Hiện nay, nhiều công trình nghiên cứu sử dụng quy trình chiết liên tục nhiều bước để chiết chọn lọc các dạng liên kết của kim loại trong trầm tích [17,19,24,34,36,37,53] cácquy trình chi
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trước hết em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc của mình tới ThS Phạm ThịThu Hà, người đã giao đề tài và tận tình hướng dẫn, dìu dắt em trong suốt quá trình nghiêncứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo trường Đại học Khoa Học - ĐHTN, Ban chủnhiệm Khoa Hóa học, các thầy cô giáo và các cán bộ nhân viên phòng thí nghiệm đã tạomọi điều kiện thuận lợi để em thực hiện khóa luận tốt nghiệp này
Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè đã luôn động viên, ủng hộ vàgiúp đỡ em trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại trường Đại học Khoa Học -ĐHTN
Mặc dù đã cố gắng nhưng trong bản khóa luận này không tránh khỏi những sai sót vàkhiếm khuyết Em rất mong nhận được các ý kiến đóng góp của quý thầy cô và các bạn đểbản khóa luận được đầy đủ và hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Nhung
Trang 2Mở đầu
Hiện nay, vấn đề ô nhiễm môi trường do các hoạt động sinh hoạt và sản xuất củacon người đã và đang là vấn đề quan tâm của toàn xã hội Đặc biệt là ô nhiễm kim loạinặng
Trong số các chỉ số ô nhiễm, ô nhiễm kim loại nặng là một trong những chỉ số
được quan tâm nhiều bởi độc tính và khả năng tích lũy sinh học của chúng Để có thể đánh giá một cách đầy đủ về mức độ ô nhiễm của các kim loại nặng ta không thể chỉ dựavào việc xác định hàm lượng của các kim loại hòa tan trong nước mà cần xác định cả
hàm lượng các kim loại trong trầm tích
Kim loại trong đất và trầm tích có thể bị hòa tan và đi vào môi trường nước tùythuộc vào các điều kiện lý hóa của nước như: hàm lượng tổng các muối tan, trạng thái oxihóa khử, các chất hữu cơ tham gia tạo phức với kim loại [26], [27], [31]
Kỹ thuật phân tích dạng đã được sử dụng rộng rãi để xác định kim loại nặng trongtrầm tích trong hơn hai thập kỷ qua [27] Chiết chọn lọc cũng là một phương pháp quantrọng trong phân tích dạng và xác định các kim loại trong mẫu trầm tích
Hiện nay, nhiều công trình nghiên cứu sử dụng quy trình chiết liên tục nhiều bước
để chiết chọn lọc các dạng liên kết của kim loại trong trầm tích [17,19,24,34,36,37,53] cácquy trình chiết này chủ yếu dựa vào quy trình chiết 5 bước của Tessier và đã được cải tiến
để tiết kiệm thời gian và phù hợp với các đối tượng mẫu khác nhau
Do vậy, đứng trước thực trạng ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng và sự cần thiết của việc phân tích dạng các kim loại đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường mà chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Phân tích dạng kim loại Pb, Zn trong trầm tích bằng phương pháp
chiết chọn lọc ’’
Với Mục tiêu đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu các nội dung sau:
- Phân tích xác định hàm lượng tổng và dạng của kim loại Pb và Zn trong đất và trầmtích
- Đánh giá và so sánh kết quả thu được với những nghiên cứu trước đã tham khảo trong các tài liệu
Trang 3Ý nghĩa khoa học của đề tài:
- Góp phần nghiên cứu phát triển, hoàn thiện và mở rộng phạm vi ứng dụng của các phương pháp hóa lý hiện đại trong việc phân tích dạng tồn tại của các nguyên tố kim loại
- Tạo cơ sở cho việc xây dựng các tiêu chuẩn môi trường dựa trên sự tồn tại các dạng
có độc tính và mức độ đáp ứng sinh học khác nhau của các nguyên tố kim loại trong môi trường
Trang 4CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Trầm tích và sự tích lũy kim loại trong trầm tích.
1.1.1 Trầm tích và các nguồn tích lũy kim loại vào trầm tích.
Trầm tích là các vật chất tự nhiên bị phá vỡ bởi các quá trình xói mòn hoặc do thờitiết, sau đó được các dòng chảy vận chuyển đi và cuối cùng được tích tụ thành các lớp trên
bề mặt hoặc đáy của một khu vực chứa nước như ao, hồ, sông, suối, biển Quá trình hìnhthành trầm tích là một quá trình tích tụ và lắng đọng các chất cặn lơ lửng (bao gồm cả cácvật chất vô cơ và hữu cơ) để tạo nên các lớp trầm tích Ao, hồ, sông, biển tích lũy trầmtích thành các lớp theo thời gian Vì vậy trầm tích là một hỗn hợp phức tạp của các pharắn bao gồm sét, silic oxit, chất hữu cơ, cacbonat và một quần thể các vi khuẩn (TrầnNghi, 2003 [10];
Trầm tích là một trong những đối tượng thường được nghiên cứu để đánh giá vàxác định mức độ cũng như nguồn gây ô nhiễm kim loại nặng đối với môi trường nước bởihàm lượng kim loại trong trầm tích thường lớn hơn nhiều so với lớp nước phía trên và cómối quan hệ chặt chẽ với hàm lượng của các ion kim loại tan trong nước Các kim loạitrong nước có thể tích lũy đi vào trầm tích và ngược lại kim loại trong trầm tích ở dạng diđộng có khả năng hòa tan ngược lại vào nước Chính vì lí do đó nên trầm tích được xem làmột chỉ thị quan trọng dùng để nghiên cứu và đánh giá sự ô nhiễm môi trường
Các nguồn tích lũy kim loại vào trầm tích
Sự tích lũy kim loại vào trầm tích đến từ hai nguồn là nguồn nhân tạo và nguồn tựnhiên
Nguồn tự nhiên gồm các kim loại nằm trong thành phần của đất đá xâm nhập vàomôi trường nước và trầm tích thông qua các quá trình tự nhiên như: phong hóa, xói mòn,rửa trôi (Ip Crman 2007 [37])
Trang 5Nguồn nhân tạo là các nguồn ô nhiễm từ các hoạt động sinh hoạt và sản xuất củacon người như: nước thải sinh hoạt, nông nghiệp, công nghiệp, y tế Các kim loại này saukhi đi vào nước sẽ tích lũy vào trầm tích cũng như các sinh vật thủy sinh.
