các nguồn ô nhiễm này sẽ đe dọa đến sức khỏe và phúc lợi của con người, tăng chi phí y tế, năng suất lao động thấp

và làm giảm tỷ lệ trẻ em đến trường (Ngân hàng Thế giới, 1994) Khả năng tiếp cận kém với nước sạch và vệ sinh ở các nước có thu nhập thấp là thách thức đối với sức khỏe cộng đồng và phát triển, mặc dù thời gian gần đây nhiều nước đã mở rộng vùng bao phủ Tổ chức Y tế Thế giới và Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc ước tính rằng hơn 780 triệu người trên thế giới không được tiếp cận với nguồn nước an toàn

và không nằm trong vùng bao phủ nước sạch dẫn đến bệnh tiêu chảy ngày càng tăng (WHO/UNICEF, 2012) Hàng năm, hàng triệu người nghèo nhất trên thế giới chết bởi các căn bệnh gây ra do dịch vụ cấp nước và vệ sinh không bảo đảm, trong đó phụ nữ và trẻ em là nạn nhân chính Tiếp cận với nước sạch và vệ sinh giúp cải thiện sức khỏe của con người và có tác động tích cực gián tiếp đến các cơ hội giáo dục, bình đẳng giới và quyền của phụ nữ Các nghiên cứu đã chứng minh rằng cải thiện dịch vụ cung cấp nước làm tăng số học sinh nữ đến trường và giải phóng phụ

nữ khỏi việc đi lấy nước mang về nhà sử dụng (WSP, 2003)

Hiện nay, tỉnh Bến Tre đang đối mặt với nhiều tác động do biến đổi khí hậu và nước biển dâng Do ảnh hưởng của xâm nhập mặn và hạn hán nên chất lượng nguồn nước mặt bị suy giảm, dẫn đến vấn đề khan hiếm nước ngọt phục vụ sinh hoạt xảy

ra ở hầu hết các địa phương Bên cạnh đó, tình trạng ô nhiễm nguồn nước mặt làm

Trang 11

nhu cầu sử dụng nước máy ngày càng gia tăng Mùa khô 2015-2016, tỉnh Bến Tre

có 88.208 hộ gia đình với khoảng 353.000 người ở các vùng nông thôn thiếu nước ngọt, phải mua nước giếng hoặc các xe bồn chở từ tỉnh khác đến với giá rất cao Do không được tiếp cận với nước máy nên đa số người dân nông thôn thường dự trữ nước mưa, khoan giếng hoặc dùng nước sông cho các mục đích sinh hoạt hằng ngày Trước tình hình hạn mặn xâm nhập sâu vào đất liền, nguồn nước mặt bị ô nhiễm, hệ thống thủy lợi ngọt hóa chưa hoàn chỉnh nên thiếu nguồn nước ngọt để

xử lý, ảnh hưởng đến chất lượng và lượng nước máy cung cấp cho người dân Bình Đại là huyện ven biển của tỉnh Bến Tre Hàng năm vào mùa khô, mặn xâm nhập sâu vào nội đồng, kèm theo đó là hạn hán, gây nên tình trạng thiếu nước ngọt phục vụ sinh hoạt cho người dân trên địa bàn huyện Hiện tại trên địa bàn huyện có 6 nhà máy nước đang hoạt động, cung cấp nước máy cho khoảng 21.906 hộ gia đình, đạt 57% Nhu cầu sử dụng nước máy trên địa bàn huyện hiện nay là rất lớn, đặc biệt là

ở các xã như Thạnh Phước, Thừa Đức, Thới Thuận, Định Trung, Phú Long, Bình Thới

Trong lịch sử, nước luôn có sẵn để đáp ứng nhu cầu của con người và do đó nước được xem là miễn phí, và tiếp tục duy trì quan điểm này ngay cả khi tăng dân

số và tăng trưởng kinh tế Kết quả là nhiều con sông và nguồn nước ngầm đã bị ô nhiễm và ngày nay nước trở thành nguồn tài nguyên khan hiếm Do đó, để quản lý tài nguyên nước hiệu quả đòi hỏi phải xem nước là một hàng hóa kinh tế Quan điểm xem nước là một hàng hóa kinh tế không nhất thiết phải có giá thị trường cho nước, nghĩa là nước là một nguồn tài nguyên quý giá và khan hiếm không nên lãng phí, và định giá phù hợp sẽ đảm bảo sử dụng hiệu quả (Borgoyary, 1988) Hiện nay, nguồn nước đầu vào để xử lý của các nhà máy nước chủ yếu là nguồn nước mặt, vì nguồn nước ngầm không đảm bảo tiêu chuẩn để đưa vào sử dụng Đa số các dịch vụ cung cấp nước máy cho các hộ gia đình sống tại những khu vực dân cư tập trung; việc cung cấp nước máy cho hộ gia đình sống ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa còn gặp nhiều khó khăn Mặt khác, nguồn vốn ngân sách nhà nước đầu tư cho hạ tầng cung cấp nước máy cho khu vực nông thôn còn rất thấp và thiếu so với nhu cầu

Trang 12

do suất đầu tư cho các công trình cấp nước thường rất lớn Hệ thống cung cấp nước máy phục vụ sinh hoạt cho hộ gia đình trên địa bàn huyện Bình Đại gồm Trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn và một số công ty tư nhân nên có hiện tượng chồng lấn phạm vi cấp nước giữa các đơn vị Chất lượng nước của các nhà máy nước không bảo đảm an toàn, không đồng nhất và không đáp ứng đủ nhu cầu

sử dụng nước sinh hoạt của các hộ gia đình

Việc cung cấp nước máy là một vấn đề quan trọng giúp cải thiện hạnh phúc của người dân (Teshome, 2007) Nước máy là một hàng hóa tạo ra nhiều lợi ích cho

xã hội, vượt xa chi phí cung cấp (Kargbo, 2003) Nước có thể miễn phí tại nguồn, nhưng một khi được cung cấp thuận tiện và đáng tin cậy thì người tiêu dùng phải trả tiền, và để sử dụng bền vững, người tiêu dùng phải có khả năng và sẵn lòng trả tiền (WEDC, 1999) Mức sẵn lòng trả (WTP) cho các dịch vụ cấp nước thường cao nếu các dịch vụ này phù hợp và hiệu quả Tuy nhiên, nhiều chương trình cung cấp nước máy ở các nước đang phát triển không có một hoặc bất kỳ đặc điểm nào trong số này (Wright, 1997) Việc nghiên cứu về WTP cho cải thiện dịch vụ cung cấp nước sinh hoạt có ý nghĩa quan trọng giúp các dịch vụ cung cấp nước máy có định hướng phát triển phù hợp nhằm thỏa mãn nhu cầu của đại đa số dân cư và đặc biệt là có cơ

sở để mở rộng mạng lưới cấp nước máy đến các vùng nông thôn Qua đó còn giúp các nhà làm chính sách có giải pháp cung cấp nước máy cho phát triển kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội Do đó, việc nghiên cứu nhu cầu sử dụng và ước tính WTP

để cải thiện chất lượng nước sinh hoạt trở nên cấp thiết, đặc biệt là tại Bến Tre với những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu Vì vậy, tôi chọn đề tài “Mức sẵn lòng trả của hộ gia đình cho dịch vụ cung cấp nước sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Bến Tre” để làm luận văn thạc sĩ

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Ước tính WTP và các nhân tố tác động đến WTP cho dịch vụ cung cấp nước sinh hoạt của hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Bến Tre

Trang 13

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

Đề tài được thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu sau:

Mục tiêu 1: Ước tính WTP của hộ gia đình đã lắp đặt nước máy để cải thiện chất lượng dịch vụ cung cấp nước máy dùng trong sinh hoạt và các nhân tố tác động đến WTP này

Mục tiêu 2: Ước tính WTP của hộ gia đình chưa lắp đặt hệ thống nước máy cho dịch vụ lắp đặt đường ống để kết nối hệ thống cung cấp nước máy dùng trong sinh hoạt và các nhân tố tác động đến WTP này

Mục tiêu 3: Ước tính WTP cho 1 m3 nước máy của hộ gia đình chưa lắp đặt hệ thống nước máy

1.2.3 Câu hỏi nghiên cứu

- Các nhân tố nào tác động đến WTP của hộ gia đình đã lắp đặt nước máy để cải thiện chất lượng nước máy?

