VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI TRẦN MINH HÙNG TỪ NGỮ TIẾNG ANH TRÊN CÁC PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG TIẾNG VIỆT TỪ TƯ LIỆU CỦA MỘT SỐ BÁO MẠNG TIẾNG VIỆT.
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN MINH HÙNG
TỪ NGỮ TIẾNG ANH TRÊN CÁC PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG TIẾNG VIỆT (TỪ TƯ LIỆU CỦA MỘT SỐ BÁO MẠNG TIẾNG VIỆT)
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: GS TS Nguyễn Văn Khang
Phản biện 1: GS.TS Lê Văn Thiêm
Phản biện 2: PGS.TS Phan Văn Quế
Phản biện 3: PGS.TS Hà Quang Năng
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tiến sĩ, tổ chức tại Học viện Khoa học Xã hội
Vào lúc giờ phút, ngày tháng năm 2018
Có thể tìm hiểu luận án tại:
Thư viện Quốc gia Thư viện Học viện Khoa học Xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Trong các nguồn bổ sung từ vựng cho một ngôn ngữ, bên cạnh các phương thức tạo từ mang tính nội lực thì vay mượn với tư cách ngoại lực là một nguồn bổ sung có vai trò hết sức quan trọng Vì thế, vay mượn
từ vựng trở thành hiện tượng phổ biến của mọi ngôn ngữ Có thể nói, hầu như không có vốn từ của một ngôn ngữ nào lại không có các từ ngữ vay mượn Tuy nhiên, mặc dù là cùng một hiện tượng vay mượn từ ngữ nhưng
có sự khác nhau giữa các ngôn ngữ ở lí do vay mượn, nguồn vay mượn (ngôn ngữ cho vay), số lượng từ ngữ vay mượn, con đường vay mượn và cách xử lí các từ ngữ vay mượn
1.2 Tiếng Anh hiện nay đang nổi lên với tư cách là ngôn ngữ giao tiếp quốc tế với trên 85% thông tin trên thế giới bằng ngôn ngữ này Nhất
là từ đầu thế kỷ XXI đến nay, tiếng Anh đang như một cơn lốc tràn vào tất
cả các ngôn ngữ trên thế giới và theo đó là các từ ngữ Anh được sử dụng trong các ngôn ngữ Tiếng Việt cũng nằm trong vòng xoáy đó Các từ ngữ tiếng Anh xuất hiện ngày một nhiều, liên tục và đi vào mọi ngõ ngách của đời sống tiếng Việt hiện nay
1.3 Báo mạng là báo cập nhật tin tức nhanh nhất cho nên cách tiếp nhận và xử lí thông tin nói chung, trong đó có việc xử lí ngôn ngữ, cụ thể
là các từ ngữ mượn (tiếng Anh) cũng chịu áp lực của thời gian đưa tin (nhanh nhất) và không gian đưa tin (không gian mạng) Đây là lí do dẫn đến nhiều cách tiếp nhận và xử lí khác nhau đối với các từ ngữ tiếng Anh
Hệ quả là, các từ ngữ tiếng Anh xuất hiện trong tiếng Việt ở nhiều dạng biến thể, như biến thể về cách viết, biến thể về cách đọc và biển thể về
cách dùng Do vậy, luận án chọn đề tài “Từ ngữ tiếng Anh trên các phương tiện truyền thông tiếng Việt (từ tư liệu của một số báo mạng tiếng Việt)” để nghiên cứu nhằm tìm hiểu đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa của từ
tiếng Anh trong quá trình xâm nhập vào tiếng Việt hiện nay và đưa ra cách nhìn về việc giữ gìn sự trong sáng và chuẩn hóa tiếng Việt trong bối cảnh hiện nay
M c đích và nhiệm v nghiên cứu
Trang 4góc độ ngôn ngữ học xã hội; góp phần vào giữ gìn sự trong sáng và chuẩn hóa tiếng Việt
2.2 Nhiệm vụ của luận án
Từ mục đích trên, luận án đề ra nhiệm vụ:
a Tổng quan có đánh giá, nhận xét những nội dung nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án;
b Xây dựng cơ sở lí thuyết để làm cơ sở triển khai luận án;
c Nghiên cứu, khảo sát về đặc điểm của các từ ngữ tiếng Anh được dùng trên một số báo mạng;
d Nghiên cứu, khảo sát thái độ ngôn ngữ của các tầng lớp xã hội đối với việc sử dụng các từ ngữ tiếng Anh được dùng trên các báo mạng;
e Lí giải và đề xuất kiến nghị việc sử dụng các từ ngữ tiếng Anh trên các báo mạng gắn với việc giữ gìn sự trong sáng và chuẩn hóa tiếng Việt
3 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Luận án sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thống kê ngôn ngữ học;
- Phương pháp miêu tả ngôn ngữ học;
- Phương pháp điều tra của ngôn ngữ học xã hội (sử dụng câu hỏi và phỏng vấn sâu);
- Thủ pháp thống kê, phân loại
4 Đối tư ng và ph m vi nghiên cứu và nguồn tư liệu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các từ ngữ tiếng Anh được dùng trên một số báo mạng hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án nghiên cứu đặc điểm của các từ ngữ tiếng Anh được dùng trên một số báo mạng (đặc điểm hình thức, đặc điểm ngữ nghĩa, đặc điểm
từ loại)
4.3 Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu được thu thập và xử lí từ:
- Một số báo mạng như Dân trí, Vnexpress, Báo mới và một số báo mạng khác từ năm 2013 trở lại đây;
- Tư liệu điều tra về thái độ ngôn ngữ theo anket và phỏng vấn sâu cộng với quan sát
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án là công trình nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu về các từ ngữ tiếng Anh xuất hiện trên một số báo mạng từ 2013 trở lại đây
Trang 56 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
6.1.Ý nghĩa lí luận
Góp phần làm rõ thêm một số vấn đề lí thuyết của ngôn ngữ học như:
tiếp xúc ngôn ngữ, vay mượn ngôn ngữ
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Chỉ ra được hiện trạng sử dụng tiếng Anh trong tiếng Việt hiện nay;
- Định hướng cho việc tiếp thu từ ngữ nước ngoài mà chủ yếu là từ ngữ tiếng Anh trong tiếng Việt, gắn với việc giữ gìn sự trong sáng và chuẩn hóa tiếng Việt;
- Xử lí từ ngữ tiếng Anh trên các phương tiện truyền thông; xử lí từ
ngữ tiếng Anh trong từ điển
7 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận
Chương 2: Đặc điểm từ ngữ tiếng Anh trên báo mạng tiếng Việt Chương 3: Từ ngữ tiếng Anh trên báo mạng với việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
Trang 6Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu hiện tượng từ ngữ vay mượn trên thế giới
Trên thế giới, việc nghiên cứu về từ vay mượn nói chung và vay mượn từ tiếng Anh nói riêng cũng đã được đề cập Có thể khái quát các công trình nghiên cứu về từ ngữ vay mượn theo các hướng như sau:
- Nghiên cứu lí do về ngôn ngữ và xã hội tác động đến vay mượn từ ngữ
- Hướng nghiên cứu vào quá trình đồng hóa của các từ mượn ở các bình diện ngữ âm, ngữ pháp (hình thái), ngữ nghĩa và chữ viết
- Hướng nghiên cứu vào vai trò của từ ngữ mượn trong các ngôn ngữ