Các kim loại tích lũy vào trầm tích có thể xuất phát từ nguồn tự nhiên hoặc nhântạo Sự tích lũy của các kim loại vào trầm tích có thể xảy ra theo 3 cơ chế sau:
1 Sự hấp phụ hóa lý từ nước
2 Sự hấp thu sinh học bởi các sinh vật hoặc các chất hữu cơ
3 Sự tích lũy vật lí của các hạt vật chất bởi quá trình lắng đọng trầm tích
Sự tích lũy kim loại vào trầm tích phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: các điềukiện thủy văn, môi trường, pH, thành phần vi sinh vật, kết cấu của trầm tích, khả năng traođổi ion… nhất là sự hấp phụ hóa lý và hấp thu sinh học
Sự hấp phụ hóa lý các kim loại trực tiếp từ nước được thực hiện nhờ các quá trìnhhấp phụ các kim loại lên trên bề mặt của các hạt keo, các quá trình trao đổi ion, các phảnứng tạo phức của các kim loại nặng với các hợp chất hữu cơ hoặc do các phản ứng hóahọc xảy ra làm thay đổi trạng thái oxi hóa của các nguyên tố hay tạo thành các hợp chất íttan như muối sunfua Quá trình hấp phụ hóa lí phụ thuộc rất nhiều vào các điều kiện như:
pH của nước, kích thước của các hạt keo, hàm lượng các chất hữu cơ và quần thể vi sinhvật
Sự hấp thu sinh học chủ yếu do quá trình hấp thu kim loại của các sinh vật trongnước, phản ứng tạo phức của các kim loại với các hợp chất hữu cơ, các hoạt động sinh hóacủa hệ vi sinh vật trong trầm tích [34]
1.1.2 Ảnh hưởng của trầm tích đến môi trường nước.
Kim loại nặng luôn là một trong những chất gây ô nhiễm nghiêm trọng trong môi trườngbởi độc tính, tính bền vững và khả năng tích lũy sinh học của chúng Trong môi trườngnước, kim loại chỉ tồn tại một lượng nhỏ trong nước và phần lớn nằm trong trầm tích Do
đó trầm tích được xem như là một chỉ thị quan trọng đối với sự ô nhiễm môi trường nước
Trang 6Trong môi trường nước, chỉ có một phần nhỏ các kim loại nặng tồn tại trong các pha hoàtan (dạng ion) Nghiên cứu về ô nhiễm kim loại nặng trong các lưu vực sông trên thế giới
đã cho thấy hàm lượng của pha không hoà tan (tức là hàm lượng của các chất ô nhiễm này
ở trong trầm tích và ở dạng keo) thường rất cao so với pha hoà tan Hầu hết các kim loạinặng như As, Cd, Hg, Pb đều tồn tại ở dạng bền vững và có xu thế tích tụ trong trầm tích(các trầm tích đáy và dạng keo) hoặc trong các thuỷ sinh vật
Kim loại trong trầm tích có thể bị hòa tan và đi vào môi trường nước tùy thuộc vào cácđiều kiện hóa lý của nguồn nước như: Hàm lượng tổng các muối tan, trạng thái oxi hóakhử, các chất hữu cơ tham gia tạo phức với kim loại [39, 40, 44, 52] Vì thế, dựa vàothành phần cấu tạo và các điều kiện địa chất, kim loại nặng có thể phân chia thành cácdạng hóa học khác nhau như: Dạng trao đổi, dạng liên kết với cacbonat, dạng liên kết vớiFe-Mn oxi hiđroxit, dạng liên kết với hữu cơ, và dạng cặn dư [29, 33, 52]
1.2 Tổng quan về nguyên tố chì [8], [13], [22]
1.2.1 Giới thiệu về nguyên tố chì.
a, Tính chất lý - hóa học của nguyên tố chì.
Chì (Pb) thuộc nhóm IVA trong hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hóa học Chì cóhai trạng thái oxy hóa bền chính là Pb(II) và Pb(IV) và có bốn đồng vị là 204Pb, 206Pb,207Pb và 208Pb Trong môi trường axit nó tồn tại dưới dạng ion Pb2+ trong các hợp chất
vô cơ và hữu cơ Trong đất có một lượng nhỏ chì, sự hoà tan của chì khoángCacbonateCerussite và Sunfat Anglessite Trong đất có một lượng nhỏ chì, sự hoà tan củachì trong đất tăng lên do quá trình axit hoá trong (đất chua) Chì có khả năng được tích tụtrong cây trồng trong quá trình sinh trưởng và do đó đối với cây lương thực bị nhiễm chì
có thể dẫn đến sự ngộ độc do chì
Ở điều kiện thường, chì bị oxi hóa tạo thành lớp oxit màu xám xanh bao bọc trên
bề mặt bảo vệ cho chì không tiếp tục bị oxi hóa nữa
Trang 7Do E0 (Pb2+/Pb) = -0,126 V nên về nguyên tắc chì tan được trong HCl loãng và
H2SO4 dưới 80% nhưng thực tế chì chỉ tương tác trên bề mặt với dung dịch axit HCl loãng
và axit H2SO4 dưới 80% vì bị bao bọc bởi lớp muối khó tan (PbCl2 và PbSO4) Với dungdịch đậm đặc hơn của các axit đó thì chì có khả năng tạo phức tan
PbCl2 + 2HCl H2[PbCl4 ]
PbSO4 + H2SO4 Pb(HSO4)2
Chì tác dụng với HNO3 ở bất kì nồng độ nào
3Pb + 8HNO3 3Pb(NO3)2 + 2NO + 4H2O
Chì orthoplombat (Pb3O4) hay còn gọi là minium, là hợp chất của Pb có các số oxihoá +2, +4 Nó là chất bột màu đỏ da cam, được dùng chủ yếu là để sản xuất thuỷ tinh pha
lê, men đồ sứ và đồ sắt, làm chất màu cho sơn (sơn trang trí và sơn bảo vệ cho kim loạikhông bị rỉ)
c, Chì hydroxit.
