1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

La hình phạt chính không giam giữ trong luật hình sự việt nam

256 156 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 256
Dung lượng 3,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong hệ thống hình phạt của pháp luật hình sự Việt Nam, bốn hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ và trục xuất được xem là các hình phạt chính không giam giữ. Nghiên cứu về các hình phạt chính không giam giữ đáp ứng được tính cấp thiết về phương diện lý luận, pháp lý và thực tiễn.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 TS TRẦN THỊ QUANG VINH

2 PGS.TS NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HOA

TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2018

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các thông tin nêu trong luận án là trung thực Các trích dẫn trong luận án đều được chú thích đầy đủ và chính xác Các kết quả nghiên cứu trong luận án chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận án

NGUYỄN THỊ ÁNH HỒNG

Trang 5

TỪ VIẾT TẮT

BLHS: Bộ luật hình sự BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự CHXHCN: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa TNHS: Trách nhiệm hình sự TAND: Tòa án nhân dân TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao HĐTP TANDTC: Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao UNODC: United Nations Office On Drugs and Crime

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 9

PHẦN NỘI DUNG LUẬN ÁN 25

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ HÌNH PHẠT CHÍNH KHÔNG GIAM GIỮ 25

1.1 Khái niệm, đặc trưng, mục đích và phân loại hình phạt 25

1.1.1 Khái niệm, các đặc trưng của hình phạt 25

1.1.2 Các đặc trưng của hình phạt 30

1.1.3 Mục đích của hình phạt 32

1.1.4 Phân loại hình phạt 33

1.2 Khái niệm, đặc điểm và cơ sở của hình phạt chính không giam giữ 35

1.2.1 Khái niệm hình phạt chính không giam giữ 35

1.2.2 Đặc điểm của hình phạt chính không giam giữ 38

1.2.3 Cơ sở của hình phạt chính không giam giữ 40

1.3 Vai trò, vị trí và ý nghĩa của hình phạt chính không giam giữ 47

1.4 Hình thức của hình phạt chính không giam giữ và phân biệt các hình phạt chính không giam giữ với các biện pháp cưỡng chế khác 49

1.4.1 Hình thức của hình phạt chính không giam giữ 49

1.4.2 Phân biệt các hình phạt chính không giam giữ với các biện pháp cưỡng chế khác 53

Kết luận Chương 1 57

CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC HÌNH PHẠT CHÍNH KHÔNG GIAM GIỮ 58

2.1 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các hình phạt chính không giam giữ 58

2.1.1 Sự phát triển trong quy định của pháp luật hình sự Việt Nam đến trước khi ban hành BLHS 2015 về các hình phạt chính không giam giữ 58

2.1.1.1 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam thời kỳ Phong kiến 58

2.1.1.2 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành BLHS năm 1985 62

2.1.1.3 Quy định của BLHS năm 1985 66

2.1.1.4 Quy định của BLHS năm 1999 68

Trang 7

2.1.2.1 Quy định Phần chung BLHS năm 2015 về các hình phạt chính không giam

giữ 73

2.1.2.2 Quy định của Phần các tội phạm BLHS năm 2015 về các hình phạt chính không giam giữ 88

2.1.2.3 Các hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế trong quy định của BLHS năm 2015 về các hình phạt chính không giam giữ 92

2.2 Thực tiễn áp dụng các hình phạt chính không giam giữ 93

2.2.1 Thực tiễn áp dụng các hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ và trục xuất 93

2.2.1.1 Thực tiễn áp dụng hình phạt cảnh cáo 95

2.2.1.2 Thực tiễn áp dụng hình phạt tiền 97

2.2.1.3 Thực tiễn áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ 101

2.2.1.4 Thực tiễn áp dụng hình phạt trục xuất 104

2.2.2 Các hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế trong thực tiễn áp dụng các hình phạt chính không giam giữ 106

Kết luận Chương 2 114

CHƯƠNG 3: KINH NGHIỆM CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ QUỐC TẾ VÀ MỘT SỐ NƯỚC VỀ HÌNH PHẠT CHÍNH KHÔNG GIAM GIỮ 115

3.1 Kinh nghiệm của pháp luật hình sự quốc tế về hình phạt chính không giam giữ 115

3.1.1 Những vấn đề chung về hình phạt chính không giam giữ trong pháp luật hình sự quốc tế 115

3.1.2 Kinh nghiệm của pháp luật hình sự quốc tế về quy định nguyên tắc và biện pháp bảo đảm áp dụng hình phạt chính không giam giữ 117

3.1.3 Kinh nghiệm của pháp luật hình sự quốc tế về quy định các hình phạt chính không giam giữ cụ thể 120

3.2 Kinh nghiệm của pháp luật hình sự một số nước về các hình phạt chính không giam giữ 123

3.2.1 Kinh nghiệm của pháp luật hình sự Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ 123

3.2.2 Kinh nghiệm của pháp luật hình sự Cộng hòa Pháp 128

3.2.3 Kinh nghiệm của pháp luật hình sự Liên bang Nga 133

Trang 8

CHƯƠNG 4: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH

SỰ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC HÌNH PHẠT CHÍNH KHÔNG

GIAM GIỮ 138

4.1 Cải cách tư pháp và định hướng hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả của các hình phạt chính không giam giữ 138

4.2 Các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của hình phạt chính không giam giữ 142

4.2.1 Kiến nghị hoàn thiện lý luận về hình phạt chính không giam giữ 142

4.2.2 Kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về các hình phạt chính không giam giữ 143

4.2.3 Kiến nghị nhằm nâng cao nhận thức và biện pháp bảo đảm thi hành các hình phạt chính không giam giữ 157

4.3 Kiến nghị những hướng nghiên cứu tiếp theo 158

Kết luận Chương 4 160

KẾT LUẬN 162 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC LUẬN ÁN

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Pháp luật hình sự Việt Nam chia các hình phạt thành hai nhóm là hình phạt chính và hình phạt bổ sung nhưng không phân loại các hình phạt chính Tuy nhiên, khoa học luật hình sự có nhiều căn cứ để phân loại hình phạt như căn cứ vào tính chất các quyền, lợi ích của người phạm tội bị hình phạt tước hoặc hạn chế Kết hợp với căn

cứ phân loại này, khái niệm hình phạt chính không giam giữ là nhóm hình phạt chính tước hoặc hạn chế các quyền, lợi ích nhất định nhưng không cách ly hoặc loại bỏ người bị kết án khỏi cộng đồng Hình phạt chính không giam giữ còn được gọi là hình phạt chính không tước tự do hoặc các hình phạt chính không phải là hình phạt tù và được đề cập đến trong các tài liệu khoa học như sách chuyên khảo về hình phạt,1

các bài viết khoa học đăng trên tạp chí chuyên ngành,2 Hội thảo khoa học,3 các đề tài nghiên cứu.4

Trong hệ thống hình phạt của pháp luật hình sự Việt Nam, bốn hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ và trục xuất được xem là các hình phạt chính không giam giữ Nghiên cứu về các hình phạt chính không giam giữ đáp ứng được tính cấp thiết về phương diện lý luận, pháp lý và thực tiễn

Về phương diện lý luận và pháp lý, luận án đáp ứng yêu cầu hoàn thiện hơn lý

luận và quy định của BLHS về hình phạt chính không giam giữ Các hình phạt này

ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hệ thống hình phạt, bởi pháp luật hình sự Việt Nam ngày càng chuyển dịch theo hướng đảm bảo tính nhân đạo, tăng cường bảo đảm quyền con người nhằm phù hợp với yêu cầu của Hiến pháp năm 2013 và xu hướng chung của pháp luật hình sự hiện nay trên thế giới Trong khi đó lý luận về hình phạt chính không giam giữ chưa được quan tâm nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện nên cần thiết có sự nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này Về phương diện pháp lý, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), gọi tắt là BLHS năm 2015 trên cơ sở kế thừa các quy định của BLHS năm 1999 đã có những sửa đổi, bổ sung nhất định khi

1 Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên (2001), Trách nhiệm hình sự và hình phạt, Trường ĐH Luật Hà Nội, NXB CAND,

tr 43

2

Trần Quang Tiệp (2004), “Vai trò của gia đình trong việc thi hành các loại hình phạt không tước tự do và các

biện pháp tư pháp”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (02); Nguyễn Thị Ánh Hồng (2015), “Hoàn thiện quy định

của BLHS về các hình phạt chính không tước tự do”, Tạp chí Khoa học pháp lý (08)

3 Hội thảo “Hoàn thiện quy định của BLHS về hệ thống hình phạt không tước tự do” do Bộ Tư pháp tổ chức

ngày 14/7/2014

4 Cụ thể như trường Đại học Luật Tp HCM, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Huế trong danh mục đề tài và định hướng nghiên cứu đều đưa ra đề tài này

Trang 10

quy định các hình phạt chính không giam giữ, tập trung nhiều ở các quy định của Phần chung về phạm vi, điều kiện áp dụng và sự cụ thể hóa quy định Phần chung trong quy định các tội phạm cụ thể Tuy nhiên, quy định của BLHS năm 2015 về các hình phạt này vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định như điều kiện áp dụng của hình phạt cảnh cáo và trục xuất, phạm vi áp dụng hình phạt tiền và cải tạo không giam giữ, sự thống nhất trong quy định của Phần chung và Phần các tội phạm, tính hệ thống của các hình phạt chính không giam giữ, tính khả thi trong các quy định về điều kiện áp dụng và cơ chế bảo đảm hiệu quả áp dụng Do vậy việc tiếp tục nghiên cứu về các hình phạt chính không giam giữ đáp ứng sự cần thiết về phương diện lý luận và pháp lý trong giai đoạn hiện nay

Về phương diện thực tiễn, luận án đáp ứng các yêu cầu của cải cách tư pháp,

thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm và yêu cầu hội nhập quốc tế Một trong các yêu cầu của chiến lược cải cách tư pháp quy định tại Mục 2 Nghị quyết 49/NQ-TW

ngày 2/6/2005 của Bộ chính trị là “Giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền,

hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng” nhằm mục tiêu "Sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến lĩnh vực tư pháp phù hợp với mục tiêu của chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Coi trọng việc hoàn thiện chính sách hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội” Tuy nhiên,

BLHS năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 vẫn chưa hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp BLHS năm 2015 đã có những quy định sửa đổi, bổ sung nhất định về hình phạt chính không giam giữ theo các định hướng về cải cách tư pháp5

nhưng cần thiết phải tiếp tục nghiên cứu, đánh giá một cách toàn diện mức độ cụ thể hóa các yêu cầu của cải cách tư pháp

Nghiên cứu hình phạt chính không giam giữ nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng của hình phạt góp phần tăng cường hiệu quả của hoạt động đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Xét về tỷ lệ, có bốn hình phạt chính không giam giữ trên tổng số bảy hình phạt nhưng trên thực tế hình phạt được áp dụng chủ yếu là tù có thời hạn Thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy tần suất áp dụng các hình phạt này rất thấp, chưa phát

5 Một trong những định hướng cơ bản của việc sửa đổi BLHS là “Hoàn thiện chính sách hình sự theo hướng đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội; tôn trọng và bảo đảm thực thi đầy đủ các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013” Theo đó Định hướng sửa đổi bổ sung BLHS là “nghiên cứu giảm khả năng áp dụng hình phạt tù đồng thời mở rộng phạm vi áp dụng các hình phạt không mang tính giam giữ như: phạt tiền, cải tạo không giam giữ”

Trang 11

huy được hiệu quả trong đấu tranh phòng chống tội phạm Việc quá lạm dụng hình phạt tù có thời hạn một mặt thể hiện hoạt động áp dụng pháp luật hình sự chưa đánh giá hết vai trò của từng loại hình phạt, mặt khác cũng tạo gánh nặng chi phí rất lớn cho Nhà nước và xã hội Trong khi đó hiệu quả của hình phạt tù cũng như các hình phạt khác chưa được nghiên cứu và đánh giá đầy đủ Do vậy, cần thiết phải có sự nghiên cứu toàn diện về các hình phạt chính không giam giữ để lý giải cho sự bất cập của thực tiễn áp dụng và đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các hình phạt chính không giam giữ, phù hợp với tinh thần xã hội hóa việc thi hành hình phạt

