1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở tại thành phố hồ chí minh hiện nay

189 84 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 189
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những hiện tượng như vậy có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân sâu xa nhất là do công tác giáo dục đạo đức cho học sinh nói chung, cho học sinh trung học cơ sở tại Thành phố Hồ hí inh

Trang 1

VI H

H H H I VI T

G

- 2018

Trang 2

VI H

H H H I VI T

G

Chuyên ngành : o ọc Mã số : 9 22 90 06

n n o ọ : Ễ

- 2018

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu ghi trong luận án là trung thực hững kết luận khoa học của luận án chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

á ả

rần u n án

Trang 4

Ờ Ả

Trải qua thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thiện uận án tại Học viện, tác giả đã nhận được sự động viên, khuyến khích và sự giúp đỡ nhiệt tình của quý Thầy giáo, ô giáo, các cấp lãnh đạo của Học viện hoa học ã hội, bạn bè đồng nghiệp và gia đình

Với tình cảm chân thành, tác giả xin gửi lời cảm ơn trân trọng và sâu sắc đến:

- PGS.TS guyễn Văn Phúc, người thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận án;

- ãnh đạo hoa Triết học, Học viện hoa học xã hội (thuộc Viện Hàn lâm hoa học xã hội Việt am), quý Thầy ô giáo tham gia giảng dạy lớp nghiên cứu sinh đợt 1 năm 2014, các phòng chuyên môn của Học viện hoa học

xã hội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

ặc dù đã rất cố gắng, nhưng chắc chắn luận án không thể tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến chân thành của quý Thầy ô giáo, các hà khoa học và các bạn đồng nghiệp để luận án được hoàn thiện hơn

Trân trọng!

Hà Nội, ngày tháng năm

á ả

rần u n án

Trang 5

Trang Ầ 1 ín ấp t ết ủ ề t 1

2 ụ í v n ệm vụ 4

3 ố t ợn v p m v n ên u 5

4 ơ sở lí luận v p ơn p áp n ên u 5

5 n p m ủ luận án 6

6 Ý n ĩ ủ luận án 6

7 ết ấu ủ luận án 6

ơn 1: 7

1.1 á n ên u l luận về o v áo ụ o 7

1.2 á n ên u về t tr n áo ụ o v áo ụ o o ọ s n trun ọ ơ sở t n p ố í n ện n 10

1.3 á n ên u l ên qu n ến ả p áp n n o ệu quả ủ áo ụ o o ọ s n v ọ s n trun ọ ơ sở t n p ố í n ện n 16

1.4 á quát á ết quả n ên u v n ữn vấn ề luận án sẽ s u n ên u 20

Ể Ư 1 23

ơn 2: Ấ Ý

24

2.1 o v áo ụ o 24

2.2 un áo ụ o o ọ s n trun ọ ơ sở t i Thành phố H Chí Minh 37

2.3 á p ơn t c giáo dụ o c chủ yếu cho họ s n sơ sở t i Thành phố H Chí Minh 47

Trang 6

2.4 ữn n n tố ủ ếu tá n ến áo ụ o o ọ s n

trun ọ ơ sở t n p ố í n ện n 54

Ể Ư 2 61

ơn 3:

64

3.1 ọ s n trun ọ ơ sở t n p ố í n v s ần t ết p ả áo ụ o o ố t ợn n 64

3.2 ữn t n t u trong giáo dụ o c cho họ s n trun ọ ơ sở ở Thành phố H Chí Minh và nguyên nhân 73

3.3 ữn n chế trong giáo dụ o c cho họ s n trun ọ ơ sở ở Thành phố H Chí Minh và nguyên nhân 90

Ể Ư 3 111

ơn 4: Ả

113

4.1 m ả p áp về t n n v tr trá n ệm ủ ủ t ể á t ể v ố t ợn áo ụ 113

4.2 m ả p áp m n ận t n un n t v p ơn p áp áo ụ o o ọ s n trun ọ ơ sở t n p ố H Chí Minh 120

4.3 m ả p áp t n n á ều ện vật ất; n m tr n v n oá l n m n 135

Ể Ư 4 142

144

H

Ả 147

DANH Ả 148

160

Trang 7

1 ín ấp t ết ủ ề t

Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước giai đoạn mới đang đặt ra những yêu cầu cấp bách về nguồn lực con người có chất lượng cao - đó là con người phát triển toàn diện, hài hòa trí - đức - thể - mỹ

húng ta đang sống trong thời đại mới - thời đại văn minh, khoa học với sự phát triển vượt bậc của ngành công nghệ thông tin Sự phát triển này đã làm cho đời sống tinh thần con người ngày được nâng cao, tuy nhiên, k o theo đó là những tác động tiêu cực vào các mặt của đời sống đạo đức ột bộ phận không nhỏ của giới trẻ ngày nay chạy theo lối sống hưởng thụ vật chất mà bỏ qua những giá trị đạo đức là nền tảng cốt yếu của con người Vấn đề này đang là thách thức lớn cho các nhà giáo dục cũng như những người có trách nhiệm đối với sự phát triển hoàn thiện thế hệ trẻ của đất nước

“Tu i trẻ là tương lai của đất nước và nhân loại” - đó là câu khẳng định nhiều người đã biết hưng đối diện với thực tế thì ai cũng thấy lo lắng cho tương lai ấy Tình trạng học sinh x bài trước mặt thầy cô vì bị điểm thấp; quay cóp, nói tục, nói dối, thậm chí, cả những b đang ở lứa tu i tiểu học cũng biết chửi thề đang là thực tế diễn ra không phải là hiếm gặp hiện nay Báo chí đã phản ánh nhiều

vụ học trò đánh thầy cô, học trò chia băng phái “thanh toán” nhau ngay trước c ng trường, nghiện hút, vi phạm pháp luật hững vụ việc này xảy ra ngày càng nhiều, mức độ ngày một nghiêm trọng

ăm 2010, tại cuộc điều tra khảo sát tại 30 trường ại học, ao đẳng và một số trường ph thông trong cả nước do Vụ Văn hoá - Ban Tư tưởng văn hoá Trung ương phối hợp với Vụ ông tác học sinh - sinh viên (Bộ Giáo dục - ào tạo) thực hiện, đã đưa ra con số rất đáng suy nghĩ: 51,4% sinh viên cho rằng “sống thử trước hôn nhân là hiện tượng khá ph biến” và được coi là “bình thường”, tương ứng với đối tượng là học sinh ph thông thì con số này là 21,2%, cá biệt có hiện tượng quan hệ tình dục, sống thử ở lứa tu i học sinh trung học cơ sở là 18,9%

149 T lệ phạm tội của người trẻ cũng ngày một tăng cao Theo thống kê của Viện iểm sát nhân dân tối cao, nếu năm 1986 có 3.607 người chưa thành niên

Trang 8

phạm tội bị phát hiện thì đến năm 1996, con số này là 11.726 em Trung bình mỗi năm, trên cả nước có 4.746 người chưa thành niên phạm tội bị phát hiện Sự gia tăng đột biến của tệ nạn ma túy học đường ngày càng trở thành vấn đề nhức nhối

ếu như năm 2004, ch có 600 học sinh, sinh viên nghiện ma túy, thì đến năm

2007, con số này đã tăng lên 1.237 học sinh, sinh viên và đến năm 2010 tăng lên 3.209 trường hợp bị phát hiện và phải thực hiện biện pháp chữa bệnh bắt buộc tại các trung tâm cai nghiện ma túy 149

Trong bối cảnh chung đó, tình hình đạo đức và giáo dục đạo đức cho tu i trẻ nói chung, cho học sinh trung học cơ sở nói riêng tại Thành phố Hồ hí inh cũng có những biểu hiện xuống cấp và những bất cập nhất định ụ thể là, báo cáo công tác đội và phong trào thiếu nhi của oàn Thanh niên cộng sản Thành phố Hồ Chí Minh từ 2010 đến 2015 42-46 và báo cáo t ng kết năm học của Sở giáo dục

và đào tạo Thành phố Hồ hí inh các năm học từ 2012 đến 2015 134-137 cho thấy, tinh thần hăng say học tập, tình yêu lao động, tinh thần đoàn kết, ý thức k luật, lòng nhân ái, hiếu thảo, kính trọng ông bà, cha m , các đức tính khiêm tốn, thật thà, dũng cảm của học sinh trung học cơ sở tại Thành phố Hồ hí inh đều

ít nhiều có sự suy giảm ột số số liệu cho thấy giai đoạn 2007-2012 trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, các lực lượng công an đã điều tra hơn 49.000 vụ phạm pháp hình sự với gần 76.000 đối tượng người chưa thành niên phạm pháp ặc biệt,

số vụ án do người chưa thành niên phạm tội lần hai trở lên chiếm t lệ cao (44,8%) [166] ồng thời, những hiện tượng học sinh trung học cơ sở phạm pháp

và vi phạm k luật có chiều hướng gia tăng gây lo ngại cho các bậc phụ huynh và bức xúc cho xã hội iển hình là việc 3 nữ học sinh Trường trung học cơ sở Hoàng Văn Thụ quận 10 đánh bạn dã man rồi quay clip đưa lên mạng; một nhóm học sinh Trường trung học cơ sở Ngô Quốc Chí quận Thủ ức gây áp lực tống tiền bạn học

3 năm liền Sự xuống cấp đạo đức còn biểu hiện ở sự vô cảm, thái độ thiếu tích cực trước những hành động dũng cảm của bạn bè Chẳng hạn, khi nữ học sinh Phạm Song Toàn trường Trung học Long Thới lên tiếng về việc cô giáo suốt 3 tháng không giảng bài, đã không được bạn bè và nhà trường ủng hộ nên phải chuyển trường

Trang 9

Những hiện tượng như vậy có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân sâu

xa nhất là do công tác giáo dục đạo đức cho học sinh nói chung, cho học sinh trung học cơ sở tại Thành phố Hồ hí inh nói riêng chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn

Trong chiến lược phát triển con người, ảng và hà nước ta đề cao vai trò giáo dục đạo đức cho học sinh ph thông, những chủ nhân tương lai của đất nước Giáo dục đạo đức cho học sinh ph thông là nhiệm vụ quan trọng góp phần hoàn thiện nhân cách cho thế hệ trẻ, để họ thực hiện tốt những b n phận đạo đức của bản thân đối với việc học tập, rèn luyện, có trách nhiệm với gia đình và xã hội; giáo dục đạo đức giúp thế hệ trẻ nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng, tình cảm cách mạng trong sáng; bồi dưỡng ý chí, hành động đúng, hình thành những thói quen đạo đức đặc biệt là ý thức trách nhiệm công dân; đấu tranh khắc phục, ngăn chặn những biểu hiện thiếu đạo đức trong tư tưởng, tình cảm, hành động của học sinh; xây dựng nếp sống văn minh, thanh lịch, tích cực tham gia phòng chống tệ nạn xã hội; nhằm ngăn chặn tình trạng bạo lực trong học sinh; đảm bảo an ninh, trật tự trong trường học, kiềm chế, đẩy lùi tình trạng vi phạm pháp luật trong học sinh, sinh viên

