Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu các quy định của pháp luật về những tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình, làm sáng tỏ về nhu cầu cũng như giới hạn của việc trừ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN NAM PHONG
C¸C TéI PH¹M MANG TÝNH CHÊT B¹O LùC GIA §×NH
TRONG LUËT H×NH Sù VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN NAM PHONG
C¸C TéI PH¹M MANG TÝNH CHÊT B¹O LùC GIA §×NH
TRONG LUËT H×NH Sù VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ LAN CHI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Nam Phong
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC TỘI PHẠM MANG TÍNH CHẤT BẠO LỰC GIA ĐÌNH 6
1.1 Khái niệm và đặc điểm của tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình 6
1.1.1 Khái niệm bạo lực gia đình 6
1.1.2 Khái niệm tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình 11
1.1.3 Ý nghĩa của việc tội phạm hóa các hành vi mang tính chất bạo lực gia đình 14
1.2 Đặc điểm của tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình 16
1.2.1 Đặc điểm về khách thể của tội phạm 16
1.2.2 Đặc điểm về mặt khách quan của tội phạm 17
1.2.3 Đặc điểm về chủ thể của tội phạm 21
1.2.4 Đặc điểm về mặt chủ quan của tội phạm 23
1.2.5 Đặc điểm về hình phạt và các dạng trách nhiệm hình sự của tội phạm 24
1.3 Các tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình trong lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam 27
1.3.1 Giai đoạn trước năm 1945 27
1.3.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1999 30
1.4 Các tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình trong pháp luật quốc tế 31
1.4.1 Các tiêu chuẩn của luật nhân quyền quốc tế và vấn đề bảo vệ nạn nhân của bạo lực gia đình bằng pháp luật hình sự 31
1.4.2 Các hành vi mang tính chất bạo lực gia đình trong pháp luật một số quốc gia trên thế giới 33
Trang 5Chương 2: CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI PHẠM MANG TÍNH CHẤT BẠO
LỰC GIA ĐÌNH TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM
1999 VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 40
2.1 Các tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình trong Bộ luật hình sự năm 1999 40
2.2 Thực tiễn xử lý, áp dụng các quy định về tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình (trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh) 57
2.3 Một số hạn chế trong thực tiễn xử lý tội phạm và nguyên nhân 60
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÁC TỘI PHẠM MANG TÍNH CHẤT BẠO LỰC GIA ĐÌNH 65
3.1 Giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật hình sự 65
3.1.1 Những điểm mới của Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về các tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình 65
3.1.2 Các giải pháp tiếp tục hoàn thiện Bộ luật hình sự năm 2015 về các tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình 71
3.1.3 Các giải pháp bảo đảm áp dụng quy định Bộ luật hình sự năm 2015 về các tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình 72
3.2 Hoàn thiện các văn bản pháp luật khác 74
KẾT LUẬN 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLGĐ: Bạo lực gia đình BLHS: Bộ luật hình sự CTTP: Cấu thành tội phạm HNGĐ: Hôn nhân gia đình PLHS: Pháp luật hình sự TNHS: Trách nhiệm hình sự TP: Tội phạm
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tổng hợp số liệu bạo lực gia đình trên địa
bàn tỉnh Hà Tĩnh từ 2010 - 2016 58
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách của mỗi con người Gia đình tốt, thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt Nhận thức được tầm quan trọng của gia đình trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội “Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình” là quy định liên tục được nhắc lại qua các bản Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam từ năm 1959 đến nay, đã thể hiện sự chú trọng quan tâm của Nhà nước đối với các quan hệ
xã hội về hôn nhân và gia đình
Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành đã tội phạm hóa nhiều loại hành vi bạo lực, trong đó có những hành vi mang tính chất bạo lực gia đình và dành hẳn một chương riêng để quy định về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình Các tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình tuy chủ yếu diễn ra trong không gian gia đình nhưng lại gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của mỗi con người, đến truyền thống văn hóa và trật tự xã hội nói chung Mặt khác, loại tội phạm này xảy ra rất nhiều nhưng việc xử lý về hình sự lại rất ít, thậm chí có những người phạm tội nhiều lần nhưng lại không hề bị xử lý Vấn
đề này đòi hỏi cần được làm sáng tỏ liệu có cần thiết tội phạm hóa, phi tội phạm hóa đối với một số tội phạm đó hay không đặc biệt là với các vấn đề gia đình – xã hội phức tạp như hiện nay, khi bạo lực gia đình bị lên án gay gắt, thì vai trò của luật hình sự trong đấu tranh phòng chống bạo lực gia đình, góp phần bảo vệ các giá trị gia đình lại càng quan trọng Thực tiễn xử lý những hành vi bạo lực gia đình nói chung và những tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình nói riêng có những đặc thù so với các hành vi vi phạm pháp
Trang 9luật khác cũng đòi hỏi có cách tiếp cận phù hợp trong việc thiết kế và áp dụng quy định về những tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình
Xuất phát từ các lý do nêu trên, việc nghiên cứu trách nhiệm hình sự trong đấu tranh phòng, chống tội phạm bạo lực gia đình đang là một yêu cầu
bức thiết Nhận thức được điều đó, tác giả đã lựa chọn vấn đề: “Các tội phạm
mang tính chất bạo lực gia đình trong Luật hình sự Việt Nam” làm đề tài
luận văn Thạc sĩ luật học
2 Tình hình nghiên cứu
Trong thời gian qua, ở một mức độ khác nhau đã có một số công trình,
đề tài khoa học, luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ, giáo trình, sách chuyên khảo
và một số bài viết trên tạp chí đã nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến
đề tài, như:
- Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Lan (2017), Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình theo luật hình sự Việt Nam; Phạm Minh Chiêu (2013), Hoạt động của lực lượng cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tội phạm về bạo lực gia đình ở Việt Nam; Trần Thị Quốc Khánh (2012), Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam Ngoài ra, còn có rất nhiều luận án, luận
văn khác nghiên cứu về các tội phạm giết người, cố ý gây thương tích là những tội phạm mà có thể diễn ra trong không gian gia đình, mang tính chất bạo lực gia đình
- Ngoài ra, cũng ở giác độ pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình, đến nay đã có nhiều bài viết trên các tạp chí khoa học chuyên ngành như:
Trần Thị Hòe (2010), “Pháp luật quốc tế về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ”; Nguyễn Duy Phương (2015) Hoàn thiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình/ Nghiên cứu Lập pháp, Viện nghiên cứu lập pháp, 2015; Nguyễn Thị Ngọc Bích (2009), Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc phòng chống bạo lực gia đình, Tạp chí Luật học; Phạm Văn Dũng
Trang 10– Nguyễn Đình Thơ (2009), Tìm hiểu và thực hiện Luật Phòng, chống bạo lực gia đình; Phan Thị Lan Hương (2009), Tính hợp lý, khả thi của một số biện pháo xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống BLGĐ, Tạp chí Luật học; Đoàn Thị Ngọc Hải, (2015) Hoàn thiện pháp luật về phòng, chống BLGĐ;…