Bên cạnh đó, hiện nay Việt Nam đang là thành viên chính thức của nhiều Công ước quốc tế của Liên Hợp Quốc đòi hỏi pháp luật hình sự Việt Nam cần nội luật hóa các quy định của Công ước quốc tế nhằm bảo đảm tốt hơn nữa quyền của người phạm tội trong đó có mục tiêu giảm thiểu việc áp dụng hình phạt tù bằng cách mở rộng và gia tăng việc quy định và áp dụng các hình phạt chính không giam giữ

2 Mục đích, mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu đề tài “Hình phạt chính không giam giữ trong Luật Hình

sự Việt Nam” là đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các hình phạt

chính không giam giữ

2.2 Mục tiêu nghiên cứu

Để đạt được mục đích đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các hình phạt chính không giam giữ, Luận án tập trung vào các mục tiêu nghiên cứu sau:

Thứ nhất, làm rõ lý luận về hình phạt chính không giam giữ như khái niệm, đặc

trưng, cơ sở, vai trò, vị trí của hình phạt chính không giam giữ trên nền lý luận về hình phạt;

Thứ hai, làm rõ những bất cập, hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế trong

trong quy định của BLHS năm 2015 và thực tiễn áp dụng các hình phạt chính không giam giữ dựa trên nền tảng lý luận về hình phạt chính không giam giữ;

Thứ ba, đưa ra các kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng các hình phạt này, bao

gồm các kiến nghị nhằm hoàn thiện lý luận, quy định của pháp luật hình sự và các kiến nghị nhằm nâng cao nhận thức và các biện pháp bảo đảm thi hành các hình phạt chính không giam giữ

Trang 12

2.3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích và mục tiêu nghiên cứu, luận án tập trung vào các nhiệm

vụ nghiên cứu sau:

Thứ nhất, nghiên cứu cơ sở lý luận về các hình phạt chính không giam giữ

Việc xây dựng cơ sở lý luận đầy đủ sẽ làm cơ sở cho việc nghiên cứu quy định của pháp luật hình sự về các hình phạt không giam giữ cụ thể Nghiên cứu cơ sở lý luận các hình phạt chính không giam giữ phải dựa trên nền tảng nghiên cứu lý luận về hình phạt;

Thứ hai, đánh giá quy định quy định của BLHS năm 2015 về hình phạt chính

không giam giữ có so sánh, đối chiếu với quy định của BLHS năm 1999 và quy định của pháp luật hình sự Việt Nam trong lịch sử Qua đó làm rõ những bất cập, hạn chế trong trong quy định của BLHS năm 2015 về hình phạt chính không giam giữ;

Thứ ba, đánh giá thực tiễn áp dụng các hình phạt chính không giam giữ, xác

định những kết quả, thành tựu đã đạt được đồng thời làm rõ những bất cập, hạn chế và nguyên nhân của các bất cập, hạn chế đó trong thực tiễn áp dụng;

Thứ tư, tham khảo quy định của pháp luật hình sự quốc tế và pháp luật hình sự

một số nước như Hoa kỳ, Pháp và Nga để học hỏi kinh nghiệm, cách thức quy định phù hợp với điều kiện của Việt Nam

Cuối cùng, đưa ra các kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện lý luận, sửa đổi, bổ

sung quy định của BLHS năm 2015 và các biện pháp bảo đảm nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các hình phạt chính không giam giữ

3 Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu

3.1 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của Luận án tiến sĩ “Hình phạt chính không giam giữ trong

Luật hình sự Việt Nam” được giới hạn như sau:

Luận án nghiên cứu hình phạt dưới khía cạnh luật hình sự và chỉ giới hạn ở hình phạt chính không giam giữ quy định cho người phạm tội BLHS năm 2015 đã quy định trách nhiệm hình sự cho pháp nhân thương mại thực hiện hành vi phạm tội Do vậy, bên cạnh các hình phạt dành cho cá nhân người phạm tội, Điều 33 BLHS năm 2015 quy định các hình phạt dành riêng cho pháp nhân thương mại phạm tội Tên luận án là

“Hình phạt chính không giam giữ trong luật hình sự Việt Nam” và đây là nhóm hình

phạt chính không cách ly hoặc loại người bị kết án khỏi cộng đồng nên không bao gồm

Trang 13

các hình phạt quy định cho pháp nhân thương mại phạm tội Do vậy, phạm vi nghiên cứu của luận án chỉ bao gồm hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ và trục xuất quy định cho người phạm tội

Luận án tập trung nghiên cứu quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các hình phạt chính không giam giữ quy định ở cả Phần chung và Phần các tội phạm trong BLHS năm 2015, có so sánh, đối chiếu với quy định của BLHS năm 1999, BLHS năm

1985 các văn bản pháp luật hình sự khác Luận án cũng nghiên cứu quy định của pháp luật hình sự quốc tế về các hình phạt không giam giữ như Quy tắc Tokyo Ngoài ra, luận án còn khảo sát quy định của pháp luật hình sự Hoa Kỳ, BLHS Cộng hòa Pháp, BLHS Cộng hòa liên bang Nga

Luận án nghiên cứu thực tiễn áp dụng các hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ thể hiện ở các số liệu thống kê xét xử, báo cáo tổng kết của ngành Tòa

án Các số liệu nghiên cứu được khảo sát trên phạm vi toàn quốc kết hợp với nghiên cứu điển hình một số địa phương nhằm phân tích chuyên sâu số liệu thực tiễn xét xử

Luận án nghiên cứu quy định của BLHS năm 2015 có so sánh, đối chiếu với quy định của BLHS năm 1999 nên các số liệu nghiên cứu thực tiễn được khảo sát trong khoảng thời gian từ năm 2011 đến năm 2017 Tuy BLHS năm 2015 có hiệu lực

từ ngày 1/1/2018 nhưng một số quy định về hình phạt chính không giam giữ có thể được áp dụng trước thời điểm BLHS có hiệu lực nếu có lợi cho người phạm tội Luận

án cũng khảo sát ý kiến chuyên gia và những người làm công tác thực tiễn, phân tích một số bản án để minh chứng cho các nội dung được nghiên cứu

3.2 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là lý luận, quy định pháp luật và thực tiễn áp

dụng các hình phạt chính không giam giữ của luật hình sự Việt Nam, cụ thể như sau:

- Các quan điểm, lý luận về hình phạt và hình phạt chính không giam giữ;

- Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các hình phạt chính không giam giữ;

- Quy định của pháp luật hình sự quốc tế và pháp luật hình sự một số nước

về các hình phạt chính không giam giữ;

- Thực tiễn áp dụng các hình phạt chính không giam giữ từ năm 2011 đến năm 2017 bao gồm các số liệu thống kê, các bản án kết hợp với ý kiến của các chuyên gia, những người làm công tác thực tiễn

Trang 14

4 Nội dung nghiên cứu

Ngoài Phần mở đầu, Tổng quan về vấn đề nghiên cứu của Luận án, Kết luận, Các công trình khoa học đã công bố liên quan đến nội dung của Luận án, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Phần nội dung của Luận án bao gồm bốn vấn đề sau:

Chương 1 Lý luận về hình phạt chính không giam giữ

Chương 2 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng các hình phạt chính không giam giữ

Chương 3 Kinh nghiệm của pháp luật hình sự quốc tế và một số nước về hình phạt chính không giam giữ

Chương 4 Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật hình sự và nâng cao hiệu quả áp dụng các hình phạt chính không giam giữ

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu của luận án thuộc khoa học xã hội nên được thực hiện trên cơ

sở phương pháp luận duy vật biện chứng và bằng các phương pháp cụ thể:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng chủ yếu và xuyên suốt trong toàn bộ luận án Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng trong nghiên cứu lý luận chung về hình phạt chính không giam giữ, nghiên cứu quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các hình phạt chính không giam giữ

- Phương pháp lịch sử được sử dụng để tìm hiểu bản chất, quy luật hình thành và phát triển các quy định pháp luật hình sự về các hình phạt không giam giữ, từ

đó định hướng việc hoàn thiện pháp luật hình sự

- Phương pháp thống kê được sử dụng trong nghiên cứu thực tiễn áp dụng các hình phạt không giam giữ trong phạm vi toàn quốc và nghiên cứu chuyên sâu trong phạm vi một số địa phương nhất định

- Phương pháp so sánh được sử dụng chủ yếu trong nghiên cứu quy định của pháp luật hình sự một số nước nhằm tìm kiếm kinh nghiệm cho Việt Nam trong quy định và áp sụng hình phạt chính không giam giữ Phương pháp này cũng được sử dụng trong nghiên cứu so sánh quy định của pháp luật hình sự Việt Nam trong các giai đoạn lịch sử khác nhau

- Phương pháp chuyên gia được sử dụng để nghiên cứu nhận thức, đánh giá của người được khảo sát về vai trò, hiệu quả của hình phạt chính không giam giữ trong quy định của pháp luật hình sự và thực tiễn áp dụng hình phạt

Trang 15

6 Đóng góp mới về khoa học của luận án

- Luận án góp phần làm phong phú hơn về lý luận hình phạt chính không

giam giữ Tuy tồn tại một số công trình nghiên cứu với tên gọi khác là các hình phạt chính không tước tự do nhưng Luận án tiếp tục nghiên cứu nhằm làm phong phú, hoàn thiện hơn về lý luận Luận án nghiên cứu lý luận hình phạt chính không giam giữ dưới góc tiếp cận từ nền tảng các học thuyết của hình phạt và sự vận động phát triển của khoa học pháp lý hình sự Luận án tiếp cận từ khái niệm, mục đích, phân loại hình phạt

để làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm, cơ sở của hình phạt chính không giam giữ Các nội dung về vị trí, vai trò, ý nghĩa của hình phạt chính không giam giữ, các hình thức

và phân biệt hình phạt chính không giam giữ với các biện pháp cưỡng chế khác đã góp phần làm phong phú và hoàn thiện hơn lý luận về hình phạt chính không giam giữ

- Luận án đã phân tích, đánh giá một cách toàn diện quy định của BLHS năm 2015 có sự đánh giá mức độ thực thi các yêu cầu của cải cách tư pháp về các hình phạt chính không giam giữ Luận án đánh giá lịch sử phát triển của hình phạt chính không giam giữ trong pháp luật hình sự nước ta từ thời kỳ Phong kiến đến giai đoạn hiện nay nhằm tham khảo kinh nghiệm cho quá trình hoàn thiện quy định của BLHS năm 2015

- Luận án đã đúc kết các kinh nghiệm của pháp luật hình sự quốc tế và pháp luật hình sự một số nước như Hoa Kỳ, Pháp và Liên bang Nga về các hình phạt chính không giam giữ Kinh nghiệm lập pháp của pháp luật hình sự quốc tế và một số nước có thể được tham khảo khi đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự Việt Nam

- Luận án đề xuất các kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện quy định của BLHS năm 2015, đồng thời đề xuất các giải pháp cho hoạt động áp dụng pháp luật và các biện pháp bảo đảm nhằm tăng cường hiệu quả áp dụng các hình phạt chính không giam giữ

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Luận án nghiên cứu lý luận hình phạt chính không giam giữ như khái niệm, các đặc trưng; cơ sở của việc quy định; vai trò và các hình thức của hình phạt chính không giam giữ, phân biệt các hình phạt chính không giam giữ với các biện pháp cưỡng chế khác Trên nền tảng lý luận, luận án tập trung nghiên cứu quy định của BLHS năm

2015 có so sánh, đối chiếu với quy định của BLHS năm 1999 về hình phạt chính

Trang 16

không giam giữ, đánh giá thực tiễn áp dụng các hình phạt chính không giam giữ trong những năm gần Đồng thời luận án cũng đánh giá sơ lược quá trình phát triển trong quy định của pháp luật hình sự qua các giai đoạn từ thời kỳ Phong kiến đến nay Luận

án cũng phân tích quy định của pháp luật hình sự quốc tế và pháp luật hình sự một số nước về các hình phạt chính không giam giữ làm kinh nghiệm tham khảo cho Việt Nam trong quá trình quy định và áp dụng các hình phạt chính không giam giữ Từ kết quả nghiên cứu, luận án kiến nghị hoàn thiện quy định của BLHS và nâng cao hiệu quả áp dụng các hình phạt chính không giam giữ Vì vậy, luận án có ý nghĩa khoa học

và thực tiễn sau:

Thứ nhất, kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung, làm phong phú

hơn cơ sở lý luận về hình phạt chính không giam giữ như khái niệm, các đặc điểm, cơ

sở, vai trò, vị trí, hình thức của hình phạt chính không giam giữ

Thứ hai, những kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định của BLHS năm 2015 về

các hình phạt chính không giam giữ trên cơ sở khoa học và thực tiễn có thể giúp ích cho cơ quan lập pháp khi sửa đổi BLHS