Trang 8Pb(OH)2 là chất kết tủa màu trắng không tan trong nước Khi đun nóng dễ mất nướcbiến thành oxit.
Pb(OH)2 là chất lưỡng tính Tác dụng với axit, tan trong dung dịch kiềm mạnh tạothành muối hiđroxoplombit
K2[PbI4] PbI2 + 2KI
Trang 9Các chất thải từ ứng dụng của sản phẩm chì nếu không được tái chế hợp lý sẽ đưa vào môi trường làm gia tăng lượng kim loại độc hại này trong môi trường Ngoài ra một số hợp chất chì hữu cơ như tetraetyl hoặc tetrametyl chì được thêm vào trong xăng đặc biệt ở những quốc gia đang phát triển.
b, Đặc tính sinh học của chì.
Chì là nguyên tố có độc tính cao đối với con người và động vật Nó xâm nhập vào cơthể sống chủ yếu qua con đường tiêu hóa, hô hấp,… Tác động đến tủy xương và quá trình hình thành huyết cầu tố, nó thay thế canxi trong xương
Đặc tính nổi bật của chì là sau khi xâm nhập vào cơ thể sống nó ít bị đào thải mà tích
tụ theo thời gian Khả năng loại bỏ chì ra khỏi cơ thể rất chậm, chủ yếu qua nước tiểu Chu
kì bán rã của chì trong máu khoảng một tháng, trong xương từ 20-30 năm (WHO,1995 trích trong Lars Jarup, 2003)
Sau khi chì xâm nhập vào cơ thể người qua đường nước uống nó tích tụ lại rồi đến một mức độ nào đó mới gây độc Khi nồng độ chì trong nước uống là 0,042 - 1,000 mg/l sẽ xuất hiện triệu chứng bị ngộ độc kinh niên ở người Các hợp chất hữu cơ chứa chì có độc tính cao gấp hàng trăm lần so với các hợp chất vô cơ Khi bị nhiễm độc chì, nó sẽ gây ra nhiều bệnh như: Giảm trí thông minh; Các bệnh về máu, thận, tiêu hóa, ung thư,… Sự nhiễm độc chì có thể dẫn đến tử vong [3], [15]
Những biểu hiện của ngộ độc chì cấp tính như nhức đầu, tính dễ cáu, dễ bị kích thích,
và nhiều biểu hiện khác nhau liên quan đến hệ thần kinh
Con người bị nhiễm độc lâu dài đối với chì có thể bị giảm trí nhớ, giảm khả năng hiểu, giảm chỉ số IQ, xáo trộn khả năng tổng hợp hemoglobin có thể dẫn đến bệnh thiếu máu
Chì cũng được biết là tác nhân gây ung thư phổi, dạ dày và u thần kinh đệm Nhiễm độc chì có thể gây tác hại đối với khả năng sinh sản, gây sẩy thai, làm suy thoái nòi giống
Trang 10kim loại cứng và giòn ở hầu hết cấp nhiệt độ nhưng trở nên dễ uốn từ 100 đến 150oC Trên210°C, kim loại giòn trở lại và có thể được tán nhỏ bằng lực Kẽm có tính dẫn điện khá Sovới các kim loại khác, kẽm có độ nóng chảy (419,5°C, 787,1F) và điểm sôi (907°C) tươngđối thấp Điểm sôi của nó là một trong số những điểm sôi thấp nhất của các kim loại chuyểntiếp, chỉ cao hơn thủy ngân và cadimi
1, Tác dụng với nước:
Cũng giống Al,Zn có lớp màng oxit mỏng, bền vững bao bọc bên ngoài nên
Zn không tác dụng với nước ở nhiệt độ thường
2, Tác dụng với dung dịch kiềm:
Zn tan trong dung dịch kiềm dư tạo muối zincat và giải phóng khí H2
Zn + 2NaOH Na2ZnO2 + H2
3, Tác dụng với dung dịch muối của các kim loại khác
Zn có khả năng đẩy được muối của các kim loại có thế điện cực dương hơn
ra khỏi dung dịch muối của chúng:
Trang 11Hợp kim của kẽm được sử dụng rộng rãi nhất là đồng thau, bao gồm đồng và khoảng
từ 3% đến 45% kẽm tùy theo loại đồng thau Đồng thau nhìn chung giòn và cứng hơn đồng
và có khả năng chống ăn mòn rất cao Các tính chất này giúp nó được sử dụng nhiều trong các thiết bị truyền thông, phần cứng máy tính, dụng cụ âm nhạc, và các van nước
Các ứng dụng rộng rãi khác của hợp kim chứa kẽm bao gồm niken bạc, máy đánh chữ bằng kim loại, hàn nhôm và mềm, và đồng điếu thương mại
Kẽm có trong hầu hết các khẩu phần ăn cung cấp dưỡng chất và vitamin hàng
ngày Các sản phẩm chế biến gồm kẽm ôxít, kẽm acetat, và kẽm gluconat Nó được tin là có tính chất chống ôxy hóa, chúng có thể chống lại sự gia tăng tốc độ lão hóa của da và cơ trong cơ thể; các nghiên cứu chỉ ra sự khác biệt về các hiệu quả của nó Kẽm cũng giúp làm tăng tốc sự hồi phục vết thương Nó cũng có những tác dụng có lợi cho hệ miễn dịch của cơ thể
b, Đặc tính sinh học của kẽm.
