Nước là một trong những mặt hàng quý giá nhất,mạc dù nó thường được dùng mọi lúc mọi nơi.Nó được sử dụng cho nhiều mục đích,hầu hết là để phục vụ cho cuộc sống và xã hội.Công dụng lớn nhất của nước là dùng để uống bởi không có baats cứ 1 người hay 1 sinh vậy nào có thể tồn tại khi thiếu nước.Và nó còn được sử dụng hàng ngày cho khâu vệ sinh cá nhân.Cả ngành nông nghiệp và công nghiệp đều sử dụng một lượng nước rất lớn để phục vụ cho vệc sản xuất thực phẩm và các mặt hàng tiêu dùng.Ngoài ra,cá mà chúng ta ăn cũng phụ thuộc hoàn toàn vào nước.Nguồn nước không thể bị cạn kiệt hoàn toàn bởi nó còn được thu hồi qua các chu trình thủy văn tự nhiên,tuy nhiên chất lượng nước có thể giảm đến lúc nước không còn sử dụng được,thậm chí đến mức độc hại và gây chết người.Ô nhiễm nước nghiêm trọng đã xảy ra ở các sông,hồ và thậm chí là cả ở các phần của đại dương. 97% nước trên thế giới được tìm thấy ở các đại dương.Chỉ có 2,5% nước trên thế giới là nước ngọt,tuy nhiên có đến 75% nước ngọt lại bị ngập sâu ở các dòng sông băng và tảng băng,Chỉ có 1 Yo nước ngọt được tìm thấy trong sông,hồ,đất và 24 % trong của chúng là nước ngầm.Nhu cầu sử dụng nước và dân số ngày càng gia tăng đã gây áp lực lớn cho nguồn tài nguyên nước,Năm 11975,tổng số nước sử dungjt oàn cầu là 4000 kilome khốinăm và dự kiến sẽ tăng leenkhoangr 6000 km khốinăm vào năm 2000.Việc tìm kiếm nguồn cung caaos nước ngọt để đáp ứng cái nhu cầu ngày càng tăng của con người,và duy trì chất lượng nước đang trở thaanhf một vấn đề.Mặc dù lượng nước sẵn có không phải là 1 vấn đề trên quy mô toàn cầu,nhưng việc tìm kiếm nước ngọt chất lượng cao tại những điểm yêu cầu với số lượng lớn là là 1 vấn đề nan giải.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA MÔI TRƯỜNG LỚP 10CMT
Chủ đề báo cáo:
Ô NHIỄM NƯỚC Môn học
QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG
Giảng viên hướng dẫn : Ts Tô Thị Hièn
Nguyễn Thị Thanh Tâm 1022254 Nguyễn Thị Bích Thuận 1022286 Trần Huỳnh Vân Nhi 1022208 Nguyễn Thị Thu Thảo 1022274
Trang 2NỘI DUNG BÀI THUYẾT TRÌNH
I – TỔNG QUAN VỀ NƯỚC Ô NHIỄM………
II – CÁC DẠNG Ô NHIỄM NƯỚC………
III – XỬ LÝ NƯỚC ………
IV – PHÂN TÍCH NƯỚC………
I Tổng quan về ô nhiễm nước
1 Thủy quyển
Nước là một trong những mặt hàng quý giá nhất,mạc dù nó thường được dùng mọi lúc mọi nơi.Nó được sử dụng cho nhiều mục đích,hầu hết là để phục vụ cho cuộc sống và
xã hội.Công dụng lớn nhất của nước là dùng để uống bởi không có baats cứ 1 người hay 1 sinh vậy nào có thể tồn tại khi thiếu nước.Và nó còn được sử dụng hàng ngày cho khâu vệ sinh cá nhân.Cả ngành nông nghiệp và công nghiệp đều sử dụng một lượng nước rất lớn để phục vụ cho vệc sản xuất thực phẩm và các mặt hàng tiêu dùng.Ngoài ra,cá mà chúng ta ăn cũng phụ thuộc hoàn toàn vào nước.Nguồn nước không thể bị cạn kiệt hoàn toàn bởi nó còn được thu hồi qua các chu trình thủy văn tự nhiên,tuy nhiên chất lượng nước có thể giảm đến lúc nước không còn sử dụng được,thậm chí đến mức độc hại và gây chết người.Ô nhiễm nước nghiêm trọng đã xảy