Thứ ba, Luận án cũng góp phần nâng cao nhận thức của người áp dụng pháp

luật và người dân về vai trò, ý nghĩa của các hình phạt chính không giam giữ để có thể đóng góp vào việc việc nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt

Cuối cùng, luận án sẽ là nguồn tài liệu nghiên cứu cho các sinh viên, các giảng

viên và các nhà khoa học trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy luật hình sự Đồng thời, đây cũng là nguồn tài liệu để những người áp dụng pháp luật tham khảo trong hoạt động thực tiễn

Trang 17

TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu

1.1 Tình hình nghiên cứu nước ngoài

Tình hình nghiên cứu lý luận hình phạt chính không giam giữ

Các nghiên cứu về hình phạt trên thế giới được bắt đầu từ rất sớm, ngay từ trước Công nguyên, các nhà triết học như Socrate, Platon đã đi tìm nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và các biện pháp để phòng ngừa tội phạm.6 Đến thế kỷ XVIII là giai đoạn hình thành và phát triển của các học thuyết tội phạm học, trong đó bàn rất nhiều về hình phạt và mục đích của hình phạt với các tác phẩm kinh điển của thế giới

Các tác phẩm đặt nền tảng cho lý luận về hình phạt gồm có Công lý và hình phạt

(Justice and Punishment),7 Luân lý siêu hình (The Metaphysics of Morals)8 của I.Kant

(1724-1804); Về tội phạm và hình phạt (Of crime and Punishments)9 của Cesare

Beccaria (1738-1794); Hệ thống nhà tù Panopticon (“Panopticon” scheme)10 của

Jeremy Benthame (1768-1800) Một số tác phẩm trong các giai đoạn gần đây như Kỷ

luật và sự trừng phạt (Discipline and Punish)11 của Michel Foucault; Hình phạt học

(Penology)12 của tác giả David K.Scott Các nghiên cứu về hình phạt trong giai đoạn

từ thế kỷ 18 đến nửa trước thế kỷ 20 chủ yếu đề cập đến hai học thuyết cơ bản sau:

Học thuyết trừng trị (Retributive theory) với đại diện tiêu biểu là I.Kant, một triết gia

người Đức Học thuyết trừng trị quan niệm hình phạt là công cụ Nhà nước sử dụng để trừng trị người phạm tội vì đó là điều mà người phạm tội xứng đáng phải chịu vì

những hành vi phạm tội của họ Học thuyết vị lợi (Utilitarian theory) do Cesare

Beccaria khởi xướng, theo học thuyết này, hình phạt nhằm ngăn ngừa người bị kết án tiếp tục phạm tội, cải tạo người phạm tội và phòng ngừa tội phạm.13 Học thuyết vị lợi

được Cesare Beccaria thể hiện trong tác phẩm Về tội phạm và hình phạt (Of crime and

punishments) và được phát triển bởi Jeremy Benthame Tuy tồn tại hai học thuyết khác

6 Dương Tuyết Miên (2010), Giáo trình Tội phạm học, NXB Giáo dục Việt Nam, tr 32

7 Kant, Immanuel (1972), Justice and Punishment, Trans W Hastie In Philosophical Perspectives on Punishment Ed Gertrude Ezorsky Albany: State University of New York Press

8

Kant, Immanuel (1996), The Metaphysics of Morals, Cambridge University Press

9 Cesare Bonesana Marchese Beccaria (1764), Of Crimes and Punishments Originally published in Italian in

1764

10 Bentham, Jeremy (1995), The Panopticon Writings Ed Miran Bozovic (London: Verso, 1995) p 29-95

Benthame đã trình bày ý tưởng về việc xây dựng các nhà tù theo mô hình “Panopticon” nhằm mục đích cải tạo, giáo dục người bị kết án

11 Michel Foucault (1975), Discipline and Punish: The birth of the Prison, Pulished in the United States by

Random House, Inc, New York Bản gốc viết bằng tiếng Pháp và được dịch bởi Alan Sheridan

12

David K Scott (2008), Penology, SAGE Publications

13 Mirko Bagaric (2001), Punishment and Sentencing: A Rational Approach, Cavendish Publishing, Great

Britain, tr.43

Trang 18

nhau về hình phạt và mỗi học thuyết đều có các hạt nhân hợp lý và các hạn chế nhất định nên một số nhà khoa học đã hợp nhất hai học thuyết trên thành học thuyết liên hợp (“Hybrid” Theory,14 Compromise Theory,15 Mixed Theory16) Theo học thuyết liên hợp hình phạt không chỉ có mục đích trừng trị mà còn có mục đích phòng ngừa tội phạm

Từ nửa sau thế kỷ 20 đến nay, khoa học pháp lý hình sự trên thế giới dần có sự chuyển biến trong nghiên cứu về hình phạt, hướng nhiều đến nghiên cứu về tính hiệu quả của hình phạt và hình phạt gắn với việc bảo đảm quyền con người Một số nhà hình phạt học cho rằng, học thuyết hình phạt không còn giới hạn trong hai học thuyết kinh điển truyền thống mà bao gồm bốn học thuyết Tiến sỹ Krishna Kumari trong bài

viết Vai trò của các học thuyết về hình phạt đối với chính sách kết án (Role of theories

of punishment on the policy of sentencing)17 đã phân tích bốn học thuyết hình phạt gồm học thuyết trừng trị, học thuyết phòng ngừa, học thuyết ngăn ngừa và học thuyết cải tạo Khoa học pháp lý hình sự xác định học thuyết hình phạt bao gồm bốn học thuyết nhằm mục tiêu pháp luật hình sự xác định mục tiêu chính của hình phạt là gì từ

đó xây dựng chính sách hình phạt phù hợp

Một số tài liệu tiêu biểu nghiên cứu lý luận hình phạt ở nước ngoài như Trách

nhiệm và hình phạt (Responsibility and Punishment),18 Sự biện hộ, mục đích và chức

năng của hình phạt trong xã hội chúng ta (The Justification, purpose and function of

punishment in our domestic society).19 Bài viết Học thuyết hình phạt (Theory of

punishment) của tác giả Kevin Murtagh20 giới thiệu, phân tích nguồn gốc nội dung của các học thuyết hình phạt đặc biệt là học thuyết trừng trị và học thuyết phòng ngừa;

Giáo sư Alice Ristroph của Trường Đại học Utah, Hoa kỳ trong bài viết Thành tựu và

hạn chế trong học thuyết về hình phạt (Respect and Resistance in Punishment

Theory)21 phân tích những điểm tích cực và hạn chế trong học thuyết hình phạt trừng

14 Marc O.DeGirolami, “Against Theories of Punishment: The Thought of Sir James Fitzjame Stephen”, Ohio State Journal of Criminal law, Vol 9:699, tr 705

15

Kevin Murtagh, “Theory of punishment”, http://www.iep.utm.edu/p/punishme.htm

16 Wang Shizhuo (2010), “Rethinking The Purpose of Criminal Punishment”, Peking University Jounal of Legal Studies (82), tr.85

17 A Krishna Kumari (2007), “Role of theories of punishment on the policy of sentencing”, ICFAI University, Hyderabad, A.P India

18 Ledger Wood (Princeton University) (1937-1938), “Responsibility and Punishment”, Am.Inst Criminal.L &

Trang 19

trị và học thuyết vị lợi thông qua quan điểm của Thomas Hobbes với quan điểm tiếp cận hình phạt dưới góc độ bảo đảm sự tự do con người và bảo đảm quyền con người;

Bài viết Phản biện các học thuyết hình phạt: Cách nhìn nhận của James Fitzjame

Stephen (Against Theories of Punishment: The Thought of Sir James Fitzjame

Stephen) của Marc O.DeGirolami22 đã có những phân tích sâu sắc đánh giá những thành tựu và hạn chế trong các học thuyết về hình phạt Công trình nghiên cứu đã bình luận học thuyết trừng trị hạn chế của Norval Morris, học thuyết này cho rằng hình phạt

có mục đích trừng trị người phạm tội nhưng phải xác định mức tối đa và tối thiểu cho

sự trừng trị đó Tác giả cũng phân tích sự ảnh hưởng của học thuyết này đến chính sách kết án của các bang của Mỹ Bên cạnh đó, một số công trình nghiên cứu khác tuy không trực tiếp nhưng cũng có những nội dung liên quan đến các vấn đề lý luận về

hình phạt như Luật hình sự (Criminal Law) 23 ở Chương 1 từ trang 3 đến trang 24 đã phân tích về bản chất, mục đích, nguồn, cấu trúc của Luật hình sự và có những nội dung đề cập đến bản chất, chức năng của hình phạt Giáo sư TS Larry J Siegel của

Trường ĐH Massachusetts_Lowell trong cuốn sách Tội phạm học (Criminology)24 có phần giới thiệu, bình luận lịch sử của Luật hình sự, lịch sử các học thuyết tội phạm học với những nội dung liên quan đến lịch sử hình phạt có nhiều giá trị tham khảo

Nghiên cứu lý luận về hình phạt được thực hiện rất nhiều trên thế giới mà luận

án có thể kế thừa Tuy nhiên, nghiên cứu lý luận về hình phạt chính không giam giữ gần như không được đề cập đến một cách trực tiếp mà chủ yếu ở các vấn đề lý luận có liên quan như chính sách thay thế hình phạt tù, chính sách tiết kiệm cưỡng chế hình sự

Tình hình nghiên cứu này xuất phát từ các lý do sau: Thứ nhất, pháp luật hình sự của

nhiều nước không có sự phân chia hệ thống hình phạt thành hai nhóm là hình phạt chính và hình phạt bổ sung Thứ hai, hệ thống hình phạt của các nước quy định khác nhau về các hình phạt không giam giữ cụ thể Một số công trình nghiên cứu có ý nghĩa tham khảo cho nghiên cứu lý luận hình phạt chính không giam giữ như:

Tài liệu Sổ tay về Các nguyên tắc cơ bản và yêu cầu thực tiễn của các biện

pháp thay thế hình phạt tù (Hanbook of Basic Principles and Promising Practices on

Alternatives to Imprisonment) của UNODC25 là tài liệu chính thức của Liên Hiệp

22 Marc O.DeGirolami, Tlđd số 14, tr 705

23 Peter Gillies (1990), Criminal Law, The Law Book Company Limited, tr 6-7

24

Larry J Siegel (1999), Criminology, West Publishing Company

25 UNODC (2007), Hanbook of Basic Principles and Promising Practices on Alternatives to Imprisonment,

Publish forms online, tr 3-7

Trang 20

Quốc nhằm giải thích và hướng dẫn cho Các quy tắc chuẩn, tối thiểu của Liên Hợp Quốc về những biện pháp không giam giữ năm 1990 (gọi tắt là Quy tắc Tokyo) Tài liệu đã đề cập đến một số lý do của việc sử dụng các biện pháp thay thế hình phạt tù

mà tác giả có thể tham khảo để nghiên cứu lý luận của hình phạt chính không giam giữ

Bài viết Các hiệu quả của chế tài giam giữ so với chế tài không giam giữ trong

tái phạm: Bài học từ việc đánh giá hệ thống (The Effects of Custodial vs

Non-Custodial sanctions on reoffending: Lesson from a systematic review) của tác giả Killias, M và Villettaz, P, trường Đại học Lausanne, Thụy Sỹ26 Các tác giả đã xác định các biện pháp được xem là chế tài không giam giữ (hay còn gọi là chế tài không giam giữ) đưa ra nhiều kết luận quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả của các biện pháp này đối với vấn đề tái phạm kể cả hiệu quả trước mắt và hiệu quả lâu dài

Tình hình nghiên cứu quy định về các hình phạt chính không giam giữ trong pháp luật hình sự một số quốc gia