1.1.2 Tình hình nghiên cứu hiện tượng từ ngữ vay mượn ở Việt Nam và các từ ngữ tiếng Anh trên các phương tiện truyền thông
Ở Việt Nam, các nghiên cứu tập trung vào các từ ngữ vay mượn từ ba nguồn: nguồn từ tiếng Hán, nguồn từ tiếng Pháp và nguồn từ tiếng Anh Các hướng nghiên cứu chủ yếu:
a Khả năng Việt hóa của các từ mượn trong tiếng Việt ở các bình
diện ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng - ngữ nghĩa;
b Khả năng hoạt động của các từ mượn ở cấp độ tạo từ cũng như ở khả năng hoạt động độc lập;
c Sự tương ứng giữa từ ngữ mượn với các đơn vị tương đương trong tiếng Việt;
d Vai trò của các từ mượn từ góc độ phong cách học;
e Các từ mượn trong tiếng Việt với việc chuẩn hóa, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
1 Cơ sở lí luận
1.2.1 Cơ sở lí thuyết về vay mượn từ vựng
a Cho đến nay, trong ngôn ngữ học đang có một số tên gọi liên quan
đến vay mượn như: language borrowing (vay mượn ngôn ngữ), lexical borrowing (vay mượn từ vựng), loan word/borrowed word (từ mượn, từ vay mượn), foreign word (từ ngoại lai), Theo đó, trong tiếng Việt với ba
nguồn vay mượn chủ yếu về từ ngữ từ tiếng nước ngoài là tiếng Hán, tiếng Pháp và tiếng Anh đã xuất hiện các tên gọi tương ứng với các nguồn vaymượn, như: từ mượn Hán (từ gốc Hán, từ Hán Việt), từ mượn Pháp (từ
Trang 7gốc Pháp); riêng từ tiếng Anh có hai cách gọi: từ mượn Anh và từ tiếng
Anh trong tiếng Việt
b Vay mượn ngôn ngữ là hiện tượng vay mượn cả ở ngôn ngữ và phương ngữ, thuộc các bình diện ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, ngữ nghĩa và
sử dụng Theo đó, vay mượn từ vựng là sự tiếp nhận các đơn vị từ vựng từ
ngôn ngữ cho vay sang ngôn ngữ đi vay, nhằm bổ sung, làm làm giàu cho
hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ Từ vay mượn là các đơn vị từ vựng
được tồn tại và sử dụng trong ngôn ngữ đi vay
c Vay mượn từ ngữ với các khái niệm liên quan, như giao thoa, chuyển mã, trộn mã Có thể thấy, các từ ngữ của chuyển mã, trộn mã như
là một sản phẩm trung gian giữa từ ngữ nước ngoài và từ ngữ vay mượn Đây chính là nguồn từ ngữ vay mượn Tuy nhiên, ở một góc độ vay mượn
mà xét thì trộn mã là nguồn bổ sung nhanh, thiết thực cho vay mượn từ ngữ
d Về lí thuyết, có 4 cách vay mượn từ vựng:
(i) Sao phỏng (calque) để có từ mượn sao phỏng;
(ii) Phỏng âm để có từ mượn phỏng âm;
(iii) Chuyển tự để có từ mượn chuyển tự;
(iv) Nguyên dạng để có từ viết theo nguyên dạng
1.2.2 Một số vấn đề về chuẩn hóa ngôn ngữ
a Biến thể và chuẩn: Biến thể (variety/variation) “là các hình thức
tồn tại và biến đổi của ngôn ngữ, là các biểu hiện của ngôn ngữ được sử dụng phổ biến trong hoàn cảnh xã hội giống nhau với các đặc trưng xã hội giống nhau” Chuẩn là “mẫu mực trong ngôn ngữ, được đa số mọi người, đặc biệt là những người có uy tín và ảnh hưởng công nhận” Xem xét việc chuẩn hóa cần chú ý đến sự biến đổi, phát triển không ngừng của ngôn ngữ, theo đó, chuẩn hóa cần phải ủng hộ cả sự biến đổi, phát triển không ngừng đó Hiện có ba hướng chuẩn hóa: chuẩn hóa theo hướng quy phạm luận, chuẩn hóa theo hướng miêu tả luận và chuẩn hóa theo hướng ngôn ngữ học xã hội