Trong những năm vừa qua, Bộ Giáo dục - ào tạo chủ trương đẩy mạnh

chương trình Giáo dục toàn diện Giáo dục toàn diện không ch đơn thuần là cung

cấp cho học sinh một cách đầy đủ tri thức cần thiết cho cuộc sống mà quan trọng hơn là phải giáo dục đạo đức cho các em Tuy vậy, trên thực tế, chúng ta dường như ch chú trọng vào giáo dục kiến thức cho các em mà coi nh giáo dục đạo đức Công tác giáo dục đạo đức cho học sinh còn những tồn tại như: Việc xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức chưa cụ thể, phù hợp với đặc điểm tình hình mà thường xây dựng chung với kế hoạch chuyên môn; nội dung các hoạt động giáo dục đạo đức thực hiện ở mức độ trung bình; các phương pháp giáo dục đạo đức chưa được tốt, học sinh chưa thấy được tác dụng hiệu quả của các phương pháp trong việc rèn luyện bản thân; vai trò các lực lượng giáo dục chưa có sự phối hợp nhịp nhàng, thống nhất và đồng bộ; việc kiểm tra đánh giá nhiều lúc còn chiếu lệ, qua loa, chưa mang tính động viên, khuyến khích, răn đe kịp thời; giáo viên chủ nhiệm còn chưa xây dựng được kế hoạch cụ thể hàng tuần phù hợp với đặc thù riêng của lớp, ít quan tâm và đầu tư công sức vào công tác chủ nhiệm; ý thức thực

Trang 10

hiện nội quy của học sinh chưa cao, nhiều em thường xuyên vi phạm Chính vì vậy, cần có sự đ i mới trong giáo dục đạo đức cho học sinh

ể có những đ i mới trong giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở nói chung, cho học sinh trung học cơ sở tại Thành phố Hồ hí inh nói riêng, cần

có những nghiên cứu toàn diện từ các lĩnh vực: xã hội học, tâm lí học, giáo dục học và đặc biệt là, từ lĩnh vực triết học Trong thời gian qua, những nghiên cứu xã hội học, tâm lí học, giáo dục học về giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở tại Thành phố Hồ hí inh đã được tiến hành với những khuôn kh và những kết quả nhất định hững kết quả đó đã góp phần vào việc đẩy mạnh công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở tại Thành phố Hồ hí inh Tuy vậy, để nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học

cơ sở tại Thành phố Hồ hí inh, cần có thêm những nghiên cứu ở cấp độ triết học Bởi lẽ, từ cấp độ triết học, vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ

sở tại Thành phố Hồ hí inh sẽ được nhìn nhận một cách bao quát hơn, thông qua việc đánh giá thực trạng và xử lí những kết quả nghiên cứu ở các lĩnh vực cụ thể, để từ đó, có được những giải pháp định hướng căn cơ và toàn diện hơn Trên thực tế, những nghiên cứu ở cấp độ triết học như vậy chưa được thực hiện bởi một tác giả, một công trình nào

uất phát từ lý do trên, tôi chọn vấn đề “Giáo dục o c c o c sin trun c c sở t i T àn p ố Hồ C í Min iện n ” làm đề tài nghiên cứu cho

luận án triết học của mình

2 ụ í v n ệm vụ

2.1 Mục íc

Trên cơ sở hệ thống hóa, làm sáng tỏ một số vấn đề về giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở, luận án phân tích thực trạng, từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh

trung học cơ sở tại Thành phố Hồ hí inh hiện nay

2.2 N iệm vụ

ể thực hiện mục đích nêu trên, luận án tập trung giải quyết những nhiệm

vụ chủ yếu sau đây:

Trang 11

M t à khảo sát, đánh giá những tài liệu chủ yếu liên quan đến đề tài, từ

đó, xác định những vấn đề sẽ được nghiên cứu trong luận án

H i à hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về giáo dục đạo đức cho học

sinh trung học cơ sở: àm r các khái niệm; “đạo đức”; “giáo dục đạo đức”; “giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở”; xác định nội dung, các hình thức và những nhân tố tác động đến giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở tại Thành phố Hồ hí inh

Ba à phân tích sự cần thiết phải giáo dục đạo đức cho học sinh trung học

cơ sở tại Thành phố Hồ hí inh; khảo sát thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở tại Thành phố Hồ hí inh; phân tích, đánh giá và làm r nguyên nhân của thành tựu và hạn chế trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở tại Thành phố Hồ hí inh hiện nay

ốn à đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục

đạo đức cho học sinh trung học cơ sở tại Thành phố Hồ hí inh hiện nay

3 ố t ợn v p m v n ên u

3.1 Đối tượng nghiên cứu

ối tượng nghiên cứu của đề tài là giáo dục đạo đức cho học sinh trung học

cơ sở tại Thành phố Hồ hí inh

3.2 Phạm vi nghiên cứu

ề tài tập trung điều tra, phân tích tình hình giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở tại một số trường trên địa bàn quận Gò Vấp, quận Tân Phú, quận 1, quận 3, huyện ủ hi, huyện ần Giờ tại thành phố Hồ hí inh trong khoảng thời gian 5 năm từ năm 2011 đến năm 2016

4 ơ sở lí luận và p ơn p áp n ên u

4.1 Cơ sở lí luận

ơ sở lý luận của luận án là tư tưởng các nhà kinh điển của chủ nghĩa ác,

tư tưởng Hồ hí inh và quan điểm của ảng ộng sản Việt am về đạo đức, giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ Ngoài ra, tác giả còn kế thừa thành tựu của các

công trình nghiên cứu đã được công bố có liên quan đến đề tài

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Trang 12

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ

nghĩa duy vật lịch sử, luận án sử dụng các phương pháp: phân tích và t ng hợp, lịch

sử và logic, quy nạp và diễn dịch, so sánh, khái quát hóa; ngoài ra, do đây là một đề

tài có tính ứng dụng nên các phương pháp xã hội học cũng được thực hiện nhằm

tìm kiếm thêm dữ liệu và xử lí dữ liệu ụ thể là, tác giả đã tiến hành: quan sát,

phỏng vấn bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu các đối tượng: giáo viên, phụ huynh học

sinh, nhà quản lí giáo dục, chuyên gia; đặc biệt, trong quá trình phỏng vấn, tác giả

đã vận dụng quan điểm enic (quan điểm người trong cuộc) và etic (quan điểm

người ngoài cuộc)

5 n p m ủ luận án

- uận án đã làm sáng tỏ thêm nội hàm khái niệm đạo đức, giáo dục đạo

đức

- ã xác định đầy đủ hơn và phân tích rõ những nội dung, hình thức chủ

yếu, sự cần thiết cũng như những nhân tố tác động tới quá trình giáo dục đạo đức

cho học sinh trung học cơ sở tại Thành phố Hồ hí inh trong bối cảnh đ i mới

đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

- ã phân tích và đánh giá thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh trung

học cơ sở tại thành phố Hồ hí inh hiện nay; từ đó xác định những nguyên nhân

của thành tựu và hạn chế

- ã đề xuất và luận chứng cho một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao

hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở tại Thành phố Hồ hí

inh hiện nay

6 Ý n ĩ ủ luận án

- uận án góp phần làm sáng tỏ và đầy đủ hơn một số vấn đề lí luận về giáo

dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở

- ết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác

giáo dục đạo đức học sinh trung học cơ sở tại Thành phố Hồ hí inh nói riêng,

cho học sinh trung học cơ sở nói chung

7 ết ấu ủ luận án

goài phần mở đầu, danh mục công trình nghiên cứu của nghiên cứu sinh

có liên quan đến luận án, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án có 4 chương, 14 tiết

Trang 13

Ư 1

1.1 á n ên u l luận về o v áo ụ o

Việt am đã có nhiều tác giả nghiên cứu lý luận về đạo đức và giáo dục đạo đức, trong đó có thể kể đến những tác giả với những tác phẩm, công trình tiêu biểu như:

Trần Hậu iêm, Đ o c c 70 ; guyễn Văn ại Đ o c c: n ữn

n i dun c bản 27 ; Phạm hắc hương Đ o c c 21 ; Trần ăng Sinh ( hủ biên), Giáo trìn Đ o c c 132 Trong các giáo trình về đạo đức học,

đạo đức được các tác giả nhìn nhận từ các phương diện: bản chất, cấu trúc, vai trò, quan hệ của đạo đức với các lĩnh vực khác ồng thời, các tác giả cũng đi sâu nghiên cứu các phạm trù đạo đức học cơ bản với tư cách là sự phản ánh những giá trị, những phẩm chất đạo đức cơ bản của con người Từ lập trường của chủ nghĩa duy vật lịch sử, các tác giả nhìn nhận đạo đức như là một hiện tượng xã hội, có nguồn gốc từ lao động và các hoạt động xã hội của con người ể khẳng định tính khoa học của quan niệm duy vật lich sử về đạo đức, các tác giả đã phê phán các quan niệm duy tâm khách quan, duy tâm chủ quan, quan niệm ác uyn xã hội, quan niệm duy vật tầm thường và các quan niệm phi mác xít khác về đạo đức Theo các tác giả, điểm chung của các quan niệm này là nhìn nhận đạo đức như một bản thể phi xã hội, ở bên ngoài xã hội được gán gh p vào cho xã hội và con người; điều

đó vừa phi khoa học vừa phi thực tế Với tư cách một hiện tượng xã hội, đạo đức chính là một phương thức điều ch nh các hoạt động/hành vi người ặc trưng quan trọng nhất phân biệt sự điều ch nh bởi đạo đức và sự điều ch nh bởi pháp luật là ở

sự tự giác và tự nguyện của đạo đức hính tính tự giác và tự nguyện đó khiến cho đạo đức có vai trò, vị trí không thể thay thế trong đời sống xã hội và con người Trong những giáo trình nêu trên, vấn đề cấu trúc đạo đức cũng được các tác giả luận giải Theo đó, đạo đức không ch được nhìn nhận thuần túy như một hình thái

ý thức xã hội đặc thù mà còn là thực tiễn đạo đức, quan hệ đạo đức ạo đức cũng

có thể được nhìn nhận theo quan hệ chung-riêng, nghĩa là quan hệ giữa đạo đức xã hội, đạo đức giai cấp/tầng lớp và đạo đức cá nhân ột số tác giả đã nghiên cứu

Trang 14

đạo đức theo chiều lich đại hẳng hạn, Trần Hậu Kiêm trong Các d n o c xã

i 69 đã trình bày và phân tích bản chất, đặc trưng của đạo đức nguyên thủy, đạo

đức của xã hội chiếm hữu nô lệ, đạo đức của xã hội phong kiến, đạo đức tư bản và đạo đức của xã hội cộng sản mà giai đoạn đầu là đạo đức xã hội chủ nghĩa Trong khi trình bày các dạng đạo đức xã hội, tác giả cũng đã cho thấy, sự phủ định, sự vượt qua và sự kế thừa về mặt đạo đức trong tiến trình lịch sử nhân loại ối với đạo đức xã hội chủ nghĩa, các tác giả đều cho rằng, ở Việt am, quá trình xây dựng, giáo dục đạo đức mới, đạo đức cách mạng theo tư tưởng đạo đức Hồ hí inh chính là quá trình xây dựng đạo đức xã hội chủ nghĩa Chính vì vậy, giáo dục đạo đức mới trở thành một phương diện, một yếu tố hữu cơ của sự nghiệp đ i mới

xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Việc luận chứng cho vai trò của giáo dục đạo đức được thể hiện qua những công trình tiêu biểu sau: ghiêm Sỹ iêm, Vai trò của giáo dục đạo đức trong việc giáo dục thế hệ trẻ ở Việt am hiện nay 83 ; Phạm Tất Dong, ải tiến công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống cho học sinh và sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân 23 ; oàn thanh niên cộng sản Hồ hí inh, ề án tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống, bồi dưỡng lí tưởng cách mạng cho thanh thiếu niên giai đoạn 2013-2020 40 ; Trần inh oàn, Giáo dục đạo đức cho thanh niên, học sinh theo tư tưởng Hồ hí inh ở nước ta hiện nay 47 Trong những công trình này, các tác giả đã phân tích và khẳng định, giáo dục đạo đức góp phần hình thành và phát triển nhân cách con người nói chung, nhân cách thế hệ trẻ trong đó

có học sinh nói riêng Bởi lẽ, sự phát triển đạo đức vừa là cơ sở vừa là yếu tố thúc đẩy sự phát triển các năng lực nhận thức, thẩm mĩ cùng các năng lực thực tiễn của nhân cách ùng với điều đó, giáo dục đạo đức còn góp phần làm cho thế hệ trẻ đề kháng được những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế ặt giáo dục đạo đức trong bối cảnh xây dựng và phát triển đất nước, các tác giả cho rằng, nguồn lực con người là yếu tố trung tâm, đồng thời là yếu tố kết nối các nguồn lực tự nhiên và xã hội trong sự phát triển ào tạo con người, đào tạo nguồn nhân lực là công việc vừa cấp thiết, vừa liên tục, thường xuyên không lúc nào có thể xem nh Vì vậy, giáo dục đạo đức chính là nhằm góp phần hoàn thiện nhân cách, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho đất nước