ra ở các sông,hồ và thậm chí là cả ở các phần của đại dương
97% nước trên thế giới được tìm thấy ở các đại dương.Chỉ có 2,5% nước trên thế giới
là nước ngọt,tuy nhiên có đến 75% nước ngọt lại bị ngập sâu ở các dòng sông băng và tảng băng,Chỉ có 1 Yo nước ngọt được tìm thấy trong sông,hồ,đất và 24 % trong của chúng là nước ngầm.Nhu cầu sử dụng nước và dân số ngày càng gia tăng đã gây áp lực lớn cho nguồn tài nguyên nước,Năm 11975,tổng số nước sử dungjt oàn cầu là 4000 kilome khối/năm và dự kiến sẽ tăng leenkhoangr 6000 km khối/năm vào năm 2000.Việc tìm kiếm nguồn cung caaos nước ngọt để đáp ứng cái nhu cầu ngày càng tăng của con người,và duy trì chất lượng nước đang trở thaanhf một vấn đề.Mặc dù lượng nước sẵn có không phải là 1 vấn đề trên quy mô toàn cầu,nhưng việc tìm kiếm nước ngọt chất lượng cao tại những điểm yêu cầu với số lượng lớn là là 1 vấn đề nan giải
2 Ô nhiễm nước:
Các khu dân cư và ngành công nghiệp từ lâu đã được tập trung dọc theo các dòng sông,vùng cửa sông và ven biển do ưu thế của thương mại liên quan đến nước.Con
Trang 3ngươi sử dụng nước dẫn đến suy thái chất lượng nước bởi việc thải ra các chất ô nhiễm khác nhau.Trong lịch sử,ô nhiễm nước không phải là 1 vấn đề lớn cho đến khi các trung tâm lớn có dân số tằn cao.Sông và biển đều có khả năng tự làm sạch,nhưng ô nhiễm nguồn nước sẽ là vấn đề khi nó vượt quá khả năng tự làm sạch của nước.Chất ô nhiễm nước là bất kì tác nhân vật lí,hóa học hay sinh học nào ở mức độ quá cao có khả năng gây hại cho các sinh vật sống,bao gồm cả con người.Chất lượng nước thì quyết định tiềm năng sử dụng của nó.Ví dụ chất lượng nước cần thiết cho công nghiệp thì phụ thuộc và các quá trình của ngành công nghiệp đó.Nước bị ô nhiễm cũng có thể được sử dungjc ho 1 số quá trình nhưng không phải là tát cả
Nước ô nhiễm là 1 mối nguy hiểm sức khỏe nghiêm trọng.Con người có thể bị bệnh do uống,rửa hay bơi lội trong nước bị ô nhiễm
Mối nguy hiểm sinh học của nước gồm có vi khuẩn gây bệnh,virut và kí sinh trùng.Còn hóa chất nguy hiểm bao gồm nitrat,chì,asen và các chất phóng xạ.Mối quan tâm hàng đầu là chất lượng nước cấp cho sinh hoạt phải được miễn nhiễm các chất có hại cho sức khỏe con người.Từ quan điểm y tế cộng đồng là quan trọng nhất mà nguồn cấp nước sinh hoạt được miễn nhiễm từ các sinh vật gây bệnh.Tác nhân gây bệnh có thể lây truyền qua nước bao gồm các vi khuẩn gây bênh đường ruột như lỵ,tả,thương hàn và cả các tác nhân truyền nhiễm bệnh viêm gan và bại liệt
Ở các nước phát triển như châu Âu và Bắc Mĩ,nguồn cung cấp nước thường được kháng khuẩn,nhưng điều này không có nghĩa ở các nước này các bệnh truyền nhiễm không xảy ra.Thậm chí ở các nước phát triển,bệnh liên quan đến nước vẫn cò là 1 mối
đe dọa và nguồn cấp nước vẫn thường xuyên đc kiểm tra nồng độ coliform.Nguồn cấp nước cũng cần phải được loại trừ các hóa chất độc hại như thuốc trừ sâu,thuốc bảo vệ thực vật,kim loại nặng và các chất phóng xạ