Kẽm là nguyên tố cần thiết để duy trì sự sống của thực vật, động vật, và vi sinh vật, Kẽm được tìm thấy trong gần 100 loại enzym đặc biệt (các nguồn khác cho rằng tới 300),
có vai trò là các ion cấu trúc trong yếu tố phiên mã và được lưu trữ và vận chuyển ở
dạng thionein kim loại Nó là "kim loại chuyển tiếp phổ biến thứ 2 trong sinh vật" sau sắt và
nó là kim loại duy nhất có mặt trong tất cả các lớp enzym
Trong các protein, các ion kẽm thường liên kết với các chuỗi amino axít của axít aspartic, axít glutamic, cystein và histidin Việc miêu tả lý thuyết và tính toán của các liên kết kẽm trong các protein này cũng như đối với các kim loại chuyển tiếp khác còn khó khăn
Có từ 2–4 gam kẽmphân bố trong khắp cơ thể con người Hầu hết kẽm nằm trong não, cơ, xương, thận và gan, tuy nhiên nồng độ kẽm cao nhất tập trung trong tuyến tiền liệt và các bộphận của mắt Tinh dịch đặc biệt rất giàu kẽm, vì đây là yếu tố quan trọng trong chức năng của tuyến tiền liệt và giúp phát triển cơ quan sinh dục
Kẽm đóng vai trò sinh học quan trọng đối với con người Nó tương tác với một loạt các phối tử hữu cơ, và có vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất của
Trang 12RNA và DNA, truyền tín hiệu và biểu hiện gen Nó cũng quyết định quá trình chết hoại tế bào Một nghiên cứu năm 2006 ước tính rằng khoảng 10% protein người (2.800) có thể phụ thuộc vào kẽm, thêm vào đó hàng trăm protein vận chuyển kẽm, một nghiên cứu tương tự
về in silico trong loài thực vật Arabidopsis thaliana đã tìm thấy 2.367 protein liên quan đến kẽm
Trong não, kẽm được lưu trữ trong các synaptic vesicles đặc biệt bởi các tế bào thần kinh glutamatergic và có thể "điều chỉnh khả năng kích thích não" Nó có vai trò quan trọngtrong synaptic plasticity và cũng như trong việc học Tuy nhiên, nó được gọi là "ngựa đen của não" ("the brain's dark horse") vì nó cũng có thể là một chất độc thần
kinh, homeostasis kẽm đóng vai trò quan trọng trong chức năng bình thường của não và hệ thần kinh trung ương
1.4 Một số phương pháp hiện đạị xác định hàm lượng kim loại nặng.
Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, ngày nay có rất nhiều phương
pháp công cụ khác nhau để phân tích lượng vết kim loại như: phương pháp quang phổphân tử UV-VIS, phương pháp quang phổ nguyên tử (hấp thụ, phát xạ và huỳnh quang),phổ khối lượng (MS), phương pháp điện hóa… Tuy nhiên với những đặc tính ưu việt về
độ nhạy, độ chọn lọc, độ chính xác, giới hạn phát hiện và sự đơn giản trong vận hành,phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử (AAS) là phương pháp được áp dụng rộng rãi đểphân tích kim loại trong nhiều đối tượng phân tích khác nhau Chính vì vậy, trong đề tàichúng tôi đã áp dụng phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử (AAS) để phân tích hàm lượngcủa kim loại Cu trong một số cột trầm tích sông Cầu trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
1.4.1 Phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử (AAS) [5], [9].
a, Nguyên tắc.
Các nguyên tử ở trạng thái khí ở mức năng lượng cơ bản E0 có thể hấp thụ một sốbước sóng nhất định và đặc trưng cho nguyên tố hóa học để nhảy lên mức năng lượng caohơn Khi chiếu qua đám hơi nguyên tử kim loại một chùm sáng đơn sắc có bước sóngthích hợp một phần chùm sáng sẽ bị hấp thụ Dựa vào độ hấp thụ ta có thể xác định đượchàm lượng của kim loại cần xác định trong đám hơi đó
Trang 13Phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử có độ chọn lọc rất cao và có giới hạn pháthiện có thể tới cỡ µg/kg vì vậy nó được xem là một phương pháp tiêu chuẩn để xác địnhhàm lượng các ion kim loại
Thực hiện phép đo AAS để xác định các một nguyên tố thường thực hiện theo cácbước sau:
1 Chuyển mẫu phân tích thành dạng dung dịch đồng thể
2 Hóa hơi dung dịch phân tích
3 Nguyên tử hóa chất phân tích Có 4 kỹ thuật nguyên tử hóa trong AAS đó là:
kỹ thuật ngọn lửa (F-AAS); kỹ thuật không ngọn lửa (GF-AAS); kỹ thuậtHydrua hóa; kỹ thuật nguyên tử hóa mẫu rắn và bột
4 Chiếu chùm sáng có bước sóng đặc trưng qua đám hơi nguyên tử
5 Thu phổ, phân giải và chọn một bước sóng xác định để đo và đo Aλ
6 Ghi lại kết quả đo Aλ
Cường độ của vạch phổ hấp thụ phụ thuộc vào nồng độ của nguyên tố đó trongdung dịch phân tích Trong một khoảng giới hạn nồng độ nhất định (vùng tuyến tính) thìcường độ vạch phổ phụ thuộc tuyến tính bậc nhất vào nồng độ Vì vậy dựa vào cường độvạch phổ ta có thể xác định được nồng độ của các kim loại trong dung dịch phân tích
b, Độ nhạy của phép đo phổ hấp thụ nguyên tử AAS.