Trang 15

ùng với việc phân tích vai trò của giáo dục đạo đức, các công trình trên đã xác định và phân tích vai trò của các chủ thể giáo dục đạo đức; theo đó ba chủ thể chủ yếu của giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ trong đó có học sinh bao gồm: gia

đình, nhà trường, xã hội ác công trình: ghiêm Sỹ iêm, V i trò củ i ìn tron việc iáo dục o c c o t ế ệ trẻ iện n 83 ; guyễn Thị Tố Quyên,

V i trò củ i ìn tron việc iáo dục o c c o trẻ em tuổi trun c c

sở t i ị bàn Hà N i 128 ; guyễn đức ạnh, V i trò củ i ìn ối với việc iáo dục trẻ em ư ở T àn p ố 100 đã phân tích vai trò của gia đình với tư cách

là chủ thể đầu tiên trong giáo dục đạo đứca cho trẻ em và học sinh ác tác giả đều cho rằng, giáo dục đạo đức trong giai đoạn đầu đời của con người là rất quan trọng Việc gia đình giáo dục đạo đức tốt hay không tốt có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành nhân cách của các em kể cả khi các em trưởng thành Vai trò của nhà trường

được trình bày và phân tích trong các công trình tiêu biểu sau: ỗ Tuyết Bảo, Giáo dục o c c o c sin trun c c sở tron iều kiện kin tế t ị trườn iện nay 7 ; yếu hội thảo khoa học do Sở giáo dục và đào tạo Thành phố Hồ hí Minh t chức, Nân c o c ất ượn iáo dục o c c o c sin trun c c sở

ở T àn p ố Hồ C í Min 138 ; Trần Văn Thắng, guyễn Thị Thu Hoài, N i dun tíc ợp d c c tập và àm t eo tấm ư n o c Hồ C í Min tron môn Giáo dục côn dân trun c c sở 145 ; Bộ giáo dục và đào tạo, Thông báo

số 314/T - GD ĐT về kết quả H i t ảo toàn quốc về côn tác iáo dục o c

ối sốn c o c sin sin viên n à 12/5/2014 ác tác giả nhìn nhận giáo dục

nhà trường như là sự tiếp tục và sự đồng hành với giáo dục gia đình Giáo dục nhà trường là giáo dục có bài bản và hệ thống hơn hà trường với tư cách chủ thể giáo dục có chức năng giáo dục tri thức và các chuẩn mực đạo đức cho học sinh nhằm giúp các em thực hiện tốt toàn bộ các nhiệm vụ học tập, rèn luyện nhân cách trong giai đoạn học sinh iều đó đòi hỏi nhà trường phải kết hợp tốt giữa giáo dục đạo đức với giáo dục văn hóa và t chức tốt các hoạt động ngoại khóa hữu ích

hìn nhận xã hội như một chủ thể giáo dục đạo đức, một số công trình nghiên cứu đã phân tích vai trò của các t chức chính trị, xã hội, các thiết chế văn hóa, chẳng hạn: oàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội khuyến học, ơ quan truyền thông, hà xuất bản, hà văn hóa ó là các công trình: oàn thanh nien cộng

Trang 16

sản Hồ hí inh, ề án tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống, bồi dưỡng lí tưởng cách mạng cho thanh thiếu niên giai đoạn 2013-2020 [40]; Thành phố Hồ hí inh, Báo cáo công tác ội và phong trào thiếu nhi năm học 2014-2015 [46]; Trần iều và cộng sự, Thực trạng và giải pháp giáo dục đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống cho thanh niên, học sinh trong hiến lược phát triển toàn diện con người Việt Nam thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 74 Trong các công trình trên, các tác giả cho rằng, cùng với gia đình, nhà trường, chủ thể xã hội có vai trò

và trách nhiệm cũng như có những lợi thế nhất định trong giáo dục đạo đức cho học sinh

1.2 á n ên u về t tr n áo ụ o v áo ụ o

o ọ s n trun ọ ơ sở t n p ố í inh ện n

Hiện tại, chưa có nhiều công trình nghiên cứu về thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở tại Thành phố Hồ hí inh Hơn thế, những nghiên cứu trong lĩnh vực này thường ch được thực hiện trong khuôn kh báo chí dưới dạng cảnh báo sự xuống cấp đạo đức của học sinh hoặc sự thiếu trách nhiệm của nhà trường, phụ huynh trong giáo dục đạo đức Vì thế để giải quyết các nhiệm

vụ của đề tài, chúng tôi mở rộng hơn phạm vi khảo sát, nghĩa là khảo sát cả thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên, qua đó tìm kiếm những tương đồng, những gợi ý cho việc đánh giá thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh trung học

cơ sở tại Thành phố Hồ hí inh Trong số những công trình được khảo sát, có những công trình, những tác giả tiêu biểu sau :

ỗ Tuyết Bảo với luận án Giáo dục o c c o c sin trun c c sở tron iều kiện kin tế t ị trườn 7 ây là luận án tiến sĩ ngành chủ nghĩa xã hội

khoa học được thực hiện vào năm 1996 ghiên cứu giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở trong điều kiện kinh tế thị trường, luận án tập trung phân tích những tác động của kinh tế thị trường tới đạo đức của học sinh trung học cơ sở, từ

đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục đạo đức cho đối tượng này Theo tác giả luận án, kinh tế thị trường làm biến đ i các giá trị, chuẩn mực đạo đức theo hướng đáp ứng các yêu cầu của kinh tế thị trường inh tế thị trường đòi hỏi con người phải năng động, sáng tạo, tự chủ, tự tin trong lao động sản xuất và trong các hoạt động sống iều đó có nghĩa là cái thiện về mặt

Trang 17

đạo đức gắn liền với cái lợi, cái có ích cho bản thân, gia đình và xã hội Hiệu quả,

có ích là tiêu chí, thước đo để đánh giá đạo đức con người Vì thế, trong điều kiện kinh tế thị trường, giáo dục đạo đức nói chung cũng như giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở nói riêng cần được định hướng bởi quan điểm và nguyên tắc

đó Theo đó, giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở cần gắn liền với giáo dục văn hóa, giáo dục lao động ói cách khác, bằng và thông qua giáo dục văn hóa, giá dục lao động mà giáo dục đạo đức cho học sinh Tuy nhiên, do mới chuyển sang kinh tế thị trường nên nền kinh tế ở nước ta mang tính chất của nền kinh tế chuyển đ i Cơ chế kinh tế và quản lí kinh tế bởi hà nước còn nhiều bỡ ngỡ, bất cập Do vậy, trên thực tế, đạo đức xã hội nói chung, đạo đức học sinh trung học cơ

sở nói riêng có những biểu hiện xuống cấp đáng lo ngại Thông qua những số liệu điều tra xã hội học, tác giả minh chứng cho những nhận định của mình; đồng thời nhận x t rằng, thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở còn hạn chế là do chưa thấy hết những biến động đạo đức dưới tác động có tính hai mặt của kinh tế thị trường Giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở dường như vẫn chưa vượt qua được lối giáo dục cũ ch nghiêng về truyền đạt những nguyên lí, những yêu cầu đạo đức sáo mòn và khô khan Theo tác giả cần có những đ i mới trong giáo dục đạo đức nói chung, giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở nói riêng Theo đó, không ch đ i mới các hình thức, nội dung giáo dục mà còn phải gắn giáo dục với việc từng bước hoàn thiện cơ chế thị trường theo định hướng

xã hội chủ nghĩa, để các hoạt động kinh tế, xã hội của con người trở nên lành mạnh, tạo môi trường xã hội thuận lợi cho giáo dục đạo đức

Theo chúng tôi, những phân tích, luận chứng của tác giả nhìn chung là thuyết phục và là những gợi ý cho chúng tôi trong việc thực hiện đề tài Tuy vậy, trong luận án này, do nhiệm vụ đựơc đặt ra, tác giả nghiêng nhiều về việc giải quyết quan hệ giữa kinh tế thị trường và đạo đức, mà chưa chú ý đúng mức tới tác động, ảnh hưởng của kinh tế thị trường tới bản thân công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở Hơn thế, đề tài đã được thực hiện khá lâu (1996), tình hình giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở nói chung, cho học sinh trung học cơ sở tại Thành phố Hồ hí inh nói riêng đã có nhiều biến đ i cần được nghiên cứu cụ thể và đầy đủ hơn

Trang 18

uận án tiến sĩ triết học của Trần inh oàn Giáo dục o c c o t n niên c sin t eo tư tưởn Hồ C í Min ở nước t iện n [47], đã có những

đánh giá bước đầu về giáo dục đạo đức cho thanh niên, học sinh theo tư tưởng Hồ

hí inh ể xác lập cơ sở cho đánh giá thực trạng, tác giả đã trình bày, lí giải nguồn gốc hình thành và hệ thống hóa nội dung chủ yếu trong tư tưởng Hồ hí inh về đạo đức cách mạng, đạo đức mới ồng thời, tác giả cũng phân tích những nguyên tắc giáo dục, xây dựng đạo đức mới theo tư tưởng Hồ hí inh ; đó là : nói đi đôi với làm, xây đi đôi với chống, tu dưỡng đạo đức suốt đời Trên cơ sở đó, tác giả cho rằng, cần giáo dục những nội dung đạo đức theo tư tưởng Hồ hí inh

và vận dụng sáng tạo những nguyên tắc xây dựng đạo đức của gười trong giáo dục đạo đức cho thanh niên, học sinh trong điều kiện hiện nay Theo tác giả, thực trạng giáo dục đạo đức cho thanh niên, học sinh còn tồn tại những hạn chế, những bất cập mà chủ yếu là chưa quán triệt và vận dụng một cách sáng tạo tư tưởng Hồ

hí inh về đạo đức hững nội dung, những yêu cầu đạo đức trong tư tưởng Hồ

hí inh như : cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư chưa được cụ thể hóa và diễn đạt lại cho phù hợp với các đối tượng cụ thể là thanh niên, học sinh trong điều kiện hiện nay ùng với điều đó, hạn chế còn ở chỗ, các hình thức, phương pháp giáo dục vẫn đơn giản, cứng nhắc, thiên về truyền đạt, thuyết lí Từ đó tác giả cho rằng, cần có những hình thức, phương pháp giáo dục đa dạng, sinh động, gắn kết với các hoạt động nghề nghiệp, hoạt động chính trị, xã hội của thanh niên, với học tập và rèn luyện của học sinh, sinh viên trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế

Các tác giả Trần iều, Vũ Trọng Rỹ, Hà hật Thăng, ưu Thu Thu với đề

tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước mã số H H 04: T ực tr n và iải p áp iáo dục o c tư tưởn c ín trị ối sốn c o t n niên c sin sin viên tron c iến ược p át triển toàn diện con n ười Việt N m t ời kỳ côn n iệp ó iện i ó ất nước [74]

Báo giáo dục và thời đại đã có bài phỏng vấn tiến sỹ Huỳnh ông inh,

nguyên Giám đốc Sở Giáo dục và ào tạo Thành phố Hồ hí inh về “Giáo dục

o c c o c sin : Tăn cườn tín trải n iệm tư n tác”[167] Qua ý kiến

trao đ i, ông Huỳnh ông inh cho rằng, giáo dục đạo đức trong nhà trường nói

Trang 19

chung và tại Thành phố Hồ hí inh nói riêng xưa nay luôn được tôn trọng, tuy mức độ đầu tư có khác nhau ó giai đoạn nội dung giáo dục đạo đức ch được tích hợp vào các môn học khác hay thể hiện qua hoạt động ngoại khóa, hoạt động đoàn thể Giai đoạn gần đây đạo đức được thể hiện thành môn học ở tiểu học và giáo dục công dân ở trung học ực lượng giáo viên dần dần được xây dựng, ban đầu dạy

gh p, sau đó trở thành chính quy, hầu hết giáo viên được đào tạo đúng chuyên môn.Về nội dung chương trình, thực hiện qua bộ sách giáo khoa do Bộ Giáo dục và

ào tạo ban hành, cung cấp khá đầy đủ các phẩm chất cần có của con người, tuy cách thể hiện chưa hấp dẫn và chưa làm n i bật trọng tâm cốt l i của nhân cách con người ngày nay nên chưa tạo được hiệu quả cao trong quá trình đào tạo iều khác biệt về phương pháp giáo dục hiện nay so với trước đây là xu thế đ i mới phát triển, người giáo viên đã giảm bớt lý thuyết hàn lâm, dành thời gian nhiều hơn cho học sinh trải nghiệm, giải quyết tình huống và tương tác nhiều hơn thông qua thầy

cô, bè bạn về những vấn đề mà bài học nêu ra, nâng cao hơn tính vững chắc trong quá trình hình thành nhân cách của trẻ, những điều đ i mới đó đã được Thành phố

Hồ hí inh thực hiện và ngày càng có hiệu quả

Về phương pháp giáo dục, ông cho rằng, thật ra phương pháp giáo dục các nước trên thế giới không khác nhau mấy, nếu có khác thì đó là khác về đẳng cấp, về mức tiến bộ Trên góc độ khoa học giáo dục, ai cũng đều hiểu rằng sự hình thành nhân cách con người là kết quả t ng hòa các mối quan hệ xã hội, ở đó có tác động của gia đình, của xã hội và của nhà trường hà trường là nhân tố chủ đạo trong quá trình giáo dục nhưng chúng ta không thể loại trừ các tác nhân quan trọng khác

là gia đình và xã hội Trình độ văn hóa của gia đình và xã hội có khả năng phát triển theo cấp số nhân với nội dung giáo dục của nhà trường nhưng cũng có thể làm giảm thiểu, thậm chí triệt tiêu kết quả quá trình giáo dục rất công phu của thầy cô giáo trong nhà trường Về giáo dục nhà trường, khoa học giáo dục ch ra rằng kết quả học tập của người học bao gồm quá trình nhận thức từ sự lắng nghe, quan sát, ghi ch p, trao đ i và vận dụng trải nghiệm trong tâm thế chủ động, tích cực, vui tươi, hăng hái, không thụ động, đối phó ên ở đâu, nhà giáo có điều kiện thực hiện tốt được các yêu cầu nêu trên là nền giáo dục ấy có đẳng cấp cao hơn iều kiện cần có của nhà giáo để đẳng cấp giáo dục được nâng cao là triết lý giáo dục phải r

Trang 20

ràng, đào tạo sư phạm tiến bộ, chế độ chính sách thỏa đáng, thiết chế t chức nhà trường và phương nước ta, đặc biệt tại Thành phố Hồ hí Minh, sự đ i mới phương pháp dạy học nói chung và đ i mới phương pháp giáo dục đạo đức nói riêng đã có sự chuyển biến tích cực theo hướng đẳng cấp mặc dù đang còn những trở ngại chưa được khắc phục một cách hiệu quả và kịp thời

Bên cạnh đó, theo ông, để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh tại Thành phố Hồ hí inh, trước hết, ở vĩ mô cần xác định r triết lý cho toàn bộ hệ thống giáo dục đất nước và toàn xã hội, nâng cao trách nhiệm của xã hội

và gia đình trong việc nâng cao dân trí, tinh thần thượng tôn pháp luật, trân trọng những giá trị văn hóa dân tộc và văn minh của nhân loại Trong nhà trường phải thực hiện phương pháp dạy học mới, tăng thực hành trải nghiệm, tạo điều kiện cho học sinh tương tác nhiều với thực tế thay cho phương pháp truyền thụ, khoa bảng,

từ chương Phải kết hợp tốt giữa khoa học tự nhiên và xã hội một cách hài hòa trong quá trình dạy học để hình thành nhân cách tốt đ p cho trẻ húng ta phải cảnh giác với thái độ thờ ơ hay bất lực trước những khó khăn, sai trái, lệch chuẩn của trẻ Tuyệt đối không tạo ra một phế phẩm sư phạm nào cho xã hội Và, quan trọng hơn

cả là mọi cấp quản lý giáo dục phải tham mưu cho được một cơ chế hoạt động phối hợp tốt các lực lượng xã hội và gia đình, tạo nên môi trường giáo dục hiệu quả để xây dựng và hoàn thiện nhân cách thế hệ trẻ nói chung và học sinh các cấp nói riêng

Trong năm 2007 sở giáo dục và đào tạo Thành phố Hồ hí inh đã t chức

hội thảo Nân c o c ất ượn iáo dục o c cho c sin trun c c sở ở

T àn p ố Hồ C í Min [138] Dựa trên tình hình thực tế và tầm quan trọng của

vấn đề đạo đức học sinh, Sở giáo dục và đào tạo Thành phố Hồ hí inh đã đánh giá thực trạng, xác định những nguyên nhân và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trên phương diện đạo đức hiện tại và hoạch định kế hoạch cho giai đoạn 10 năm tiếp theo 2007 - 2017 Qua hội thảo đã có nhiều công trình đóng góp quan trọng trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh ã có nhiều bài viết ch ra các nguyên nhân dẫn đến việc xuống cấp đạo đức của học sinh Theo các tác giả của hội thảo thì có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do các nguyên nhân chính sau đây làm ảnh hưởng đến đạo đức của các em, cụ thể:

Trang 21

M t à do sự phát triển của nền kinh tế ột nguyên nhân được đặt ra là

kinh tế xã hội phát triển ngày càng cao và sự bùng n thông tin, dẫn đến việc một

bộ phận gia đình khá giả chiều chuộng con mình, tạo nên sự đua đòi trong các em iện thoại di động, Internet, phim ảnh của các website đen đã tác động không nhỏ đến nhận thức, lối sống và cách hành xử của học sinh, làm hư hỏng học sinh bởi bản tính tò mò, hiếu động của tu i mới lớn Việc vi phạm đạo đức của học sinh không ch diễn ra ở địa bàn Thành phố, đô thị hay ch rơi vào trường hợp các em gia đình có điều kiện kinh tế ác trường vùng sâu, xa, học sinh nghèo chưa có điều kiện tiếp cận nhiều với Internet vẫn đang phải đối mặt với vấn nạn vi phạm đạo đức của học sinh

H i à do luật pháp chưa nghiêm hân cách là một thứ giá trị được xây

dựng và hình thành trong toàn bộ thời gian con người tồn tại trong xã hội, nó đặc trưng cho mỗi con người, thể hiện những phẩm chất bên trong con người nhưng lại mang tính xã hội sâu sắc Hình thành nhân cách, đạo đức một con người đâu ch giáo dục trong nhà trường ph thông là đủ hân cách của mỗi cá nhân trong xã hội

ít nhiều đều bị chi phối bởi cách mà xã hội đó đang hành xử với nhau ếu được sống trong một môi trường nghiêm minh về pháp luật, chuẩn mực về đạo đức, mọi người hành xử với nhau một cách có tình có lý, chắc chắn đó sẽ là một môi trường giáo dục lý tưởng trong việc hình thành nhân cách đạo đức của học sinh hững bài học mà các thầy cô giáo đang cố sức rao giảng để giáo dục đạo đức của học trò mình trên lớp dường như ngược lại với các hoạt động đang diễn ra trong cuộc sống

xã hội Ví như luật giao thông được đưa vào nhà trường để dạy cho các em, những công dân tương lai, sống và làm việc đúng luật pháp Thế nhưng khi ra đường các

em luôn phải chứng kiến những hành vi vi phạm an toàn giao thông của người lớn

mà đôi khi còn có cả cảnh sát giao thông

à do những tiêu cực mà các em hàng ngày phải chứng kiến hà

trường thường xuyên giáo dục các em về tính trung thực, phải biết vươn lên bằng chính đôi chân của mình hưng trong thực tế các em lại chứng kiến có quá nhiều người lớn không trung thực nhưng vẫn “thành đạt” Tệ nạn sử dụng bằng giả hay mua bằng, gian dối trong báo cáo thành tích, sự thiếu nghiêm minh của pháp luật tác động lên các em hàng ngày trách sao các em không thiếu niềm tin với những

Trang 22

điều học được trong nhà trường hững thứ mà các em đang học trong nhà trường dường như là một mớ lý thuyết không áp dụng được cho cuộc sống gay cả trong nhà trường các em cũng đã chứng kiến bao nhiêu là điều thiếu trung thực h với các ch tiêu về chất lượng bộ môn, chống lưu ban bỏ học, ph cập giáo dục cũng

đã làm cho những thầy cô của chúng phải chấp nhận với việc ai cũng làm như vậy

ốn à do chính nội dung giảng dạy trong nhà trường ột nguyên nhân

không k m phần quan trọng đó chính là chương trình giảng dạy đạo đức ở các cấp học ph thông hương trình đạo đức được thực hiện xuyên suốt, từ bậc ầm non

là giáo dục lễ giáo, bậc Tiểu học là môn ạo đức, bậc Trung học là môn Giáo dục công dân Thế nhưng các giáo viên dạy tiểu học cho rằng chương trình nặng tính lý thuyết, thiếu kỹ năng sống, lại không tạo được dấu ấn để tác động hình thành nhân cách học sinh hững bài học ý nghĩa, gần gũi với đời sống không được chú trọng

mà thay bằng những bài học quá trừu tượng Dạy đạo đức cho học sinh đâu ch có môn học ạo ức mà nó phải được tích hợp ở những bộ môn xã hội như ịch sử, Văn học