Hình phạt không giam giữ được quy định phổ biến trong hệ thống hình phạt của các nước Trong xu thế hiện nay các hình phạt chính không giam giữ ngày càng phổ biến và đóng vai trò quan trọng trong hệ thống hình phạt Do vậy các nghiên cứu về các hình phạt chính không giam giữ trong quy định của pháp luật hình sự của các quốc gia rất phong phú và có nhiều giá trị tham khảo Hình phạt tiền và hình phạt hạn chế tự

do là hai hình phạt chính không giam giữ được quy định phổ biến trong pháp luật hình

sự của các nước Một số công trình tiêu biểu như: Bài viết Phạt tiền và phạt tiền theo

ngày (Fines and Day Fines) của Giáo sư Sally T Hillsman 27 phân tích hình phạt tiền

và phạt tiền theo ngày trong quy định của pháp luật hình sự của Hoa Kỳ và so sánh với

pháp luật các nước ở Châu Âu Bài viết Học thuyết tội phạm và hình phạt trong Luật

hình sự của Đức (Theory of Crime and Punishment in German Criminal Law)28

phân tích, bình luận các học thuyết về tội phạm và học thuyết hình phạt ảnh hưởng trong Luật hình sự của Đức từ trước đến nay Công trình có giá trị tham khảo lớn khi luận án nghiên cứu quy định của pháp luật hình sự nước ngoài và bài học kinh nghiệm cho

Việt Nam; Tiến sĩ Pat O’Malley của Trường ĐH Sydney trong bài viết Lý thuyết hình

26 Killias M and Villettaz P (2008), “The Effects of Custodial vs Non-Custodial sanctions on reoffending: Lesson from a systematic review”, Psicothema, 20 (1), tr 29-34

27

Sally T Hillsman (1990), “Fines and Day Fines”, Crime & Just (49), The University of Chicago

28 Markus Dirk Dubber (2005), “Theory of Crime and Punishment in German Criminal Law”, University at Buffalo Law School, Legal Studies Research Paper (02);

Trang 21

phạt tiền (Theorizing Fines)29 đã lý giải sự thay đổi quan điểm về hình phạt tiền trong lịch sử Luật hình sự Tiến sĩ Wang Shizhuo của Trường Đại học Bắc Kinh có bài viết

Nhìn nhận lại về mục đích của hình phạt (Rethinking The Purpose of Criminal

Punishment)30 đã trình bày quan điểm về việc đánh giá lại mục đích của hình phạt và

phân tích, bình luận mục đích của hình phạt trong pháp luật hình sự Trung Hoa Theo

đó kết luận pháp luật hình sự Trung Hoa xác định quan niệm về hình phạt dựa trên học thuyết liên hợp trong đó nhấn mạnh yếu tố phòng ngừa tội phạm

Bên cạnh hình phạt tiền, các nghiên cứu ở nước ngoài trong khoảng thời gian từ thập niên 80 của thế kỷ 20 đến nay có xu hướng tập trung nhiều vào các hình thức cưỡng chế hình sự mang tính chất hạn chế tự do của người phạm tội dưới dạng hình phạt hoặc các biện pháp hình sự khác Các biện pháp này có nhiều tên gọi và hình thức khác nhau như chế tài cộng đồng (community sanctions), hình phạt cộng đồng (community penalty), quản chế (probation), quản chế bằng vòng điện tử (electronic monitoring) Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như:

Bài viết Các tiêu chuẩn pháp lý và giới hạn của các chế tài cộng đồng (Legal

Standards and the Limits of Community Sanctions) của tác giả D.van Zyl Smit.31 Tác giả phân tích các giới hạn chung, các công cụ pháp lý quốc tế, qua đó đề xuất các giới hạn pháp lý áp dụng cho chế tài cộng đồng

Bài viết Đánh giá sự ảnh hưởng của hình phạt cộng đồng (Evaluating the

Impact of Community Penalties) của George Mair.32 Tác giả tập trung vào các nội dung lớn như quá trình tranh luận về hiệu quả của các hình phạt cộng đồng, các điểm chung liên quan đến sự đánh giá Qua đó, đánh giá hiệu quả hiện tại của biện pháp quản chế của Vương quốc Anh và xứ Wales và các bài học rút ra từ việc đánh giá hiệu quả của biện pháp quản chế

Bài viết Các chế tài cộng đồng và hình phạt học Châu Âu (Community

sanctions and European penology) của Giáo sư Fergus McNeill thuộc trường Đại học

Glassgrow trong sách chuyên khảo Hình phạt học Châu Âu (European Penology).33

Tác giả đã phân tích các định nghĩa và phạm vi của các chế tài cộng đồng, trong đó tập

Trang 22

trung nhiều vào hoạt động giám sát Bài viết đã đưa ra các đánh giá quan trọng cho các quy định và thực tiễn của hoạt động giám sát trong các chế tài cộng đồng của các nước Châu Âu

Trong khoa học pháp lý hình sự, nghiên cứu về hình phạt rất phát triển ở nước ngoài đặc biệt từ cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21, trãi trên nhiều phương diện từ lý luận hình phạt đặc biệt là các học thuyết hình phạt, nghiên cứu các hình phạt cụ thể, đánh giá mức độ hiệu quả của các hình phạt Khi làn sóng nhân đạo cũng như vấn đề bảo đảm quyền con người đang là xu hướng chung của thế giới thì các nghiên cứu về hình phạt càng được quan tâm đặc biệt là các hình phạt không tước quyền sống hoặc sự tự

do Các nghiên cứu về hình phạt ở nước ngoài có giá trị tham khảo rất lớn cho luận án, tuy nhiên các tài liệu nghiên cứu lý luận về hình phạt chính không giam giữ chưa tập trung và trực tiếp

1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Tình hình nghiên cứu về lý luận hình phạt và hình phạt chính không giam giữ

Nghiên cứu lý luận về hình phạt đã được tiến hành từ rất sớm trong pháp luật hình sự Việt Nam và luôn mang tính thời sự trong hoạt động khoa học Các nghiên cứu lý luận về hình phạt thường tập trung vào các vấn đề lớn gồm bản chất của hình phạt, khái niệm hình phạt, mục đích của hình phạt

Các quan điểm khác nhau về hình phạt của khoa học luật hình sự thế giới cũng ảnh hưởng đến khoa học pháp lý hình sự Việt Nam PGS.TS Trần Văn Độ trong bài

viết Quan niệm về hình phạt, trong chuyên đề BLHS: thực trạng và phương hướng đổi

mới đã nhận định rằng từ trước đến nay, trong khoa học pháp lý hình sự Việt Nam tồn

tại nhiều quan điểm khác nhau, có thể chia thành hai nhóm quan điểm: 1) coi hình phạt

là công cụ trừng trị, trả thù người phạm tội, lấy sự khắc nghiệt của hình phạt làm điều răn cho người phạm tội; 2) coi hình phạt là công cụ pháp lý để đấu tranh phòng, chống tội phạm, cải tạo giáo dục người phạm tội”.34 Trong hai quan điểm trên thì quan điểm xem hình phạt là công cụ pháp lý để đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, công cụ

để giáo dục, cải tạo người phạm tội là quan điểm chủ đạo của khoa học Luật hình sự Việt Nam, thể hiện trong quy định của BLHS

34 Trần Văn Độ (1994), Quan niệm về hình phạt, trong chuyên đề: BLHS: thực trạng và phương hướng đổi mới,

Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, Hà Nội, tr 107-108

Trang 23

Vấn đề khái niệm, bản chất và mục đích của hình phạt được nghiên cứu nhiều trong khoa học luật hình sự Việt Nam Các công trình tiêu biểu bao gồm:

Hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam của Viện nghiên cứu khoa học pháp lý,

Bộ tư pháp35 là công trình nghiên cứu chuyên sâu và tập trung nhất về hình phạt trong giai đoạn trước khi có BLHS năm 1999 Kết qủa nghiên cứu trong công trình này có nhiều ảnh hưởng đến việc xây dựng các quy định về hình phạt trong BLHS năm 1999 như vấn đề quy định khái niệm hình phạt trong BLHS, xác định cụ thể các mục đích của hình phạt, sự gia tăng phạm vi của các hình phạt chính không giam giữ so với quy

định của BLHS 1985 Sách chuyên khảo Tội phạm học, Luật hình sự và Tố tụng hình

sự do TSKH Đào Trí Úc chủ biên36 từ trang 188 đến trang 194 đã bàn về khái niệm hình phạt Tuy nhiên vì không phải là một tác phẩm nghiên cứu riêng về hình phạt nên trong tài liệu này chỉ đánh giá một cách khái quát nhất quan niệm về hình phạt, chưa đi vào nghiên cứu chuyên sâu về các học thuyết hình phạt, các đặc trưng và mục đích cụ thể của hình phạt

Sau khi BLHS năm 1999 ra đời với các quy định về hình phạt gồm khái niệm hình phạt, mục đích hình phạt, các hình phạt cụ thể đã tương đối hoàn chỉnh về kỹ thuật lập pháp, các nghiên cứu về lý luận hình phạt ngày càng nhiều, khai thác nhiều khía cạnh hơn như bàn về khái niệm luật định về hình phạt, mục đích của hình phạt,

các đặc trưng của hình phạt Các công trình nổi bật gồm có: Sách chuyên khảo Trách

nhiệm hình sự và hình phạt 37

của Trường ĐH Luật Hà Nội do GS.TS Nguyễn Ngọc

Hòa chủ biên dành phần lớn nội dung để phân tích, bình luận các vấn đề lý luận hình phạt như khái niệm, mục đích và quy định của pháp luật hình sự về các hình phạt cụ

thể, quyết định hình phạt, các biện pháp miễn, giảm hình phạt Bài viết Quan điểm tiếp

cận hiệu quả của hình phạt 38 của TS Nguyễn Mạnh Kháng đặt nền móng về lý luận

cho các nghiên cứu về hiệu quả hình phạt trên cơ sở xác định bản chất và mục đích của

hình phạt Một số bài viết Một số vấn đề về khái niệm hình phạt, 39 đã đề cập một cách

sơ lược về hai học thuyết hình phạt, phân tích các đặc trưng hình phạt theo quan điểm của Hart, từ đó đánh giá, phân tích, các đặc trưng của hình phạt theo pháp luật hình sự

35

Bộ Tư Pháp, Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý (1995), Hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam, NXB CTQG

36 Đào Trí Úc (Chủ biên) (1995), Tội phạm học, Luật hình sự và Tố tụng hình sự, Viện Nghiên cứu Nhà nước và

Pháp luật, NXB CTQG, Hà Nội

37 Nguyễn Ngọc Hòa (Chủ biên) (2001), Trách nhiệm hình sự và hình phạt, Trường ĐH Luật Hà Nội, NXB

CAND

38 Nguyễn Mạnh Kháng (2002), “Quan điểm tiếp cận hiệu quả của hình phạt”, Tạp chí NN và PL, (8), tr 44-51

39 Phạm Văn Beo (2005), Một số vấn đề về khái niệm hình phạt, Tạp chí NN và PL, (11), tr 27-31

Trang 24

Việt Nam, bình luận khái niệm hình phạt theo Điều 26 BLHS năm 1999 Bài viết Bàn

về bản chất và chức năng của hình phạt 40 của tác giả Nguyễn Sơn phân tích chức năng của hình phạt bắt nguồn từ chức năng của Luật hình sự và các yếu tố tác động xã hội

của hình phạt Một số bài viết tạp chí đáng chú ý khác như Bàn về mục đích của hình

phạt của Dương Tuyết Miên;41 Hình phạt – Một số vấn đề lý luận của tác giả Nguyễn

thuyết đến quy định của pháp luật hình sự Cụ thể như trong sách chuyên khảo Hình

phạt bổ sung trong Luật hình sự Việt Nam 43

của TS Trịnh Quốc Toản từ trang 13 đến trang 16 đã giới thiệu sơ lược hai học thuyết hình phạt là học thuyết trừng trị và học

thuyết phòng ngừa Sách chuyên khảo Tội phạm học đương đại44

của TS Dương Tuyết Miên từ trang 264 đến trang 269 giới thiệu quan điểm của một số nhà tội phạm học cổ điển về hình phạt mà chủ yếu là giới thiệu học thuyết phòng ngừa tội phạm Công trình tuy không mang tính trực tiếp nhưng đề cập đến hướng nghiên cứu mới về hình phạt khi giới thiệu khái quát khoa học hình phạt học, cụ thể với phần nghiên cứu ở Chương VII từ trang 262 đến trang 279

Bên cạnh các tài liệu chuyên khảo, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam45

được tham khảo nhiều trong nghiên cứu, bởi đây là những nguồn tài liệu chuẩn chứa đựng một hệ thống tri thức cơ bản về Luật hình sự nói chung và hình phạt nói riêng, trong

đó trình bày những vấn đề lý luận cơ bản của hình phạt, giải thích quy định của pháp luật hình sự về các hình phạt cụ thể nhưng chưa mang tính chuyên sâu