Đây là phép đo có độ nhạy và độ chọn lọc tương đối cao Gần 60 nguyên tố hóahọc có thể xác định bằng phương pháp này với độ nhạy từ 1.10-4 – 1.10-5 % Đặc biệt, nếu
sử dụng kĩ thuật nguyên tử hóa không ngọn lửa có thể đạt tới độ nhạy n.10-7 % Chính vì
có độ nhạy cao nên phương pháp phân tích này được sử dụng rất rộng rãi trong nhiều lĩnhvực để xác định lượng vết các kim loại
1.4.2 Phương pháp phổ phát xạ nguyên tử (AES) [9].
Cơ sở lí thuyết của phương pháp này dựa trên hiện tượng các nguyên tử ở trạngthái khí khi bị kích thích nó thấp thụ năng lượng chuyển lên mức năng lượng cao Em sau
Trang 14đó nó phát ra các tia phát xạ có bước sóng xác định đặc trưng cho nguyên tử của mỗinguyên tố để trở về trạng thái năng lượng cơ bản E0.
Các bước thực hiện khi phân tích một nguyên tố theo phương pháp AES:
1 Hóa hơi mẫu phân tích
2 Nguyên tử hóa chất phân tích
3 Kích thích nguyên tử bằng năng lượng thích hợp để chuyển lên mức năng lượngcao Các nguyên tử kích thích sẽ phát ra các tia phát xạ
4 Thu toàn bộ phổ và phân giải thành từng tia
5 Ghi lại phổ phát xạ
6 Đánh giá định tính và định lượng ion kim loại
Phổ AES là phổ vạch và có nhiều vạch hơn so nên độ nhạy kém hơn so với phổAAS Những vạch phổ đặc trưng của AES trùng với AAS
1.4.3 Phương pháp phổ huỳnh quang nguyên tử [7,9].
Cơ sở của phương pháp phổ huỳnh quang nguyên tử dựa trên hiện tượng một sốnguyên tử khi bị kích thích bởi các bức xạ nó hấp thu năng lượng chuyển lên mức nănglượng cao sau đó ngay lập tức nó bị suy biến và trở về mức năng lượng cơ bản đồng thờiphát ra các bức xạ huỳnh quang đặc trưng cho từng nguyên tố
Phổ huỳnh quang nguyên tử cũng là phổ vạch tương tự như phổ phát xạ nguyên tửnhưng có số vạch ít hơn vì vậy nó có tính chất chọn lọc hơn phổ phát xạ nguyên tử
1.4.4 Các phương pháp điện hóa [5].
1.4.4.1 Phương pháp cực phổ.
Cơ sở của phương pháp cực phổ dựa trên việc biểu diễn sự phụ thuộc của cường độdòng điện vào thế điện cực của điện cực khi làm việc gọi là đường dòng thế hay đường
Trang 15cong Vol-Ampe Dựa vào đường những đặc trưng của đường cong Vol-Ampe có thể xácđịnh định tính (dựa vào thế bán sóng) và định lượng (dựa vào chiều cao sóng) Cácphương pháp cực phổ cổ điển có độ nhạy thấp 10-4 đến 10-5 và độ chọn lọc cũng khôngcao do đường cong cực phổ của các chất điện hoạt trồng lên nhau làm cho phổ đồ có dạngbậc thang Hiện nay, nhờ một số cải tiến đã nâng cao độ nhạy của phương pháp có thể đạt
cỡ 10-9 g/g
1.4.4.2 Phương pháp von-ampe hòa tan.
Nguyên tắc của phương pháp gồm 3 giai đoạn chính:
+ Làm giàu chất điện hóa lên trên bề mặt điện cực dưới dạng kết tủa kim loại hoặchợp chất khó tan bằng cách điện phân dung dịch ở những điều kiện thích hợp
+ Giai đoạn nghỉ: ngừng khuấy và điện phân để chất phân tích phân bố đều trên bềmặt điện cực
+ Giai đoạn hòa tan điện hóa: hòa tan kết tủa bằng cách phân cực điện cực chỉ thịtheo chiều ngược lại và ghi đường cong Von-Ampe hòa tan
Phương pháp von-ampe hòa tan có ưu điểm là độ chọn lọc, độ nhạy cao; độ lặp lại
và độ chính xác tốt, giới hạn phát hiện có thể đạt cỡ 10-8 đến 10-10M
1.4.5 Phương pháp phổ khối lượng ICP-MS [8].
Trong plasma ICP (ngọn lửa ICP), khi thể sol khí mẫu được dẫn vào, các chất mẫu
sẽ hoá hơi, rồi bị phân ly thành các nguyên tử tự do ở trạng thái khí Trong Plasma ICPnăng lượng cao (nhiệt độ 6000- 8000oC), các nguyên tử sẽ bị ion hoá, tạo ra đám hơi ionbậc I (Me+) Đó là các ion của nguyên tố trong mẫu phân tích có điện tích +1 và số khốim/Z Các ion này sẽ được đưa vào buồng phân giải phổ để phân ly chúng thành phổ dựavào giá trị m/Z
Trang 16Phổ ICP-MS có độ nhạy cao hơn nhiều so với các phương pháp phổ hấp thụ và phát
xạ nguyên tử Giới hạn phát hiện của nó có thể đạt tới cỡ ppt Đồng thời phổ ICP-MS có độ
ổn định cao, độ lặp lại tốt và vùng tuyến tính rộng Chính vì vậy phương pháp phổ ICP-MSngày càng được chú ý sử dụng rộng rãi