Đây là những nội dung tham khảo rất quan trọng cho tác giả trong quá trình thực hiện Luận văn Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu các quy định của pháp luật về những tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình, làm sáng tỏ về nhu cầu cũng như giới hạn của việc trừng trị bằng pháp luật hình sự đối với những hành vi xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình
Mặc dù đã có rất nhiều công bố khoa học về các vấn đề liên quan nhưng nghiên cứu một cách khái quát, tổng hợp trên cả giác độ lý luận và thực tiễn về những tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình trong luật hình sự Việt Nam thì chưa có công trình nào ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1 Mục đích
Qua việc nghiên cứu một số vấn đề lý luận về tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình, đánh giá quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng pháp luật, tìm ra những bất cập, vướng mắc trong thực tiễn xử lý, từ đó
đề tài đưa ra một số giải pháp tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình
3.2 Nhiệm vụ
Từ những mục đích nghiên cứu nêu trên đề tài giải quyết nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình như khái niệm, đặc điểm, phân loại, ý nghĩa của việc tội phạm hóa các hành vi mang tính chất bạo lực gia đình;
Trang 11- Phân tích quy định và thực tiễn áp dụng quy định về các tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình;
- Làm rõ các nguyên nhân hạn chế trong việc áp dụng quy định về các tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình;
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và đảm bảo áp dụng đúng quy định về các tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu quy định của
pháp luật hình sự về những tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu thực tiễn áp dụng
những quy định của pháp luật hình sự về tội phạm gia đình với giới hạn về thời gian: trong giai đoạn năm năm từ 2011-2016; về không gian: trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của phép duy vật biện chứng, duy vật lịch sử Trên cơ sở phương pháp luận đó, các phương pháp cụ thể được sử dụng kết hợp đó là: phân tích; tổng hợp; phương pháp thống kê xã hội học; phương pháp hệ thống; phương pháp so sánh và một số phương pháp khác như: phương pháp diễn dịch, phương pháp quy nạp, phương pháp logic
6 Tính mới và những đóng góp của đề tài
- Đề tài đã đưa ra, luận giải và bổ sung thêm các nghiên cứu lý luận về tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình, phân tích cụ thể về lý luận cũng như thực tiễn các các tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình
- Đề tài phác thảo thực trạng áp dụng pháp luật hình sự về tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình ở Hà Tĩnh
- Từ việc đánh giá thực trạng trên, đề tài chỉ ra được những điểm bất
Trang 12cập cần sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự về tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình
- Đề tài đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu thành 3 chương 10 mục
Trang 13Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC TỘI PHẠM
MANG TÍNH CHẤT BẠO LỰC GIA ĐÌNH
1.1 Khái niệm và đặc điểm của tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình
1.1.1 Khái niệm bạo lực gia đình
Hiện nay, trên thế giới có nhiều cách định nghĩa khác nhau về bạo lực gia đình, đứng ở những góc độ khác nhau thì sẽ có những nhận định những khái niệm riêng về bạo lực gia đình, ví dụ: bạo lực gia đình nhìn từ góc độ xã
hội: “Bạo lực gia đình là bất kỳ hành vi bạo lực hay đe dọa có hành vi bạo lực xảy ra giữa các thành viên trong gia đình Bạo lực gia đình là ngược đãi bằng tình cảm, thể xác hay tình dục một thành viên trong gia đình bằng một thành viên khác” [15, tr 74]
Tuy nhiên ở nước ta, thì nhận thức về bạo lực gia đình vẫn còn hạn chế
do tư tưởng lối sống cũ, nhiều người vẫn coi đó là việc của mỗi gia đình, “mỗi cây mỗi hoa mỗi nhà mỗi cảnh”, nên phần lớn người dân vẫn có cái nhìn chưa đầy đủ, chính xác về bạo lực gia đình
Bạo lực gia đình nhìn từ góc độ giới được hiểu: Là một hình thức phân
biệt đối xử; bạo lực nhằm vào một phụ nữ vì người đó là phụ nữ hoặc gây ra
sự mất công bằng đối với phụ nữ Bạo lực giới bao gồm các hành động gây đau đớn về thể xác tinh thần hay tình dục bao gồm cả sự đe dọa thực hiện những hành động này sự cưỡng bức hay tước đoạt tự do dưới các hình thức khác nhau [16, tr 11]
Tháng 12/1993 Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã đưa ra định nghĩa về bạo lực gia đình như sau: Bạo lực gia đình bao gồm bất kỳ một hành động bạo lực dựa trên cơ sở giới nào dẫn đến, hoặc có khả năng dẫn đến những tổn hại
Trang 14về thân thể, tình dục hay tâm lý, hay những đau khổ của phụ nữ bao gồm cả
sự đe dọa có những hành động như vậy, sự cưỡng bức hay tước đoạt một cách tùy tiện sự tự do, dù nó xảy ra nơi công cộng hay cuộc sống riêng tư
Bạo lực gia đình nếu nhìn từ góc độ pháp luật: Thuật ngữ bạo lực gia đình lần đầu tiên được sử dụng trong báo cáo của Hội nghị Phụ nữ Quốc tế
1980 tại Copenhagen Báo cáo kêu gọi “Cần phải ban hành và thực hiện luật pháp về ngăn ngừa bạo lực gia đình và bạo lực đối với phụ nữ” Hiện nay, mỗi quốc gia có định nghĩa riêng về bạo lực gia đình trong hệ thống pháp luật của nước mình
Luật phòng ngừa và điều chỉnh bạo lực gia đình của Thái Lan quy định:Bạo lực gia đình là bất kỳ hành vi nào được thực hiện một cách cố ý nhằm gây ra những thương tích về thân thể, sức khỏe hoặc tinh thần hoặc các hành vi có khả năng gây ra nguy hiểm cho than thể, sức khỏe hoặc tinh thần của các thành viên hộ gia đình hoặc cưỡng ép lạm dụng quyền lực để các thành viên hộ gia đình phải thực hiện hoặc không thực hiện hoặc phải chấp nhận thực hiện những hành vi sai trái, bỏ mặc [38, tr 3]
Luật bảo vệ chống bạo lực gia đình của Bun-ga-ri ngày 29/3/2005 quy định bạo lực gia đình là bất kỳ hành vi bạo lực về thể chất, tinh thần hay tình dục nào kể cả những hành vi trong giai đoạn chưa đạt, cũng như việc áp đặt hạn chế tự do và sự riêng tư cá nhân, nhằm vào các cá nhân đang hay đã có quan hệ gia đình hoặc họ hàng chung sống như vợ chồng hoặc chung sống trong một nhà
Ở Việt Nam, tại kì họp thứ 2 của Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 Khoản 2, Điều 1 của Luật này đã
định nghĩa: “Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với các thành viên khác trong gia đình” [31, tr 95]
Trang 15Bạo lực gia đình là một dạng bạo lực, là “hành vi cố ý của các thành viên gia đình gây tổn hại hoặc đe dọa gây tổn hại… với các thành viên khác trong gia đình” (Điều 1) [31, tr 1]
Căn cứ vào tính chất, đặc điểm hành vi bạo lực gia đình được chia làm
4 nhóm gồm: bạo lực tinh thần, bạo lực thể chất, bạo lực kinh tế và bạo lực tình dục, cụ thể như sau:
Nhóm 1, Nhóm hành vi bạo lực về tinh thần: bao gồm các hành vi
lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm hay cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng hoặc ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu, giữa cha, mẹ và con, giữa vợ và chồng, giữa anh, chị,
em với nhau, hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở, cưỡng ép tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ
Nhóm 2, Hành vi bạo lực về thể chất hay thể xác: bao gồm hành vi
hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng
Nhóm 3, Nhóm hành vi bạo lực về kinh tế: bao gồm chiếm đoạt, huỷ
hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình hay cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ hoặc là kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính
Nhóm 4, Nhóm hành vi bạo lực về tình dục: gồm có hành vi cưỡng ép
quan hệ tình dục
Mỗi hình thức bạo lực có thể được biểu hiện dưới nhiều hành vi khác nhau như:
Trang 16- Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng;
- Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
- Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;
- Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị,
- Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính;
- Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở
Như vậy, có thể hiểu “bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình, cựu thành viên gia đình, gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại, về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình” Các hành vi có thể được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không
hành động Có thể đưa ra một số đặc điểm chung nhất, điển hình nhất của bạo lực gia đình như sau:
Một là, đặc điểm về chủ thể và đối tượng của bạo lực gia đình: bạo lực
gia đình xảy ra giữa các thành viên gia đình hoặc những người đã từng có
Trang 17quan hệ gia đình Vì vậy, phạm vi của bạo lực gia đình khá rộng và có tính bao quát Có thể là bạo lực gia đình giữa vợ - chồng, cha mẹ - các con, ông bà
- các cháu, anh, chị, em trong gia đình với nhau
Hai là, đặc điểm về hình thức của bạo lực gia đình: bạo lực gia đình
tồn tại dưới nhiều kiểu loại và dạng thức khác nhau, hành động hoặc không hành động
Ba là, đặc điểm về không gian của bạo lực gia đình: bạo lực gia đình
khó bị phát hiện, khó can thiệp bởi nó thường xảy ra trong phạm vi gia đình;
mà đã là chuyện gia đình thì người ngoài rất ít khi can thiệp
Bốn là, đặc điểm về hậu quả của bạo lực gia đình: bạo lực gia đình để
lại hậu quả hết sức to lớn đối với nạn nhân và xã hội, cụ thể:
Về thể chất: Sức khỏe nạn nhân bị tổn hoại, có thể gây ra thương tích đau đớn, để lại thương tật suốt đời, thậm chí dẫn đến tử vong
Về tinh thần: luôn ám ảnh bị bạo lực; chán nản, buồn rầu, lo lắng, sợ hãi, mất tự tin, hoang mang, trầm cảm; cảm thấy cuộc sống nặng nề, căng thẳng và tuyệt vọng
Xét theo nhóm đối tượng, hậu quả của bạo lực gia đình đối với nạn nhân là phụ nữ, bạo lực gia đình có thể gây tổn hại về sức khỏe sinh sản: mang thai ngoài ý muốn, thai nhi suy dinh dưỡng, sẩy thai, đẻ non, lây nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục, nhiễm HIV Đối với trẻ em, đặc biệt
là trẻ nhỏ, trẻ có thể suy dinh dưỡng, chậm lớn, chậm phát triển trí tuệ, e ngại khi tiếp xúc với người lạ; với trẻ trong độ tuổi trước vị thành niên: thiếu tập trung và không có khả năng chơi tích cực, vụng về, lóng ngóng và hay gây rối, tránh va chạm và dễ chiều theo ý người khác, mất hứng thú với các hoạt động xã hội và giảm năng lực xã hội, lẩn tránh các mối quan hệ với các bạn cùng lứa tuổi Với trẻ vị thành niên: trẻ có thể học kém, bỏ học, phạm tội, uống rượu, hút thuốc lá và nghiện ma túy, thiếu tin tưởng vào người lớn, bỏ đi
Trang 18khỏi nhà, có thể có các hành vi bạo lực như người lớn, chán nản và có ý nghĩ
tự tử, thậm chí tự tử Hậu quả của bạo lực gia đình đối với gia đình nói chung:
li thân, li hôn, tốn tiền chữa trị và phục hồi sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần cho nạn nhân và người chứng kiến bạo lực gia đình; giảm thời gian và năng suất lao động từ đó giảm thu nhập gia đình, không có khả năng làm tròn bổn phận với gia đình nội, ngoại…
Hậu quả đối với xã hội: làm suy thoái đạo đức nghiêm trọng: khi mà những quan hệ thiêng liêng, bền vững (tình cảm vợ chồng, sự hiếu thảo với cha mẹ, tình nghĩa anh em…); tác động đến những người xung quanh, những người chứng kiến hành vi sẽ cảm thấy bất bình, thấy ức chế và không tin vào những giá trị tốt đẹp, hoặc khi đã vô tâm, lãnh cảm thì chính họ sẽ thực hiện hành vi này, làm gia tăng xu hướng bạo lực trong xã hội
Về kinh tế, bạo lực gia đình cũng để lại nhiều thiệt hại: làm giảm năng suất lao động, tốn kém chi phí để chữa bệnh, phục hồi sức khỏe cho nạn nhân, chi phí để điều tra, truy tố, xét xử các vụ việc…
1.1.2 Khái niệm tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình
Hành vi bạo lực gia đình rất đa dạng về hình thức và mức độ nguy hiểm cho xã hội Về nguyên tắc người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi
phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự Những
người có hành vi bạo lực đối với các thành viên trong gia đình nếu đủ yếu tố
để cấu thành tội phạm sẽ có thể bị xử lý hình sự - bị truy cứu trách nhiệm hình
sự với các tội danh được quy định trong BLHS Trong đời sống xã hội, có nhiều người có hành vi gây nguy hại cho xã hội, nhưng không phải tất cả các hành vi gây nguy hại cho xã hội đều là tội phạm Hành vi bạo lực gia đình diễn ra phổ biến, diễn ra hàng ngày trong cuộc sống, tuy nhiên, chỉ trở thành tội phạm, bị coi là tội phạm khi hành vi này có tính nguy hiểm đáng kể Có
Trang 19những hành vi tuy về hình thức có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính nguy hiểm không đáng kể thì không bị coi là tội phạm Mặt khác, trường hợp người
có hành vi tuy có gây nguy hại cho xã hội nhưng không phải là tội phạm như thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, hay phòng vệ chính đáng cũng không phải là tội phạm
Như vậy, tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình trước hết là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật, xâm phạm chế độ gia đình Gia đình là một cộng đồng người sống chung và gắn bó với nhau bởi các mối quan hệ tình cảm, quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và hoặc quan hệ giáo dục Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi quan
hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của mỗi thành viên gia đình Chúng tôi cho rằng gia đình là tập hợp những cá nhân gắn bó với nhau xuất phát từ các quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau trên cơ sở tình cảm, các quy phạm của đạo đức và pháp luật
Thành viên gia đình bao gồm vợ, chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng; con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng, con dâu, con rể; anh, chị, em cùng cha mẹ, anh, chị, em cùng cha khác mẹ, anh, chị, em cùng mẹ khác cha, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; ông bà nội, ông
Trang 20bà ngoại; cháu nội, cháu ngoại; cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột (khoản
16 điều 3) [35, tr 2] Chúng tôi cho rằng với khái niệm tội phạm mang tính
chất bạo lực gia đình thì người phạm tội là chủ thể đặc biệt: có quan hệ với nạn nhân với tính chất đang là thành viên hoặc đã là thành viên gia đình
Tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, là những hành vi bạo lực gia đình, chủ yếu diễn ra trong “không gian” hay “môi trường” gia đình, giữa các thành viên trong gia đình, rất đa dạng về hình thức từ giết người, đánh người, làm nhục, đuổi ra khỏi chỗ ở, hành hạ, ngược đãi, đối xử tồi tệ… đến mức bị coi là hành vi nguy hiểm cho
xã hội Tuy chủ yếu diễn ra trong “không gian” hay “môi trường” gia đình, giữa các thành viên trong gia đình nhưng những hành vi này khi đến mức bị coi là hành vi nguy hiểm cho xã hội sẽ bị luật hình sự xem xét tội phạm hóa
và xử lý người phạm tội trong các tội danh khác nhau, trong các chương – các nhóm khách thể khác nhau tại phần riêng của BLHS Dựa trên khái niệm
về tội phạm có thể định nghĩa khái niệm về tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình như sau:
“Tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong Bộ luật hình sự, bao gồm những dạng hành vi bạo lực trong gia đình, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của thành viên gia đình hoặc những người đã từng có quan hệ gia đình với người đó”
Với khái niệm trên, có thể thấy tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình có các dấu hiệu cơ bản sau:
(1) Hành vi tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình phải là hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội (đã xâm hại đến các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ một cách đáng kể), không phải hành vi bạo lực gia đình nào cũng bị tội phạm hóa và xử lý hình sự trong thực tiễn
Trang 21(2) Hành vi tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình bao gồm các dạng hành vi bạo lực xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tinh thần, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của nạn nhân, với sự đa dạng về hành vi khách quan và hậu quả mà hành vi này mang lại
(3) Với tính chất là các hành vi bạo lực, tội phạm mang tính bạo lực gia đình được thực hiện với lỗi cố ý;
(4) Các tội phạm này được thể hiện bởi các chủ thể đặc biệt, có quan hệ trước đó với nạn nhân: giữa họ đang hoặc đã từng có quan hệ gia đình với nhau
1.1.3 Ý nghĩa của việc tội phạm hóa các hành vi mang tính chất bạo lực gia đình
Thứ nhất, việc tội phạm hóa các hành vi mang tính chất bạo lực gia
đình để bảo vệ những người có khả năng trở thành nạn nhân của bạo lực gia đình, để tạo cơ sở pháp lý đấu tranh phòng chống bạo lực gia đình, Bộ luật hình sự là công cụ để Nhà nước xử lý những hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến các quan hệ xã hội quan trọng và phần lớn trong số đó là các quyền và lợi ích hợp pháp của con người Bên cạnh đó, việc pháp điển hóa các quy định của pháp luật hình sự trong một văn bản thống nhất là đạo luật hình sự là cơ sở pháp lý cho hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật trong điều tra, truy tố, xét xử các hành vi xâm phạm đến các quyền con người cũng như tôn trọng và đảm bảo các quyền con người của chính người phạm tội
Thứ hai, để phân định các hành vi bạo lực gia đình phải xử lý hình sự
với các hành vi chỉ cần xử lý hành chính hoặc thậm chí chỉ cần xử lý bằng các quy phạm đạo đức xã hội Luật hình sự có thể không có nhiều điều khoản cụ thể quy định về bạo lực gia đình, song Luật hình sự quy định một số hành vi bạo lực gia đình có thể bị điều tra, xử lý như hành vi đánh đập, xâm hại sức khỏe thành viên gia đình có thể là dấu hiệu của tội cố ý gây thương tích hoặc
Trang 22gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, nếu cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp: dùng hung khí nguy hiểm; gây cố tật nhẹ cho nạn nhân; đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người
già yếu, đối với ông bà, cha mẹ, người nuôi dưỡng …[37, tr 47] khi chạm tới
ngưỡng này thì hành vi bạo lực gia đình bị cơ quan điều tra hình sự tiến hành điều tra, bị viện kiểm sát truy tố và tòa án xét xử
Do vậy việc tội phạm hóa các hành vi mang tính chất bạo lực gia đình
có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc hỗ trợ cho việc áp dụng đúng luật, dựa vào tính nguy hiểm cho quan hệ xã hội mà nó xâm hại để phân tích, đánh giá, xử lý trách nhiệm hình sự đối với hành vi vi phạm Góp phần tích cực vào việc phòng ngừa bạo lực gia đình, hỗ trợ, bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình và
xử lý nghiêm minh, dứt điểm các hành vi bạo lực gia đình
Thứ ba, để bảo vệ các giá trị của gia đình tiến bộ, định hướng các xử sự
của thành viên trong gia đình Trước đây, trong xã hôi phong kiến, người gia trưởng có địa vị cao trong gia đình, có toàn quyền quyết định các vấn đề gia đình, thậm chí được sử dụng bạo lực đối với các thành viên gia đình Ngày nay, gia đình được coi là tế bào xã hội, dựa trên quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, hướng tới việc xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không phân biệt đối xử giữa các con Chúng ta kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam về hôn nhân và gia đình tuy nhiên, bên cạnh các truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp, vẫn còn tàn dư của thói gia trưởng… do vậy cần phải tội phạm hóa các hành vi này để bảo vệ các quan hệ xã hội và bạo lực gia đình có thể xâm hại đến
Thứ tư, để nội luật hóa các công ước quốc tế về quyền con người, đặc biệt
Trang 23là quyền của phụ nữ và trẻ em, mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia (Công ước của Liên hợp quốc về bảo vệ quyền trẻ em 1989, Công ước CEDAW năm 1979)
1.2 Đặc điểm của tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình
1.2.1 Đặc điểm về khách thể của tội phạm
Trong lý luận cũng như thực tiễn hầu hết các nhà khoa học đều thống nhất khái niệm khách thể của tội phạm là các quan hệ xã hội bị hành vi phạm tội xâm hại và được luật hình sự bảo vệ Hành vi bạo lực gia đình rất phong phú và đa dạng, được chia thành nhiều dạng khác nhau tùy theo từng góc độ nhìn nhận khác nhau như: bạo lực nhìn thấy được và bạo lực không nhìn thấy được hoặc bạo lực về thể chất, bạo lưc về tinh thần, bạo lực về tình dục, bạo lực về kinh tế …
Khách thể của tội phạm bạo lực gia đình xâm phạm rất nhiều quan hệ
xã hội như:
Xâm hại chế độ hôn nhân và gia đình: Là toàn bộ những quy định của
pháp luật về kết hôn, ly hôn; quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, giữa cha
mẹ và con, giữa các thành viên khác trong gia đình; cấp dưỡng; xác định cha,
mẹ, con; quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và những vấn đề khác liên quan đến hôn nhân và gia đình; Luật hình sự tội phạm hoá các hành
vi như: hành vi ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu, giữa cha, mẹ và con, giữa vợ và chồng, giữa anh, chị, em với nhau, hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ
ở, cưỡng ép tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ… các tội phạm này được BLHS quy định thành một chương
riêng (Chương các tội xâm phạm chế độ hôn nhân gia đình) [37, tr 71.72]
Ngoài ra loại tội phạm này còn xâm hại đồng thời các quan hệ xã hội khác được luật hình sự bảo vệ Các tội phạm về bạo lực gia đình tùy theo loại khách thể nào bị xâm hại trước hết, sẽ được xử lý theo tội danh quy định trong các chương tương ứng tại phần riêng của BLHS, ví dụ:
Trang 24Xâm hại tính mạng sức khỏe danh dự nhân phẩm như: hành vi giết
người, cố ý gây thương tích, bức tử, làm nhục người khác Đối với hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự có thể bằng hành động, cũng có thể hiện bằng lời nói, cử chỉ, xâm phạm tới uy tín, danh dự, nhân phẩm của người khác Cá biệt cũng có những tội phạm, hành vi nguy hiểm cho xã hội được thể hiện dưới dạng không hành động phạm tội như: Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng hoặc hành vi không cho con do mình đẻ ra bú sữa gây ra cái chết cho đứa trẻ
là một dạng hành vi không hành động phạm tội trong Tội giết người hoặc vứt bỏ con mới đẻ
Xâm hại chế độ sở hữu như: Hành vi chiếm đoạt, hành vi huỷ hoại, đập
phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình hoặc hành vi cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ hoặc là kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính
Xâm hại quyền tự do dân chủ của công dân như: Hành vi xâm phạm về
chỗ ở, hành vi xâm phạm quyền bí mật cá nhân, thư tin, điện tín, điện thoại,
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền khiếu nại, tố cáo…
1.2.2 Đặc điểm về mặt khách quan của tội phạm