40 Nguyễn Sơn (2002), “Bàn về bản chất và chức năng của hình phạt”, Tạp chí NN và PL, (9), tr 41-48

41 Dương Tuyết Miên (2000), “Bàn về mục đích của hình phạt”, Tạp chí Luật học, (3)

42 Nguyễn Mạnh Kháng (2000), “Hình phạt – Một số vấn đề lý luận”, Tạp chí NN và PL, (10)

43

Trịnh Quốc Toản (2011), Hình phạt bổ sung trong Luật hình sự Việt nam, NXB CTQG;

44 Dương Tuyết Miên (2013), Tội phạm học đương đại, NXB Chính trị - Hành chính

45 Lê Văn Cảm (Chủ biên), (2010), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Khoa Luật – ĐHQG Hà Nội, NXB ĐHQG Hà Nội; Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Trường

ĐH Luật Hà Nội, NXB CAND; Võ Khánh Vinh chủ biên (2011), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Khoa Luật – ĐH Huế, NXB CAND; Trần Thị Quang Vinh chủ biên (2012), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Trường ĐH Luật Tp HCM, NXB Hồng Đức

Trang 25

Một số công trình nghiên cứu về lý luận hình phạt như lý luận về quyền trừng trị, các học thuyết hình phạt của một số tác giả ở miền nam Việt Nam trước năm 1975

có giá trị tham khảo, vì các tác phẩm này nghiên cứu chủ yếu từ khoa học pháp lý hình

sự phương tây và quy định luật hình sự của Pháp nên gần với các nghiên cứu quốc tế

về vấn đề này Nổi bật nhất trong giai đoạn này có hai tác giả Nguyễn Huy Chiểu và

Nguyễn Quang Quýnh Trong cuốn sách Hình luật,46

tác giả Nguyễn Huy Chiểu trình

bày về nguồn gốc của Luật hình sự, các học thuyết của luật hình sự và tính chính đáng của quyền trừng trị, tính chất của hình phạt mang lại nhiều giá trị tham khảo Tác giả

Nguyễn Quang Quýnh trong sách chuyên khảo Hình Luật tổng quát 47 phân tích lịch sử luật hình sự Việt Nam thời kỳ Phong kiến với sự ảnh hưởng của các học thuyết nhân trị và pháp trị, phân tích các học thuyết hình sự phương Tây có nhiều giá trị tham khảo

Các công trình nghiên cứu lý luận về hình phạt ở Việt Nam đạt được nhiều thành tựu mà luận án có thể tiếp thu như khái niệm hình phạt, các đặc trưng của hình phạt và mục đích của hình phạt Điểm chưa đầy đủ trong nghiên cứu về lý luận hình phạt ở Việt Nam là các học thuyết về hình phạt, các nghiên cứu gần đây chỉ dừng ở mức độ khái quát và chưa cập nhật các phát triển mới về học thuyết hình phạt trên thế giới Luận án sẽ chú trọng nghiên cứu các học thuyết về hình phạt nhằm đặt nền tảng

lý luận vững chắc cho việc xây dựng khái niệm hình phạt, mục đích của hình phạt và

cơ sở lý luận cho việc hình thành và quy định của các hình phạt chính không giam giữ

So với nghiên cứu lý luận về hình phạt nói chung, các công trình nghiên cứu lý luận hình phạt chính không giam giữ ở Việt Nam còn hạn chế Xu hướng nghiên cứu một nhóm hình phạt được nghiên cứu ngày càng phổ biến trong giai đoạn gần đây, chủ yếu là hai nhóm hình phạt chính và hình phạt bổ sung Nghiên cứu về hình phạt chính

có Luận án tiến sĩ Các hình phạt chính trong luật hình sự Việt Nam của tác giả Nguyễn

Sơn,48 về hình phạt bổ sung có sách chuyên khảo Hình phạt bổ sung trong luật hình sự

Việt Nam của TS Trịnh Quốc Toản Trọng tâm của các công trình này là nghiên cứu

các hình phạt chính hoặc các hình phạt bổ sung cụ thể trong hệ thống hình phạt Một

số công trình khác có nghiên cứu liên quan đến lý luận hình phạt chính không giam

46 Nguyễn Huy Chiểu (1971-1972), Hình luật, Viện Đại Học Sài Gòn (Luật Khoa Đại học đường), Sài Gòn

1972, tr 334-335

47

Nguyễn Quang Quýnh (1973), Hình Luật tổng quát, NXB Lửa thiêng

48 Nguyễn Sơn (2002), Các hình phạt chính trong luật hình sự Việt Nam, Luận án tiến sỹ luật học, Viện Nghiên

cứu nhà nước và pháp luật;

Trang 26

giữ như bài viết Về vai trò của hình phạt chính trong hệ thống hình phạt49 của tác giả

Nguyễn Sơn Luận án tiến sĩ Các hình phạt chính không tước tự do trong luật hình sự

Việt Nam 50

của tác giả Nguyễn Minh Khuê gần với nội dung nghiên cứu của luận án khi nghiên cứu bốn hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ và trục xuất nhưng được nghiên cứu trên cơ sở quy định của BLHS năm 1999 Tác giả Nguyễn Minh Khuê đã có các nghiên cứu về lý luận các hình phạt chính không tước tự do dưới góc nhìn đối chiếu với các hình phạt tù có thời hạn, chung thân và tử hình trong pháp luật hình sự Việt Nam Công trình này đã nghiên cứu khái niệm và đặc điểm của các hình phạt chính không tước tự do trong Luật hình sự; Ý nghĩa của các hình phạt chính không tước tự do trong Luật hình sự Việt Nam; Các yêu cầu về mặt pháp luật đối với các hình phạt chính không tước tự do.51

Công trình nghiên cứu lý luận về hình phạt chính không tước tự do dựa trên quy định của BLHS năm 1999 nên một số kết luận không còn phù hợp theo quy định của BLHS năm 2015.52 Một số kết quả nghiên cứu

từ công trình có thể là nguồn tham khảo để luận án tiếp tục nghiên cứu nhằm làm phong phú và hoàn thiện hơn lý luận về các hình phạt chính không giam giữ dưới góc tiếp cận rộng và đa chiều hơn

Tình hình nghiên cứu quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các hình phạt chính không giam giữ cụ thể

Nghiên cứu về các hình phạt cụ thể trong hệ thống hình phạt đã được thực hiện nhiều tại Việt Nam, nhưng việc nghiên cứu thường được thực hiện dưới hai phạm vi:

Nghiên cứu một hình phạt cụ thể: hướng nghiên cứu này thường chỉ tập trung

vào các hình phạt truyền thống và thường được áp dụng phổ biến tại Việt Nam như hình phạt tử hình, hình phạt tù có thời hạn Gần đây nghiên cứu về các hình phạt không giam giữ ngày càng được quan tâm nên đã có một số các công trình nghiên cứu

về các hình phạt này, chủ yếu là hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ Các công trình cụ thể như: Bài viết của các tác giả Đỗ Văn Chỉnh,53 Dương Tuyết Miên54

49

Nguyễn Sơn (2002), “Về vai trò của các hình phạt chính trong hệ thống hình phạt”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật (09)

50Nguyễn Minh Khuê (2014), Các hình phạt chính không tước tự do trong Luật hình sự Việt Nam, Luận án tiến

sĩ luật học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam

51 Nguyễn Minh Khuê (2014), Tlđd số 50, tr 24-54

52Nguyễn Minh Khuê (2014), Tlđd số 50, tr 32 Cụ thể như đặc điểm “Các hình phạt chính không tước tự do không được áp dụng đối với các tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng”.

53 Đỗ Văn Chỉnh (2007), “Về hình phạt tiền quy định trong BLHS”, Tạp chí TAND, (09); Đỗ Văn Chỉnh (2009),

“Hình phạt tiền và thực tiễn áp dụng”, Tạp chí TAND, (05)

54 Dương Tuyết Miên (2006), “Sự mâu thuẫn giữa hình phạt tiền quy định tại Khoản 1 Điều 30 BLHS với một số tội phạm cụ thể và những bất cập của hình phạt này”, Tạp chí TAND, (15)

Trang 27

về hình phạt tiền chủ yếu phân tích, đánh giá quy định của BLHS năm 1999 và các

khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng hình phạt tiền Bài viết “Một số ý kiến

về hình phạt trục xuất trong BLHS năm 1999” 55

của tác giả Trịnh Tiến Việt và Nguyễn Cửu Đức Bình đã phân tích, bình luận quy định của BLHS về nội dung của hình phạt trục xuất như khái niệm, đối tượng bị áp dụng, quyền và nghĩa vụ của người

bị trục xuất Đồng thời các tác giả cũng đưa ra quan điểm về một số vướng mắc hiện nay khi áp dụng hình phạt trục xuất Phạm vi nghiên cứu của bài viết bao gồm hình phạt trục xuất với tư cách hình phạt chính và hình phạt bổ sung

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường “Hình phạt cải tạo không giam giữ

trong Luật hình sự Việt Nam và vấn đề bảo đảm quyền con người” 56 của chính nghiên cứu sinh là công trình nghiên cứu riêng hình phạt cải tạo không giam giữ theo quy định của BLHS năm 1999 dưới góc tiếp cận về bảo đảm quyền con người của người phạm tội Tiếp cận hình phạt dưới góc độ bảo đảm quyền con người là góc tiếp cận đang được quan tâm nhiều trong nghiên cứu về hình phạt hiện nay trong xu hướng chung của việc bảo đảm quyền con người trên thế giới

Các công trình nghiên cứu riêng về các hình phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất đã thực hiện tương đối đầy đủ việc đánh giá quy định của BLHS năm 1999

về các hình phạt này nên có giá trị tham khảo nhất định Tuy nhiên, các công trình này mang tính đánh giá một hình phạt độc lập mà chưa đánh giá trong tổng thể các hình phạt chính không giam giữ nên đã không xây dựng nền tảng lý luận và đánh giá tổng thể các hình phạt này trong hệ thống hình phạt Các công trình trên có đề cập đến một

số vấn đề lý luận như khái niệm, đặc điểm các hình phạt cải tạo không giam giữ, hình phạt tiền và chủ yếu đánh giá quy định của pháp luật hình sự và thực tiễn áp dụng các hình phạt này

Nghiên cứu một nhóm hình phạt: các công trình thường xác định nhóm hình

phạt nghiên cứu như các hình phạt chính, các hình phạt bổ sung hoặc nghiên cứu các hình phạt không giam giữ nói chung Các công trình tiêu biểu:

Luận án tiến sĩ “Các hình phạt chính không tước tự do trong Luật hình sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Minh Khuê đã nghiên cứu quy định của BLHS năm 1999 về

các hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ và trục xuất Đây là công

55

Trịnh Tiến Việt, Nguyễn Cửu Đức Bình (2003), “Một số ý kiến về hình phạt trục xuất”, Tạp chí KHPL, (04)

56 Nguyễn Thị Ánh Hồng (2013), Hình phạt cải tạo không giam giữ trong Luật hình sự Việt Nam và vấn đề bảo đảm quyền con người, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường tại Trường ĐH Luật Tp.HCM

Trang 28

trình có phạm vi nghiên cứu của luận án và kết quả nghiên cứu của công trình có thể được tham khảo khi đánh giá quy định của BLHS năm 1999 về các hình phạt này

Tác giả Nguyễn Sơn với Luận án tiến sỹ “Các hình phạt chính trong luật hình

sự Việt Nam” nghiên cứu cơ sở lý luận chung về các hình phạt chính trong hệ thống

hình phạt theo Luật hình sự Việt Nam; nội dung, vai trò và ý nghĩa của các hình phạt chính trong hệ thống hình phạt hiện hành; hiệu quả của các hình phạt chính và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả Công trình có liên quan gần gũi với luận án, một số nghiên cứu trong công trình mà luận án có thể kế thừa như khái niệm, tính chất và vai trò của hình phạt chính trong hệ thống hình phạt theo Luật hình sự Việt Nam

Một công trình khác nghiên cứu về một nhóm hình phạt tuy không trực tiếp với phạm vi nghiên cứu của Luận án nhưng có những kết quả nghiên cứu mà luận án có

thể tham khảo là sách chuyên khảo Hình phạt bổ sung trong Luật hình sự Việt Nam

của TS Trịnh Quốc Toản Công trình đã dành các trang từ trang 11 đến trang 51 để phân tích quan niệm về hình phạt, đây là nội dung nghiên cứu liên quan đến lý luận về hình phạt, giới thiệu sơ lược học thuyết hình phạt cũng như phân tích các khái niệm khoa học về hình phạt Luận án có thể tham khảo một số kết quả nghiên cứu của tác giả về nội dung này