b Chuẩn hóa ngôn ngữ cần tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Cần kết hợp giữa quy tắc bản vị (chuẩn hệ thống) với quy tắc ngữ dụng (chuẩn sử dụng) trong chuẩn hoá ngôn ngữ;
- Cần kết hợp giữa tính tuyệt đối và tính tương đối trong chuẩn hoá ngôn ngữ;
- Chuẩn hoá ngôn ngữ mang tính giai đoạn;
- Chuẩn hoá chú trọng tới thói quen ngôn ngữ và cả sự miêu tả ngôn ngữ
Trang 81.2.3 Một số vấn đề về báo mạng tiếng Việt
Việt Nam hiện nay có 46 báo mạng điện tử, 287 trang tin của các cơ quan báo chí, 200 trang thông tin điện tử tổng hợp (nguồn: Bộ Thông tin
và Truyền thông) Nếu như báo giấy ra đời cách đây hàng trăm năm, hay các loại hình báo chí khác như phát thanh, truyền hình xuất hiện cũng đã lâu thì báo mạng (hay báo điện tử, báo online) là loại báo xuất hiện khá muộn, sau khi có sự xuất hiện của internet Tuy nhiên, ra đời trong thời đại công nghệ thông tin với một thế giới phẳng, báo mạng đã nhanh chóng chiếm ngôi có thể nói là hàng đầu trong việc cập nhật thông tin và số lượng độc giả, với những ưu thế, đặc trưng sau:
- Tính đa phương tiện;
xã hội; giới thiệu khái niệm chuẩn hóa ngôn ngữ, trong đó chú trọng tới vấn đề “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” mang tính đặc thù của Việt ngữ học Luận án cũng dành một phần giới thiệu về báo mạng liên quan đến tư liệu của đề tài luận án
Trang 9Chương ĐẶC ĐIỂM CỦA TỪ NGỮ TIẾNG ANH TRÊN MỘT SỐ BÁO MẠNG TIẾNG VIỆT
2.1 Đặc điểm về hình thức xuất hiện từ ngữ tiếng Anh trên một
số báo m ng tiếng Việt
2.1.1 Sử dụng nguyên dạng từ ngữ tiếng Anh
Đối với cách này, luận án tiến hành phân loại thành hai kiểu: sử dụng nguyên dạng không dịch nghĩa và sử dụng nguyên dạng có dịch nghĩa
2.1.1.1 Dùng nguyên dạng từ ngữ tiếng Anh không dịch nghĩa
Đây là kiểu mượn xảy ra khá phổ biến và chiếm ưu thế trong khi sử dụng từ tiếng Anh trên báo mạng hiện nay Đối với kiểu này, người viết sử dụng từ ngữ tiếng Anh trong câu nhưng không có chú thích tiếng Việt Từ ngữ tiếng Anh được viết nguyên dạng như trong nguyên ngữ
Sự xuất hiện của các từ tiếng Anh nguyên dạng không dịch nghĩa ở các lĩnh vực không giống nhau:
Biểu đồ từ ngữ tiếng Anh nguyên dạng không dịch nghĩa
Trang 10Có thể nhận thấy, đối với các từ tiếng Anh nguyên dạng không dịch nghĩa trong lĩnh vực kinh doanh rơi vào các từ chỉ tên riêng, tên tổ chức
hoặc các từ xuất hiện chung trong nhiều ngữ cảnh như website, marketing, internet, container…Hầu hết những khái niệm, hiện tượng mới đều có chú
giải nghĩa bên cạnh Ngược lại trong các lĩnh vực như văn hóa, giải trí, thể thao, công nghệ, giáo dục do sự phổ biến của các sự vật, hiện tượng, đặc điểm mà các từ tiếng Anh nguyên dạng không dịch nghĩa được sử dụng
phổ biến hơn như: show, live show, online, video clip, shock, pose, fan…(giải trí); band, website, e-learn, hotline, email, language center…(giáo dục)
2.1.1.2 Dùng nguyên dạng từ ngữ tiếng Anh có kèm dịch nghĩa