- Mức sẵn lòng trả trung bình ước lượng (MWTP) cho cải thiện chất lượng nước máy của những hộ gia đình đã lắp đặt hệ thống nước máy là bao nhiêu?

- Các nhân tố nào tác động đến WTP của hộ gia đình chưa lắp đặt nước máy

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hộ gia đình đã lắp đặt nước máy và chưa lắp đặt nước máy tại các xã Bình Thới, Bình Thắng, Đại Hòa Lộc, Thạnh Phước, Phú Thuận, Phú Vang, Long Định, thị trấn Bình Đại – của huyện Bình Đại,

Trang 14

tỉnh Bến Tre Các khu vực này đã có hệ thống nước máy nhưng lượng nước máy cung cấp vẫn thiếu, hệ thống đường ống cung cấp nước máy chỉ tập trung ở một số khu vực đông dân cư, vẫn còn 43% hộ gia đình chưa tiếp cận được nguồn nước máy Đặc biệt là trong mùa khô, nguồn nước cung cấp từ các nhà máy nước không đáp ứng được nhu cầu về số lượng nước và chất lượng nước

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Đề tài tập trung ước tính MWTP của hộ gia đình đã lắp đặt nước máy để cải thiện chất lượng nước máy, ước tính MWTP của hộ gia đình chưa lắp đặt nước máy cho dịch vụ lắp đặt đường ống để kết nối hệ thống cung cấp nước máy và WTP trung bình cho 1 m3 nước máy

Dịch vụ cung cấp nước sinh hoạt trong nghiên cứu này được hiểu là các hoạt động từ các nhà máy nước cung cấp nước máy cho hộ gia đình Lắp đặt đường ống

để kết nối hệ thống cung cấp nước máy là hệ thống các đường ống phân phối lấy nước từ các đường ống chính và ống nối dẫn nước tới các khách hàng sử dụng nước Chất lượng nước máy là mức độ sạch và an toàn của nước máy đối với sức khỏe, độ mạnh của nguồn nước máy cung cấp (áp lực nước máy) và tính ổn định trong quá trình cung cấp nước máy

Về không gian: Đề tài tập trung khảo sát các hộ gia đình đang sinh sống tại các xã Bình Thới, Bình Thắng, Đại Hòa Lộc, Thạnh Phước, Phú Thuận, Phú Vang, Long Định, thị trấn Bình Đại – của huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre Đây là các xã mà nhu cầu sử dụng nước máy của các hộ gia đình chưa được đáp ứng, các nhà máy nước hiện có cung cấp nước máy với chất lượng chưa đảm bảo

Về thời gian: Đề tài được tiến hành nghiên cứu và thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 3/2018 đến tháng 8/2018 Thời gian thu thập số liệu sơ cấp trong tháng 6/2018

Trang 15

1.4 Cấu trúc của luận văn

Luận văn bao gồm 5 chương:

Chương 1: Giới thiệu Chương này giới thiệu vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu và cấu trúc của luận văn

Chương 2: Tổng quan lý thuyết Chương này trình bày các khái niệm, lý thuyết và lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 3 trình bày khung phân tích, mô hình phân tích, phương pháp định giá ngẫu nhiên, phương pháp kinh tế lượng và dữ liệu nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 4 trình bày tổng quan vấn đề nghiên cứu, thống kê mô tả mẫu khảo sát, kết quả hồi quy và ý nghĩa của kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách Chương này trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu, khuyến nghị chính sách và hạn chế của nghiên cứu

Trang 16

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT

2.1 Khái niệm

2.1.1 Mức sẵn lòng trả

Khái niệm cơ bản trong kinh tế học là các cá nhân có sự ưa thích về hàng hóa

và dịch vụ; khi phải lựa chọn, họ có thể nói được là họ thích hàng hóa này hơn hàng hóa khác Giá trị của hàng hóa đối với một người là giá mà họ sẵn lòng trả và có thể

từ bỏ để có được hàng hóa Vì vậy, giá trị của một hàng hóa đối với một người chính là giá họ sẵn lòng trả cho hàng hóa ấy Tài sản có ảnh hưởng đến WTP, một người càng giàu thì họ càng có khả năng chi trả cho các hàng hóa và dịch vụ nhiều hơn WTP cũng phản ánh khả năng chi trả

Theo Turner, Pearce và Bateman (1994) cho rằng WTP đo lường sự ưa thích của cá nhân hay xã hội đối với một hàng hóa Đo lường mức độ thỏa mãn khi sử dụng hàng hóa nào đó trên thị trường được bộc lộ bằng WTP của họ đối với mặt hàng đó

Mankiw (2003), WTP là một khoản tiền tối đa mà cá nhân đồng ý chi trả cho một hàng hóa để cân bằng sự thay đổi thỏa dụng Khoản tiền tối đa đó là một biểu hiện về giá trị của hàng hóa đó đối với người tiêu dùng WTP đồng thời là đường cầu thị trường tạo cơ sở xác định lợi ích đối với xã hội khi tiêu dùng hay bán một mặt hàng nào đó

WTP cho hàng hóa, dịch vụ môi trường là số tiền tối đa mà một cá nhân sẵn lòng chi trả cho một sự cải thiện hàng hóa, dịch vụ môi trường (Freeman, 2003) WTP thể hiện lợi ích về mặt xã hội của các dự án đầu tư công

Begg (2009), cầu của người tiêu dùng là mối quan hệ giữa giá và lượng của hàng hóa Các điểm trên đường cầu thể hiện mối quan hệ giữa giá và lượng cầu cho biết các WTP của người tiêu dùng Mối quan hệ giữa giá và lượng cầu là nghịch biến, lượng cầu tăng khi giá giảm và ngược lại

Trang 17

Trong luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm WTP cho hàng hóa, dịch vụ môi trường là số tiền tối đa mà một cá nhân sẵn lòng chi trả cho một sự cải thiện hàng hóa, dịch vụ môi trường

2.1.2 Hộ gia đình

Gia đình là một tổ chức nhạy cảm với những biến động nhỏ, ngắn hạn trong môi trường kinh tế xã hội và là một phương tiện chính mà cá nhân thích ứng với những thay đổi trong các cơ hội và các ràng buộc mà họ gặp phải (Netting, 1979)

Hộ gia đình là những người cùng sinh sống chung trong một ngôi nhà, ăn uống chung và sử dụng chung nguồn ngân quỹ (Haviland, 2003) Hộ gia đình là những người cùng sinh hoạt chung trong một ngôi nhà từ 5 ngày trở lên (Were và cộng sự, 2006) Trong luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm hộ gia đình là những người cùng sinh sống chung trong một ngôi nhà, ăn uống chung và sử dụng chung nguồn ngân quỹ

2.1.3 Nước sinh hoạt

Nước sinh hoạt là nước được sử dụng cho tất cả các mục đích sinh hoạt thông thường như nấu ăn, uống, tắm giặt (Tổ chức y tế thế giới, 1993) Hệ thống cấp nước

là một hệ thống bao gồm các công trình khai thác, xử lý nước, mạng lưới đường ống cung cấp nước máy đến khách hàng sử dụng nước và các công trình phụ trợ có liên quan

2.2 Lý thuyết

2.2.1 Tổng giá trị kinh tế của tài nguyên môi trường

Hoạt động sản xuất hay tiêu dùng luôn tồn tại ngoại tác tiêu cực hoặc tích cực Các ngoại tác này đều ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng môi trường vốn là một dạng hàng hóa trong nền kinh tế Các hàng hóa và dịch vụ môi trường thường không có giá thị trường và do đó khó xác định được giá trị đích thực và tầm quan trọng của chúng Tổng giá trị kinh tế của tài nguyên môi trường giúp xác định giá trị kinh tế của tài nguyên phi thị trường Theo Munasinghe (1993), tổng giá trị kinh tế