1.5 Phương pháp tách các dạng kim loại
1.5.1 Sự phân chia các dạng kim loại.
Theo Tessier, kim loại trong đất và trầm tích tồn tại ở 5 dạng chính
- Dạng trao đổi (F1): Kim loại trong dạng này liên kết với trầm tích hay các thành
phần chính của trầm tích (sét, hiđrat oxit của sắt và mangan, axit humic) bằng lực hấp phụyếu trên các hạt Sự thay đổi lực ion của nước sẽ ảnh hưởng đến khả năng hấp phụ hoặc giảihấp các kim loại này, dẫn đến sự tích lũy hoặc giải phóng các kim loại tại bề mặt tiếp xúccủa nước và trầm tích
- Dạng liên kết với cacbonat (F2): Các kim loại liên kết với cacbonat rất nhạy cảm
với sự thay đổi của pH, khi pH giảm thì kim loại tồn tại ở dạng này sẽ được giải phóng
- Dạng liên kết với Fe-Mn oxi hiđroxit (F3): Ở dạng liên kết này kim loại được hấp
phụ trên bề mặt của Fe-Mn oxi hiđroxit và không bền trong điều kiện khử, vì khi đó trạngthái oxi hoá khử của sắt và mangan sẽ bị thay đổi, dẫn đến các kim loại trong trầm tích sẽđược giải phóng vào pha nước
- Dạng liên kết với hữu cơ (F4): Các kim loại có thể liên kết với nhiều dạng hữu cơ
khác nhau như các cá thể sống, những mảnh vụn do sự phân hủy của sinh vật hay cây cối, Kim loại ở dạng này sẽ không bền trong điều kiện oxi hoá, khi bị oxi hoá các chất hữu cơ sẽphân huỷ và các kim loại sẽ được giải phóng vào pha nước
- Dạng cặn dư (F5): Phần này chứa các muối khoáng tồn tại trong tự nhiên có thể
giữ các vết kim loại trong nền cấu trúc của chúng Do đó, khi kim loại tồn tại trong phânđoạn này sẽ không thể hoà tan vào nước trong các điều kiện như trên
Trang 171.5.2 Một số quy trình phân tích dạng kim loại.
Như đã nói ở trên, phân tích các dạng kim loại nặng có thể cung cấp nhiều thông tinhữu ích liên quan đến tính chất hóa học hoặc khả năng linh động và đáp ứng sinh học củamột nguyên tố cụ thể, do đó có thể đưa ra một ước tính thực tế hơn về tác động của kim loạiđến môi trường [23], [43], [47]
- Quy trình chiết các dạng liên kết của kim loại trong trầm tích của A Tessier và cáccộng sự [47] (hình 1.1) được coi là cơ sở của các quy trình sau này Quy trình này đã chiakim loại trong trầm tích thành năm dạng chính: Dạng trao đổi (F1), dạng liên kết vớicacbonat (F2), dạng liên kết trong cấu trúc oxit sắt- mangan (F3), dạng liên kết với các hợpchất hữu cơ (F4), và dạng bền nằm trong cấu trúc tinh thể của trầm tích (gọi là dạng cặn dư)(F5)
- Kersten và Forstner (1986) đã đưa ra quy trình sau [42]:
Bảng 1 Quy trình phân tích dạng kim loại của Kersten và Forstner
Trao đổi 10 ml NH4OAc 1M pH=7, ở t o phòng, trong 15 phút
Cacbonat 20 ml NaOAc 1M pH =5, ở t o phòng, trong 5 giờ
Dễ khử 20 ml NaOAc 1M /NH4OH.HCl 0.25M, pH= 5, ở t o phòng trong 16
giờKhử trung bình 20 ml NH4OH.HCl 0.25M trong HOAc 25% , pH= 2, ở 90oC, trong 6
giờHữu cơ /suphua 3 ml HNO3 0.01M, 5 ml 30% H2O2, 85oC, 2 giờ Hoặc 2 ml HNO3
0.01M, 3 ml 30% H2O2, 85oC, 3 giờ Hoặc 10 ml NH4OAc 1M pH =2,nhiệt độ phòng, 16 giờ
- Davidson và các cộng sự (1994) đưa ra quy trình [29], [42]:
Bảng 2 Quy trình phân tích dạng kim loại của Davidson
Trang 18Dạng kim loại Hóa chất được sử dụng
Trao đổi 20 ml axit HOAc 0,11M, ở t o phòng, trong 16 giờ
Dễ khử 20 ml NH4OH.HCl 0,1M (pH= 2)
Khử trung bình (HNO3),tại t o phòng, trong 16 giờ
Hữu cơ /suphua 5 ml H2O2 8,8M, 1 giờ, to phòng, 1 giờ trong bình nước 85oC, 20 ml
NH4OAc 1M pH= 2, ở t o phòng, trong 16 giờPhương pháp chiết chọn lọc của Han và Banin (1996) chia các dạng kim loại trongtrầm tích làm 6 dạng [48] gồm: Trao đổi, liên kết với cacbonat, ôxít dễ khử, liên kết với cácchất hữu cơ, liên kết với các cặn oxit, và dạng cặn dư (bảng 1.5)
Bảng 3 Quy trình phân tích dạng kim loại của Han và Banin
Trao đổi 25ml NH4NO3 1M (điều chỉnh pH = 7,0 với NH4OH), lắc 30 phút ở
25oCCacbonat 25 ml (CH3COOH + CH3COONa) 1M ở pH =5, lắc 6 giờ
Oxit dễ khử 25 ml NH2OH.HCl 0,04M trong CH3COOH 25%, lắc, 30 phútLiên kết với các
chất hữu cơ
3 ml HNO3 0,01M và 5ml H2O2 30%, ở 80 oC trong 2 giờ, thêm 2mlcủa H2O2, đun nóng trong 1 giờ Thêm 15 ml HNO3 0,01M, lắc trong
30 phútLiên kết với các
cặn oxit
25 ml NH2OH.HCl 0,04M trong CH3COOH 25%, ngâm trong bình
cách thủy ở 90 oC trong 3giờDạng cặn dư 25 ml HNO3 4M, ngâm trong bình cách thủy ở 80 oC trong 16 giờ
Sau này, đã có nhiều công trình nghiên cứu để chiết chọn lọc các dạng liên kết của kim loại trong trầm tích [24], [29], [34], [39], [41], [50], [51], các quy trình chủ yếu dựa vàoquy trình của Tessier [47], [51] và đã được cải tiến để tiết kiệm thời gian và phù hợp với cácđối tượng mẫu khác nhau (Hình 1.2)
Trang 198 ml MgCl2, lắc liên tục trong 1 giờ, t0 phòng
8 ml NaOAc/HOAc (pH=5)
Mẫu (1 gam)
(chiết chọn lọc)
Mẫu (1 gam) (chiết phân đoạn)
Lớp dung dịch trên Cặn 1 Dạng hòa tan (F1)
Trang 20lắc liên tục trong 4 giờ, t0 phòng
10 ml NaOAc 1M
1,5 ml HOAc 5M 20ml NH2OH.HCl 0,4M Lắc liên tục 6 giờ trong HOAc 25%, Ở 960C,
4 giờ, thỉnh thoảng lắc
12,5 ml dung dịch (20g Ascorbic, 50g NaCr, 8 ml H2O2 30% (pH=2) 50g NaHCO3 trong 1 lít) +3 ml HNO3 0,03M, Lắc liên tục 24 giờ 850C, thỉnh thoảng lắc
Liên kết với oxit của sắt và mangan (F3) Lớp dung dịch trên Cặn 4
Liên kết với các chất hữu cơ
Trang 2120 ml CH3COONH4 1M, axit hóa pH=5 với HOAc, lắc 5 giờ Để ở nhiệt độ phòng
20 ml NH2OH.HCl 0,04M trong HOAc 25% ở 950C,
trong 5 giờ
10 ml CH3COONH4 3,2MTrong HNO3 20%, lắc 0,5 giờ
ở nhiệt độ phòng
20 ml hỗn hợp 3:1HCl-HNO3
Hình 7: Sơ đồ chiết phân tích dạng kim loại nặng trong trầm tích của tessier sau khi
đã cải tiến.