Các công trình nêu trên tập trung nghiên cứu quy định về các hình phạt cụ thể của BLHS năm 1999 nên có ý nghĩa tham khảo trong phần nghiên cứu lịch sử quy định của các hình phạt chính không giam giữ Hiện nay chưa có công trình nghiên cứu tổng thể các hình phạt chính không giam giữ trong BLHS năm 2015

Nghiên cứu pháp luật hình sự nói chung và hình phạt nói riêng trong đó có các hình phạt chính không giam giữ của pháp luật hình sự một số nước được thực hiện ngày càng nhiều ở Việt Nam Điều này xuất phát từ yêu cầu hội nhập trong quan hệ quốc tế và yêu cầu tham khảo kinh nghiệm nước ngoài trong quá trình xây dựng, sửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật hình sự Các công trình tiêu biểu và có nhiều giá trị tham khảo thường nghiên cứu pháp luật hình sự nước ngoài dưới góc độ giới thiệu các quy định của pháp luật hình sự về các hình phạt cụ thể hoặc nghiên cứu so sánh với quy định của pháp luật hình sự Việt Nam Tuy nhiên, vì công trình dưới dạng các bài viết tạp chí nên chủ yếu mang tính chất giới thiệu, bình luận dựa trên nội dung quy định trong BLHS của các nước mà chưa đánh giá một cách hoàn chỉnh về lý luận, quy định pháp luật hoặc thực tiễn áp dụng các hình phạt Khi nghiên cứu pháp luật hình sự

Trang 29

quốc tế và pháp luật hình sự một số nước về các hình phạt chính không giam giữ, chủ yếu tác giả sẽ tham khảo quy định pháp luật và các công trình nghiên cứu khoa học của các nhà nghiên cứu ở nước ngoài

Thứ ba, nghiên cứu về thực tiễn áp dụng các hình phạt chính không giam giữ

Các luận án tiến sỹ và luận văn thạc sỹ nghiên cứu về hình phạt thường nghiên cứu về thực tiễn áp dụng của một nhóm hình phạt hoặc các hình phạt cụ thể Kết quả nghiên cứu về thực tiễn áp dụng có liên quan đến các hình phạt chính không giam giữ trong các công trình này phụ thuộc vào phạm vi không gian và thời gian của số liệu thống kê

Bên cạnh đó, một số bài viết khoa học đánh giá và chỉ ra các bất cập, hạn chế trong thực tiễn áp dụng các hình phạt chính không giam giữ Các bài viết tiêu biểu

như: “Vai trò của gia đình trong việc thi hành các loại hình phạt không tước tự do và

các biện pháp tư pháp” 57 của tác giả Trần Quang Tiệp, phân tích vai trò của gia đình trong việc thi hành các loại hình phạt không giam giữ trong đó có hình phạt cải tạo

không giam giữ; “Thi hành hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo và hình phạt cải tạo

không giam giữ trước yêu cầu của cải cách tư pháp”58

của tác giả Nguyễn Văn Nghĩa tuy phân tích thực trạng thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ nhưng qua đó cũng

làm sáng tỏ một số nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả áp dụng hình phạt này “Hình

phạt tiền và thực tiễn áp dụng”59

của tác giả Đỗ Văn Chỉnh đã phân tích khái quát quy định của BLHS năm 1999 về hình phạt tiền và đưa ra một số nhận định về thực tiễn áp dụng hình phạt tiền

Tham luận “Hoàn thiện hệ thống hình phạt đáp ứng yêu cầu cải tư pháp hiện

nay”60 của PGS.TS Trần Văn Độ tập trung phân tích, đánh giá quy định của BLHS năm 1999 về hệ thống hình phạt và các kiến nghị về phương hướng và các kiến nghị

cụ thể nhằm hoàn thiện quy định của BLHS về hệ thống hình phạt theo yêu cầu cải cách tư pháp về hình phạt Bài tham luận của PGS.TS Trần Văn Độ cũng đưa ra nhiều kết luận quan trọng về thực tiễn áp dụng các hình phạt nói chung và các hình phạt chính không giam giữ nói riêng mà nghiên cứu sinh có thể tham khảo

57

Trần Quang Tiệp (2004), Tlđd số 2

58 Nguyễn Văn Nghĩa (2006), “Thi hành hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo và hình phạt cải tạo không giam

giữ trước yêu cầu của cải cách tư pháp”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 12, tr 31-39

59 Đỗ Văn Chỉnh (2009), “Hình phạt tiền và thực tiễn áp dụng”, Tạp chí TAND, (5), tr 26-34

60

Trần Văn Độ (2014), “Hoàn thiện hệ thống hình phạt đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay”, Kỷ yếu Hội

thảo khoa học “Hoàn thiện quy định của BLHS về các hình phạt không tước tự do” do Bộ Tư pháp tổ chức ngày

14/7/2014

Trang 30

Tham luận “Hoàn thiện quy định của BLHS về hình phạt tiền, cải tạo không

giam giữ theo hướng mở rộng khả năng áp dụng các hình phạt này”61 của tác giả

Phạm Quý Tỵ đã đánh giá thực tiễn áp dụng và phân tích một số nguyên nhân của tình trạng áp dụng hạn chế hai hình phạt này trên thực tế

Ngoài ra trong các công trình nghiên cứu dưới hình thức các Luận án tiến sỹ, các luận văn thạc sỹ về các hình phạt chính không giam giữ cụ thể hoặc có liên quan đều có những đánh giá, phân tích nhất định về thực tiễn áp dụng các hình phạt này Tuy nhiên, nghiên cứu thực tiễn áp dụng các hình phạt có giá trị mang tính thời sự trong giai đoạn nghiên cứu, nên các công trình nghiên cứu về hình phạt cần phải liên tục nghiên cứu về thực tiễn áp dụng vì thực tiễn áp dụng hình phạt một mặt chịu ảnh hưởng của quy định của pháp luật hình sự còn có các yếu tố tác động xã hội khác

2 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

Trên thế giới, việc nghiên cứu hình phạt như các học thuyết, khái niệm, đặc trưng, mục đích hình phạt đã được thực hiện từ rất sớm và đạt nhiều thành tựu, làm nền tảng để nghiên cứu lý luận về hình phạt chính không giam giữ Tuy nhiên, nghiên cứu lý luận về hình phạt chính không giam giữ còn trãi rộng, thiếu tập trung, chủ yếu nghiên cứu lý luận về các biện pháp thay thế cho hình phạt tù nói chung mà chưa đề cập một cách trực tiếp đến lý luận hình phạt chính không giam giữ Lý do của tình hình nghiên cứu này là do sự khác biệt trong phân chia hệ thống hình phạt và quy định các hình phạt cụ thể Tuy nhiên, các nghiên cứu về các hình phạt chính không giam giữ cụ thể lại rất phát triển trong khoa học pháp luật hình sự và nhiều quốc gia đã đạt được hiệu quả rất đáng kể trong thực tiễn áp dụng các hình phạt này

Pháp luật hình sự Việt Nam dựa trên nền tảng của chủ nghĩa Macxit, tiếp thu những thành tựu của khoa học luật hình sự thế giới, nghiên cứu lý luận về hình phạt đã được thực hiện từ sớm và khá nhiều ở Việt Nam nhưng chủ yếu nghiên cứu về khái niệm, các đặc trưng và mục đích của hình phạt Các nghiên cứu về học thuyết hình phạt và các xu hướng cải cách hình phạt hiện nay đã dần được quan tâm nhưng chưa

có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu nhằm hoàn thiện lý luận về hình phạt Trong khi đó, nghiên cứu lý luận về hình phạt chính không giam giữ tuy đã đạt được

61

Phạm Quý Tỵ (2014), “Hoàn thiện quy định của BLHS về hình phạt tiền, cải tạo không giam giữ theo hướng

mở rộng khả năng áp dụng các hình phạt này”, Kỷ yếu Hội thảo “Hoàn thiện quy định của BLHS về các hình phạt không tước tự do” do Bộ Tư pháp tổ chức ngày 14/7/2014

Trang 31

các thành công nhất định nhưng chủ yếu tiếp cận dưới góc độ so sánh với các hình phạt tước tự do Nghiên cứu về hình phạt chính không giam giữ cụ thể chủ yếu chỉ

nghiên cứu quy định của BLHS năm 1999 Luận án tiến sĩ Các hình phạt chính không

tước tự do trong luật hình sự Việt Nam của tác giả Nguyễn Minh Khuê gần với nội

dung nghiên cứu của luận án khi nghiên cứu bốn hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ và trục xuất nhưng được nghiên cứu trên cơ sở quy định của BLHS năm 1999 Tác giả Nguyễn Minh Khuê đã nghiên cứu về lý luận các hình phạt chính không tước tự do dưới góc nhìn đối chiếu với các hình phạt tù có thời hạn, chung thân

và tử hình trong pháp luật hình sự Việt Nam Một số kết quả nghiên cứu về lý luận và đánh giá quy định của BLHS năm 1999 từ công trình có thể là nguồn tham khảo để luận án tiếp tục nghiên cứu nhằm làm phong phú và hoàn thiện hơn lý luận về các hình phạt chính không giam giữ dưới góc tiếp cận rộng và đa chiều hơn

Trong Luận án này, bên cạnh kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học trước đây, những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu bao gồm:

- Lý luận về hình phạt chính không giam giữ như: khái niệm, các đặc trưng, và cơ sở của hình phạt chính không giam giữ; vai trò, ý nghĩa, hình thức của các hình phạt chính không giam giữ và phân biệt với các biện pháp cưỡng chế khác Điểm mới của luận án là góp phần làm phong phú hơn về lý luận các hình phạt chính không giam giữ khi tiếp cận dưới góc độ các học thuyết về hình phạt, xu hướng vận động của pháp luật hình sự và yêu cầu của thực tiễn

- Luận án tập trung nghiên cứu bốn hình phạt chính không giam giữ gồm cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ và trục xuất theo quy định của BLHS năm

2015 Đặt bốn hình phạt này trong tổng thể để đánh giá một cách toàn diện từ khái niệm, đặc điểm, cơ sở, đánh gía vai trò trong hệ thống hình phạt để nhằm mục tiêu hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về các hình phạt chính không giam giữ, tiến tới xây dựng một hệ thống hình phạt hiệu quả Luận án nghiên cứu quy định của BLHS năm 2015 các hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế trong quy định của BLHS nhằm đánh giá mức độ cụ thể hóa các yêu cầu của cải cách tư pháp về các hình phạt chính không giam giữ

- Luận án cũng nghiên cứu quy định của pháp luật hình sự quốc tế và một

số nước nhằm tham khảo kinh nghiệm cho Việt Nam

Trang 32

- Ngoài ra, tuy một số công trình nghiên cứu trước có đề cập đến nhưng Luận án cần tiếp tục nghiên cứu số liệu thống kê xét xử những năm gần đây, các bản

án cụ thể nhằm đánh giá một cách đầy đủ các hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế trong thực tiễn áp dụng Đặc biệt, Luận án sẽ khảo sát những người áp dụng pháp luật

và các chuyên gia pháp lý để nghiên cứu nguyên nhân và các giải pháp khắc phục cho thực tiễn áp dụng hình phạt chính không giam giữ

Tuy có một số công trình nghiên cứu về các hình phạt chính không giam giữ nhưng chủ yếu nghiên cứu quy định của BLHS năm 1999 Việc tiếp tục nghiên cứu các hình phạt này với góc tiếp cận mới, đa chiều sẽ làm phong phú hơn về lý luận nhắm tạo nền tảng lý luận cho việc đánh giá quy định của BLHS năm 2015 trong bối cảnh hiện nay là rất cần thiết, có ý nghĩa khoa học, pháp lý và thực tiễn

Trang 33

PHẦN NỘI DUNG CỦA LUẬN ÁN

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN VỀ HÌNH PHẠT CHÍNH KHÔNG GIAM GIỮ