ác tác giả hội thảo đã ch ra rằng, chương trình sách giáo khoa giáo dục công dân bậc ph thông cần phải có những thay đ i từ nội dung đến phương pháp truyền đạt hững giá trị đạo đức, ứng xử trong đạo lý của người Việt am cần phải được chuyển tải trong những tình huống cụ thể, gần gũi để học sinh dễ tiếp cận, dễ nhớ ần dạy cho học sinh những giá trị đạo đức cơ bản của con người thay cho quá nhiều kiến thức triết học, hàn lâm, thiếu vắng việc hình thành những thói quen đạo đức và kỹ năng sống phù hợp với những chuẩn mực xã hội

1.3 á n ên u l ên qu n ến ả p áp n n o ệu quả ủ áo

ụ o o ọ s n v ọ s n trun ọ ơ sở t n p ố í

n ện n

Trong những năm gần đây, đã có nhiều dư luận xã hội nói về thực trạng giáo dục đạo đức cho thanh thiếu niên học sinh trong và ngoài nhà trường, những cảnh báo và đề ra phương hướng giải pháp để giải quyết vấn đề thật sự sôi n i trên các báo, tạp chí, hội thảo khoa học, đề tài khoa học với những công trình đáng quan tâm như :

Trang 23

ác tác giả Phạm ôn Sơn, Tô Quốc Tuấn trong công trình Giáo dục o

c c o trẻ ư 140 đã xác định trách nhiệm của các chủ thể giáo dục; theo đó,

trách nhiệm chính để cải hoá trẻ hư là ở gia đình, tuy nhiên cũng có mối tương quan giữa các môi trường khác là nhà trường và xã hội trong đó có oàn, ội, Hội

và những t chức khác có liên quan 140, tr.6 ác tác giả đã đề xuất một số giải pháp hữu ích khi giáo dục đạo đức cho trẻ tại gia đình; đó là giáo dục đạo đức cho trẻ với tấm gương là cha m , ông bà và người lớn trong gia đình phải có lối sống chuẩn mực, đồng thời phải có sự phối hợp giữa 3 nhân tố gia đình nhà trường và xã hội trong vấn đề giáo dục đạo đức cho các em

ề tài Qu n ệ biện c n iữ tru ền t ốn và iện i tron giáo dục

o c c o t n niên Việt N m iện n [140] của ê Thị Hoài Thanh đã phân

tích quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại trong giáo dục đạo đức cho thanh niên Trên cơ sở giáo dục đạo đức, thực trạng việc kết hợp lý luận và thực trạng đó, đề tài nêu một số giải pháp cụ thể: ết hợp giáo dục truyền thống và hiện đại trong gia đình, nhà trường và xã hội, tạo môi trường giáo dục lành mạnh và thống nhất; kết hợp giáo dục đạo đức với giáo dục pháp luật, tạo môi trường pháp

lý cho việc kết hợp truyền thống và hiện đại trong giáo dục đạo đức; kết hợp các phương pháp giáo dục truyền thống với các phương pháp giáo dục hiện đai, đ i mới hình thức và phương pháp giáo dục

ề tài nghiên cứu khoa học đặc biệt Đ o c sin viên tron quá trình

c u ển s n nền kin tế t ị trườn ịn ướn xã i c ủ n ĩ ở Việt N m –T ực

tr n vấn ề và iải p áp, mã số: QG.01.08 do Trương Văn Phước làm chủ nhiệm

[124] đã phân tích sự chuyển đ i thang giá trị đạo đức trong kinh tế thị trường và tác động của kinh tế thị trường đối với đạo đức của sinh viên trong giai đoạn từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường đến năm 2003, cho thấy tình hình đạo đức của sinh viên trong điều kiện đó là khá phức tạp, bên cạnh những sinh viên biết

kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống trong điều kiện đ i mới đất nước, biết tiếp nhận những giá trị đạo đức mới để khẳng định nhân cách thì còn một bộ phận sinh viên sống thiếu lành mạnh, không chịu rèn luyện tu dưỡng Từ

đó, đề tài nêu một số vấn đề đặt ra để xây dựng nhân cách đạo đức sinh viên như:

ảm bảo sự phát triển đồng bộ giữa kinh tế thị trường và đạo đức sinh viên; vấn đề

Trang 24

truyền thống và hiện đại trong xây dựng đạo đức sinh viên; vấn đề dân tộc và quốc

tế trong xây dựng đạo đức cho sinh viên ồng thời, đề tài nêu một số giải pháp phát huy tác động tích cực, hạn chế tác động tiêu cực của kinh tế thị trường trong quá trình xây dựng đạo đức mới cho sinh viên như: tăng cường giáo dục chính trị,

tư tưởng, đạo đức, lối sống cho sinh viên; đ i mới nội dung và phương pháp giảng dạy các bộ môn khoa học ác – Lênin nói chung và đạo đức học nới riêng theo phương pháp dạy học tích cực; nâng cao chất lượng văn hóa và chuyên môn; gắn giáo dục nhà trường với giáo dục xã hội trong công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên; phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo, tự giáo dục, tự rèn luyện của sinh viên; nâng cao vai trò của t chức oàn thanh niên, Hội sinh viên trong việc xây dựng đạo đức cho sinh viên

ác tác giả Hội thảo Nân c o c ất ượn iáo dục o c c sin trun

c p ổ t ôn ở T àn p ố Hồ C í Min do sở giáo dục và đào tạo Thành phố Hồ

hí inh t chức [137], đã đề xuất nhiều giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong giáo dục và phát triển nhân cách, đạo đức lối sống cho học sinh trung học cơ sở Tựu chung các tác giả đều xoay quanh 3 nhóm giải pháp chủ yếu sau:

M t à thường xuyên chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng, lối sống trong

sạch, lành mạnh cho học sinh ây là giải pháp cơ bản nhằm xây dựng, hình thành nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa, vì đạo đức là “gốc của người cách mạng” Trước hết cần quan tâm giáo dục những vấn đề cơ bản về chủ nghĩa ác- ênin, tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ hí inh, nhằm xây dựng cho học sinh thế giới quan, phương pháp luận đúng đắn để giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra hú trọng giáo dục làm cho học sinh nhận thức đúng các giá trị chân, thiện,

mỹ, những giá trị truyền thống tốt đ p của dân tộc hà trường, gia đình, các t chức, đoàn thể, đặc biệt ội Thiếu niên tiền phong Hồ hí inh, oàn thanh niên ộng sản Hồ hí inh phải thường xuyên quan tâm bồi dưỡng cho học sinh những tình cảm cao đ p về tình yêu quê hương, đất nước Từ đó hình thành cho họ lối sống trong sạch, lành mạnh, những hành vi đạo đức trong sáng phù hợp giá trị truyền thống tốt đ p của dân tộc và thời đại

Hai là, phải kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong việc

giáo dục, rèn luyện đạo đức, lối sống cho học sinh ây là vấn đề có ý nghĩa quan

Trang 25

trọng nhằm phát huy sức mạnh t ng hợp của các t chức, các lực lượng cùng chăm

lo giáo dục, rèn luyện đạo đức, lối sống cho học sinh, hình thành phẩm chất cao đ p của con người mới xã hội chủ nghĩa Trước hết gia đình là nơi lưu giữ các giá trị đạo đức truyền thống tốt đ p của dân tộc, là môi trường đầu tiên hình thành đạo đức cho học sinh Gia đình là nơi mà tình yêu quê hương, đất nước, yêu thương con người được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Do đó trong gia đình, ông bà, cha m phải thật sự mẫu mực, làm gương về đạo đức, yêu thương, chăm lo bồi dưỡng thế hệ trẻ ể giáo dục đạo đức cho học sinh, mỗi gia đình cần giữ gìn đạo đức, nề nếp gia phong, phát huy các giá trị đạo đức truyền thống, làm cho các giá trị đó ngày càng toả sáng, góp phần bồi dưỡng tư tưởng tình cảm cao đ p cho thế

hệ con cháu hà trường không ch dạy chữ, dạy nghề mà còn là nơi dạy người Giáo dục lý tưởng, đạo lý làm người là nội dung giáo dục hàng đầu trong nhà trường hiện nay và phải đặc biệt coi trọng ột số nhà trường mới ch quan tâm trang bị kiến thức chuyên môn mà xem nh hoặc thiếu quan tâm giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh Học sinh ngày nay đang sống trong thời kỳ bùng n thông tin, kinh tế tri thức phát triển mạnh mẽ, giao lưu quốc tế ngày càng mở rộng ác

em đã và đang chịu ảnh hưởng cả mặt tích cực và mặt tiêu cực từ môi trường kinh

tế, xã hội Vì vậy các t chức, đoàn thể cần quan tâm định hướng tạo môi trường thuận lợi để học sinh phấn đấu, rèn luyện, trưởng thành ấp u đảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể, nhất là oàn thanh niên ộng sản Hồ hí inh cần t chức nhiều hoạt động phong phú, đa dạng để thu hút, rèn luyện học sinh theo các chuẩn mực đạo đức cách mạng ịp thời biểu dương, nhân rộng cách làm hay và kiên quyết uốn nắn những thiếu sót, lệch lạc, những biểu hiện lệch chuẩn trong đạo đức, lối sống

Ba là, phát huy vai trò tự học tập, tự du dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống

của học sinh Học sinh là lớp người nhạy cảm với cái mới, cái tiến bộ Phát huy vai trò của học sinh trong tự học tập, tự tu dưỡng đạo đức lối sống là biện pháp quan trọng giúp họ nhanh chóng tiến bộ, trưởng thành ó còn là điều kiện quyết định kết quả rèn luyện của mỗi cá nhân Trước hết phải hình thành cho các em nhu cầu, động cơ phấn đấu, rèn luyện đúng đắn, làm cho mỗi người có ý thức làm chủ, ham học hỏi, cầu tiến bộ, vươn lên tự khẳng định mình ần tạo mọi điều kiện thuận lợi

Trang 26

để học sinh phấn đấu, rèn luyện; đồng thời phải thường xuyên theo d i, kiểm tra, đánh giá kết quả, định hướng phấn đấu cho học sinh Quan tâm đáp ứng những nhu cầu chính đáng về vật chất, tinh thần; giao nhiệm vụ phù hợp với sở trường, năng khiếu, đặc điểm tâm, sinh lý của họ sẽ tạo điều kiện tốt để các em rèn luyện đạo đức, lối sống ỗi học sinh phải xác định r trách nhiệm trước T quốc và nhân dân, sống có lý tưởng, có hoài bão, khát khao vươn tới cái mới, cái tiến bộ Bản thân mỗi người tự giác rèn luyện, biết tự kiềm chế, biết vượt qua những cám dỗ và tiêu cực xã hội, những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, ích k , thực dụng, lợi mình hại người Học sinh cần phải tự tin vào chính mình, giữ vững niềm tin trong cuộc sống, vào các giá trị chân, thiện, mỹ; vượt qua mọi khó khăn gian kh như Bác Hồ

đã dạy: “gian nan rèn luyện mới thành công” Thực hiện tốt một số giải pháp giáo dục rèn luyện đạo đức cách mạng cho học sinh trong thời kỳ ông nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế thế giới là góp phần đào tạo, giáo dục thế hệ trẻ vừa

“hồng”, vừa “chuyên”, chủ nhân tương lai đưa nước nhà vững bước tiến cùng các dân tộc tiên tiến

1.4 á quát á ết quả n ên u v n ữn vấn ề luận án sẽ sâu n ên u

Qua t ng quan tình hình nghiên cứu trên đây, chúng tôi nhận thấy những vấn đề lí luận về đạo đức, giáo dục đạo đức đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đã làm sáng tỏ được một số nội dung sau:

ạo đức là một hiện tượng xã hội, mang bản chất xã hội ạo đức được hình thành và phát triển gắn liền với sự hình thành và phát triển của xã hội và con người ạo đức mang tính dân tộc, tính giai cấp (trong điều kiện xã hội phân chia thành giai cấp) và tính thời đại ạo đức là hoạt động tinh thần-thực tiễn của con người; do đó, cấu trúc của đạo đức bao gồm: ý thức đạo đức, thực tiễn đạo đức và quan hệ đạo đức ạo đức là hiện tượng xã hội nhưng biểu hiện trực tiếp qua hoạt động của các cá nhân ỗi cá nhân với tư cách con người đạo đức tự nguyện và tự giác điều ch nh hoạt động sống của mình theo các yêu cầu, các chuẩn mực, các giá trị xã hội hờ thế mà đạo đức có vai trò không thể thay thế trong toàn bộ sự vân động và phát triển của xã hội loài người ạo đức được hình thành vừa tự phát vừa

tự giác ùng với sự phát triển ngày càng có tính tự giác hơn của lịch sử, vai trò của

Trang 27

đạo đức ngày càng được nhận thức đầy đủ hơn Do vậy, giáo dục đạo đức ngày càng được quan tâm ặc biệt, trong điều kiện đ i mới, thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, giáo dục đạo đức càng trở nên có ý nghĩa

và cần thiết

ùng với việc khẳng định sự cần thiết của giáo dục đạo đức, các công trình nghiên cứu trên cũng đã ch ra và phân tích vai trò của các yếu tố cấu thành giáo dục đạo đức ó là: chủ thể, đối tượng, mục tiêu, nội dung, phương pháp và các nhân tố tác động đến giáo dục đạo đức hiều công trình đã đề cập đến yêu cầu đ i mới giáo dục đạo đức nhằm đáp ứng các yêu cầu của đ i mới, thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ột số công trình nghiên cứu theo hướng ứng dụng đã nghiên cứu giáo dục đạo đức cho những đối tượng, những tầng lớp xã hội

cụ thể ể xây dựng cơ sở lí luận cho việc thực hiện đề tài luận án, việc hệ thống hóa để kế thừa và làm r hơn những vấn đề lí luận về đạo đức và giáo dục đạo đức

ùng với những nghiên cứu lí luận, các công trình trên đã nghiên cứu và đánh giá thực trạng giáo dục đạo đức nói chung và thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên nói riêng hững thành tựu hoặc hạn chế trong giáo dục đạo đức thường được phân tích thông qua hoạt động của các chủ thể, kết quả của của giáo dục tức là sự tiến bộ hoặc là sự thoái bộ của các đối tượng được giáo dục Các nghiên cứu thường đưa ra những số liệu điều tra xã hội học để minh chứng cho các nhận định về thực trạng giáo dục đạo đức Tuy vậy, những công trình đề cập đến hoạt động của các chủ thể là không nhiều và thường xác định một cách chung chung là kết hợp ba chủ thể, ba môi trường giáo dục đạo đức: gia đình, nhà trường,

xã hội Theo chúng tôi, cần đánh giá đầy đủ và cụ thể hơn thực trạng hoạt động của các chủ thể; bởi đó mới chính là thực trạng của giáo dục đạo đức ồng thời, việc minh chứng cho các nhận x t, đánh giá thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh không nên ch giới hạn ở thực trạng đạo đức của họ, nghĩa là ở hoạt động lao động, sản xuất, học tập, hoạt động xã hội của học sinh, sinh viên iều đó là cần thiết, tuy nhiên, để minh chứng cho đánh giá thực trạng giáo dục đạo đức cần phải bao quát những dữ liệu đa dạng hơn, theo đó có các đánh giá chính thống, các báo cáo thường niên của các chủ thể giáo dục hững thành tựu trong nghiên cứu về thực trạng giáo dục đạo đức thời gian qua tuy không trực tiếp liên quan đến học sinh tại

Trang 28

Thành phố Hồ hí inh nhưng cũng là những định nhướng, những gợi ý cho chúng tôi trong nghiên cứu về thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh trung học

cơ sở tại Thành phố Hồ hí inh

Trong thời gian qua, cùng với việc nghiên cứu thực trạng giáo dục đạo đức, các công trình nghiên cứu cũng đã đề xuất nhiều giải pháp cần thiết cho giáo dục và nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho nhiều đối tượng khác nhau ó công trình nhấn mạnh các giải pháp từ phía chủ thể hẳng hạn, nâng cao nhận thức và năng lực t chức thực hiện giáo dục đạo đức; đa dạng hóa các hình thức, các biện pháp,

đ i mới nội dung giáo dục đạo đức; kết hợp giáo dục gia đình, nhà trường xã hội

ó công trình chú ý đến đối tượng giáo dục đạo đức hẳng hạn, tạo điều kiện thuận lợi khuyến khích tính tích cực chủ động tự giáo dục của học sinh, sinh viên;

ột số công trình nhấn mạnh vai trò của môi trường xã hội, văn hóa Hiện chưa

có công trình nào trực tiêp đề xuất giải pháp giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở tại Thành phố Hồ hí inh Tuy vậy, về cơ bản, các giải pháp đó đều có thể vận dụng vào giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở tại Thành phố Hồ

hí inh ó điều, cần sắp xếp lại, hệ thống hóa và cụ thể hóa, đồng thời, b sung những nội dung cụ thể hơn cho phù hợp với đối tượng là học sinh trung học cơ sở tại Thành phố Hồ hí inh hiện nay

ế thừa những thành tựu nghiên cứu trên và vận dụng vào một đề tài có tính ứng dụng cụ thể, trong luận án này chúng tôi sẽ đi sâu nghiên cứu những nội

dung chủ yếu sau: M t à hệ thống hóa và làm sáng tỏ hơn nữa một số vấn đề lí

luận về giáo dục đạo đức như: bản chất, cấu trúc, vai trò đạo đức và giáo dục đạo đức; các chủ thể, nội dung, đối tượng, phương pháp và các nhân tố tác động đến giáo dục đạo đức, giáo dục đạo đức cho học sinh, học sinh trung học cơ sở và đặc

biệt là học sinh trung học cơ sở tại Thành phố Hồ hí inh hiện nay H i à phân

tích, đánh giá thực trạng (thành tựu, hạn chế và nguyên nhân) của giáo dục đạo đức trong các trường trung học cơ sở tại Thành phố Hồ hí inh hiện nay thông qua các đánh giá chính thống của các cơ quan hữu trách, qua kết quả của các đề tài nghiên cứu khoa học, các công trình khoa học có liên quan, qua các phương tiện

truyền thông, báo chí và qua những khảo sát của bản thân tác giả à đề xuất

Trang 29

những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả của giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở tại Thành phố Hồ hí inh trong giai đoạn hiện nay

Trang 30

Tuy nhiên, do mục tiêu, nhiệm vụ của các công trình cụ thể chưa đặt ra hoặc ít bàn đến vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh, đặt biệt là học sinh trung học

cơ sở tại thành phố Hồ hí inh, cho đến nay, theo tác giả luận án, nội dung này vẫn còn nhiều vấn đề phải được tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ

Trong phạm vi của luận án, chúng tôi mong muốn sẽ đóng góp một phần khiêm tốn vào việc luận giải thêm vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức cho học sinh

ph thông tại thành phố Hồ hí inh ể làm sáng tỏ thêm nội dung đề tài, trong khuôn kh h p của luận án ch đặt ra một vài vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu như sau:

M t à hệ thống hóa và làm sáng tỏ hơn nữa một số vấn đề lí luận về giáo

dục đạo đức

H i à phân tích, đánh giá thực trạng (thành tựu, hạn chế và nguyên nhân)

của giáo dục đạo đức trong các trường trung học cơ sở tại Thành phố Hồ hí inh hiện nay

à đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả của giáo

dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở tại Thành phố Hồ hí inh trong giai đoạn hiện nay

Trang 31

Với định nghĩa như vậy, đạo đức là t ng hòa của ba phương diện sau:

T n ất o c à m t ìn t ái ý t c xã i ặc t ù ã hội học trước

ác không thể giải quyết một cách khoa học vấn đề nguồn gốc và thực chất của đạo đức ó xuất phát từ “mệnh lệnh của thượng đế”, “ý niệm tuyệt đối, lý tính trừu tượng”, bản tính bất biến của loài người, chứ không xuất phát từ điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, từ quan niệm xã hội hiện thực để suy ra toàn bộ lĩnh vực tư tưởng trong đó có tư tưởng đạo đức

Theo ác và Ăngghen, trước khi sáng lập các thứ lý luận và nguyên tắc bao gồm cả triết học và luân lí học, con người đã hoạt động, tức là đã sản xuất ra các tư liệu vật chất cần thiết cho đời sống Ý thức xã hội của con người là phản ánh tồn tại xã hội của con người ác hình thái ý thức xã hội khác nhau tuỳ theo phương thức phản ánh tồn tại xã hội và tác động riêng biệt đối với đời sống xã hội

Trang 32

ạo đức cũng vậy, nó là hình thái ý thức xã hội phản ánh một lĩnh vực riêng biệt trong tồn tại xã hội của con người ạo đức cũng như các quan điểm triết học, chính trị, nghệ thuật, tôn giáo điều mang tính chất của kiến trúc thượng tầng hế

độ kinh tế xã hội là cơ sở của đạo đức; đạo đức của mỗi hình thái kinh tế-xã hội phải thích ứng với cơ sở kinh tế sản sinh ra nó Ví dụ, thích ứng với chế độ phong kiến, dựa trên cơ sở bóc lột những người nông nô bị cột chặt vào ruộng đất là đạo đức chế độ nông nô Thích ứng với chế độ tư bản, dựa trên cơ sở bóc lột người công nhân làm thuê là đạo đức tư sản hế độ xã hội chủ nghĩa tạo ra một nền đạo đức biểu hiện mối quan hệ hợp tác trên tình đồng chí và quan hệ tương trợ xã hội chủ nghĩa của những người lao động đã được giải phóng khỏi ách bóc lột hư vậy,

sự phát sinh và phát triển của đạo đức, x t đến cùng là một quá trình do sự phát triển của phương thức sản xuất quyết định

T i o c à m t p ư n t c iều c ỉn àn vi củ con n ười

oài người đã sáng tạo ra nhiều phương thức điều ch nh hành vi con người: phong tục, tập quán, tôn giáo, pháp luật, đạo đức ối với đạo đức, sự điều ch nh hành vi con người theo khuôn ph p chuẩn mực và qui tắc đạo đức biểu hiện thành những khái niệm về thiện và ác, vinh và nhục, chính nghĩa và phi nghĩa ác khái niệm thiện ác, khuôn ph p và qui tắc hành vi của con người thay đ i từ thời đại này sang thời đại khác, từ dân tộc này sang dân tộc khác Và trong xã hội có giai cấp thì bao giờ cũng biểu hiện lợi ích của một giai cấp nhất định hững khuôn kh p (chuẩn mực) và qui tắc đạo đức là yêu cầu của xã hội hoặc của một giai cấp nhất định đề ra cho hành vi mỗi cá nhân ó bao gồm hành vi của cá nhân đối với xã hội (đối với

t quốc, nhà nước, giai cấp mình và giai cấp đối địch ) và đối với người khác hững chuẩn mực và quy tắc đạo đức nhất định được công luận của xã hội, hay một giai cấp, dân tộc thừa nhận đây quan niệm của cá nhân về nghĩa vụ của mình đối với xã hội và đối với người khác (khuôn phép hành vi) là tiền đề của hành

vi đạo đức của cá nhân ã là một thành viên của xã hội, con người phải chịu sự giáo dục nhất định về ý thức đạo đức, một sự đánh giá đối với hành vi của mình và trong hoàn cảnh nào đó còn chịu sự khiển trách của lương tâm Cá nhân phải chuyển hóa những đòi hỏi của xã hội và những biểu hiện của chúng thành nhu cầu, mục đích và hứng thú trong hoạt động của mình Biểu hiện của sự chuyển hóa này