Bạo lực được hiểu là việc sử dụng sức mạnh thể chất để gây thương vong, hoặc tổn hại về sức khỏe cho người khác hoặc được sử dụng để thực hiện các mục đích khác của chủ thể sử dụng bạo lực đối với nạn nhân hoặc người khác Như vậy bạo lực gia đình là một dạng bạo lực trong lĩnh vực gia đình, trong môi trường gia đình, giữa các thành viên trong gia đình để gây thương vong, tổn hại về sức khỏe hoặc nhằm đạt được các mục đích khác như: gây thiệt hại về tài sản, tổn thất về tinh thần, danh dự nhân phẩm…
Trang 25ngoài ra còn một khái niệm khác thường được sử dụng song song hoặc thay thế với khái niệm bạo lực gia đình, đó là bạo hành hay bạo hành gia đình Bạo hành cũng còn có thể hiểu là những hành động bạo lực vì vậy bạo hành cũng
là bạo lực, vì bạo lực phải thể hiện bằng hành động Như vậy bạo hành cũng
có thể được hiểu là bạo lực theo nghĩa hẹp Tuy nhiên, trong khoa học pháp lý
và luật thực định hiện nay, bạo lực gia đình hay bạo hành gia đình được hiểu theo nghĩa rộng, còn bao gồm những lời nói, thái độ, cử chỉ không nhất thiết phải sử dụng sức mạnh thể chất đối với thành viên khác trong gia đình nhưng vẫn gây ra những tổn thương nghiêm trọng cho nạn nhân (Ví dụ cô lập xua đuổi nạn nhân hoặc sử dụng quyền lực của bậc gia trưởng để buộc nạn nhân phải ly hôn kết hôn, mang thai/phá thai trái ý muốn…)
Hành vi nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu quan trọng và bắt buộc đối với mọi cấu thành tội phạm Những hành vi này gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các thành viên khác trong gia đình như: thể chất, tinh thần, tình dục, kinh tế … được thực hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động
Một số tội phạm phải có hậu quả nghiêm trọng xảy ra mới phải xử lý hình sự, nghĩa là nếu chưa xảy ra hậu quả nghiêm trọng thì tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi không đáng kể, hành vi đó không bị coi là tội phạm và không cần thiết phải xử lý bằng luật hình sự, ví dụ hành vi gây thương tích phải có hậu quả nạn nhân tổn hại sức khỏe ở một mức độ nhất định (nếu không có các điều kiện khác hoặc cùng với một số dấu hiệu khác để
xử lý trong các tội danh khác)
Các dấu hiệu khác thuộc mặt khách quan của tội phạm (như hoàn cảnh, thời gian, địa điểm, công cụ, phương tiện hay thủ đoạn phạm tội…) không phải là dấu hiệu bắt buộc của tất cả các tội phạm mang tính chất gia đình nhưng cũng có thể là dấu hiệu bắt buộc đối với một số tội phạm
Các tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình đều là những hành vi
Trang 26gây nguy hiểm cho xã hội Bởi nó xâm phạm đến những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ nhưng chỉ hành vi nguy hiểm cho xã hội đến một mức độ nhất định mới được coi là tội phạm Tính nguy hiểm trong tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình thể hiện ở chỗ hành vi đó phải gây ra hoặc
đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo
vệ (Điều 8) [37, tr.13] mà cụ thể là xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tinh thần,
danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của thành viên gia đình hoặc những người đã từng có quan hệ gia đình với người đó
Để đánh giá hành vi có tính nguy hiểm đáng kể của tội phạm hay không
và nguy hiểm đến mức độ nào cần xem xét đánh giá tất cả tổng thể hai yếu tố mức độ lẫn tính chất được đặt trong mối liên hệ tổng hợp với nhau ở thể thống nhất là thể hiện tính nguy hiểm cho xã hội Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình sẽ xác định được tính chất của thiệt hại do hành vi phạm tội gây nên Điều này phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau như: tính chất khách quan của quan hệ xã hội bị xâm hại, tính chất và mức độ hậu quả, tính chất và mức độ lỗi, tính chất của động cơ, mục đích, tính chất của thủ đoạn, phương tiện cũng như hoàn cảnh thực hiện hành vi, các đặc điểm về nhân thân của chủ thể
Nếu một người có những hành vi bạo lực trong gia đình, thì về mặt khách quan không thể kết luận ngay người này có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không, mặc dù những hành vi bạo lực gia đình này mang dấu
hiệu của tội phạm này nhưng “… nếu tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì phông phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác” (khoản 4, Điều 8) [37, tr 13] Mặt khác, giả sử một người thực hiện
hành vi dù biết gây nguy hiểm cho xã hội nhưng nếu chưa được quy định trong BLHS thì cũng không thể coi là tội phạm và tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình cũng có thể có những trường hợp như vậy Do đó, tính trái
Trang 27pháp luật hình sự tuy thể hiện là một dấu hiệu mang tính hình thức của tội phạm, song nó vẫn có tính tương đối độc lập và có ý nghĩa quan trọng đối với tội phạm nói chung, đặc biệt là tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình nói riêng để phân định với các vi phạm pháp luật – các hành vi bạo lực gia đình khác chưa đến mức xử lý hình sự
Căn cứ vào loại hành vi khách quan: về thể chất, về tình dục, về tinh thần, về quyền tự do, dân chủ, về sở hữu, về chế độ hôn nhân và gia đình và
về các khách thể bị xâm hại khác, có thể phân thành các nhóm sau:
Nhóm hành vi xâm phạm thể chất, gồm các hành vi: giết người, giết
con mới đẻ; giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh; giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; bức tử, xúi giục hoặc giúp người khác tự sát; đe doạ giết người; cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác; cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; hành hạ người khác; lây truyền HIV cho người khác Đây là nhóm hành vi bạo lực thể chất tương đối dễ nhận biết, trực tiếp xâm phạm thể chất của thành viên khác trong gia đình
- Nhóm hành vi xâm phạm tình dục gồm các hành vi: hiếp dâm; hiếp
dâm trẻ em; cưỡng dâm; cưỡng dâm trẻ em; giao cấu với trẻ em; dâm ô với trẻ
em Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, có thể gộp nhóm hành vi này với nhóm hành vi xâm phạm thể chất ở trên vì xâm phạm tình dục trước hết là gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân vì đa số các hành vi này cũng thường dùng sức mạnh thể chất để cưỡng ép nạn nhân, chúng tôi cho rằng nhóm hành
vi này có thể đồng thời xâm hại cả tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm
và quyền tự do tình dục của người bị hại
- Nhóm hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm, gây nên những tổn
Trang 28thất tinh thần cho nạn nhân gồm các hành vi như: làm nhục người khác, vu
khống là những hành vi chủ yếu tác động, xâm hại tinh thần thành viên khác trong gia đình
- Nhóm hành vi xâm phạm quyền tự do, dân chủ gồm các hành vi: bắt,
giữ hoặc giam người trái pháp luật; xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác; xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ,
là những người vốn là thành viên trong gia đình mà đáng ra, người phạm tội
có trách nhiệm bảo vệ họ
- Nhóm hành vi xâm phạm sở hữu gồm các hành vi: cướp tài sản,
cưỡng đoạt tài sản, huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của chính các thành viên trong gia đình
- Nhóm hành vi xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình gồm các hành vi: cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; tổ chức tảo
hôn, tảo hôn; vi phạm chế độ một vợ, một chồng; loạn luân; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng là các hành vi rất đặc trưng trong quan hệ hôn nhân và gia đình
- Nhóm hành vi khác gồm các hành vi: cưỡng bức, lôi kéo người khác