Trang 18

của tài nguyên môi trường gồm giá trị sử dụng và giá trị không sử dụng Giá trị sử dụng là giá trị từ hiệu quả sử dụng thực của tài nguyên môi trường gồm giá trị sử dụng trực tiếp và giá trị sử dụng gián tiếp Giá trị không sử dụng là thành phần giá trị của tài nguyên môi trường thu được không phải do việc tiêu dùng một cách trực tiếp hay gián tiếp các dịch vụ do nguồn tài nguyên cung cấp Giá trị không sử dụng thể hiện các giá trị phi phương tiện nằm trong bản chất của sự vật nhưng nó không liên quan đến việc sử dụng thực tế Giá trị không sử dụng gồm giá trị nhiệm ý, giá trị hiện hữu và giá trị lưu truyền Do đặc thù về giá trị của hàng hóa môi trường nên phương pháp đánh giá tác động môi trường khác biệt với các phương pháp đánh giá kinh tế khác Sự khuyết tật của kinh tế thị trường thể hiện trong việc xác định giá trị

sử dụng và giá trị không sử dụng Học thuyết kinh tế đã nhận thấy tầm quan trọng

của giá trị không sử dụng ngày càng tăng lên

Hình 2.1: Tổng giá trị kinh tế của tài nguyên môi trường

Nguồn: Munasinghe (1993)

Giá trị sử dụng trực tiếp là các sản phẩm có thể tiêu dùng trực tiếp, giá trị có được do việc sử dụng trực tiếp hàng hóa dịch vụ môi trường mang lại Giá trị sử dụng gián tiếp là chức năng được sử dụng gián tiếp, giá trị có được do việc sử dụng gián tiếp hàng hóa, dịch vụ môi trường Giá trị không sử dụng là chức năng được sử dụng trong tương lai, hoặc đơn giản là quyền tồn tại Giá trị nhiệm ý thể hiện bằng việc chọn lựa các cách sử dụng môi trường trong tương lai Giá trị hiện hữu là giá

Tổng giá trị kinh tế của tài nguyên môi trường

Giá trị nhiệm ý

Giá trị hiện hữu

Giá trị lưu truyền

Trang 19

trị mà một cá nhân đánh giá việc giữ gìn một tài sản mà người đó hay các thế hệ tương lai không trực tiếp sử dụng Giá trị lưu truyền là giá trị để bảo tồn môi trường

vì lợi ích của các thế hệ sau

Hình 2.2: Các phương pháp định giá tài nguyên môi trường

Nguồn: Turner, Pearce và Bateman (1994)

Việc định giá chất lượng dịch vụ môi trường thường gặp nhiều vấn đề là do hầu hết chúng đều tồn tại không có thị trường và không có giá cả Và vì không có giá cả cho nên chúng được sử dụng như một loại hàng hóa tự do, đây là một vấn đề nan giải của các nhà kinh tế và nhà kinh tế môi trường Trong thực tế, dịch vụ môi trường có giá cả và rất nhiều người sẵn lòng trả để duy trì một dịch vụ môi trường trong sạch hoặc tốt hơn Phương pháp phân tích lợi ích chi phí truyền thống thường sai lầm khi bỏ qua giá trị dịch vụ môi trường và cũng không có phương pháp để đạt

du hành

Định giá hưởng thụ

- Chi phí thay thế

- Chi tiêu bảo

vệ

- Chi phí cơ hội

- Liều lượng đáp ứng

Trang 20

được một sự tính toán đúng về các dịch vụ môi trường Bởi vì hầu hết các ảnh hưởng tới môi trường thường không được ghi chép và phản ánh đầy đủ nên khó đo lường

Hình 2.2 trình bày các phương pháp định giá tài nguyên môi trường Để định giá giá trị tài nguyên môi trường có thể dùng phương pháp dùng đường cầu và không dùng đường cầu Đối với phương pháp dùng đường cầu có thể dùng một trong các phương pháp phát biểu sự ưa thích hoặc bộc lộ sự ưa thích

2.2.2 Lý thuyết lựa chọn công

Lựa chọn công là một quá trình mà trong đó ý muốn của các cá nhân được kết hợp trong một quyết định tập thể Trong lựa chọn cá nhân, quyết định của một người chỉ có tác dụng đối với bản thân, còn trong lựa chọn công, quyết định tập thể mang tính chất cưỡng chế, bắt buộc mọi người phải tuân thủ Có 03 loại quyết định của tập thể gồm quyết định gây hại cho tất cả mọi người, quyết định mang tính chất phân phối lại và hành động của tập thể có thể tạo ra hiệu quả Pareto

Lựa chọn công là một lý thuyết kinh tế nhưng lý thuyết này không nhằm giải thích hành vi của các chủ thể kinh tế mà là các chủ thể ra các quyết định công như lãnh đạo, chính trị gia, các đảng phái chính trị; không phải giải thích hoạt động của thị trường mà là nhà nước, bộ máy hành chính, cơ chế bầu cử, hành vi của cử tri Vì vẫn là một lý thuyết kinh tế cho nên nó vẫn đặt trên các tiên đề của kinh tế học về hành vi con người như tính duy lý và sự tư lợi Nếu mỗi cá nhân luôn cố gắng tối đa hóa lợi ích của mình khi tham gia hoạt động kinh tế, họ sẽ làm những việc mà lợi ích lớn hơn chi phí Tương tự như vậy, mỗi chính trị gia đều tối đa hóa quyền lực, làm sao lên vị trí cao hơn, làm sao tại nhiệm được lâu hơn

Với việc xem hoạt động chính trị như một hoạt động kinh tế, lựa chọn công đưa ra lập luận mạnh mẽ để giải thích động cơ của các chính trị gia khi đưa ra các quyết định tập thể hay các chính sách công Đó là mô hình lợi ích tập trung - chi phí phân tán, các quyết định có lợi ích được tập trung cho một nhóm nhỏ người trong khi chi phí được dàn trải cho một số lượng lớn người thì có động cơ thúc đẩy hơn

Trang 21

Lý thuyết lựa chọn công “cứng” (phiên bản chính thống trong khoa học chính trị ở Hoa Kỳ): các cá nhân vì quyền lợi cá nhân hạn hẹp, hành động một cách khá duy lý nhìn từ góc độ riêng của họ, có xu hướng tạo ra các kết quả phi lý về mặt tập thể Chính trị có xu hướng bị chi phối bởi các nhóm nhỏ, ít người được lợi ích lớn trong khi chi phí phân tán rộng rãi Các dự án như một phương tiện để tăng cường cơ sở chính trị hơn là vì hiệu quả kinh tế Doanh nhân chính trị đóng vai trò thiết yếu trong phát triển dự án Các dự án có xu hướng xuất phát từ địa phương Cử tri và các nhóm có tổ chức khác gần như không chú ý, trừ khi các dự án trực tiếp đe dọa đến lợi ích của họ Chỉ có các viên chức chuyên môn quan tâm đến phân tích lợi ích – chi phí Một nhà lập pháp bình thường không có điểm tựa nào để nghĩ đến việc thay đổi hệ thống, điều khả thi nhất là tìm kiếm lợi ích cho địa phương của mình Các quyết định đầu tư công của chính quyền có xu hướng phân tán rộng lợi ích và được thông qua một cách gần như đồng thuận

Lý thuyết lựa chọn công “mềm”: các tác nhân hiểu biết hơn về quyền lợi riêng của họ và nói chung có thể đi đến những kết quả duy lý về mặt tập thể, có sự hài hòa cơ bản giữa quyền lợi tập thể và quyền lợi của các cá nhân thành viên của tập thể đó từ nhà lãnh đạo chính trị cho đến các công dân bình thường Một cơ sở thuế vững mạnh và công việc làm cho dân cư là mục tiêu của bất kỳ địa phương nào Các nhà lãnh đạo chính quyền địa phương hiểu rằng ưu tiên cao nhất của địa phương phải là thu hút các nhà đầu tư và các dân cư giàu có trong điều kiện tốt nhất

có thể Các địa phương chỉ có thể phấn đấu để thu hút hơn đối với những đối tượng cần thu hút