Trang 33

là hành vi cá nhân tuân thủ những ngăn cấm, những khuyến khích, những chuẩn mực phù hợp với những đòi hỏi của xã hội Do vậy sự điều ch nh đạo đức mang tính tự nguyện, và x t về bản chất, đạo đức là sự lựa chọn tự do của con người

T b o c à m t ệ t ốn các iá trị

ác hiện tượng đạo đức (bao hàm cả ý thức, thực tiễn và quan hệ đạo đức) bao giờ cũng hiện diện như là sự khẳng định, hoặc là phủ định một lợi ích nhất định của một cộng đồng, một giai cấp, một dân tộc nhất định à khẳng định hoặc phủ định một lợi ích, thì hiện tượng đạo đức đó cũng hoặc là có giá trị, hoặc là vô/phản giá trị đối với cộng đồng, giai cấp, dân tộc đó Vì vậy, đạo đức là một nội dung hợp thành hệ thống trị xã hội ũng như các hệ thống giá trị tinh thần khác, các giá trị đạo đức mang tính phân cực Sự phân cực chung nhất đặc trưng cho giá trị đạo đức

là sự phân cực thiện và ác ơ sở của sự phân định thiện và ác là lợi ích của một cộng đồng, một giai cấp, một dân tộc nhất định Theo đó, thiện tất cả những gì góp phần vào việc thực hiện lợi ích của một cộng đồng, một giai cấp, một dân tộc; còn

ác là tất cả những gì cản trở việc thực hiện lợi ích đó Tuy vậy, thiện và ác ch đối lập một cách tuyệt đối trong giới hạn đời sống đạo đức của một cộng đồng, một dân tộc, một giai cấp nhất định trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định Trong giới hạn này, đã là thiện thì không thể là ác goài giới hạn kể trên, thiện và ác có thể chuyển hóa lẫn nhau; cái là thiện của thời đại này, dân tộc này có thể là ác của thời đại khác, dân tộc khác Sự hình thành phát triển và hoàn thiện hệ thống giá trị đạo đức không tách rời sự phát triển và hoàn thiện của ý thức đạo đức và sự điều ch nh đạo đức ếu hệ thống giá trị đạo đức phù hợp với sự phát triển, tiến bộ, thì hệ thống ấy có tính tích cực, mang tính nhân đạo gược lại, thì hệ thống ấy mang tính tiêu cực, phản động, phản nhân đạo

2.1.2 Cấu trúc của đạo đức

ạo đức vận hành như là một hệ thống tương đối độc lập của xã hội ơ chế vận hành của nó được hình thành trên cơ sở liên hệ và tác động lẫn nhau của những yếu tố hợp thành đạo đức hi phân tích cấu trúc của đạo đức người ta xem

x t nó dưới nhiều góc độ ỗi góc độ cho ph p chúng ta nhìn ra một lớp cấu trúc xác định hẳng hạn: x t đạo đức theo mối quan hệ giữa ý thức và hoạt động thì hệ thống đạo đức hợp thành từ hai yếu tố ý thức đạo đức và thực tiễn đạo đức ếu x t

Trang 34

nó trong mối quan hệ giữa người và người thì người ta nhìn ra quan hệ đạo đức

ếu x t theo quan điểm về mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, cái ph biến cái đặc thù với cái đơn chất thì đạo đức được tạo nên từ đạo đức xã hội và đạo đức

o c ác cảm xúc đạo đức nảy sinh trong những tình huống cụ thể khi con

người hoạt động và giao tiếp ó là những cảm xúc vui, buồn, yêu, gh t, phấn khích, bất an hững cảm xúc đạo đức một khi được định hình và củng cố thì trở thành tình cảm đạo đức có tính bền vững Tình cảm đạo đức có vai trò to lớn trong việc xác lập xu hướng của nhân cách Tình cảm đạo đức có những biểu hiện đa dạng: tình bạn, tình đồng chí, tình yêu quê hương, đất nước ảm xúc và tình cảm đạo đức không ch là sự phản ánh thực tiễn đạo đức mà còn biểu hiện thái độ của chủ thể trước các hiện tượng đạo đức Vì thế, chúng có chức năng điều ch nh các hoạt động, các quan hệ đạo đức của cộng đồng và cá nhân

cấp độ lí tính, ý thức đạo đức bao hàm: tri t c o c c uẩn mực o

c và í tưởn o c Tri t c o c được hình thành và hoàn thiện trong quá

trình nhận thức đạo đức của chủ thể Tri thức đạo đức bao hàm: tri thức kinh nghiệm và tri thức lí luận Tri thức kinh nghiệm là những tri thức thông thường về cái thiện, cái ác, đức hạnh và thói xấu, có đạo đức và vô đạo đức ó là những tri thức không thể thiếu được đối với mỗi con người bình thường; những tri thức này điều ch nh các hoạt động, các quan hệ thường nhật của con người Tri thức lí luận

là tri thức biểu hiện dưới dạng những quan điểm, quan niệm khái quát về thiện, ác, hạnh phúc, ý nghĩa cuộc sống và về những chuẩn mực, những giá trị đạo đức của cả cộng đồng hác với tri thức kinh nghiệm, tri thức lí luận phản ánh thực tiễn đạo đức một cách toàn diện và sâu sắc; do vậy, tri thức lí luận đáp ứng yêu cầu phát triển, hoàn thiện đạo đức trên phạm vi cộng đồng, xã hội

Trang 35

C uẩn mực o c chính là những khuôn mẫu hành vi nhằm thực hiện các

đòi hỏi của xã hội đối với mỗi con người với tư cách là thành viên của xã hội hững đòi hỏi của xã hội thể hiện trong chuẩn mực đạo đức có những nội dung cụ thể khác biệt nhau, nhưng tựu trung có hai mức độ: khuyến khích và ngăn cấm huẩn mực đạo đức thể hiện tập trung chức năng điều ch nh của đạo đức Vì vậy, chuẩn mực đạo đức không ch là đặc trưng phân biệt đạo đức với các lĩnh vực khác,

mà còn phân biệt các lĩnh vực đạo đức với nhau

Lí tưởn o c là sự phản ánh thực tiễn đạo đức trong xu thế vận động và

phát triển ếu chuẩn mực đạo đức phản ánh cái hiện tại thì lí tưởng đạo đức phản ánh cái tương lai Tuy phản ánh cái tương lai nhưng lí tưởng đạo đức chân chính không tách rời hiện thực Thực tiễn đạo đức là mảnh đất nuôi dưỡng lí tưởng đạo đức và là điều kiện để hiện thực hóa lí tưởng hác với chuẩn mực đạo đức, lí tưởng đạo đức không thể hiện đươi dạng khuôn mẫu hành vi cụ thể mà ch vạch ra

xu hướng cho hành vi, nghĩa là giữ vai trò định hướng, hướng đích trong điều ch nh đạo đức í tưởng đạo đức mang tính phân cực cao; có lí tưởng tích cực, có lí tưởng tiêu cực í tưởng đạo đức của các giai cấp tiến bộ, cách mạng có ý nghĩa thúc đẩy

sự phát triển, tiến bộ xã hội gược lại, lí tưởng đạo đức của giai cấp đã thoái bộ là lực cản đối với sự phát triển

T ực tiễn o c Thực tiễn đạo đức là hoạt động của con người được điều

ch nh bởi ý thức đạo đức ột hành vi, một hoạt động tuân theo một chuẩn mực đạo đức xác định, nhằm mục đích xác định và được thúc đẩy bởi những động cơ do tình cảm đạo đức, lí tưởng đạo đức thôi thúc được coi là một bộ phận của thực tiễn đạo đức T ng hòa những hoạt động đạo đức của các cá nhân hợp thành thực tiễn đạo đức xã hội ói cách khác, thực tiễn đạo đức là sự hiện thực hóa của ý thức đạo đức thông qua các hoạt động người

Thực tiễn đạo đức được thể hiện ra qua các hoạt động người nhưng không hoàn toàn đồng nhất với hoạt động người Hoạt động của con người tự nó chưa phải là thực tiễn đạo đức ếu hoạt động của của một chủ thể người có mục đích là đem lại lợi ích hoặc là vì lợi ích của xã hội (lợi ích xã hội bao hàm lợi ích cá nhân với tư cách một bộ phận của lợi ích xã hội) thì hoạt động đó mới có tư cách của thực tiễn đạo đức hính vì vậy mà thực tiễn đạo đức là khâu trực tiếp thể hiện và

Trang 36

thực hiện chức năng điều ch nh của đạo đức và thực hiện vai trò động lực của sự phát triển xã hội

2.1.2.2 Qu n ệ o c

ỗi hình thái kinh tế-xã hội, mỗi cộng đồng người có hệ thống quan hệ xã hội đặc trưng, do đó cũng có những quan hệ đạo đức đặc trưng so với các hình thái kinh tế- xã hội, các cộng đồng người khác Quan hệ đạo đức là hệ thống những quan hệ xác định giữa con người và con người, giữa cá nhân và xã hội về mặt đạo đức

Quan hệ đạo đức là một dạng quan hệ xã hội, là yếu tố tạo nên tính hiện thực của bản chất xã hội của con người ác quan hệ đạo đức không ch được hình thành bởi quan hệ giữa các cá nhân với nhau, mà còn giữa cá nhân với xã hội, với những mặt riêng biệt của xã hội (chẳng hạn: với lao động, với môi trường, với văn hoá tinh thần ) trong chừng mực những mặt này liên quan đến các lợi ích chứa đựng trong các mối quan hệ

Quan hệ đạo đức được tạo nên với sự tham gia trực tiếp của ý thức đạo đức

và biểu hiện một cách hiện thực bởi thực tiễn đạo đức ặc trưng của quan hệ đạo đức là tính tự giác, tự nguyện và tính động cơ ác quan hệ đạo đức được thực hiện

và biểu hiện ra qua thực tiễn đạo đức tức là qua các hoạt động các hành vi người được điều ch nh bởi ý thức đạo đức

hững quan hệ đạo đức xuất hiện trong những tình huống cụ thể của mỗi

cá nhân là những quan hệ mang tính chủ quan, theo nghĩa chúng hình thành trên cơ

sở ý thức và hành vi của những con người cụ thể riêng biệt hững quan hệ đạo đức mang tính bền vững, được lặp đi, lặp lại, được khẳng định trong đời sống của

xã hội, cộng đồng, giai cấp là những quan hệ mang tính khách quan đối với mỗi cá nhân cụ thể ỗi con người sinh ra đã bắt gặp một hệ thống quan hệ đạo đức sẵn có như là môi trường mà người đó tất yếu gia nhập để trở thành con người đạo đức

ột hệ thống các quan hệ đạo đức tốt đ p sẽ là môi trường thuận lợi cho sự phát triển đạo đức của mỗi cá nhân cụ thể chiều ngược lại, sự tham gia tích cực của mỗi cá nhân vào hệ thống quan hệ đạo đức xã hội sẽ góp phần phát triển và củng cố quan hệ đạo đức xã hội