sử dụng trái phép chất ma tuý; vi phạm quy định về sử dụng lao động trẻ em; phá thai trái phép; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp; mua bán phụ nữ; mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em do các thành viên trong gia đình thực hiện
1.2.3 Đặc điểm về chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm được hiểu là người có năng lực trách nhiệm hình
sự, đạt độ tuổi nhất định và đã thực hiện một hành vi phạm tội Đối với tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình thì ngoài các điều kiện trên thì phải
Trang 29còn phải đảm bảo thỏa mãn các dấu hiệu đặc biệt về quan hệ gia đình giữa chủ thể với nạn nhân Chủ thể của tội phạm, người trực tiếp thực hiện hành
vi bạo lực với nạn nhân phải là thành viên gia đình với nhau Có thể là bạo lực gia đình giữa vợ - chồng; cha mẹ - các con; ông bà - các cháu; anh, chị,
em, họ hàng trong gia đình với nhau … Trong số các hành vi phạm tội phổ biến trong quan hệ gia đình được nêu trên đây, có những hành vi phạm tội chỉ do thành viên trong gia đình thực hiện đối với nhau, như tội giết con mới
đẻ, tội loạn luân, tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cháu, người có công nuôi dưỡng mình, tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng Đây là các hành vi phạm tội đặc trưng mà chỉ cần nêu tên cũng
đã có thể nhận biết là do các thành viên trong gia đình xâm hại lẫn nhau Các tội phạm còn lại thì đối tượng tác động của tội phạm hoặc là thành viên gia đình, tài sản của thành viên gia đình - những người gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau hoặc có thể là người không phải là thành viên gia đình Trong trường hợp đối tượng bị tội phạm xâm hại không phải là thành viên gia đình thì hành vi phạm tội đó không coi là tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình
Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy hành vi bạo lực cũng được xét đối với thành viên gia đình của vợ, chồng đã ly hôn hoặc nam, nữ không đăng ký
kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng Khi một người bị truy cứu
trách nhiệm hình sự về hành vi bạo lực gia đình mà người thực hiện hành vi phạm tội đã từng có quan hệ gia đình với nạn nhân hoặc chung sống với nạn nhân như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn thì cũng được xem là chủ thể của tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình
Như vậy, chủ thể của tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình phải có những dấu hiệu sau:
Trang 30- Người có năng lực trách nhiệm hình sự, có hành vi bạo lực gia đình bị truy cứu trách nhiệm hình sự
- Chủ thể của tội phạm là thành viên gia đình của nạn nhân; đã từng có quan hệ gia đình với nạn nhân hoặc thậm chí chung sống với nạn nhân như vợ chồng nhưng không đăng kí kết hôn
1.2.4 Đặc điểm về mặt chủ quan của tội phạm
Mặt chủ quan của tội phạm bao gồm lỗi, động cơ và mục đích phạm tội Trong đó lỗi được phản ánh trong tất cả các cấu thành của tội phạm, động
cơ, mục đích chỉ là dấu hiệu bắt buộc của một số tội phạm Đối với tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình thì mặt chủ quan chỉ được phản ánh bởi dấu hiệu lỗi cụ thể là lỗi cố ý, tất cả các hành vi xâm phạm đến bạo lực gia đình phải được thực hiện với hình thức lỗi cố ý thì mới bị coi là tội phạm Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là phá vỡ các nguyên tắc của chế độ hôn nhân và gia đình, thấy trước được hậu quả nguy hiểm của hành vi đó và mong muốn hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra
Lỗi là một đặc điểm của tội phạm tức là một người có hành vi gây thiệt hại cho xã hội nhưng không có yếu tố lỗi thì sẽ không được coi là tội phạm Khái niệm tội phạm cũng chỉ ra việc thực hiện hành vi phạm tội tồn tại dưới hai dạng là lỗi cố ý và và lỗi vô ý Như vậy, tội phạm phải luôn thể hiện được hai dấu hiệu cơ bản là khách quan và chủ quan dưới thể thống nhất
Tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình là một loại trong tội phạm luôn thực hiện bằng hành vi cố ý, người thực hiện hành vi biết rõ hành vi của mình là nguy hiểm xâm hại đến các quan hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ, xâm phạm các giá trị thuần phong mỹ tục nhưng bất chất hoặc mong muốn hoặc để mặc cho hậu quả xảy ra Hành vi của loại tội phạm này là kết quả của sự tự lựa chọn và quyết định của chủ thể trong khi họ có đủ điều kiện quyết định thực hiện một xử sự khác phù hợp hơn với xã hội Do đó, tội
Trang 31phạm mang tính chất bạo lực gia đình cũng phải có dấu hiệu đồng nhất giữ mặt khách quan và chủ quan
Tính có lỗi của tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình là một dấu hiệu bắt buộc nhằm nhận diện được hành vi gây nguy hiểm cho xã hội mang tính chất bạo lực gia đình với các hành vi gây nguy hiểm khác của tội phạm Qua đó, có thể phát hiện kịp thời loại tội phạm này và xử lý theo các chế tài của BLHS 1999 Những hình phạt thể hiện sự trừng trị, răn đe cho chủ thể hành vi gây nguy hiểm và điều này chỉ có ý nghĩa, công bằng khi chính những người phạm tội là người có lỗi cố ý trong việc thực hiện tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình
1.2.5 Đặc điểm về hình phạt và các dạng trách nhiệm hình sự của tội phạm
Đối với các tội phạm bạo lực gia đình, hình phạt chính được quy định ở các tội danh tương ứng bao gồm: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ,
tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình Tuy nhiên, các hình phạt chính sau đây
có thể được áp dung đối với loại tội phạm này:
Hình phạt cảnh cáo: Cảnh cáo là hình phạt khiển trách công khai của
Nhà nước do Toà án tuyên đối với người bị kết án Theo Điều 29 BLHS năm
1999 [37, tr 19] và Điều 34 BLHS năm 2015 [36, tr 23], thì: “Cảnh cáo được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt” Hình phạt cảnh cáo chỉ có thể áp dụng đối với người phạm tội bạo lực gia đình ít nghiêm trọng và phải
có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định tại Điều 46 BLHS năm
1999 [37, tr 25.26] và Điều 51 BLHS năm 2015 [36, tr 32.33]
Hình phạt cải tạo không giam giữ: Khác với hình phạt tù, hình phạt
cải tạo không giam giữ không tước quyền tự do của người bị kết án mà để
Trang 32họ sống và làm việc ngoài xã hội nhưng với một số hạn chế nhất định Điều
31 BLHS năm 1999 [37, tr 20] và Điều 36 BLHS năm 2015 [36, tr 24.25] quy định: Cải tạo không giam giữ là hình phạt chính được áp dụng với thời hạn từ sáu tháng đến ban năm đối với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng mà người đó đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú rõ ràng và nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện các nghĩa vụ như: phải chấp hành nghiêm chỉnh các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phải tích cực tham gia lao động, học tập và sinh hoạt tập thể, không vi phạm kỉ luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, quy ước của thôn, ấp, bản, cụm dân cư nơi mình cư trú; nếu di chuyển chỗ ở, chuyển hoặc thôi việc ở cơ quan, tổ chức đang giám sát, giáo dục thì phải báo cáo cho cơ quan, tổ chức đó và báo cáo cho Toà án nơi mình đang chấp hành bản án biết; người bị kết án bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để sung quỹ Nhà nước [37, tr 20]
Hình phạt tù có thời hạn: Hình phạt tù có thời hạn là buộc người bị kết
án phải cách ly khỏi xã hội trong một thời gian nhất định để cải tạo và giáo dục họ Theo Điều 33 BLHS năm 1999 và Điều 38 BLHS năm 2015 thì hình phạt tù có thời hạn có giới hạn mức thấp nhất là 3 tháng và mức cao nhất là hai mươi năm Trong trường hợp phạm nhiều tội, mức tối đa của tù có thời hạn được tổng hợp là ba mươi năm (Điều 50 BLHS năm 1999, Điều 55 BLHS năm 2015) [37, tr 21]