2.3 Lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan

Một phân tích tổng hợp 40 nghiên cứu sử dụng phương pháp phát biểu sự ưa thích về cải thiện nguồn cung cấp nước ở các nước có thu nhập thấp đã ước tính WTP trung bình từ 4,90 USD đến 20,30 USD mỗi tháng (Van Houtven và cộng sự, 2011) Whittington và cộng sự (2009) báo cáo kết quả có phần thấp hơn, dựa vào phương pháp khảo sát tác giả đã đo lường lợi ích kinh tế của kết nối nước máy (1,4-

Trang 22

11,7 USD mỗi tháng) và các vòi nước công cộng (0,30-3,70 USD mỗi tháng) ở các nước thu nhập thấp Trong khi đó, chi phí thực tế của hộ gia đình ở khu vực thành thị ở Châu Phi, Nam Á và Mỹ Latinh cũng rất khác nhau (1,00-12,40 USD mỗi tháng cho kết nối nước máy tư nhân và 4,40-13,90 USD từ người bán nước dạo) Khoảng cách lớn trong việc ước lượng đường cầu có thể phản ánh sự khác nhau về chất lượng của các nguồn nước được cải thiện, số lượng và sự tiện lợi của nước, hoặc các yếu tố ngữ cảnh khác nhau hoặc các sở thích cá nhân có ảnh hưởng đến nhu cầu (Whittington và cộng sự, 2012) Tuy nhiên, hầu hết các ước lượng được phát hiện về mặt lý thuyết thường từ mức 20-40 USD cho mỗi hộ gia đình/tháng đối với dịch vụ nước máy

Orgill và cộng sự (2013) kiểm tra giả thuyết WTP của hộ gia đình để cải thiện chất lượng nước phụ thuộc một phần vào nhận thức của cá nhân về sự an toàn và khả năng chấp nhận nguồn nước hiện có Tác giả sử dụng mô hình logit một giai đoạn và mô hình logit hai giai đoạn để xem xét tác động của nhận thức về chất lượng nước lên WTP để cải thiện chất lượng nước Kết quả đối với mô hình hồi quy một giai đoạn, nhận thức về chất lượng nước không ảnh hưởng đến WTP Các biến

có tác động đến WTP là sử dụng nước máy như nguồn nước chính (tác động âm), trình độ học vấn (tác động dương), thu nhập (tác động dương) và hài lòng với chất lượng nước hiện tại (tác động âm) Mô hình hồi quy hai giai đoạn có kết quả là nhận thức về chất lượng nước có ảnh hưởng đến WTP Các biến có ý nghĩa thống kê trong mô hình là sử dụng nước máy như nguồn nước chính (tác động âm), sự hài lòng với chất lượng nước hiện tại (tác động âm), kết nối nước máy (tác động âm), trình độ học vấn (tác động dương), thu nhập (tác động dương) Ước lượng WTP trung bình để cải thiện chất lượng nước từ 2,20 USD đến 4,40 USD mỗi tháng, trung bình là 3 USD, chiếm khoảng 1,2% thu nhập trung bình

Vấn đề về nước ở các vùng nông thôn Ethiopia có 2 đặc điểm: mức độ bao phủ thấp và chất lượng kém đòi hỏi phải có giải pháp khẩn cấp để giảm các tác động liên quan đến sức khỏe và xã hội Bogale và Urgessa (2012) ước lượng WTP trung bình của các hộ gia đình nông thôn để cải thiện dịch vụ cung cấp nước chiếm

Trang 23

1,99% thu nhập trung bình Các biến có tác động dương lên WTP gồm thu nhập, trình độ học vấn của người trả lời, giới tính của người trả lời, chất lượng nguồn nước, trong khi tuổi của người trả lời có tác động âm lên WTP để cải thiện chất lượng nước Theo Behailu và cộng sự (2012), WTP cho các dịch vụ cung cấp nước thường cao nếu các dịch vụ này phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng Để cải thiện dịch vụ cung cấp nước, các hộ gia đình ở miền Nam Ethiopia sẵn lòng trả 2,36% thu nhập trung bình mỗi tháng WTP này cao hơn 1,5 lần so với hóa đơn tiền nước hiện tại

Tại Manaus, Amazon, Brazil, các nhà máy xử lý nước được xây dựng khi chỉ

có 100.000 người sinh sống Với tốc độ phát triển kinh tế, dân số gia tăng gấp mười lăm lần dẫn đến việc tiếp cận với nước máy là một mối quan tâm đối với sức khỏe cộng đồng Số hộ gia đình chưa tiếp cận với nước máy chiếm tỷ lệ cao, những hộ này dễ bị mắc các bệnh do thiếu nguồn nước sinh hoạt với tốc độ ngày càng tăng Casey và cộng sự (2006) xác định giá trị của dịch vụ kết nối nước sinh hoạt thông qua một phương pháp tiếp cận WTP Kết quả, các hộ gia đình sẵn lòng trả trung bình 6,12 USD mỗi tháng, chiếm khoảng 2,1% thu nhập trung bình Kết quả cho thấy chất lượng cuộc sống có thể được cải thiện đáng kể bằng cách cải thiện hệ thống cung cấp nước an toàn và đáng tin cậy

Một số nghiên cứu đã sử dụng CVM để ước tính WTP để cải thiện chất lượng nước ở Hoa Kỳ Mitchell và Carson (1989), nghiên cứu bao gồm nhận thức trong ước lượng WTP, nghiên cứu kết luận rằng khi nhận thức về chất lượng nước tăng lên, WTP cho cải thiện nước giảm xuống Trong các nghiên cứu, nhận thức được thể hiện bằng thang đo lường thái độ hoặc mức hài lòng với nguồn nước hiện tại Tại Nepal, chính phủ đang xem xét cho khu vực tư nhân tham gia vào dịch vụ cung cấp nước cho thành phố Ở thung lũng Kathmandu, Nepal có hai nhóm hộ gia đình: hộ gia đình đã kết nối nước máy và hộ gia đình chưa kết nối nước máy Whittington và cộng sự (2002) ước tính nhu cầu của các hộ gia đình đối với các dịch vụ nước được cải thiện ở Kathmandu Kết quả cho thấy các hộ gia đình sẵn

Trang 24

lòng trả tiền cho dịch vụ nước được cải thiện cao hơn nhiều so với hóa đơn tiền nước hiện tại Đối với các hộ gia đình đã kết nối nước máy, WTP trung bình hàng tháng cho 500 lít nước được cải thiện là 14,31 USD Đối với những hộ chưa kết nối nước máy, WTP trung bình hàng tháng để cải thiện nguồn nước khi kết nối là 11,67 USD