Một dạng phổ biến của ô nhiễm vật lý là ô nhiễm nhiệt.Công nghiệp sử dụng nước cho mục đích làm mát và nước này được xả ra sẽ có nhiệt độ cao hơn nhiệt độ môi trường xugn quanh.Thủ phạm chính trong lĩnh vực này chính là các nhà máy điện,trong đó sử dụng số lượng rất lớn nước mặt cho ngưng tụ hơi nước để các tu-bin phát điện.Sau đó,nước nóng được xartrowr lại vào sông hồ,cửa sông và biển.cá vốn rất nhạy cảm với nhiệt độ và chỉ cần gia tăng 1 vài độ cũng gay ra hậu quả nghiệm trọng cho chúng
và các sinh vật sống trong nước.do đó,nhiệt độ của nước thường phải được làm giảm trong tháp làm mát tại nhà máy điện trước khi thải bỏ
Trang 4Bảng 4.1 : Các chất ô nhiễm hóa học chính trong nước:
Phóng xạ
Ô nhiễm hữu cơ
Kim loại nặng
Axit
chất dinh dưỡng
Thải từ ngành công nghiệp hạt nhân,vận chuyển vật liệu hạt nhân và thử nghiệm hạt nhân
Chất diệt cỏ và thuốc trừ sâu trong nông nghiệp.Công nghiệp và bản thân các chất thải.sự cố tràn dầu
Chất thỉa từ ngành công nghiệp,nông nghiệp,thoát nước đô thị và nước từ các hộ gia đình
Hệ thống thoát nước từ các mỏ,chất thải từ ngành công nghiệp và lắng đọng axit trong khí quyển
Phân bón và nước thải dùng trong nông nghiệp
Là chủ đề nóng.Gây ảnh hưởng sức khỏe nên gây tranh cãi thường xuyên, Một loạt các chất được thải( hydrocacbon,xăng dầu,thước trừ sâu,chất tẩy rửa…)ảnh hưởng đến sức khỏe con người và hệ sinh thái thủy sinh
Nhiều chất ô nhiễm kim loại
có thể tác dộng xấu cho sức khỏe con người và hệ sinh thái thủy sinh ( Thủy ngân,chì,cadimi…) Gây hại cho hệ sinh thái thủy sinh( như axit sunfuric,axit nitric) băng cách vận chuyển các kim loại độc hại
Gây phú dưỡng hóa( Hợp chất P và N).Nitrat có thể ảnh hưởng sức khỏe con người
Cuốn sách này có đề cập đến các phân tích hóa học,vật lí và o nhiễm sinh học nhưng
ko đc thảo luận chi tiết
Nguồn chính của ô nhiễm nước là: nước thải,chất thỉa công nghiệp,nước thoát từ đất
và sự cố tràn dầu.Các loại chínhgây ô nhiễm nước và nguồn của chúng đã đc liệt kê trong bảng 4,1.rất nhiều trong số các chất ô nhiễm liên tục được thải vào nguồn nước
đã gây sự quan tâm của cộng động.Ví dụ điển hình là tai nạ phóng xạ từ nhà máy tái chế hạt nhân Sellafield ở Anh gần biển Ailen,thử hạt nhân ủa Pháo ở Thái Bình Dương
và sựu cố tràn dầu ở Exxon Valdez
3 Các chỉ số cần quan tâm
• Nhu cầu oxy sinh hóa ( BOD)
Nước thải đi vào sông hoặc biển từ một miệng cống xả thải có thể xem như một nguồn ô nhiễm điểm,nồng độ chất ô nhiễm giảm dần về hạ lưu do được pha loãng.Các chất ô nhiễm hữu cơ trong nước tahir hiện đang là 1 vấn đề ô nhiễm cụ thể.Các vi