Hình phạt tù chung thân: Điều 34 BLHS năm 1999, Điều 39 BLHS
năm 2015 quy định: Tù chung thân là hình phạt tù không có thời hạn được áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nhưng chưa đến mức bị
xử phạt tử hình [37, tr 21] Trong hệ thống hình phạt ở nước ta, tù chung thân
là một trong những hình phạt nghiêm khắc nhất, chỉ xếp sau hình phạt tử hình
Trang 33Tù chung thân giống tù có thời hạn ở chỗ: đều cách ly người bị kết án khỏi xã hội để giáo dục, cải tạo họ, nhưng tù chung thân khác tù có thời hạn là nó có khả năng tước tự do, cách ly khỏi xã hội đối với người phạm tội đến hết đời
Do tính chất nghiêm khắc của hình phạt tù chung thân và xuất phát từ nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội, Luật hình sự Việt Nam không áp dụng hình phạt tù chung thân đối với người chưa thành niên phạm tội
Hình phạt tử hình: Điều 35 BLHS năm 1999 quy định: “Tử hình là
hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng…” [37, tr 21] Do là hình phạt nghiêm khắc nhất, tước đi quyền sống của người phạm tội, hình phạt tử hình không có tác dụng cải tạo bản thân người bị kết án nhưng có tác dụng răn đe mạnh mẽ đối với những người có
“tiềm năng phạm tội” trong xã hội, ngăn ngừa họ không phạm tội, cảnh báo những đối tượng này rằng nếu họ phạm tội xã hội sẽ lên án và Nhà nước sẽ trừng trị thích đáng
Các hình phạt trên đây được áp dụng khá phổ biến đối với TP mang tính chất BLGĐ, nhất là hình phạt tù có thời hạn Lý do chủ yếu như đã nêu là
do TP mang tính chất BLGĐ là hình thức bạo lực thái quá, vượt quá ngưỡng
vi phạm hành chính, đến mức CTTP Những tội phạm này bởi vậy là nghiêm trọng, bị xã hội lên án gay gắt, trong đó đa số các trường hợp đối tượng phạm tội cần bị cách ly khỏi xã hội
Các hình phạt bổ sung theo quy định của BLHS như cấm cư trú, cấm hành nghề, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm làm công việc nhất định, quản chế, tước một số quyền công dân, tịch thu tài sản… đa phần các tội phạm này theo quy định không áp dụng đối với các tội phạm mang tính chất BLGĐ Tuy nhiên, pháp luật của nhiều nước tùy theo quan niệm và tên gọi về nhóm biện pháp cưỡng chế hình sự khác là hình phạt bổ sung hay biện pháp tư pháp, thường quy định các hình thức khác để xử lý tội phạm mang tính chất BLGĐ
Trang 34như tước quyền nuôi con hoặc cấm/hạn chế tiếp xúc với thành viên trong gia đình, cấm cư trú (cùng nơi ở của gia đình, thành viên trong gia đình), các biện pháp bắt buộc chữa bệnh hoặc triệt dục (“thiến” hóa chất hoặc phẫu thuật)… nhằm bổ sung cho hình phạt chính
1.3 Các tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình trong lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam
1.3.1 Giai đoạn trước năm 1945
Các quy định về tội phạm bạo lực gia đình trong thời kỳ trước thế kỷ
XV đã lần đầu tiên được ghi nhận vào trong luật thành văn là bộ Hình thư trong nhóm tội thập ác 4/10 tội phạm cụ thể:
- Ác nghịch: đánh và mưu giết ông bà, cha mẹ, chú bác, cô thím, anh chị em, ông bà ngoại, ông bà, cha mẹ chồng;
- Bất hiếu: tố cáo, rủa mắng ông bà, cha mẹ, trái lời dạy bảo, nuôi nấng thiếu thốn, có tang cha mẹ mà lấy vợ, lấy chồng, vui chơi
ăn mặc như thường Nghe thấy tin ông bà, cha mẹ mất mà giấu không để tang, nói dối là ông bà, cha mẹ chưa mất
- Bất mục: giết hay đem bán những người thân thuộc gần;
- Nội loạn: gian dâm với người trong họ, nàng hầu của ông cha… [26, tr 200-201]
Thể hiện sự giữ gìn và xem trọng tôn ti trật tự của (đại) gia đình gần như ngang bằng với vận mệnh của mỗi triều đại Nhóm quan hệ thuộc lĩnh vực hôn nhân và gia đình được coi là khách thể quan trọng được luật hình
sự bảo vệ
Các quy định về tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình trong giai đoạn từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XVIII đã được quy định khá cụ thể và chi tiết, tuy nhiên hình phạt ở thời kỳ này vẫn được quy định rất hà khắc, thể hiện
sự bất bình đẳng về giới và đề cao chế độ phụ quyền gia trưởng Trong giai
Trang 35đoạn này có 02 bộ luật nổi tiếng là Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ, đây được xem là thành tựu đặc sắc nhất của nền văn hóa pháp lý Việt Nam
trong thời kỳ phong kiến
Luật Hồng Đức quy định các tội bất hiếu, bất kính, bất nghĩa được xếp vào tội Thập ác và bị nghiêm trị với những hình phạt rất nặng (đồ, lưu, tử hình).… nếu con cháu lăng mạ, tố cáo ông bà cha mẹ, vợ tố cáo chồng (chỉ cho phép tố cáo khi ông bà, cha mẹ, chồng phạm tội mưu phản, đại nghịch) thì bị đày đi nơi xa Điều 506 quy định, con cháu trái lời dạy bảo, không phụng dưỡng bề trên; con nuôi, con kế thất hiếu với cha nuôi, cha kế bị xử tội
đồ Hoặc nhiều điều khác cấm con dâu không được chửi mắng, đánh đập, âm mưu giết ông bà, cha mẹ chồng và các hành động đánh đập anh chị, cậu dì, ông bà cha mẹ vợ, cùng chú bác, thím cô, anh em trai, v.v Nếu phạm những tội này sẽ bị xử tội đồ, lưu
Cấm người ngoài nài ép người vợ muốn thủ tiết với chồng đi lấy người khác (điều 320) và tất cả những hành động gian dâm (từ điều 401 đến điều
410 chương Thông gian), v.v Đáng lưu ý là, các điều 401, 403, 404, 406 quy định, những hành động vi phạm nghiêm trọng nhân phẩm con người, như hiếp dâm (kể cả gian dâm với trẻ em từ 12 tuổi trở xuống đều xếp vào tội hiếp dâm), loạn luân (gian dâm trong nội bộ gia đình, gia tộc) đều bị trừng trị với hình phạt rất nặng: lưu, chém
Ngoài những quy phạm bảo vệ nhân phẩm con người, nhiều quyền tự
do của con người cũng được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, như mọi người đều có các quyền: bình đẳng trong việc thực thi pháp luật, tự do hôn nhân, lựa chọn và bảo vệ hạnh phúc của mình, quyền được bảo vệ tính mạng, tài sản, v.v Điều 687 quy định, mọi người đều được kêu oan khi cảm thấy bị bắt bớ, giam cầm vô cớ và khi bị xử phạt oan sai
Bộ Hoàng Việt luật lệ quy định các tội bất hiếu, bất kính, bất nghĩa
Trang 36được xếp vào những hình phạt rất nặng (đồ, lưu, tử hình).… nếu con cháu lăng mạ, tố cáo ông bà cha mẹ, vợ tố cáo chồng (chỉ cho phép tố cáo khi ông
bà, cha mẹ, chồng phạm tội mưu phản, đại nghịch) thì bị đày đi nơi xa Cấm con dâu không được chửi mắng, đánh đập, âm mưu giết ông bà, cha mẹ chồng
và các hành động đánh đập anh chị, cậu dì, ông bà cha mẹ vợ, cùng chú bác, thím cô, anh em trai, v.v Nếu phạm những tội này sẽ bị xử tội đồ, lưu
Việc kết hôn được pháp luật triều Nguyễn quy định khá rõ trong các điều 94, 96, 99, 100, 104, 108 của Luật Gia Long và cả trong Hoàng khai định luật lệ dưới thời vua Minh Mạng
Về điều kiện để kết hôn, nhấn mạnh đến sự mạo nhận, khi nhà trai hay nhà gái có sự đánh tráo, tức là khi làm mai mối thì đưa người không tật bệnh ra nhưng lúc cưới lại thay bằng người có dị tật về làm dâu, rể Về điều này luật Gia Long quy định “Phàm ban đầu trai gái định chuyện lấy nhau phải không bị tàn tật, bệnh hoạn, già trẻ so le… Hai nhà cần nói rõ ra
để hai bên thỏa mãn sự mong cầu Nếu không bằng lòng thì định lại” Việc võng mạo bị pháp luật trừng trị, và ở trường hợp này luật pháp triều Nguyễn có sự ưu ái với phụ nữ, cụ thể là nhà gái mang tội võng mạo sẽ bị
xử phạt nhẹ hơn nhà trai:
Nếu người xin cưới mà nhà gái mạo nhận thì chủ hôn bị phạt
80 trượng Như nhà gái có đứa tàn tật khi coi mặt thì mạo trá chị em
ra, khi cưới lại đưa con gái tật nguyền ra làm thành vợ chồng thì truy thu lễ vật trả lại cho nhà trai Nhà trai mạo nhận thì tăng thêm một bậc, nghĩa là không phải chính người con trai ấy mà là người con trai có tật nguyền, nhưng khi coi mặt thì mạo trá anh hoặc em