1.1 Khái niệm, đặc trưng, mục đích và phân loại hình phạt

1.1.1 Khái niệm hình phạt

Nghiên cứu về hình phạt trong khoa học pháp lý hình sự được bắt đầu từ rất sớm, đến thế kỷ XVIII là giai đoạn nở rộ của các học thuyết tội phạm học, trong đó bàn nhiều về mục đích của hình phạt Xét về bản chất, hình phạt là công cụ Nhà nước

sử dụng để đáp trả những hành vi xâm phạm đến các lợi ích được Nhà nước bảo vệ

C.Mac đã cho rằng “Hình phạt không phải là một cái gì khác ngoài phương tiện để tự

bảo vệ mình của xã hội chống lại sự vi phạm các điều kiện tồn tại của nó, dù cho những điều kiện ấy có thế nào đi chăng nữa”.62 Tuy nhiên, mỗi nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử nhất định lại sử dụng phương tiện hình phạt khác nhau Sự ra đời của các học thuyết về hình phạt nhằm lý giải cho sự khác nhau về mục đích, các loại và cách thức thi hành hình phạt Các nghiên cứu về hình phạt trước đây thường tập trung

ở hai học thuyết cơ bản sau:

Học thuyết trừng trị (retributive theory) hay học thuyết hình phạt tuyệt đối

(Asolute Theory)63 quan niệm rằng hình phạt là công cụ Nhà nước sử dụng để trừng trị người phạm tội vì đó là điều mà người phạm tội xứng đáng phải chịu vì những hành vi phạm tội của họ.64 Học thuyết trừng trị dựa trên hai nguyên tắc cơ bản là tội phạm đáng bị trừng phạt và không có một biện pháp nào khác ngang bằng hơn so với hình phạt mà người phạm tội phải gánh chịu Học thuyết trừng trị tuy chính thức được I.Kant65 phát triển thành một học thuyết cụ thể nhưng tư tưởng dùng hình phạt như là công cụ để trả thù hoặc trừng trị người phạm tội có nguồn gốc từ sự lý giải lâu đời và

cổ xưa nhất về hình phạt, theo đó hình phạt bắt nguồn từ sự phản ứng bản năng của con người, được gọi theo nhiều cách thức khác nhau như sự tức giận, sự giận dữ hoặc

Trang 34

trừng phạt bằng chính những gì họ đã gây ra, nghĩa là chúng ta phải đối xử với người phạm tội như chính anh ta đã phạm tội đối với người vô tội và đây là điều không thể Bên cạnh đó, trên thực tế không thể và cũng không cần thiết để tạo ra sự ngang bằng tuyệt đối giữa sự mất mát thiệt hại mà hình phạt mang lại với sự tổn thương mà tội phạm gây ra.67 Học thuyết trừng trị xuất phát từ ý niệm công bằng tuyệt đối nên các hình phạt thường hà khắc và có xu hướng lạm dụng hình phạt.

Tuy nhiên, học thuyết trừng trị đã chứa đựng những hạt nhân hợp lý phản ánh những khía cạnh thuộc về bản chất, đặc trưng của hình phạt Đó là: Người thực hiện tội phạm phải gánh chịu hình phạt, đây là luận điểm quan trọng hình thành nên đặc tính cơ bản của hình phạt là hình phạt chỉ áp dụng cho chủ thể thực hiện tội phạm; Hình phạt là sự trừng phạt nên về nội dung phải có nội dung tước hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội và có liên hệ mật thiết với đặc thù của những loại hành vi phạm tội nhất định; Hình phạt phải tương xứng với tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội Đây là những luận điểm quan trọng để hình thành nên sự đa dạng trong hệ thống hình phạt

Học thuyết vị lợi (Utilitarian theory)68 hay học thuyết phòng ngừa, học thuyết

hình phạt tương đối (Relative Straftheorien,69 Relative theory70) do Cesare Beccaria khởi xướng và được sự ủng hộ của nhiều nhà tội phạm học như Jeremy Bentham.71

Học thuyết này còn có tên gọi khác là học thuyết hậu quả (Consequentialism theory).72

Học thuyết vị lợi quan niệm hình phạt nhằm ngăn ngừa người bị kết án tiếp tục phạm tội, cải tạo người phạm tội và phòng ngừa tội phạm.73 Học thuyết vị lợi đưa ra ba nhận định quan trọng về hình phạt như sau:74 Hình phạt chỉ để giúp phòng ngừa hoặc giảm thiểu tội phạm, không sử dụng hình phạt để trả thù người phạm tội; Hình phạt phải đưa

ra một cách thức và mức độ như là cách thức và mức độ tốt nhất cho việc giảm thiểu hoặc phòng ngừa tội phạm, nghĩa là sử dụng hình phạt ở mức độ cần thiết tối thiểu để phòng ngừa tội phạm; Một người chỉ bị áp dụng hình phạt khi việc áp dụng hình phạt

Trang 35

là cách tốt nhất để phòng ngừa và giảm thiểu tội phạm Những tư tưởng này là nền tảng cho việc hình thành những chính sách hình sự quan trọng như chính sách tiết kiệm cưỡng chế hình sự, nhằm hạn chế việc Nhà nước lạm dụng hình phạt để trừng phạt người phạm tội

Sự ra đời của học thuyết vị lợi là một bước tiến trong lịch sử hình phạt nhằm thay đổi hệ thống tư pháp hà khắc và đầy bất công thời bấy giờ Học thuyết trừng trị quan niệm hình phạt chỉ gắn với người phạm tội vì tội phạm họ đã thực hiện xứng đáng phải chịu hình phạt, học thuyết vị lợi gắn hình phạt với các yếu tố khách quan tác động đến tội phạm Tuy nhiên, học thuyết vị lợi cũng tồn tại những hạn chế nhất định:

Một là học thuyết vị lợi hình phạt phải xây dựng trên nguyên tắc Lợi ích/bất lợi, nếu

hai tội phạm gây ra những thiệt hại cho xã hội khác nhau mà lại bị trừng phạt cùng một mức độ như nhau thì sẽ không có gì ngăn cản cá nhân thực hiện tội phạm gây ra thiệt hại cho xã hội nhiều hơn.75 Tuy nhiên, đánh giá lợi ích do tội phạm mang lại cho người

phạm tội và những bất lợi do hình phạt gây ra cho họ là rất khó khăn; Hai là học

thuyết vị lợi quan niệm hình phạt để phòng ngừa người phạm tội lập lại chính hành vi phạm tội, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội trong tương lai nhưng tương lai là điều không biết trước Vì để ngăn ngừa và phòng ngừa người phạm tội tiếp tục thực hiện tội phạm, hình phạt tù thường được quy định và áp dụng phổ biến dẫn đến xu hướng lạm

dụng hình phạt tù; Ba là mục đích ngăn ngừa những người khác trong xã hội thực hiện

tội phạm dẫn đến người phạm tội có thể phải chịu một hình phạt cao hơn mức mà họ đáng phải chịu vì chính hành vi phạm tội của họ, là điều không công bằng đối với người phạm tội

Do hai học thuyết trên đều có những hạt nhân hợp lý và những hạn chế nhất định, nên có một số học giả đã hợp nhất hai học thuyết trên thành học thuyết liên hợp76

(“Hybrid” Theory;77 Compromise Theory;78 Mixed Theory79) theo học thuyết này hình phạt không chỉ có mục đích trừng trị mà còn có mục đích phòng ngừa tội phạm

Trong giai đoạn từ nửa sau thế kỷ 20 đến nay, nhiều nhà khoa học quan niệm

rằng lý thuyết hình phạt bao gồm bốn học thuyết: học thuyết trừng trị (retributive theory), học thuyết ngăn ngừa (deterrent theory), học thuyết phòng ngừa (preventive

Trang 36

theory), học thuyết cải tạo (reformative theory).80 Theo cách xác định này thì quan niệm về học thuyết trừng trị không có sự thay đổi, ba học thuyết còn lại là trên cơ sở phát triển từ học thuyết vị lợi

Học thuyết ngăn ngừa (deterrent theory) được hiểu là hình phạt được áp dụng

đối với người phạm tội để ngăn ngừa chính người phạm tội và cộng đồng chung bằng cách ngăn ngừa họ lặp lại chính những hành vi như người phạm tội.81 Các nhà hình phạt học phân chia học thuyết ngăn ngừa thành hai nhánh là:

Ngăn ngừa chung (General Deterrence): hình phạt được quy định và áp dụng để

ngăn ngừa các tội phạm trong tương lai bằng cách lấy bị cáo như là một ví dụ để thị uy những người khác để họ không lập lại hành vi mà bị cáo đã thực hiện

Ngăn ngừa riêng (Specific Deterrence): hình phạt được thiết kế nhằm để ngăn

ngừa người phạm tội, qua đó cải tạo họ Đồng thời hình phạt cũng tạo ra nỗi sợ hãi về việc bị trừng phạt cho người phạm tội để tránh lập lại hành vi

Học thuyết phòng ngừa (preventive theory): hình phạt được áp dụng để ngăn

cản chính cá nhân người phạm tội lập lại hành vi phạm tội bằng việc loại trừ khả năng thực hiện tội phạm của bị cáo bằng các hình phạt như bỏ tù, tử hình hoặc lưu đày.82

Học thuyết cải tạo (reformative theory): học thuyết trừng trị và học thuyết ngăn

ngừa quan niệm rằng “hãy để hình phạt phù hợp với tội phạm” thì học thuyết cải tạo cho rằng “hãy để hình phạt phù hợp với người phạm tội” Mục tiêu chính của hình

phạt là cải tạo người phạm tội, nó hầu như không trừng phạt mà gần như là một quá trình phục hồi người phạm tội.83 Gần đây một số nhà hình phạt học còn xây dựng học thuyết phục hồi (Rehabilitation theory)84 là một nội dung tách ra và nhấn mạnh hơn trong học thuyết cải tạo Học thuyết phục hồi cho rằng hình phạt là để phục hồi người phạm tội trở lại với xã hội và là nền tảng cho việc hướng tới xây dựng hệ thống tư pháp phục hồi

Các nhà hình phạt học thừa nhận rằng không một học thuyết nào ưu điểm hoàn toàn, các học thuyết đều có các ưu điểm và nhược điểm nhất định.85 Pháp luật hình sự các nước thường không tuyệt đối hóa một học thuyết nào nhưng có thể lựa chọn một

Trang 37

học thuyết làm điểm tựa chính cho việc xây dựng hệ thống hình phạt.86 Hình phạt nhằm mục đích cải tạo và phục hồi người phạm tội đang là xu hướng được ủng hộ rộng rãi trên toàn cầu, là kết quả của quá trình thay đổi trong lĩnh vực hình phạt.87

Pháp luật hình sự Việt Nam dựa trên nền tảng của chủ nghĩa Macxit, tiếp thu những thành tựu của khoa học luật hình sự thế giới, những tư tưởng tiến bộ, nhân đạo

về hình phạt Luật hình sự Việt Nam xác định hình phạt là một công cụ hữu hiệu để bảo vệ lợi ích của xã hội và của Nhà nước Khoa học pháp lý hình sự Việt Nam tồn tại những định nghĩa khác nhau về hình phạt, mỗi tác giả có thể diễn đạt khác nhau, nhấn mạnh các khía cạnh khác nhau của hình phạt Định nghĩa khoa học về hình phạt có thể

chia thành hai nhóm quan điểm: Thứ nhất: định nghĩa hình phạt trên cơ sở khái quát

các đặc trưng của hình phạt và xác định mục đích hình phạt gồm có trừng trị, giáo dục,

cải tạo người phạm tội.88 Cách định nghĩa này dựa trên nền tảng là sự kết hợp của hai

học thuyết trừng trị và học thuyết vị lợi nhưng chưa nhấn mạnh sự ưu tiên của học

thuyết vị lợi; Thứ hai: định nghĩa hình phạt trên cơ sở xác định đặc trưng của hình phạt

và xác định mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội.89 Cách định nghĩa nêu trên quan niệm trừng trị là nội dung cùng với các biện pháp khác để đạt được mục đích cải tạo, giáo dục phòng ngừa riêng và chung, không nên lẫn lộn giữa mục đích và biện pháp để đạt được mục đích đó.90 Định nghĩa này xác định hình phạt có mục đích cải tạo, giáo dục người phạm tội, phòng ngừa tội phạm nghĩa là dựa trên nền tảng học thuyết vị lợi

Tuy tồn tại hai quan điểm khác nhau trong khoa học nhưng quan điểm chi phối trong pháp luật hình sự Việt Nam là quan điểm thứ nhất BLHS năm 1985, BLHS năm

1999 và BLHS năm 2015 đều quy định hình phạt có mục đích trừng trị, giáo dục, cải