Trang 5khuẩn trong nước có thể làm suy giảm chát hữu cơ,sử dụng oxy hòa tan (DO) trong quá trình này.Lượng oxy cần thiết để phân hủy chất hữu cơ trong một đơn vị thể tích nước gọi là nhu cầu oxy sinh hóa (BOD) BOD có thể xem như 1 thước đo ô nhiễm hưu cơ và được xác ddihnj thường xuyên trong các nhà máy xử lí nước thải và các phòng thid nghiệm chất lượng nước.Nếu có quá nhiều chất ô nhiễm hữ cơ và nồng độ BOD quá cao,DO sẽ trở nên rất thấp để hỗ trợ đời sống thủy sinh.Sự phân hủy các chát ô nhiễm hữu cơ bắt đầu ngay sau khi nước thải vào sông và gần với các nguồn điểm của ô nhiễm là khu vực ô nhiễm,tại đố BOD cao và DO thấp.Vùng hạ lưu có 1 vùng hoạt động,tại đố DO tối thiểu do sự phan hủy sinh hóa của cá chất ô nhiễm hữu cơ.Cuối cùng ,có 1 khu vực phục hồi trong đó DO tăng trong khi BOD giảm bởi vì hầu hết các chất ô nhiễm hwuux cơ đã bị phân hủy.hầu hết các vùng nước có khả năng phan hủy chất thỉa hữ cơ,tuy nhiên vấn đề phát sinh là nguồn nước tiếp nhận vượt mức chịu tải hữu cơ.nếu khả năng làm sạch tự nhiên của nước rất cao,tất cả DO có thể được
sử dụng hết làm cho cá chết
• Phú dưỡng hóa:
Sự gia tăng nồng độ các chất dinh dưỡng trong nước được gọi là hiện tượng phú dưỡng hóa.Chất dinh dưỡng là những yếu tố cần thiết cho sự phát triển của sinh vật (C,N,P,K,S và 1 số kim loại vi lượng).Phú dưỡng là 1 quá trình tự nhiên và mong đợi,tuy nhiên hoạt động của con người có thể gia tăng sự có mặt của các chất dinh dưỡng,dẫn đến phú dưỡng hóa,một vấn đề lớn được quan tâm.Nước thải và phân bón
từ nông nghiệp có chứa hàm lượng N và P cao thải vào trong nước làm tăng các phiêu sinh thực vậtĐây là hiện tượng tảo nở hoa.Tảo phát triển quá dày nên ánh sáng mặt trời ko thể truyền vào nước nên tảo chết do thiếu ánh sáng.Tảo phân hủy,oxy hòa tan
đc sử dụng và cá sẽ chết do thiếu oxy
Phú dưỡng hóa thường gặp trong hồ tiếp nhận chất thải giàu sinh dưỡng.gần đây,mối quan tâm đã được bày tỏ về khả năng phú dưỡng vùng biển ven bờ ở vùng nhiệt đới và tác động của nó đến các rạn san hô.Hiên tượng này có thể đc giải quyết bằng đảm bảo rằng nc thải đỏ vào nguồn tiếp nhận không chứa hàm lượng dinh dưỡng quá mức.Điều này có thể thực hiện được bằng cách sử dụng phương pháp xử lí nc thải tiên tiến có khả năng có hiệu quả hơn trong việc kiểm soát P hơn N, do P thường hạn chế sự phát triển của tảo và lượng P này thường được thải ra từ điểm, nguồn hay công trình xây dựng nào đó
Bảng 4.2 Thông số của hiện tượng phú dưỡng hóa ở các hồ và hồ chứa.
Trang 6Thông số nghèo dinh dưỡng trung bình giàu dinh dưỡng
Tổng N (g L -1 ) <200 200-500 >500
Tổng P (g L -1 ) <10 10-20 >20
DO trong (% độ bão hòa) >80 10-80 <10
Diệp lục (g L -1 ) <4 4-10 >10
Thực vật phù du (gCm -2 d -1 ) 7-25 75-250 350-700
Theo C.F.Mason (1990)
Mặc khác, hầu hết lượng N được tìm thấy từ những nguồn khuếch tán cũng như là hệ thống thoát nước dưới đất xử lí nước ô nhiễm dùng chất keo tụ có khả năng loại bỏ được P từ việc đổ các chất thải xuống song, nhưng hầu hết các nàh máy đều không tâm đến việc xử lý sơ bộ này Phương pháp này thì có thể được áp dụng, không tốn kém
mà giảm được hiện tượng phú dưỡng hóa ảnh hưởng đến các thành phần trong nước
Bảng 4.2 cho thấy quan hệ giữa những vùng địa lý và các thong số điểm hình trong
nước.