ra, như vậy là không đáp ứng nguyện vọng của hôn nhân, không trả lại lễ vật [18, tr 2-3]
Đồng thời, sau khi đính hôn, pháp luật triều Nguyễn vẫn quan tâm
Trang 37đến thì của người con gái Điều đó được thể hiện trong chế định về thời hiệu của sự đính hôn Lệ 2 điều 108 Luật Gia Long quy định “trong thời hạn 5 năm
kể từ sau ngày đính hôn, nếu người con gái không mắc lỗi lầm nào mà nhà trai không tổ chức lễ cưới, thì nhà gái được phép trình quan xin cấp giấy xác nhận và gả con gái cho nhà khác, mà không phải trả lại đồ sính lễ” Như vậy, theo quy định thời hiệu đính hôn là năm năm, quá thời hạn tối đa đó, khế ước đính hôn đó coi như là vô giá trị, không thể ràng buộc nhà gái và họ có thể lập giá thú khác Về phía nhà trai cũng sau thời hạn này mới được quyền nghĩ đến người con gái khác
1.3.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1999
1.3.2.1 Giai đoạn từ 1945 đến năm 1985
Tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình trong giai đoạn này đã được tập trung quy định trong một văn bản pháp luật cụ thể và khá đầy đủ Chế độ một vợ một chồng chính thức được ghi nhận, nữ quyền được nhấn mạnh, những hành vi xâm hại quan hệ hôn nhân và gia đình đều bị luật hình sự cấm
và đe dọa áp dụng những biện pháp chế tài hình sự, mặc dù các biện pháp này được áp dụng một cách hạn chế, vì đường lối xử lý chung là giáo dục, tuyên truyền và thuyết phục
1.3.2.2 Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình theo Bộ luật hình sự năm 1985
Ngoài các bản Hiến pháp thì trong Bộ luật hình sự Việt Nam 1985 đã quy định đầy đủ cơ bản các tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình như: các tội Xâm hại tính mạng sức khỏe danh dự nhân phẩm; Xâm hại chế độ hôn nhân và gia đình; Xâm hại chế độ sở hữu như; Xâm hại quyền tự do dân chủ của công dân … Tuy nhiên trên thực tế các quy định này dường như chưa thật
sự phát huy tác dụng trong đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình
Trang 381.4 Các tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình trong pháp luật quốc tế
1.4.1 Các tiêu chuẩn của luật nhân quyền quốc tế và vấn đề bảo vệ nạn nhân của bạo lực gia đình bằng pháp luật hình sự
Qua nghiên cứu luật nhân quyền quốc tế, có thể nhận thấy vấn đề bảo
vệ nạn nhân của bạo lực gia đình bằng pháp luật hình sự được tiếp cận từ các tiêu chuẩn chủ yếu sau:
Thứ nhất, tiêu chuẩn giới – yêu cầu tội phạm hóa các dạng bạo lực đối với phụ nữ, bao gồm cả bạo lực trong gia đình đối với phụ nữ:
Theo Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) thì:
Bạo lực trên cơ sở giới là bạo lực giữa nam và nữ, trong đó phụ nữ thường là nạn nhân và điều này bắt nguồn từ các mối quan
hệ quyền lực bất bình đẳng giữa nam giới và phụ nữ, bao gồm những tổn hại về thân thể, tình dục và tâm lý (sự đe dọa, gây đau khổ, cưỡng bức, tước đoạt tự do xảy ra trong gia đình hoặc trong cộng đồng [47, tr 3]
Trước thực trạng bạo lực giới ngày một gia tăng, để kêu gọi toàn thế giới cùng đấu tranh xóa bỏ bạo lực đối với phụ nữ, năm 1999 Liên Hợp Quốc
đã lấy ngày 25/11 hàng năm là “Ngày quốc tế về xóa bỏ nạn bạo lực đối với phụ nữ” và nguyên Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Kofi Annan đã nói:
Hãm hiếp phụ nữ, đánh đập phụ nữ trong gia đình, cưỡng bức phụ nữ làm nghề mãi dâm, lạm dụng tình dục ở trẻ em, xúc phạm phụ nữ ở nơi làm việc và nhiều hình thức đối xử thô bạo khác với phụ nữ vượt ra ngoài ranh giới về văn hóa, tôn giáo và khu vực phải đề cao quyền của tất cả phụ nữ được sống một cuộc sống không bị đối xử thô bạo, một cuộc sống bình đẳng, phát triển và hòa bình
Trang 39Trước đây, do quan niệm bạo lực đối với phụ nữ là vấn đề cá nhân, gia đình nên luật quốc tế không có cơ chế bảo vệ tích cực, tuy nhiên các công ước vẫn ghi rất rõ nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử về giới tính
Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1945, Công ước Giơnevơ năm 1949; Công ước về các quyền dân sự, chính trị, kinh tế - xã hội và văn hóa năm 1966; đặc biệt là Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ
nữ năm 1979 nhấn mạnh sự cần thiết phải xóa bỏ nạn phân biệt đối xử với phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
Bất kỳ sự phân biệt, loại trừ hay hạn chế nào dựa trên cơ sở giới tính mà có tác dụng hoặc nhằm mục đích làm tổn hại hoặc vô hiệu hóa việc phụ nữ được công nhận, hưởng thụ hay thực hiện các quyền con người và những tự do cơ bản… bất kể tình trạng hôn nhân, trên cơ sở bình đẳng nam nữ
Pháp luật quốc tế đã coi mọi hình thức bạo lực đối với phụ nữ đều là sự
vi phạm nghiêm trọng các quyền con người và quyền tự do cơ bản của công dân, thể hiện sự phát triển đáng kể trong tiến trình xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ
Thứ hai, tiêu chuẩn bảo vệ trẻ - yêu cầu tội phạm hóa các dạng bạo lực đối với trẻ em, bao gồm cả bạo lực trẻ mong gia đình đối với trẻ em:
Trong mọi xã hội, trẻ em đều là đối tượng được Nhà nước và cả xã hội dành sự quan tâm, chăm sóc đặc biệt, bởi đó là thế hệ tương lai của mỗi quốc gia và của nhân loại Chính vì vậy, việc tạo mọi điều kiện tốt nhất cho sự phát triển dần dần và đi tới sự phát triển một cách toàn diện về nhân cách, về lối sống, về nhận thức… chính là việc bảo đảm cho trẻ em có được các quyền cơ bản như quyền được có tên và quốc tịch; quyền được bảo vệ và chăm sóc; quyền không bị cách ly khỏi cha mẹ; quyền được chăm sóc sức khoẻ; quyền được học hành; quyền được sống trong môi trường lành mạnh; quyền được
Trang 40thông tin; quyền được giải trí; quyền được hội họp; quyền được bảo vệ chống lại sự ngược đãi… Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 là điều ước quốc tế đa phương phản ánh tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ quyền trẻ em cũng như sự quan tâm của các quốc gia đối với thế hệ trẻ Lần đầu tiên, Công ước về quyền trẻ em đã khái quát được các khía cạnh của quyền trẻ em và xác định rõ nghĩa vụ của các quốc gia trong việc bảo đảm quyền của trẻ em và mỗi quan hệ giữa quyền trẻ em với quyền con người nói chung Và để thực thi Công ước, Điều 43 của Công ước quyền trẻ em năm 1989 quy định thành lập
Uỷ ban về quyền trẻ em nhằm xem xét sự tiến bộ mà các quốc gia thành viên đạt được trong việc thực hiện các nghĩa vụ mà họ đã cam kết thông qua các báo cáo định kỳ Đồng thời theo Điều 45, bên cạnh Uỷ ban về quyền trẻ em thì các cơ quan chuyên môn, UNICEF và các tổ chức khác thuộc Liên hợp quốc cũng có thẩm quyền giám sát, giúp đỡ các quốc gia thành viên trong quá trình thực hiện Công ước
1.4.2 Các hành vi mang tính chất bạo lực gia đình trong pháp luật một số quốc gia trên thế giới
1.4.2.1 Các quy định về tội phạm mang tính chất bạo lực gia đình
trong pháp luật hình sự tại một số quốc gia trên thế giới
Theo pháp luật hình sự Liên bang Nga: Bộ luật hình sự Liên bang Nga
chưa có sự tách biệt giữa những quan hệ xã hội liên quan đến người chưa thành niên với nhóm quan hệ xã hội về gia đình Mặc dù tên chương là Các tội xâm phạm gia đình và người chưa thành niên nhưng thực tế nội dung các tội phạm trong Chương này chủ yếu liên quan đến bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên Quan hệ gia đình được trực tiếp bảo vệ, thực chất chỉ có một tội phạm quy định về nghĩa vụ đóng góp tiền nuôi dưỡng cha mẹ không còn khả năng lao động Có lẽ do chịu ảnh hưởng nhiều từ điều kiện địa lý, phương thức sản xuất và tư tưởng văn hóa phương Tây, đề cao tự do cá nhân mà các