Phạm Khánh Nam và Trần Võ Hùng Sơn (2005), các hộ gia đình ở thành phố

Hồ Chí Minh đang sử dụng nguồn nước máy chất lượng kém, không đáng tin cậy và đang trả hóa đơn tiền nước hàng tháng tương đối rẻ Nhiều hộ gia đình cũng sử dụng nguồn nước khác ngoài nước máy, như nước giếng khoan để phục vụ các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày Nghiên cứu này ước lượng sở thích của hộ gia đình đối với dịch vụ cấp nước được cải tiến ở thành phố Hồ Chí Minh thông qua sử dụng mô hình đánh giá ngẫu nhiên chọn lựa tùy ý và mô hình chọn lựa Kết quả, đối với những hộ sử dụng nước máy, các biến có tác động dương đến WTP là tổng thu nhập, giới tính; các biến tác động âm đến WTP là số trẻ em trong hộ, áp lực nước Đối với những hộ không sử dụng nước máy, thu nhập tác động dương, tình trạng thiếu nước tác động âm đến WTP Nghiên cứu cho thấy người dân sẵn lòng chi trả bình quân từ 148.000 đồng đến 175.000 đồng để cải thiện nguồn nước, cao hơn từ 35% cho đến gấp đôi chi phí nước hiện tại của các hộ gia đình; để cải thiện dịch vụ, các hộ gia đình không có nước máy sẵn lòng chi trả nhiều hơn so với những hộ đã

có nguồn nước cố định; và những hộ chưa có đường ống nước coi trọng chất lượng nước hơn so với áp lực nước Ứng với các mức phí lắp đặt đường ống khác nhau, các giá trị ước lượng WTP Turnbull của các hộ gia đình không sử dụng nước máy đối với dịch vụ nước máy cải thiện nằm trong phạm vi từ 79.400 đến 141.100 đồng Qua lược khảo các nghiên cứu có liên quan, tác giả rút ra một số nhận xét: CVM hiện được chấp nhận rộng rãi để đo lường nhu cầu cải thiện chất lượng nước Một số nghiên cứu CVM được thực hiện ở các nước thu nhập thấp đo lường WTP cho các dịch vụ cung cấp nước và xử lý nước Hầu hết các nghiên cứu áp dụng CVM về cải thiện cung cấp nước đều dùng kỹ thuật hồi quy để xác định các yếu tố tác động đến WTP, và hầu hết các nghiên cứu như vậy ở các nước có thu nhập thấp

Trang 25

tập trung cải thiện hệ thống cung cấp nước hơn là cải thiện chất lượng nước Một số nghiên cứu nêu bật tầm quan trọng của sở thích của hộ gia đình tác động đến WTP, nhưng chưa có nhiều nghiên cứu về vai trò của nhận thức của hộ gia đình về nguồn nước hiện có như là yếu tố tác động đến WTP đối với nước máy

Trang 26

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Khung phân tích

Nghiên cứu nhằm ước tính MWTP và các nhân tố tác động đến WTP để cải thiện chất lượng dịch vụ cung cấp nước sinh hoạt Đối với các hộ gia đình đã lắp đặt nước máy, đề tài ước tính MWTP để cải thiện chất lượng nước máy Đối với các hộ gia đình chưa lắp đặt nước máy, đề tài ước tính MWTP cho dịch vụ lắp đặt đường ống để kết nối nước máy và giá 1 m3 nước máy WTP của một hộ gia đình để cải thiện dịch vụ cấp nước là một hàm số theo sự thay đổi các thuộc tính của dịch vụ và của tất cả các yếu tố khác ảnh hưởng đến đánh giá của hộ về sự thay đổi đó (Whittington và cộng sự, 2002) Lý thuyết kinh tế vi mô cho thấy rằng, WTP thay đổi giữa các cá nhân với các đặc điểm nhân khẩu học khác nhau, đặc điểm nhà ở khác nhau, mức độ dịch vụ hiện tại khác nhau và điều kiện sức khỏe khác nhau Các nghiên cứu thực nghiệm đã phân tích các yếu tố tác động đến WTP Orgill

và cộng sự (2013) sử dụng các biến số để ước lượng WTP là trình độ học vấn của người trả lời, giới tính của người trả lời, tuổi của người trả lời, thu nhập của hộ, sự hài lòng với chất lượng nước hiện tại, trẻ em bị tiêu chảy Trong nghiên cứu của Bogale và Urgessa (2012), các biến giải thích gồm mức giá được hỏi, giới tính của người trả lời, tuổi của người trả lời, trình độ học vấn của người trả lời, tổng thu nhập của hộ, lượng nước sử dụng, chất lượng nguồn nước Casey và cộng sự (2006)

sử dụng các biến số ước lượng là tuổi của người trả lời, thu nhập hàng tháng của hộ, nhà được xây bằng gạch, hộ gia đình có người bị bệnh tả trong 1 năm qua, hộ gia đình có người bị bệnh viêm gan trong 1 năm qua Trong khi đó, Behailu và cộng sự (2012) dùng các yếu tố gồm tuổi của người trả lời, giới tính của người trả lời, thu nhập của hộ, trình độ học vấn của người trả lời, lượng nước sử dụng, chất lượng nước, áp lực nước Whittington và cộng sự (2002) sử dụng các biến số gồm thu nhập hàng tháng của hộ, tuổi của người trả lời, giới tính của người trả lời, trình độ học vấn của người trả lời Phạm Khánh Nam và Trần Võ Hùng Sơn (2005) sử dụng

Trang 27

các biến số gồm tổng thu nhập hàng thàng của hộ, trình độ học vấn, giới tính, số trẻ

em trong hộ, loại nhà ở, sức khỏe, tình trạng thiếu nước, áp lực nước

Hình 3.1: Khung phân tích

Nguồn: Đề xuất của tác giả (2018)

Dịch vụ cung cấp nước sinh hoạt

Hộ đã lắp đặt nước máy

WTP để cải thiện

chất lượng nước máy

Đặc điểm nhân khẩu học

- Tuổi của người trả lời

- Giới tính của người trả lời

- Trình độ học vấn của người trả lời

Mức giá được hỏi

WTP cho lắp đặt nước máy WTP cho 1 m 3 nước máy

Hộ chưa lắp đặt nước máy

Trang 28

- Ui là độ thỏa dụng của phương án i

- V i là thành phần tiền định của độ thỏa dụng

- i là sai số ngẫu nhiên

Trong CVM, người trả lời khảo sát sẽ chọn giữa trạng thái cải thiện i và hiện trạng j Sử dụng hàm thỏa dụng cho hai phương án chọn lựa từ phương trình (3.1), các xác suất chọn phương án i hay j của cá nhân là:

Pri = Pr(i - j  Vj – Vi),

Prj = Pr(j - i  Vi – Vj) (3.2)

Giả sử mỗi số hạng sai số đều có phân phối giá trị cực đoan loại I và chênh lệch giữa các số hạng ngẫu nhiên có phân phối logistic, xác suất cá nhân chọn

phương án i được cho bởi phương trình:

Công thức (3.3) có thể được ước lượng bằng mô hình logit nhị phân (Hanemann, 1984)

Ước lượng Turnbull là một mô hình ước lượng phi tham số được dùng để ước tính WTP trong CVM Bảng 3.1 trình bày phương pháp Kaplan-Meier-Turnbull

(3.3)

Trang 29

Bảng 3.1: Phương pháp Kaplan-Meier-Turnbull

Các mức giá sẵn

lòng trả (bid j )

Số người trả lời (n)

Nguồn: Haab và McConnell(2002)

Mức WTP trung bình được xác định bằng công thức:

WTP trung bình = ∑ bid𝑗(Pj− Pj+1)

J j=1

(3.4) Trong đó:

- bidj là mức sẵn lòng trả j

- Pj là tỷ lệ người trả lời “Có” ở mức sẵn lòng trả j

Hình 3.2 trình bày đồ thị Kaplan-Meier-Turnbull Với các mức giá được hỏi càng cao thì xác suất người trả lời đồng ý sẵn lòng chi trả càng thấp, điều này phù hợp với lý thuyết kinh tế, khi giá tăng thì lượng cầu giảm

Trang 30

Hình 3.2: Đồ thị Kaplan-Meier-Turnbull

Nguồn: Haab và McConnell (2002)

3.3 Phương pháp định giá ngẫu nhiên

Phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM) là phương pháp dựa trên việc điều tra cá nhân để ước lượng WTP của cá nhân đó cho hàng hóa, dịch vụ môi trường không có giá trên thị trường (Champ và cộng sự, 2012) CVM là phương pháp định giá dựa vào phát biểu sự ưa thích và dựa trên biểu hiện trực tiếp của các cá nhân sẵn lòng trả hoặc sẵn lòng chấp nhận bồi thường cho bất kỳ thay đổi nào đó về số lượng, chất lượng môi trường hoặc cả hai Tức là, phương pháp định giá trực tiếp liên quan đến việc ước lượng trực tiếp giá trị môi trường dựa trên phản ứng của cá nhân đối với các câu hỏi định giá giả định và do đó nó không phụ thuộc vào thông tin thị trường (Freeman, 1993) CVM cho phép ước lượng giá trị kinh tế của nhiều hàng hóa không có thị trường, được đo lường bằng mối quan hệ giữa các chức năng hữu dụng với các khái niệm sẵn lòng trả và sẵn lòng chấp nhận bồi thường, cũng như liên quan đến đo lường thặng dư của người tiêu dùng