• Sự acid hóa
Quá trình acid hóa của nước sạch đã được tiếp diến hơn 1 thế kỉ, nhưng nó chỉ được nhận ra khi một có 1 vấn đề ô nhiễm nguồn nước quan trọng xảy ra vào sau những năm 1960 Những nghiên cứu về xu hướng phát triển của pH ở các song, hồ ở Sweden, Norway, Canada và Mỹ cho thấy pH giảm đã kéo dài hơn 40 năm và pH ở những hồ kém đệm thì cũng thấp từ 4-4.5 nguyên nhân cuae sự acid hóa là do sự lắng đọng của những cơn mưa acid và được thảo luận trong phần 2.1 Quá trình acid hóa có thể làm cho các kim loại độc hại, như Nhôm, bị rửa trôi vào dung dịch Một phương pháp để giảm quá trình acid hóa của một hồ là dùng vôi, nhưng đó chỉ là dung dịch tạm thời Một nguồn axit khác trong nước bề mặt là hệ thống thoát nước của mỏ khoáng sản từ
mỏ lưu huỳnh mang than, sắt, chì, kẽm và đồng hệ thống thoát nước từ các mỏ than dưới lòng đất và bề mặt đặc biệt có tính axit do sự hiện diện của pyrite (FeS2) trong các vỉa than Pyrit phản ứng với nước và không khí với sự tham gia của một số vi khuẩn để sản xuất axit sunfuric:
2FeS2 + 7O2 + 2H20 + 2FeS04 + 2H2S04
Ví dụ 1
Phân tích mẫu nước của 1 một con sông và xác định được nồng độ của Ca2+ và CO
2-3
lần lượt là 30 và 0.25 mg L-1 Tính toán độ bão hòa đối với canxi là Ksp= 8.7 x 10-9
mol2L-2
Trang 7Sự cân bằng giữa muối và các ion hòa tan được xác định bởi sản phẩm hòa tan và Ksp.
Ví dụ cho canxit khoáng, sự cân bằng có thể được mô tả bởi phương trình:
CaCO3 (s) = Ca2+ + CO32- Ksp = [Ca2+] [CO32-]
Chữ (s) biễu diễn CaCO3 ở pha rắn Các sản phẩm của các ion hòa tan thực sự đo trong dung dịch được gọi là ion hoạt tính (IAP) Ở ví dụ nêu trên, nồng độ được chuyển thành đơn vị mol L-1 bằng cách chia khối lượng ion tương ứng và IAP được tính toán: [Ca2+] = 30 x 10-3/40.08 = 7.5 x l0-4 mol L-1
[CO-] = 0.25 x 10-3/60.01 = 4.2 x mol L-1
IAP = (7.5 x l0-4) x (4.2 x l0-6) = 3.19 x 10-9 mo12 L-2
Mối quan hệ giữa IAP và Ksp được dùng để xác định tính chất của dung dịch:
IAP > Ksp, dung dịch bão hòa và muối kết tủa
IAP = Ksp, trạng thía cân bằng dung dịch bão hòa và muối
IAp < Ksp, dung dịch chưa bão hòa và muối hòa tan
Trong ví dụ trên, IAP (3.19 x10-9 ) < Ksp (Ksp = 8.7 x 10-9) và dung dịch chưa bão hòa
Vì thế Canxi sẽ tan ra
Độ bão hòa = IAP/Ksp = 3.19 x10-9 /8.7 x 10-9 = 0.37
Sự oxi hóa của Fe2+ thành Fe3+ tạo ra acid sulfuric :
4FeSO4 + 10H2O + O2 4Fe(OH)3 + 4H2SO4
Hệ thống thoát nước của các mỏ khoáng được kiểm soát bằng cách đậy kín những mỏ không sử dung nữa, kiểm soát hệ thống thoát nước và xử lý hóa học như việc bón vôi Đất phèn cũng có thể coi như một nguồn axit dưới điều kiện môi trường thích hợp Đất phèn rất giàu pyrite (FeS2) và thường xảy ra ở đầm lầy vùng triều và đồng bằng ven biển
Khi hệ thống thoát nước mang oxy vào các loại đất chứa pyrit được oxy hoá thành acid sulfuric theo phản ứng tương tự như trên cho hệ thống thoát nước của mỏ acid Độ pH của nước có thể giảm xuống thấp hơn 4 và mức độ độc hại của nhôm được phát tán vào dung dịch, đặt ra một mối nguy hại cho đời sống thuỷ sinh Đất phèn chủ yếu ở vùng nhiệt đới, ví dụ điển hình được biết đến là đồng bằng Bangkok ở Thái Lan, nơi đây đất phèn chiếm khoảng 600 000 ha
Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường có tính axit bao gồm:
Trang 8• Phá hủy các sinh vật thủy sinh PH dưới 4, hầu hết các dạng sống ở các vùng nước bề mặt sẽ chết
• Tăng độ ăn mòn Điều này có thể có ảnh hưởng đến tàu thuyền, các công trình được xây dựng dưới nước (ví dụ như cầu tàu) và hệ thống đường ống dẫn nước
• Thiệt hại cho cây trồng nông nghiệp Nếu độ pH của nước tưới giảm xuống dưới 4,5, các kim loại nặng của các nàh máy có thể hòa tan vào nước tưới
• Độ mặn
Hầu hết trên thế giới, nước là nước muối (tức là nước biển), còn trong nước ngọt, độ mặn là không cần Tuy nhiên, nước ngọt sẽ thành nước mặn khi:
• Nước thải công nghiệp chứa hàm lượng các muối vô cơ cao được tạo ra từ quá trình công nghiệp
• Nước dùng để làm tan chảy băng tuyến trên các đường cao tốc
• Từ thủy lợi, nước hòa tan muối từ đất
• Nước biển xâm nhập vào sông khi triều cao và dòng chảy thấp
• Nước mặn từ các giếng dầu và mỏ cũng có thể tràn vào các vùng nước ngọt
Độ mặn trong nước ngọt có thể gây ra một số vấn đề:
• Nước mặn không phải là nguồn nước thích hợp để uống
• Độ mặn có thể ảnh hưởng xấu đến sinh vật dưới nước trong vùng nước ngọt bởi
vì, không giống như các sinh vật biển,sinh vật ở nước ngọt thường không thích nghi với độ mặn cao
• Độ mặn trong nước tưới có thể ảnh hưởng xấu đến sự tăng trưởng và tạo ra sản phảm của cây trồng
II Các loại ô nhiễm nước
1 Ô nhiễm ven bờ
Các thành phần của nước biển là khá khác so với các vùng nước ngọt (xem Bảng 4.4); nước biển là một dung dịch điện phân có chứa một số ion với nồng độ cao Hơn nữa, nước biển có khả năng chống sự thay đổi pH khi bổ sung axit hoặc kiềm hơn nước
Trang 9ngọt do khả năng đệm của nước biển lớn hơn Mặc dù cho đến nay, , khả năng hấp thụ chất thải của các hồ chứa lớn nhất trong thủy quyển, đại dương không phải là vô hạn
và có các dẫn chứng về ô nhiễm nước biển trên toàn thế giới Tuy nhiên,đó là các vùng ven biển mà bị ảnh hưởng nhất Vùng nước ven biển bị ô nhiễm do nhận trực tiếp nguồn nước thải và chất ô nhiễm dổ trực tiếp ra sông Ô nhiễm môi trường của các vùng ven biển từ lâu đã là một vấn đề lớn trên toàn thế giới và đang ngày càng gia tăng Ô nhiễm môi trường ven biển đặc biệt nghiêm trọng ở các nước đang phát triển,
ở đó nước thải và chất thải khác được thải ra vùng nước cửa sông và ven biển mà không có xử lý sơ bộ trước Thường thì, các chất thải mang theo một lượng chất thải hữu cơ với hàm lượng cao Mật độ dân số ở các vùng ven biển, ngay cả ở những khu vực cho đến thời gian gần đây có thể được coi là xa xôi và hẻo lánh thì đã tăng lên do
sự phát triển của du lịch tạo ra một nguồn thu lớn ở nhiều quốc gia đang phát triển Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường ven biển đến sức khỏe cộng đồng là một mối quan tâm lớn vì thủy sản là nguồn thức ăn chính và ưa thích của các nước này Sự gia tăng
ô nhiễm vùng nước ven biển là do du lịch và sản xuất thủy sản Ô nhiễm môi trường ven biển dẫn tới những mối đe dọa như sau:
dưỡng cao có thể làm cho tảo nở hoa và dẫn đến khử oxy trong vùng nước ven biển Phân hủy các chất hữu cơ sử dụng oxy và giảm DO đến mức có thể dẫn chết cá và các sinh vật khác ở trong cả trang trại nuôi cá ven biển và đánh bắt thủy sản, làm giảm năng suất và giảm nguồn cung cấp thực phẩm