1.5.2 Sự phân chia các dạng kim loại.
Theo Tessier, kim loại trong đất và trầm tích tồn tại ở 5 dạng chính:
- Dạng trao đổi (F1): Kim loại trong dạng này liên kết với trầm tích hay các thành
phần chính của trầm tích (sét, hiđrat oxit của sắt và mangan, axit humic) bằng lực hấp phụyếu trên các hạt Sự thay đổi lực ion của nước sẽ ảnh hưởng đến khả năng hấp phụ hoặc giải
hữu cơ (F4)
Trang 22hấp các kim loại này, dẫn đến sự tích lũy hoặc giải phóng các kim loại tại bề mặt tiếp xúccủa nước và trầm tích.
- Dạng liên kết với cacbonat (F2): Các kim loại liên kết với cacbonat rất nhạy cảm
với sự thay đổi của pH, khi pH giảm thì kim loại tồn tại ở dạng này sẽ được giải phóng
- Dạng liên kết với Fe-Mn oxi hiđroxit (F3): Ở dạng liên kết này kim loại được hấp
phụ trên bề mặt của Fe-Mn oxi hiđroxit và không bền trong điều kiện khử, vì khi đó trạngthái oxi hoá khử của sắt và mangan sẽ bị thay đổi, dẫn đến các kim loại trong trầm tích sẽđược giải phóng vào pha nước
- Dạng liên kết với hữu cơ (F4): Các kim loại có thể liên kết với nhiều dạng hữu cơ
khác nhau như các cá thể sống, những mảnh vụn do sự phân hủy của sinh vật hay cây cối, Kim loại ở dạng này sẽ không bền trong điều kiện oxi hoá, khi bị oxi hoá các chất hữu cơ sẽphân huỷ và các kim loại sẽ được giải phóng vào pha nước
- Dạng cặn dư (F5): Phần này chứa các muối khoáng tồn tại trong tự nhiên có thể
giữ các vết kim loại trong nền cấu trúc của chúng Do đó, khi kim loại tồn tại trong phânđoạn này sẽ không thể hoà tan vào nước trong các điều kiện như trên
Chương 2: THỰC NGHIỆM 2.1 Đối tượng nghiên cứu.
2 cột trầm tích lấy trên lưu vực sông Cầu đoạn đi qua Thành phố Thái Nguyên kíhiệu là SC03 và SC07
Trang 231 Mẫu SC03 gần ngòi Trại Bầu có tọa độ: N 210.34’.10,2’’
E 1050.51’.56,9’’
2 Mẫu SC07 phía sau cầu Gia Bẩy có tọa độ: N 21o35’56,4”
E 105o50’20,7”
2.2 Nội dung nghiên cứu.
- Xây dựng đường chuẩn định lượng Pb và Zn
- Bằng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử với kĩ thuật nguyên tử hóa ngọn lửa AAS) phân tích định lượng các dạng trao đổi, dạng liên kết với cacbonat (F1,2), dạng liênkết với Fe-Mn oxi hiđroxit (F3), dạng liên kết với hữu cơ (F4) của Cu theo quy trình chiếtchọn lọc
(F Xử lý và đánh giá kết quả thực nghiệm
2.3 Phương pháp định lượng kim loại bằng phổ F-AAS.
a, Nguyên tắc của phép đo.
Phép đo phổ hấp thụ nguyên tử (AAS) dựa trên cở sở nguyên tử ở trạng thái hơi cókhả năng hấp thụ các bức xạ có bước sóng nhất định mà nó có thể phát ra trong quá trìnhphát xạ khi chiếu một chùm tia sáng có bước sóng nhất định đó vào đám hơi nguyên tử
Muốn tiến hành phép đo phổ AAS ta phải thực hiện các quá trình sau:
1 Chuyển mẫu phân tích (xử lý mẫu) về dạng dung dịch đồng thể
2 Hoá hơi dung dịch mẫu, để có đám hơi (khí) của chất mẫu
3 Nguyên tử hoá đám hơi, tạo ra môi trường của nguyên tử tự do
4 Chiếu chùm tia bức xạ đơn sắc đặc trưng của nguyên tố phân tích vào đám hơi
nguyên tử tự do Các nguyên tử tự do sẽ hấp thụ những tia sáng nhất định và sinh phổ AAS.