Trang 31

CVM thường được dùng để đo lường nhu cầu về hàng hoá hoặc dịch vụ khi thị trường không đầy đủ, không hoàn hảo, hoặc không tồn tại (Dutta và cộng sự, 2005) CVM tạo lập một thị trường giả định để hỏi cá nhân WTP hoặc sẵn lòng chấp nhận cho sự gia tăng hay giảm đi của một hàng hóa, dịch vụ môi trường Các trường hợp vận dụng CVM về cơ bản tập trung chủ yếu ở các khía cạnh: chất lượng nước, không khí; giải trí (câu cá, săn bắn, đời sống hoang dã…); bảo tồn tài sản tự nhiên không có giá (rừng, các khu bảo tồn…); rủi ro sức khỏe, cuộc sống con người; cải thiện chất lượng giao thông; nước, vệ sinh môi trường, chất thải; các giá trị không

sử dụng: giá trị tồn tại, lưu truyền, nhiệm ý (Whittington, 1998; Pethig, 2013) Các bước tiến hành trong nghiên cứu CVM:

Bước 1: Xác định mục tiêu Bước này cần nhận dạng hàng hóa, dịch vụ môi trường và đối tượng chịu tác động bởi sự thay đổi về số lượng, chất lượng của hàng hóa, dịch vụ môi trường cần định giá

Bước 2: Mô tả hàng hóa, dịch vụ môi trường định giá Có 5 nhóm thông tin cơ bản mô tả hàng hóa, dịch vụ môi trường cần định giá Các nhóm thông tin này là cơ

sở để đối tượng điều tra ra quyết định về WTP sẽ chi trả Do đó, 5 nhóm thông tin này phải được trình bày rõ ràng, chi tiết để đối tượng điều tra hiểu rõ về hàng hóa, dịch vụ môi trường mà họ sẽ chi trả gồm:

(1) Kịch bản: Kịch bản bao gồm việc mô tả thực trạng và sự thay đổi về số lượng, chất lượng của hàng hóa, dịch vụ môi trường cần định giá

(2) Phương thức cung cấp: Phương thức cung cấp là sự mô tả chi tiết về hàng hóa, dịch vụ môi trường đề cập trong kịch bản để đối tượng điều tra hiểu rõ về hàng hóa, dịch vụ môi trường mà họ sẽ nhận được

(3) Phương thức thanh toán: Phương thức thanh toán là phương thức tiếp nhận mức đóng góp của đối tượng điều tra Phương thức thanh toán phải mang tính hợp

lý nhằm đảm bảo độ tin cậy, tạo sự rõ ràng và minh bạch Có 2 phương thức thanh toán là thu trực tiếp và thu gián tiếp (thu kết hợp với các phương thức thu khác sẵn có) Nếu phương thức thanh toán không đảm bảo sự tin cậy sẽ dễ dẫn đến việc đối

Trang 32

tượng điều tra không tin tưởngvà không thực hiện đóng góp mặc dù thực tế đối tượng điều tra sẵn lòng đóng góp cho hàng hóa, dịch vụ môi trường cần định giá (4) Phương thức ra quyết định: Phương thức ra quyết định là cơ chế dựa trên kết quả nghiên cứu CVM để ra quyết định có thực hiện hay không thực hiện cung cấp hàng hóa, dịch vụ môi trường đã đề cập

(5) Lựa chọn khung thời gian chi trả: Khung thời gian chi trả sẽ cung cấp cho đối tượng điều tra thông tin về số lần phải chi trả và khoảng thời gian giữa các lần chi trả Việc áp dụng khung thời gian chi trả với 1 lần đóng góp so với khung thời gian chi trả với nhiều lần đóng góp, WTP thu được có sự khác biệt lớn Hệ số chiết khấu sẽ rất cao nếu áp dụng khung thời gian chi trả với nhiều lần đóng góp Do đó, WTP thu được ở khung thời gian chi trả với nhiều lần đóng góp sẽ không lớn hơn

so với WTP thu được ở khung thời gian chi trả với một lần đóng góp (Stevens và cộng sự, 1997)

Bước 3: Thiết kế bảng câu hỏi CVM sử dụng 5 phương pháp hỏi chính để hỏi

về WTP của cá nhân cho hàng hóa, dịch vụ môi trường 5 phương pháp hỏi được phân làm 2 dạng là câu hỏi mở và câu hỏi đóng Ở dạng câu hỏi mở, đối tượng điều tra sẽ được hỏi trực tiếp để phát biểu WTP Dạng câu hỏi mở gồm 3 phương pháp hỏi là phương pháp hỏi câu hỏi mở, phương pháp hỏi đấu giá và phương pháp hỏi thẻ thanh toán Với dạng câu hỏi đóng, đối tượng điều tra sẽ được hỏi để đưa ra quyết định giữa “đồng ý” hay “không đồng ý” chi trả cho hàng hóa, dịch vụ môi trường cần định giá dựa trên WTP cho trước Câu hỏi đóng gồm 2 phương thức hỏi chính là câu hỏi đóng 1 lựa chọn và câu hỏi đóng 2 lựa chọn Khi thiết kế bảng câu hỏi, cần quan tâm xây dựng câu hỏi phụ bao gồm nhóm câu hỏi thu thập thêm thông tin về các biến số sẽ tác động đến WTP và nhóm câu hỏi kiểm tra độ tin cậy trong trả lời của đối tượng điều tra

Bước 4: Phỏng vấn Có 4 hình thức phỏng vấn cơ bản gồm phỏng vấn trực tiếp, điện thoại, mail và internet Trước khi thực hiện phỏng vấn chính thức, cần tiến

Trang 33

hành điều tra thử để xem xét tính dễ hiểu của bảng câu hỏi đối với đối tượng điều tra và tính khả thi của các thông tin cần thu thập trong bảng câu hỏi

Bước 5: Phân tích dữ liệu Phân tích dữ liệu bao gồm nhập, kiểm tra dữ liệu, loại bỏ số liệu sai và phân tích dữ liệu

Bước 6: Ước lượng WTP Bước này gồm xác định mô hình ước lượng WTP, chạy mô hình kinh tế lượng để ước lượng WTP trung bình và tính tổng lợi ích CVM có ưu điểm là có thể áp dụng để xác định giá trị sử dụng và không sử dụng của hàng hóa, dịch vụ môi trường, là phương pháp duy nhất có thể xác định giá trị không sử dụng Tuy nhiên, người trả lời có thể không tin vào tính chính xác của thị trường giả định, không có sự chi trả thực nên WTP có thể không bằng với khoản giá trị nếu thực trả, vì vậy, phương pháp này dễ bị sai lệch và tốn nhiều thời gian, kinh phí

3.4 Phương pháp kinh tế lượng

Nghiên cứu dùng CVM để ước tính MWTP cho cải thiện dịch vụ cung cấp nước sinh hoạt Nghiên cứu dùng câu hỏi đóng một lựa chọn để phỏng vấn trực tiếp

hộ gia đình về WTP để cải thiện chất lượng nước máy, dịch vụ lắp đặt đường ống

để kết nối nước máy và giá 1 m3 nước máy Theo Niên giám thống kê năm 2016, thu nhập bình quân ở khu vực nông thôn là 2,4 triệu đồng/người/tháng, chi tiêu bình quân là 1,9 triệu đồng/người/tháng trong đó chi tiêu cho nhà ở, điện, nước, vệ sinh

là 137 nghìn đồng/người/tháng Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa ra 6 mức giá để phỏng vấn hộ gia đình đã lắp đặt nước máy để cải thiện chất lượng nước máy là 20,