86 Wang Shizhuo (2010), Tlđd số 16, tr 82 C ó ý kiến cho rằng pháp luật hình sự của Trung Quốc quy định về hình phạt dựa trên học thuyết liên hợp, nghĩa là kết hợp hai học thuyết trừng trị và học thuyết vị lợi, nhưng nhấn mạnh yếu tố phòng ngừa (the unified theory based upon prevention)

87 A Krishna Kumari (2007), Tlđd số 17, tr 30

88 Nguyễn Ngọc Hòa (chủ biên) (2001), Tlđd số 38, tr 29:“Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất được quy định trong luật hình sự, do Tòa án áp dụng cho chính người đã thực hiện tội phạm, nhằm trừng trị và giáo dục họ, góp phần vào việc đấu tranh phòng và chống tội phạm, bảo vệ chế độ và trật tự xã hội cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân”

89 Đào Trí Úc chủ biên (1995), Tlđd số 37, tr 195:

“Hình phạt là biện pháp cưỡng chế do Tòa án quyết định trong bản án đối với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm và được thể hiện ở việc tước đoạt hoặc hạn chế các quyền và lợi ích do pháp luật quy định đối với người bị kết án

Hình phạt được áp dụng nhằm mục đích giáo dục lại và cải tạo người bị kết án trở thành người có ích cho xã hội, có thái độ chân chính đối với lao động, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, phòng ngừa họ phạm tội mới

Hình phạt không có mục đích gây đau đớn về thể xác hoặc hạ thấp nhân phẩm của con người”

90 Bộ Tư Pháp, Tlđd số 36, tr 89

Trang 38

tạo người phạm tội và phòng ngừa tội phạm.91 Quy định này phản ánh chính sách hình phạt của pháp luật hình sự Việt Nam dựa trên sự kết hợp của nhiều học thuyết là phù hợp với xu hướng chung của nhiều quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, quan niệm hiện đại về học thuyết hình phạt đã phát triển các nội dung của học thuyết vị lợi thành các học thuyết độc lập nhằm xác định cụ thể mục đích ưu tiên trong chính sách hình phạt Pháp luật hình sự các nước đang có xu hướng chuyển trọng tâm vào mục đích cải tạo, giáo dục người phạm tội Khoa học pháp lý hình sự Việt Nam tuy kết hợp các học thuyết hình phạt nhưng chưa nhấn mạnh sự ưu tiên trong từng mục đích cụ thể Để phù hợp lý luận và quy định của pháp luật hình sự về hình phạt, quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong yêu cầu cải cách tư pháp, cần xác định mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội là mục đích ưu tiên của hình phạt, là điểm tựa chính trong chính sách hình phạt nhằm phát huy tối đa hiệu quả trong công cuộc đấu tranh phòng ngừa

và chống tội phạm Định nghĩa khoa học về hình phạt cần làm rõ các đặc trưng và mục đích của hình phạt, trong đó nhấn mạnh mục đích ưu tiên nhằm đảm bảo nhất quán chính sách hình sự Bên cạnh đó, cần phân biệt mục đích của hình phạt đối với người phạm tội và pháp nhân thương mại phạm tội Theo đó, luận án đưa ra định nghĩa khoa học về hình phạt như sau:

“Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất được quy định trong luật hình sự, do Tòa án áp dụng cho chính người, pháp nhân thương mại phạm tội đã thực hiện tội phạm

Hình phạt nhằm răn đe, ngăn ngừa, phòng ngừa người phạm tội tiếp tục thực hiện tội phạm và nhằm mục đích cao nhất là cải tạo, giáo dục họ tuân thủ pháp luật Hình phạt còn nhằm ngăn ngừa, giáo dục ý thức pháp luật cho những người khác trong xã hội, góp phần đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm

Hình phạt nhằm răn đe, ngăn ngừa, phòng ngừa pháp nhân thương mại thực hiện tội phạm”

1.1.2 Các đặc trƣng của hình phạt

Tuy tồn tại các học thuyết hình phạt khác nhau nhưng phần lớn các nhà khoa học lại dễ dàng thống nhất được các đặc trưng cơ bản của hình phạt Khoa học pháp lý hình sự phương Tây thừa nhận và ủng hộ rộng rãi năm đặc trưng của hình phạt do

91 Điều 20 BLHS 1985, Điều 26, 27 BLHS năm 1999, Điều 30, 31 BLHS 2015

Trang 39

H.L.A Hart đưa ra bởi nó chứa đựng những hạt nhân hợp lý về hình phạt.92 Khoa học pháp lý hình sự Việt Nam trên cơ sở tiếp thu các giá trị tiến bộ của Luật hình sự thế giới đã xác định hình phạt bao gồm 4 đặc trưng:93

Thứ nhất: Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước

Tính chất nghiêm khắc nhất của hình phạt được thể hiện ở nội dung tước hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội và hậu quả của án tích Mức độ nghiêm khắc của từng loại hình phạt phụ thuộc vào tính chất và mức độ các quyền và lợi ích bị tước hoặc hạn chế Tính chất nghiêm khắc của hình phạt phải cao hơn hẳn các biện pháp trách nhiệm pháp lý khác như trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hành chính và trách nhiệm kỷ luật Hình phạt tuy nghiêm khắc nhưng không được mở ra đến vô hạn, không bao hàm việc gây đau đớn về thể xác hoặc hạ thấp danh dự, nhân phẩm, không tước các quyền nhân thân của người phạm tội Các quyền, lợi ích của người phạm tội

bị hình phạt tước hoặc hạn chế gồm:94

 Quyền sống trong trường hợp đặc biệt;

 Quyền tự do thân thể, tự do đi lại và cư trú;

 Quyền bầu cử; ứng cử, quyền làm việc trong các cơ quan nhà nước, quyền phục

vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân;

 Quyền tự do hành nghề hoặc làm công việc nhất định mà pháp luật không cấm;

 Quyền sở hữu đối với tài sản

Thứ hai: Hình phạt là biện pháp cưỡng chế được quy định trong luật hình sự

Đặc trưng này xuất phát từ yêu cầu của nguyên tắc pháp chế, là cơ sở để đảm bảo quyền của người phạm tội đồng thời thể hiện tính nghiêm khắc của hình phạt Đặc trưng này nhằm bảo đảm quyền của người phạm tội chỉ bị áp dụng hình phạt trong giới hạn cần thiết theo đúng sự chỉ định chặt chẽ của pháp luật, tránh sự tùy tiện của người

áp dụng pháp luật Đồng thời cũng thể hiện sự nghiêm khắc của hình phạt để thực hiện

92 H.L.A.Hart, (1968), Punishment and Responsibility, Oxford: Clarendon Press, tr 4 H.L.A.Hart (Herbert

Lionel Adolphus Hart) (1907-1992) là một trong những nhà triết học có ảnh hưởng trong cộng đồng các nước nói Tiếng Anh thế kỷ 20, là giáo sư Luật của Đại học Oxford Năm đặc trưng của hình phạt theo quan điểm của Hart gồm: Hình phạt phải bao hàm sự đau đớn về thể chất hoặc tinh thần (pain) hoặc những hậu quả khác thông thường là sự không dễ chịu (unpleasant) đáng kể nào đó; Hình phạt phải được áp dụng đối với hành vi phạm tội

đã vi phạm một hoặc một số quy phạm pháp luật hình sự; Hình phạt phải được áp dụng đối với người thực tế phạm tội hoặc bị cho là phạm tội về chính hành vi do người này thực hiện; Hình phạt phải được áp dụng một cách có ý thức bởi người áp dụng; Hình phạt phải được áp dụng và thi hành bởi một cơ quan có thẩm quyền được thiết lập bởi hệ thống pháp luật mà người phạm tội đã vi phạm

93 Trần Thị Quang Vinh chủ biên (2012), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam – Phần chung, Trường ĐH Luật

Tp.HCM NXB Hồng Đức – Hội Luật gia, tr 260-265 Các Giáo trình Luật hình sự của các cơ sở đào tạo luật của Việt Nam cũng thừa nhận các đặc trưng này

94 Xem các Điều từ Điều 28 đến Điều 40 BLHS năm 1999; các Điều 34-45 BLHS 2015

Trang 40

được chức năng là công cụ quyền lực của Nhà nước trong đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm

Thứ ba: Hình phạt là biện pháp cưỡng chế do Tòa án áp dụng Điều 102 Hiến

pháp năm 2013 quy định Tòa án là cơ quan duy nhất có chức năng xét xử nên là cơ quan duy nhất có thẩm quyền áp dụng hình phạt cho người phạm tội Tòa án áp dụng hình phạt phải theo một trình tự thủ tục đặc biệt, chặt chẽ được quy định trong BLTTHS Đặc điểm này xuất phát từ tính chất công của quan hệ pháp luật hình sự - là quan hệ giữa nhà nước và người phạm tội, trong quan hệ đó suy cho cùng người phạm tội đã có hành vi xâm phạm các quan hệ xã hội được Nhà nước bảo vệ nên họ phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi mà Nhà nước quy định

Thứ tư: Hình phạt chỉ áp dụng đối với chính chủ thể thực hiện tội phạm, bởi

trách nhiệm hình sự là loại trách nhiệm không thể thay thế hoặc chuyển giao Khi tội phạm do cá nhân, pháp nhân thương mại thực hiện thì hình phạt cũng chỉ được áp dụng cho chính cá nhân, pháp nhân đó

1.1.3 Mục đích của hình phạt

Bàn luận về mục đích của hình phạt là vấn đề kinh điển trong khoa học pháp lý hình sự, sự xuất hiện các học thuyết về hình phạt là để biện minh cho việc hình phạt được đặt ra và áp dụng nhằm vào những mục đích gì Mỗi học thuyết đặt vấn đề với các mục đích khác nhau về hình phạt sẽ dẫn đến việc thiết kế các hình phạt trong hệ thống hình phạt và cách thức thi hành trên thực tế khác nhau Hiện nay, pháp luật hình

sự của các nước thường không tuyệt đối hóa một mục đích cụ thể nào mà là kết hợp các mục đích của hình phạt

Khoa học pháp lý hình sự Việt Nam vẫn chưa hoàn toàn thống nhất quan điểm

về mục đích trừng trị của hình phạt Tuy nhiên, thừa nhận hình phạt có mục đích trừng trị bên cạnh mục đích cải tạo, giáo dục người phạm tội là quan điểm chi phối trong hoạt động lập pháp hình sự thể hiện xuyên suốt qua ba BLHS năm 1985, năm 1999 và năm 2015 Theo đó, khoa học pháp luật hình sự Việt Nam xác định hình phạt có hai mục đích sau:

Mục đích phòng ngừa riêng là “kết quả mà nhà nước mong muốn đạt được khi

dùng hình phạt tác động trực tiếp lên người phạm tội”,95 bao gồm các nội dung: Răn

đe, trừng trị người phạm tội; Cải tạo, giáo dục người phạm tội; Ngăn ngừa người bị kết

95 Trần Thị Quang Vinh (Chủ biên) (2012), Tlđd số 93, tr 268

Ngày đăng: 05/12/2018, 20:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
37. Phạm Văn Beo (2005), “Một số vấn đề về khái niệm hình phạt”, Tạp chí NN và PL, (11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về khái niệm hình phạt
Tác giả: Phạm Văn Beo
Năm: 2005
38. Bộ Tư Pháp, Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý (1995), Hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam, NXB CTQG Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Bộ Tư Pháp, Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý
Nhà XB: NXB CTQG
Năm: 1995
39. C. Mác và Ph. Ăngghen (1993), Toàn tập, NXB CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác và Ph. Ăngghen
Nhà XB: NXB CTQG
Năm: 1993
40. Nguyễn Huy Chiểu (1971-1972), Hình luật, Viện Đại Học Sài Gòn (Luật Khoa Đại học đường), Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình luật
41. Đỗ Văn Chỉnh (2007), “Về hình phạt tiền quy định trong BLHS”, Tạp chí TAND, (09) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về hình phạt tiền quy định trong BLHS
Tác giả: Đỗ Văn Chỉnh
Năm: 2007
25. Nghị định của Chính phủ số 54/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 8 năm 2001 hướng dẫn thi hành hình phạt Trục xuất Khác
27. Nghị Quyết 01/2013 của HĐTP TANDTC hướng dẫn áp dụng Điều 60 BLHS; b) Văn bản pháp luật bằng tiếng Anh 28. Penal Code of France Khác
35. United Nations Standard Minimum Rules for Non-custodial Measures (The Tokyo Rules) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w