Đối với trường hợp này, trong câu có xuất hiện từ ngữ tiếng Anh nguyên dạng nhưng luôn kèm theo chú thích tiếng Việt Cách sắp xếp giữa nguyên dạng và dịch nghĩa khá linh hoạt: phần dịch có thể ở trước và phần nguyên dạng để ở sau, trong ngoặc đơn; hoặc ngược lại, phần nguyên dạng
có thể ở trước, phần dịch ở sau, trong ngoặc đơn
Việc chú giải nghĩa bằng tiếng Việt giúp cho bạn đọc dù không biết tiếng Anh nhưng vẫn hiểu được nghĩa Từ đó sẽ không làm gián đoạn thậm chí sai lệch, mất thông tin do không biết nghĩa của từ tiếng Anh Sự xuất hiện của các từ tiếng Anh theo dạng này ở mỗi lĩnh vực cũng không giống nhau
Biểu đồ từ ngữ tiếng Anh nguyên dạng có dịch nghĩa
Trang 11Việc để chú thích nghĩa bên cạnh các từ nguyên dạng không chỉ tập trung vào các khái niệm, sự vật mới mà còn xuất hiện với cả sự vật, hành
động đã quen thuộc Ví dụ: nickname (tên), bài đăng (post), bình luận (comment) và lượt thích (like)
2.1.2 Phiên (phiên chuyển)
2.1.2.1 Đặc điểm chung
Về cơ bản, phiên âm là cách làm cho từ đi vay có cách phát âm gần giống nhất với ngữ âm của ngôn ngữ đi vay, tuy nhiên, trong tiếng Việt sử dụng phiên/phiên chuyển tức là kết hợp giữa âm đọc và chữ viết Về hình thức được viết bằng hai cách: cách viết rời giữa các âm tiết, có gạch nối,
có dấu thanh và cách viết liền không sử dụng dấu thanh
- Cách viết rời giữa các âm tiết, có gạch nối, có dấu thanh Ví dụ:
rê-zô ê-kíp, vắc-xin Các từ tiếng Anh khi được phiên âm sẽ viết bằng hệ
thống âm vị tiếng Việt nhưng cố gắng đảm bảo âm gần giống nhất so với
từ gốc Vì để giống với lối phát âm tiếng Việt nên các từ tiếng Anh khi vào tiếng Việt sẽ được thêm dấu và thường có dấu cách giữa các âm tiết Đặc điểm này do tính đơn tiết của loại hình đơn lập chi phối Các từ tiếng Anh dù thuộc loại hình hòa kết nhưng khi phiên âm sang tiếng Việt thì các
âm tiết được tách ra và mang đầy đủ cấu trúc của một âm tiết tiếng Việt
- Cách viết liền không sử dụng dấu thanh Ví dụ: cara, kara Cách phiên này cũng không thật nhất quán
title: tít, micro: mích, password: pát
- Vì tiếng Việt không có các phụ âm kép nên các thành phần phụ âm kép được tách ra và xen vào các nguyên âm để thành hai âm tiết với các biến thể khác nhau
Ví dụ:
style: xì tin, xì tai; stress: xì trét; sport: xì pót, xì po
b Đối với phụ âm đầu: giữ nguyên hoặc thay đổi
- Giữ nguyên cách ghi phụ âm đầu như trong tiếng Anh:
p: penalty: pê-nan-ti; r: robot: rô-bốt; m: mail: mai, mên, meo
- Thay đổi cách ghi phụ âm đầu (khác với cách ghi trong tiếng Anh): Ghi theo cách đọc của tiếng Việt
Ví dụ:
Trang 12dollar: đô-la/đô ; demo: đề-mô
- Việt hóa và ghi theo con chữ tiếng Việt
Ví dụ:
jean: gin; jacket: giắc két; sex: sếch, xếch
c Đối với phần vần: Cách xử lí phổ biến là phỏng theo âm đọc tiếng
Anh Đây là lí do tạo nên các biến thể khác nhau Ví dụ: baby [„bebi]: bây
bi, bê bi Tuy nhiên, cách phổ biến vẫn là cách ghi theo kiểu “đánh vần” theo chữ cái tiếng Việt Ví dụ: diva: đi va; chat: chát Đáng chú ý là thường sử dụng ô thay vì o, ê thay vì e Ví dụ: shock: sốc
d Đối với âm cuối: Tiếng Việt có sáu âm vị phụ âm làm âm cuối và
được ghi là: m, n, ŋ, p, t, k Theo đó, những phụ âm cuối của từ ngữ tiếng