40, 60, 80, 100 và 130 nghìn đồng/hộ/toàn bộ dự án

Qua nguồn số liệu thứ cấp thu thập được thì mức phí thực tế lắp đặt đường ống của các nhà máy nước trên địa bàn huyện Bình Đại thấp nhất là 800 nghìn đồng, cao nhất là 1.500 nghìn đồng; mức giá thấp nhất là 4,9 nghìn đồng/m3 nước máy, mức giá cao nhất là 9,6 nghìn đồng/m3 nước máy Nghiên cứu mở rộng khoảng dao động

từ 0,5 lần mức phí lắp đặt/giá 1 m3 nước máy thấp nhất đến 1,5 lần mức phí lắp đặt/giá 1 m3 nước máy cao nhất để xây dựng các mức giá Do vậy, đối với các hộ

Trang 34

chưa lắp đặt nước máy, nghiên cứu áp dụng 6 mức phí lắp đặt nước máy là 400,

800, 1.200, 1.600, 2.000, 2.300 nghìn đồng/hộ/1 lần lắp đặt; 6 mức giá nước máy là

2, 5, 8, 11, 13, 15 nghìn đồng/m3

Dạng mô hình: nghiên cứu sử dụng mô hình logit để ước tính WTP của hộ gia đình để cải thiện dịch vụ cung cấp nước sinh hoạt Mô hình logit áp dụng khi biến phụ thuộc là một biến nhị phân nhận hai giá trị 0 và 1, trong đó y = 1 biểu thị một trong các kết quả và y = 0 biểu thị cho kết quả khác Khi biến phụ thuộc là một biến nhị phân nhận giá trị 0 và 1, nó luôn đúng khi P(y=1|x) = E(y|x): xác suất “thành công” là xác suất khi y = 1, cũng chính là giá trị kỳ vọng của y Do đó, ta có phương trình:

P(y=1|x) = 0 + 1x1 + … + kxk (3.5)

Trong đó, xác suất thành công p(x) = P(y=1|x) là một hàm tuyến tính của xj Phương trình (3.5) là một mô hình phản ứng nhị phân, và P(y=1|x) được gọi là xác suất phản ứng Bởi vì xác suất phải có tổng bằng 1, nên P(y=0|x) = 1 - P(y=1|x) cũng là một hàm tuyến tính của xj Mô hình logit giả định rằng phân phối xác suất của phần dư theo phân phối xác suất logistic

Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến với biến phụ thuộc nhị phân được gọi là

mô hình xác suất tuyến tính, vì xác suất phản ứng là tuyến tính với các tham số j Trong mô hình xác suất tuyến tính, j đo lường sự thay đổi về xác suất thành công khi xj thay đổi, giữ các yếu tố khác cố định

Phương pháp ước lượng: phương pháp ước lượng của mô hình logit là phương pháp hợp lý tối đa (maximum likelihood) Ước tính khả năng tối đa là không nhất quán nếu một phần nào đó của phân phối được chỉ định bị thiếu chính xác

3.4.1 Mô hình ước tính MWTP của hộ gia đình đã lắp đặt nước máy để cải thiện chất lượng nước máy

Nghiên cứu sử dụng mô hình logit để kiểm tra các yếu tố tác động đến WTP

để cải thiện chất lượng nước máy của hộ gia đình đã lắp đặt nước máy:

Trang 35

P(1−𝑌𝑖)) = α0 - α1BID - α2AGE + α3GEN + α4EDU + α5KID + α6INC +

α7CON – α8SAF – α9PRE + α10HOU + α11HEA + i (3.6)

Trong đó:

Biến phụ thuộc Y là biến nhị phân nhận hai giá trị 0 và 1 Yi = 1, nếu người trả lời i sẵn lòng chi trả 20/40/60/80/100/130 nghìn đồng để cải thiện chất lượng nước máy Ngược lại, Yi = 0

Các biến giải thích:

Mức giá được hỏi (BID): biến thể hiện mức giá được hỏi (có các mức giá 20,

40, 60, 80, 100, 130 nghìn đồng) để cải thiện chất lượng nước máy Đơn vị tính: nghìn đồng/hộ/toàn bộ dự án Mức giá được hỏi giảm thì xác suất sẵn lòng chi trả

để cải thiện chất lượng nước máy tăng Kỳ vọng dấu -

Tuổi của người trả lời (AGE): biến thể hiện tuổi của người trả lời Đơn vị tính: năm Người trẻ tuổi thì xác suất sẵn lòng chi trả để cải thiện chất lượng nước máy cao hơn người lớn tuổi Người cao tuổi thường có sở thích thấp và ít sẵn lòng trả tiền cho các nguồn nước phải tính phí, bởi vì theo cách truyền thống họ được sử dụng nước miễn phí Kỳ vọng dấu -

Giới tính của người trả lời (GEN): biến thể hiện giới tính của người trả lời GEN là biến nhị phân nhận hai giá trị 0 và 1, 1 = nam, 0 = nữ Kỳ vọng dấu + Trình độ học vấn của người trả lời (EDU): biến thể hiện trình độ học vấn của người trả lời Đơn vị tính: năm đi học Người có trình độ học vấn cao thì có sự hiểu biết để sử dụng hàng hóa tốt thì phải trả tiền cao hơn và quan tâm đến chất lượng nước nhiều hơn nên xác suất sẵn lòng chi trả để cải thiện chất lượng nước máy cao

Kỳ vọng dấu +

Số trẻ em trong hộ (KID): biến thể hiện số người từ 3 tuổi đến dưới 16 tuổi trong hộ gia đình Đơn vị tính: người/hộ Hộ có trẻ em thì sẽ quan tâm đến chất

Trang 36

lượng nước máy, điều kiện vệ sinh nhiều hơn nên xác suất sẵn lòng chi trả để cải thiện chất lượng nước máy cao Kỳ vọng dấu +

Thu nhập trung bình hàng tháng của hộ (INC): biến thể hiện tổng thu nhập trung bình của tất cả thành viên trong hộ gia đình trong một tháng Đơn vị tính: triệu đồng/hộ/tháng Hộ có thu nhập cao thì xác suất sẵn lòng chi trả để cải thiện chất lượng nước máy cao Kỳ vọng dấu +

Lượng nước sử dụng (CON): biến thể hiện số m3 nước máy được sử dụng trong một tháng của hộ gia đình Đơn vị tính: m3/hộ/tháng Lượng nước sử dụng càng nhiều thì nhu cầu sử dụng nước đạt chất lượng càng cao nên xác suất sẵn lòng chi trả để cải thiện chất lượng nước máy cao Kỳ vọng dấu +

Mức độ an toàn của nước máy (SAF): biến thể hiện đánh giá của người trả lời

về mức độ an toàn của nước máy đối với sức khỏe Đơn vị tính: thang đo từ 1-10, tăng dần theo mức độ an toàn, 1 là mức độ an toàn thấp nhất, 10 là mức độ an toàn cao nhất Khi người trả lời đánh giá mức độ an toàn của nước máy thấp thì xác suất sẵn lòng chi trả để cải thiện chất lượng nước máy cao Kỳ vọng dấu -

Áp lực nước máy (PRE): biến thể hiện đánh giá của người trả lời về áp lực nước máy Đơn vị tính: thang đo từ 1-10, tăng dần theo áp lực nước, 1 là áp lực nước yếu nhất, 10 là áp lực nước mạnh nhất Khi đánh giá của người trả lời về áp lực nước máy yếu thì xác suất sẵn lòng chi trả để cải thiện chất lượng nước máy cao Kỳ vọng dấu -

Nhà ở (HOU): biến thể hiện đặc tính kiên cố của ngôi nhà của người trả lời hoặc của chủ hộ HOU là biến nhị phân nhận hai giá trị 0 và 1, 1 = nhà ở kiên cố, 0

= khác Những hộ có nhà ở kiên cố thường có thu nhập cao nên xác suất sẵn lòng chi trả để cải thiện chất lượng nước máy cao Kỳ vọng dấu +