Trang 245 Thu phổ AAS, phân giải phổ này, chọn một bước sóng () để đo, và đo cường độ
của vạch phổ (A) Cường độ đó chính là tín hiệu hấp thụ của vạch phổ AAS
6 Ghi lại kết quả đo cường độ của vạch phổ (A)
Sự phụ thuộc của cường độ vạch phổ hấp thụ nguyên tử của một nguyên tố vào nồng
độ của nguyên tố đó trong dung dịch mẫu phân tích được nghiên cứu và thấy rằng: trongmột khoảng nồng độ C nhất định của nguyên tố trong mẫu phân tích, cường độ vạch phổhấp thụ phụ thuộc vào nồng độ C theo phương trình:
A = k Cb (*)Trong đó:
A: cường độ hấp thụ của vạch phổ
k: hằng số thực nghiệm, phụ thuộc vào tất cả các điều kiện hóa hơi và nguyên tử hóamẫu đối với một hệ thống máy AAS và với các điều kiện đã chọn cho mỗi phép đoC: nồng độ của nguyên tố cần xác định trong dung dịch mẫu phân tích
b: hằng số bản chất (0 < b 1), phụ thuộc vào từng vạch phổ
Khi nồng độ C nhỏ thì b=1, khi C tăng thì b nhỏ và xa dần giá trị 1 Hình 6 biểu thịmối quan hệ giữa A và C
Trang 25Hình 7 Quan hệ giữa A và C
Như vậy, trong một khoảng nồng độ nhất định mối quan hệ giữa A và C là tuyếntính Khoảng nồng độ này được gọi là khoảng tuyến tính của phép đo Phương trình (*)chính là phương trình cơ sở để định lượng của phép đo AAS
b, Trang bị của phép đo.
Theo nguyên tắc trên, hệ thống máy AAS có các bộ phận chính sau:
Phần 1 Nguồn cung cấp chùm tia sáng đơn sắc của nguyên tố phân tích, đó có thể là
đèn catot rỗng (HCL), đèn không điện cực (EDL) hoặc nguồn đèn phổ liên tục biến điệu
Phần 2 Hệ thống hóa hơi và nguyên tử hóa mẫu, hệ thống này được thiết kế theo 3
loại kĩ thuật nguyên tử hóa mẫu là:
1 Kĩ thuật ngọn lửa (F-AAS)
2 Kĩ thuật không ngọn lửa (GF-AAS)
3 Kĩ thuật hóa hơi lạnh (CV-AAS)
Phần 3 Hệ đơn sắc (bộ phận đơn sắc) có nhiệm vụ thu phổ, phân giải và chọn vạch
phổ λ để hương vào nhân quang điện để phát hiện và đo độ hấp thụ Aλ
Phần 4 Bộ phận khuếch đại và chỉ thị tín hiệu đo.
Trang 26Hình 8 Sơ đồ cấu tạo hệ thống máy AAS
c, Cách xác định bằng phương pháp đường chuẩn
Nguyên tắc:
Dựa vào phương trình cơ bản của phép đo: A = K.C và một dãy mẫu đầu (ít nhất là 3mẫu) để dựng một đường chuẩn, sau đó nhờ đường chuẩn này cùng với giá trị Ax để xácđịnh nồng độ Cx của nguyên tố cần phân tích trong mẫu đo phổ, rồi từ đó tính được nồng độcủa nó trong mẫu phân tích
4 Xây dựng đường chuẩn biểu thị mối quan hệ A - C
5 Từ đường chuẩn phát hiện nồng độ Cx bằng cách đem giá trị Ax đặt lên trục tung Acủa hệ tọa độ, từ đó kẻ đường thẳng song song với trục hoành C cắt đường chuẩn tại điểm
M Từ điểm M ta hạ đường vuông góc với trục hoành và cắt trục hoành tại điểm Cx, giá trị
Cx chính là nồng độ cần tìm
Trang 27Hình 9 Đồ thị chuẩn của phương pháp đường chuẩn
Phương pháp này đơn giản, độ chính xác cao, tốc độ phân tích nhanh, tính kinh tếcao Tuy nhiên, trong trường hợp mẫu phân tích chưa biết thành phần nền phức tạp, thì kết quảphân tích sẽ mắc sai số lớn do ảnh hưởng của nền không phù hợp giữa dãy chuẩn và mẫu phântích Để khắc phục người ta dùng một trong hai biện pháp sau:
1 Biến đổi nền của mẫu (khắc phục được 90% trường hợp)
2 Dùng phương pháp thêm tiêu chuẩn
2.4 Trang thiết bị và hóa chất phục vụ nghiên cứu.
2.4.1 Trang thiết bị
- Cân phân tích chính xác đến 10-4g
- Máy lắc, máy đo pH
- Hệ thống máy quang phổ F-AAS (Model AAS Solar M5)
- Bếp điện, tủ hốt, máy sấy
- Ống đong 100ml, các loại pipet, cốc, bình định mức, phễu, giấy lọc, lam kính
Dụng cụ trước khi sử dụng đều được rửa trước bằng xà phòng, sau đó ngâm bằngHNO3 20% trong 24h rồi tráng lại 3 lần bằng nước cất
Trang 288 Axit ascorbic tinh thể
9 Natri citras tinh thể
10 Dung dịch chuẩn Cu2+ 1000 ppm
Các hóa chất đều là loại tinh khiết phân tích của Merck
2.4.3 Chuẩn bị hóa chất và dung dịch chuẩn.
1 Dung dịch HNO3 20%: pha loãng 337,4g (tương ứng với 241 ml) dung dịchHNO3 65% (d=1,4 g/ml) với 759g (tương ứng với 759 ml) nước cất để thu được 1000mldung dịch HNO3 20%
2 Dung dịch CH3COOH 5M: pha loãng 71,2 ml dung dịch CH3COOH 99% bằngnước cất và định mức đến 250ml
3 Dung dịch CH3COONa 1M: cân chính xác trên cân phân tích 68g tinh thể
CH3COONa.3H2O, hòa tan bằng nước cất và định mức đến 500 ml
4 Dung dịch CH3COONH4 1M: cân chính xác trên cân phân tích 19,25g tinh thể
CH3COONH4, hòa tan bằng nước cất và định mức đến 250ml Sử dụng máy đo PH điềuchỉnh dung dịch CH3COONH4 đến PH=5 bằng dung dịch HNO3