Anh nào giống như vậy thì được giữ nguyên, nếu không sẽ phải thay đổi
Sự thay đổi thường là tìm một âm thay thế hoặc bị lược bỏ Ví dụ: penalty: pê-nan-ti; message: mát xa; film: phim Như vậy, có thể thấy từ ngữ tiếng
Anh khi được sử dụng trên báo mạng tiếng Việt dưới hình thức phiên âm
có những biến đổi khá phong phú Tuy nhiên, sự thay đổi chung quy vẫn đảm bảo theo quy luật ngữ âm của tiếng Việt, hay nói cách khác, đó chính
là phù hợp với cách phát âm của người Việt Hạn chế của hình thức này là phá vỡ hoàn toàn cấu trúc nguyên dạng của các từ tiếng Anh Do đó, nếu muốn tiếp cận lại một từ nguyên gốc tiếng Anh thì phải truy tìm lại Ngoài
ra, cách đọc chưa có sự đồng nhất nên có nhiều biến thể ngữ âm cho một
từ Vì thế trong nhiều trường hợp có thể gây những trở ngại nhất định trong quá trình giao tiếp
2.1.3 Rút gọn âm tiết
Các từ vẫn được sử dụng nguyên dạng tuy nhiên không đầy đủ mà chỉ xuất hiện một phần âm tiết của từ Âm tiết đại diện đó là âm tiết đầu tiên Ví
dụ: web, cara, inch Trong tư liệu mà luận án khảo sát, trường hợp này cũng
xuất hiện không nhiều.Điểm dễ nhận thấy là sau khi rút gọn thì có lẽ cách đọc các từ tiếng Anh trở nên đơn giản, dễ dàng hơn Các từ sau khi đã rút gọn và được Việt hóa cách đọc thì luôn là một từ đơn tiết Ngoài ra các từ này cũng thường là những từ thông dụng, phổ biến, bởi vậy dù đã rút gọn và có thể xuất hiện các cách đọc khác nhau nhưng vẫn nhận ra được từ đó là gì
2.1.4 Viết tắt
Trường hợp này thường là các cụm từ và cách sử dụng là lấy chữ cái đầu tiên đại diện cho mỗi từ ghép lại để thành một từ đại diện cho cả cụm
Có những từ viết tắt được chú thích đầy đủ cả tiếng Anh (trích nguyên các
từ thành phần) hoặc tiếng Việt (nghĩa của cụm) Tuy nhiên cũng có những
từ viết tắt không có chú thích Những trường hợp này thường là tên riêng
Trang 13các tổ chức, kì thi, đặc điểm đã trở nên quen thuộc như: VIP, IELTS, TOFLE
- Từ ngữ viết tắt trước, chú thích tiếng Anh đầy đủ ở sau và để trong
ngoặc đơn Ví dụ: ng viên phải có điểm kiểm tra ELTIS (English Language Test for International Students) đạt 228 điểm trở lên
- Từ ngữ viết tắt trước, chú thích tiếng Việt được dịch từ tiếng Anh ở
sau, để trong ngoặc đơn Ví dụ: “Tôi kịch liệt yêu cầu Agon (công ty thể thao tổ chức giải) và FIDE (Liên đoàn cờ vua thế giới) xóa bỏ logo này và thay bằng thứ gì đó trang trọng
- Từ ngữ tiếng Anh đầy đủ ở trước, từ viết tắt để sau và để trong ngoặc đơn Ví dụ: Tiếng Anh học thuật - English for Academic Purposes (EAP)
- Chỉ có từ viết tắt ví dụ: The Princeton eview là tổ chức giáo dục
có hơn 30 năm kinh nghiệm luyện thi SAT, SSAT, ACT, TOEFL, GMAT
2.1.5 Nhận xét
Nhìn chung, hiện tượng sử dụng các đơn vị tiếng Anh trên báo chí hiện nay đang là một xu thế tương đối phổ biến Tuy nhiên, sự xuất hiện
về mặt ngữ âm - chính tả của hiện tượng này không đồng đều ở các hình
thức Có thể thấy điều đó qua bảng tổng kết sau (Tổng số 653 từ tiếng Anh trên 272 bài báo được khảo sát):
Bảng tổng hợp hình thức sử dụng từ tiếng Anh trên báo tiếng Việt