Tình trạng sức khỏe (HEA): biến thể hiện tình trạng sức khỏe của hộ gia đình HEA là biến nhị phân nhận hai giá trị 0 và 1, 1 = trong một năm qua, trong gia đình

có ít nhất một người bị một trong số các bệnh liên quan đến tiêu hóa, da liễu; 0 = ngược lại Kỳ vọng dấu +

Trang 37

Bảng 3.2: Các biến số trong mô hình logit đối với mẫu khảo sát hộ đã được lắp đặt nước máy

Tên biến Ký hiệu Đơn vị tính Kỳ vọng dấu Biến phụ thuộc

Mức sẵn lòng trả để cải thiện

chất lượng nước máy với mức

giá được hỏi

Y 1=Có, 0=Không

Biến giải thích

Mức giá được hỏi BID Nghìn đồng/hộ -

Đặc điểm nhân khẩu học của người được phỏng vấn và hộ gia đình

Giới tính GEN 1=Nam, 0=Nữ + Trình độ học vấn EDU Năm đi học +

Số trẻ em trong hộ KID Người/hộ + Thu nhập trung bình hàng

Triệu đồng/

hộ/tháng +

Đặc điểm nguồn nước máy hiện tại

Lượng nước sử dụng CON m3/hộ/tháng +

Mức độ an toàn SAF Thang đo từ 1-10 -

Áp lực nước máy PRE Thang đo từ 1-10 -

0=ngược lại

+

Nguồn: Tổng hợp của tác giả (2018)

Mức MWTP để cải thiện chất lượng nước máy được tính theo công thức sau:

MWTP = 1

−𝑎1[ln(1 + e(α0 - α2AGE + α3GEN + α4EDU + α5KID + α6INC + α7CON – α8SAF – α9PRE +

α10HOU + α11HEA))] (3.7)

Trang 38

3.4.2 Mô hình ước tính MWTP của hộ gia đình chưa lắp đặt hệ thống nước máy cho dịch vụ lắp đặt đường ống để kết nối nước máy

Nghiên cứu sử dụng mô hình logit để kiểm tra các yếu tố tác động đến WTP cho dịch vụ lắp đặt đường ống để kết nối nước máy của hộ gia đình chưa lắp đặt nước máy:

ln(P(𝑌𝑖=1)

P(1−𝑌𝑖)) = 0 - 1BID - 2AGE + 3GEN + 4EDU + 5KID + 6INC –

7SAF - 8AVA + 9HOU + 10HEA + ui (3.8)

Trong đó:

Biến phụ thuộc Y là biến nhị phân nhận hai giá trị 0 và 1 Yi = 1, nếu người trả lời i sẵn lòng chi trả 400/800/1.200/1.600/2.000/2.300 nghìn đồng cho dịch vụ lắp đặt đường ống để kết nối hệ thống cung cấp nước máy Ngược lại, Yi = 0

Các biến giải thích:

Mức giá được hỏi (BID): biến thể hiện mức giá được hỏi (có các mức giá 400,

800, 1.200, 1.600, 2.000, 2.300 nghìn đồng) để lắp đặt đường ống Đơn vị tính: nghìn đồng/hộ/1 lần lắp đặt Mức giá được hỏi giảm thì xác suất sẵn lòng chi trả cho dịch vụ lắp đặt đường ống để kết nối hệ thống cung cấp nước máy tăng Kỳ vọng dấu -

Tuổi của người trả lời (AGE): biến thể hiện tuổi của người trả lời Đơn vị tính: năm Người trẻ tuổi thì xác suất sẵn lòng chi trả cho dịch vụ lắp đặt đường ống để kết nối hệ thống cung cấp nước máy cao hơn người lớn tuổi Người cao tuổi thường

có sở thích thấp và ít sẵn lòng trả tiền cho các nguồn nước phải tính phí, bởi vì theo cách truyền thống họ được sử dụng nước miễn phí Kỳ vọng dấu -

Giới tính của người trả lời (GEN): biến thể hiện giới tính của người trả lời GEN là biến nhị phân nhận hai giá trị 0 và 1, 1=nam, 0=nữ Kỳ vọng dấu +

Trình độ học vấn của người trả lời (EDU): biến thể hiện trình độ học vấn của người trả lời Đơn vị tính: năm đi học Người có trình độ học vấn cao thì quan tâm

Trang 39

đến sự tiện lợi, chất lượng nước trong sinh hoạt nên xác suất sẵn lòng chi trả cho dịch vụ lắp đặt đường ống để kết nối hệ thống cung cấp nước máy cao Kỳ vọng dấu +

Số trẻ em trong hộ (KID): biến thể hiện số người từ 3 tuổi đến dưới 16 tuổi trong hộ gia đình Đơn vị tính: người/hộ Hộ có trẻ em thì sẽ quan tâm đến chất lượng nước sinh hoạt, điều kiện vệ sinh nhiều hơn nên xác suất sẵn lòng chi trả cho dịch vụ lắp đặt đường ống để kết nối hệ thống cung cấp nước máy cao Kỳ vọng dấu +

Thu nhập trung bình hàng tháng của hộ (INC): biến thể hiện tổng thu nhập trung bình của tất cả thành viên trong hộ gia đình trong một tháng Đơn vị tính: triệu đồng/hộ/tháng Hộ có thu nhập cao thì xác suất sẵn lòng chi trả cho dịch vụ lắp đặt đường ống để kết nối hệ thống cung cấp nước máy cao Kỳ vọng dấu +

Mức độ an toàn của nguồn nước sinh hoạt (SAF): biến thể hiện đánh giá của người trả lời về mức độ an toàn nguồn nước sinh hoạt đối với sức khỏe Đơn vị tính: thang đo từ 1-10, tăng dần theo mức độ an toàn, 1 là mức độ an toàn thấp nhất, 10 là mức độ an toàn cao nhất Khi người trả lời đánh giá mức độ an toàn của nguồn nước sinh hoạt thấp thì xác suất sẵn lòng chi trả cho dịch vụ lắp đặt đường ống để kết nối

hệ thống cung cấp nước máy cao Kỳ vọng dấu -

Tính ổn định của nguồn nước sinh hoạt (AVA): biến thể hiện đánh giá của người trả lời về tính ổn định của nguồn nước sinh hoạt (khả năng đáp ứng so với nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt) Đơn vị tính: thang đo từ 1-10, tăng dần theo tính

ổn định, 1 là tính ổn định thấp nhất, 10 là tính ổn định cao nhất Khi người trả lời đánh giá tính ổn định của nguồn nước sinh hoạt thấp thì xác suất sẵn lòng chi trả cho dịch vụ lắp đặt đường ống để kết nối hệ thống cung cấp nước máy cao Kỳ vọng dấu -

Nhà ở (HOU): biến thể hiện đặc tính kiên cố của ngôi nhà của người trả lời hoặc của chủ hộ HOU là biến nhị phân nhận hai giá trị 0 và 1, 1 = nhà ở kiên cố, 0

= khác Những hộ có nhà ở kiên cố thường có thu nhập cao nên xác suất sẵn lòng

Trang 40

chi trả cho dịch vụ lắp đặt đường ống để kết nối hệ thống cung cấp nước máy cao

Mức giá được hỏi BID Nghìn đồng/hộ -

Đặc điểm nhân khẩu học của người được phỏng vấn và hộ gia đình

Giới tính GEN 1=Nam, 0=Nữ + Trình độ học vấn EDU Năm đi học +

Số trẻ em trong hộ KID Người/hộ + Thu nhập trung bình hàng

Triệu đồng/

hộ/tháng +

Đặc điểm nguồn nước sinh hoạt hiện tại

Mức độ an toàn SAF Thang đo từ 1-10 -

Tính ổn định AVA Thang đo từ 1-10 -

da liễu; 0=ngược lại + Nguồn: Tổng hợp của tác giả (2018)

Ngày đăng: 07/12/2018, 00:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w