Trang 37

Tóm i, ý thức đạo đức, thực tiễn đạo đức và quan hệ đạo đức là những yếu

tố tạo nên cấu trúc đạo đức ỗi yếu tố không tồn tại độc lập, mà liên hệ tác động nhau, tạo nên sự vận động, phát triển và chuyển hóa bên trong của hệ thống đạo đức

2.1.2.3 Đ o c xã i và o c cá n ân

ạo đức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội của cộng đồng người xác định,

và là phương thức điều ch nh hành vi của các cá nhân thuộc cộng đồng nhằm hình thành; phát triển hoàn thiện tồn tại xã hội ấy

ạo đức xã hội được hình thành trên cơ sở cộng đồng về lợi ích và hoạt động của cá nhân thuộc cộng đồng ó tồn tại như là một hệ thống kinh nghiệm xã hội mang tính ph biến của đời sống đạo đức của cộng đồng

ạo đức cá nhân là đạo đức của những cá nhân riêng lẻ của cộng đồng, phản ảnh và khẳng định tồn tại xã hội của các cá nhân ấy như là thể hiện riêng lẻ của tồn tại xã hội của cộng đồng về lợi ích và hoạt động của các cá nhân

Trong hoạt động thực tiễn và nhận thức của mình, các cá nhân thu nhận đạo đức xã hội như là hệ thống kinh nghiệm xã hội, những lí tưởng, chuẩn mực, tư tưởng, đánh giá đạo đức đã được hình thành nên trong lịch sử cộng đồng, biến kinh nghiệm xã hội thành kinh nghiệm bản thân

Trước mắt cá nhân đạo đức xã hội tồn tại một cách khách quan mà trong cuộc sống của mình, cá nhân tất yếu phải nhận thức, tiếp thu và thực hiện

ạo đức xã hội hay đạo đức cá nhân là sự thống nhất biện chứng giữa cái chung và cái riêng, giữa cái ph biến, cái đặc thù và cái đơn nhất ạo đức cá nhân

là sự biểu hiện độc đáo của đạo đức xã hội, nhưng không bao hàm hết thảy mọi nội dung, đặc điểm của đạo đức xã hội ỗi cá nhân tiếp thu lĩnh hội đạo đức xã hội khác nhau và ảnh hưởng đến đạo đức xã hội cũng khác nhau ạo đức xã hội không thể là số cộng của đạo đức cá nhân mà nó t ng hợp những nhu cầu ph biến được đúc kết thành những tinh hoa của đạo đức cá nhân ó trở thành cái chung của một giai cấp, một cộng đồng xã hội, một thời đại nhất định, nó được duy trì và cũng cố bằng những phong tục, tập quán, truyền thống, những di sản văn hóa vật chất và tinh thần, được biến đ i phát triển thông qua hoạt động sản xuất tinh thần và giao tiếp xã hội

Trang 38

Quan hệ đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân là quan hệ giữa những chuẩn mực chung mang tính phát triển đặc thù trong từng xã hội với những phẩm chất hành vi những yêu cầu cụ thể hàng ngày, quan hệ giữa lý tưởng xã hội và hiện thực của cá nhân, giữa trí tuệ, tri thức xã hội với tình cảm, ý chí và năng lực hoạt động đạo đức cụ thể của cá nhân Theo Ph Ăngghen, “ ếu như lợi ích đúng đắn là nguyên tắc của toàn bộ đạo đức, thì do đó, cần ra sức làm cho lợi ích riêng của con người cá biệt phù hợp với lợi ích của toàn thể loài người” [89; 199-200]

2.1.3 Giáo dục đạo đức

2.1.3.1 ái niệm về iáo dục o c

Hiện có nhiều định nghĩa cụ thể khác nhau về giáo dục đạo đức, nhưng tựu

trung lại thì iáo dục o c à quá trìn c u ển văn ó o c xã i t àn văn ó o c cá n ân Tuy nhiên, đây mới ch là định nghĩa ngắn gọn nhất, ch

ra thực chất của giáo dục đạo đức ụ thể hơn, giáo dục đạo đức là quá trình chủ thể giáo dục tác động đến đối tượng giáo dục nhằm hình thành và phát triển ở họ những phẩm chất và những năng lực đạo đức đáp ứng các yêu cầu của chủ thể giáo dục, những yêu cầu này cũng đồng thời là những yêu cầu đạo đức của xã hội đối với con người ếu nhìn nhận giáo dục đạo đức như vậy thì có thể thấy, giáo dục đạo đức bao hàm các thành tố và sự liên kết, tương tác giữa các thành tố đó ác

thành tố của giáo dục đạo đức bao hàm: c ủ t ể iáo dục mục tiêu iáo dục ối tượn iáo dục và các iều kiện vật c ất ảm bảo c o iáo dục

1 C ủ t ể iáo dục hủ thể trực tiếp của giáo dục đạo đức là con người,

nhưng không phải con người biệt lập, riêng rẽ mà là con người trong tư cách thành viên một thiết chế nhất định Vì vậy, cũng có thể coi thiết chế xã hội (mà trong đó con người là yếu tố cấu thành, vận hành thiết chế) là chủ thể của giáo dục đạo đức

Từ góc độ thiết chế, có thể thấy, chức năng giáo dục đạo đức được thực hiện bởi ba

chủ thể cơ bản; đó là i ìn n à trườn và xã i

Gi ìn là thiết chế đầu tiên có chức năng giáo dục đạo đức cho con

người Gia đình không ch là nơi sinh ra con người mà còn là nơi nuôi dưỡng và giáo dục con người Thông thường thì trong gia đình, cha m , ông bà, người lớn

tu i là những người có trách nhiệm giáo dục đạo đức cho con em Gia đình có trách nhiệm giáo dục những chuẩn mực đạo đức thông thường để con em ứng xử một

Trang 39

cách hợp đạo đức trong các quan hệ gia đình và xã hội ể giáo dục đạo đức có hiệu quả, cha m và những người lớn tu i phải mắm được những chuẩn mực đạo đức cơ bản, thông thường, có một năng lực giáo dục nhất định; đồng thời phải có lòng yêu thương con trẻ Hơn thế, chủ thể của giáo dục gia đình phải thực sự gương mẫu trong các quan hệ, bởi trẻ em trong gia đình chủ yếu lĩnh hội các chuẩn mực, các định hướng giá trị đạo đức thông qua những quan hệ, những hành vi của người lớn tu i

hi trẻ em đến tu i đi học, n à trườn là thiết chế có chức năng trực tiếp

giáo dục đạo đức cho học sinh ố nhiên điều đó không chấm dứt chức năng giáo dục đạo đức của gia đình hà trường và gia đình song hành giáo dục đạo đức cho các em Giáo dục đạo đức trong nhà trường là loại hình giáo dục có t chức và bài bản Giáo dục đạo đức trong nhà trường được thực hiện qua các môn học trực tiếp liên quan đến đạo đức và thông qua các môn học khác Giáo dục đạo đức trong nhà trường còn được thực hiện thông qua các hoạt động, các phong trào mang ý nghĩa chính trị, xã hội ác chủ thể trong giáo dục nhà trường bao gồm: Ban giám hiệu, giáo viên và các thành viên khác Ban giám hiệu có chức năng lãnh đạo và ch đạo chung đối với công tác giáo dục đạo đức hức năng đó đòi hỏi mỗi thành viên của Ban giám hiệu phải có tầm nhìn bao quát, biết định hướng, ch đạo, biết liên kết, đôn đốc, t chức, kiểm tra, đánh giá các hoạt động giáo dục và giáo dục đạo đức của trường ác giáo viên chuyên trách đảm nhận việc dạy môn học trực tiếp liên quan đến đạo đức ( ạo đức, Giáo dục công dân) ác giáo viên này phải được đào tạo về chuyên môn và có tư cách tốt để thực hiện nhiệm vụ ác giáo viên dạy các môn học khác như: văn, sử, toán, kĩ thuật, giáo dục quốc phòng không ch có chức năng giáo dục các kiến thức và kĩ năng chuyên biệt, mà đồng thời còn có trách nhiệm lồng gh p giáo dục đạo đức cho học sinh hững người phụ trách công tác đoàn đội và những người có trách nhiệm t chức các hoạt động, các phong trào cũng là những chủ thể giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua các hoạt động ùng với các chủ thể đó, các nhân viên cũng có trách nhiệm giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua việc thực hiện tốt các chức trách và gương mẫu trong mọi hành

vi, mọi quan hệ của mình

Trang 40

Xã i cụ thể là các thiết chế xã hội có chức năng giáo dục đạo đức bên

cạnh các chức năng khác hân cách con người không phải nhất thành bất biến nghĩa là không phải hình thành một lần là xong ỗi con người trong suốt cuộc đời của mình đều luôn phải học hỏi và rèn luyện để hoàn thiện nhân cách đáp ứng những biến đ i, những yêu cầu mới của cuộc sống ác thiết chế xã hội giúp họ thực hiện điều đó ối với Việt am, những thiết chế xã hội chủ yếu có trách nhiệm giáo dục đạo đức bao gồm: các t chức chính trị, xã hội, các cơ quan truyền thông, các thiết chế văn hóa, văn nghệ, các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp

ác thiết chế này có trách nhiệm giáo dục cho thành viên các chuẩn mực, các nguyên tắc ứng xử chung và đặc biệt là các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp

C ủ t ể ặc biệt trong giáo dục đạo đức chính là đối tượng giáo dục đạo

đức Trong trường hợp này, chúng tôi nói đến tự giáo dục đạo đức ũng như giáo dục nói chung, giáo dục đạo đức theo nghĩa rộng bao hàm giáo dục và tự giáo dục

ếu giáo dục là quá trình tác động từ chủ thể tức là từ bên ngoài đến đối tượng thì

tự giáo dục là quá trình diễn ra ở bên trong, theo đó, đối tượng tự giáo dục mình; và như vậy, họ đồng thời là chủ thể và đối tượng giáo dục hững tác động từ bên ngoài, suy cho cùng, cũng ch có hiệu quả khi đối tượng chủ động, tích cức tiếp nhận, chuyển hóa những tác động ấy thành sức mạnh nội tâm, biến văn hóa đạo đức

xã hội thành văn hóa đạo đức cá nhân Vì thế, trong giáo dục đạo đức, việc phát huy vai trò tự giáo dục của đối tượng giáo dục là có ý nghĩa to lớn, thậm chí là có

ý nghĩa quyết định

2 Mục tiêu củ iáo dục Thành tố thứ hai của giáo dục đạo đức là mục tiêu

củ iáo dục ục tiêu chung của giáo dục đạo đức là nhằm hình thành và phát

triển nhân cách đạo đức cho con người ụ thể hơn, người được giáo dục đạo đức

là người có ý thức đạo đức nghĩa là nắm bắt được các yêu cầu, các chuẩn mực đạo đức xã hội; có tình cảm và lí tưởng đạo đức; biết hoạt động và thực hiện các quan

hệ xã hội phù hợp với các yêu cầu, các chuẩn mực đạo đức xã hội ục tiêu chung của giáo dục đạo đức, được cụ thể hóa trong mục tiêu của các lĩnh vực giáo dục cụ

thể và cụ thể hóa hơn nữa trong n i dun iáo dục o c ội dung giáo dục đạo

đức chính là một hệ thống những yêu cầu, những chuẩn mực đạo đức xác định vừa theo các tiêu chí ph quát vừa được cụ thể hóa vào các đối tượng cụ thể, chẳng hạn:

Ngày đăng: 06/12/2018, 12:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w