được tích lũy trong hải sản, đặc biệt là động vật có vỏ như sò, trai và sò huyết, đến mức vượt quá tiêu chuẩn đối với sức khỏe cộng đồng, do đó nguy hiểm đến sức khỏe của những người ăn hải sản
sự ô nhiễm vi sinh vật cho nước và hải sản Mức độ gia tăng của vi khuẩn E coli trong vùng nước ven biển đã dẫn tới các triệu chứng về tiêu hóa và da của người tắm Tiêu thụ thủy sản bị ô nhiễm cũng là một vấn đề sức khỏe cộng đồng cẩn quan tâm ở các nước đang phát triển.Tuy nhiên, sự gia tăng ngộ độc thực phẩm thủy sản, đặc biệt là động vật có vỏ, không phải là hiếm mà ngay cả
ở các nước phát triển, dẫn chứng là những cảnh báo công khai đưa ra từ lâu
đỏ", là một vấn đề quan trọng trong khu vực ven biển của nhiều nước đang phát triển Thủy triều đỏ là do sự hiện diện của một loài tảo cụ thể, một loài đặc biệt quan trọng ở Đông Á là Pyrodinium bahamense var compressa.Thủy triều đỏ là nguyên nhân của nhiều vụ chết trong hơn hai thập kỷ qua, chủ yếu là những người ăn động vật có vỏ từ vùng nở hoa của tảo Một lời giải thích có thể đã được đề xuất cho sự xuất hiện ngày càng tăng của thủy triều đỏ là sự thay đổi tỷ
Trang 10lệ nitơ, phốt pho trong nước thải và tăng tải chất dinh dưỡng đã góp phần vào một sự thay đổi hệ thống loài thực vật phù du trong nước, với dinoflagallates độc hại hơn tảo cát
2 Ô nhiễm nước ngầm
Nước ngầm từ lâu đã được dùng như một nguồn nước uống và ngày nay vẫn rất quan trọng Tại Mỹ, khoảng 50% dân số phụ thuộc vào nước ngầm là nguồn nước uống Như nước ngầm được phân lập từ bề mặt, hầu hết mọi người cho rằng nước ngầm cần tinh khiết và không gây ô nhiễm Mặc dù hầu hết nước ngầm vẫn còn chất lượng cao, nhưng tại một số địa điểm đang trở nên khó khăn
để duy trì đọ tinh khiết của nước ngầm Ô nhiễm nước ngầm bao gồm:
• Nước xâm nhập mặn Tập trung nguồn nước ngầm có thể gây ra
mực nước giảm, cho phép nước biển xâm nhập vào đất liền va gây ô nhiễm tầng nước ngầm
• Bãi rác Rò rĩ hóa chất từ các bãi rác thành phố và công nghiệp có
thể xâm nhập qua đất và ô nhiễm nước ngầm bên dưới Phương pháp kiểm soát ô nhiễm này bao gồm lớp lót sử dụng để ngăn rò
rỉ và hệ thống thu nước thải thấm từ bãi rác
• Bể ngầm Chỉ một mình Bắc Mỹ là đã có 1.4 triệu bể ngầm dưới
lòng đất chứa các chất thải nguy hại xăng, dầu Sự rò rỉ một vài lít của các hợp chất này có thể có hậu quả nghiêm trọng về chất lượng nước ngầm
• Nông nghiệp Một số hoạt động nông nghiệp gây ô nhiễm nước
ngầm: hoạt động bón phân và thuốc trừ sâu, tưới tiêu và động vật Nước thải nông nghiệp có thể thấm qua đất và làm ô nhiễm nguồn nước ngầm
• Bể tự hoại Bể tự hoại thường được sử dụng trong các khu vực
nông thôn khống kết nối vơi hệ thống cống rãnh Thậm chí ở một nước phát triển như Mỹ có hơn 20 triệu bể tự hoại Việc rò rỉ từ các bể tự hoại được thiết kế hoạt động kém làm ô nhiễm nguồn nước ngầm với các chất dinh dưỡng, các chất độc hại và vi khuẩn
• Giếng dầu Giếng dầu bị bỏ rơi có thể gây ô nhiễm nước ngầm
với nước muối khi cùng võ bọc dầu vỡ
• Đường thoát nước Muối được áp dụng trên những con dường để
kiềm soát nước, hóa chất từ tràn dầu do tai nan và các chất khác kết thúc trên con đường được làm sạch như đường thoát nước có thể thấm qua đến tầng nước ngầm
Vẫn còn các nguồn khác bao gồm các bãi thải phóng xạm chất thải khai thác mỏ và khai quật xây dựng