1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Sáng kiến giáo dục: Văn nghị luận lớp 9

13 146 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 79,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua nhiều năm thử nghiệm tôi nhận thấy rằng: Để làm tốt một bài văn việc đầu tiên các em cần hiểu rõ đặc trưng của từng phương thức biểu đạt, trên cơ sở đó các em phải thiết lập được dàn

Trang 1

Phần I Đặt vấn đề

Tập làm văn là một phân môn có vị trí rất quan trọng trong

việc đánh giá kết quả học tập môn ngữ văn thông qua hệ thống các bài tập tạo lập văn bản cũng như thực hành sử dụng tiếng Việt Chương trình ngữ văn THCS

đã có nhiều đổi mới so với chương trình chỉnh lí 1995 Với quan điểm chú trọng tới việc rèn luyện, nâng cao kĩ năng thực hành tạo lập văn bản nói và viết, phân môn tập làm văn đã xây dựng nội dung theo cấu trúc đồng tâm, c

ó lăp lại (nâng cao) ở các lớp khác nhau Đây chính là điều kiện thuận lợi c

ho các em trong việc nâng cao khả năng nhận thức và kĩ năng, kĩ xảo thực hành tạo lập các kiểu văn bản

Mỗi bài tập làm văn có thể coi là một “tác phẩm nhỏ” của học sinh Tác phẩm ấy phản ánh khá rõ ràng nhận thức tình cảm của học sinh đối với vấn đề văn học và cuộc sống Nó cũng phản ánh khá rõ năng lực và tư duy, trình độ ngôn ngữ và một phần cá tính của học sinh

Là một giáo viên làm công tác giảng dạy, tôi thực sự không yên tâm trước nhiều cách nghĩ và cách cảm nhận của học sinh khi viết bài Có nhữngem bê nguyên si bài văn hay, có những em lắp ghép từ những mảnh v

ụn mà các em đã nhặt nhạnh được để tạo một bài văn thiếu logic Nguyên nhân từ đâu? Hiện nay có khá nhiều sách tham khảo, những bài văn hay, những bài văn mẫu tràn ngập trên thị trường Dường như ở mỗi em học sinh ít nhất cũng có được vài đầu sách làm “bảo bối” cho riêng mình Và khi đề tập làm văn cô giáo ra trùng với những bài văn mẫu thì các em cũng chẳng ngần ngại gì mà không chép Để giáo viên khó phát giác việc sao chép,các em đã trích góp nhặt từ nhiều bài văn mẫu thế là không khéo lại

“lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia”

Xuất phát từ thực tế đó, tôi nghĩ việc sao chép

của học sinh một phần do lỗi chúng ta Mỗi giáo viên chúng ta phải làm gì

để khắc phục tình trạng đó? Các nhà giáo dục học cho rằng : Học trò ngày

Trang 2

nay không còn là chiếc “bình chứa” để thầy “rót” kiến thức vào nữa, mà các em là “ngọn lửa” Việc dạy của thầy phải làm sao tiếp cho “ngọn lửa” bùng cháy lên niềm khát vọng chiếm lĩnh kiến thức, phải kiến tạo cho học trò một “con đường” để các em tự học Cần có trách nhiệm rèn cho các em

có thói quen vận động trí óc khi gặp một vấn đề cần tư duy Cần rèn cho học sinh có được những kĩ năng kĩ xảo khi làm bài

Qua nhiều năm thử nghiệm tôi nhận thấy rằng: Để làm tốt một bài văn việc đầu tiên các em cần hiểu rõ đặc trưng của từng phương thức biểu đạt, trên cơ sở đó các em phải thiết lập được dàn ý của bài viết Nếu chúng ta định hướng cho học sinh làm những yêu cầu trên thì có lẽ các em sẽ tự tin trong khi viết bài Tôi đã thực hiện và thu được một số kết quả đáng kể, sau đây là một vài kinh nghiệm nhỏ, tôi muốn cùng trao đổi với tất cả các anh chị đồng nghiệp, với những người đã từng trăn trở trước những bài viết của học sinh Rất mong sự đồng cảm, sẻ chia và trao đổi

- Trong chương trình ngữ văn THCS các em được làm quen với 6 phương thức biểu đạt ( Tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh, nghị luận , hành chính -công vụ) Đối với kiểu bài: tự sự, miêu tả, biểu cảm phần nào các em vẫn thể hiện được cảm xúc của mình qua bài viết, nhưng để đánh giá, nhận định một vấn đề trong xã hội, trong cuộc sống thì khá nhiều em còn lúng túng Bởi nghị luận xã hội là một lĩnh vực rất rộng: Từ bàn bạc những sự việc, hiện tượng trong đời sống đến luận bàn những vấn đề chính trị, chính sách, từ những vấn đề đạo đức,lối sống đến những vấn đề có tầm chiến lược, những vấn đề tư tưởng triết lí…Trong phạm vi tập làm văn ở nhà trường bậc THCS,học sinh được làm quen kiểu bài văn nghị luận xã hội ở mức độ thấp:

Nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống và nghị luận về một vấn đề

tư tưởng đạo lí

Trong cấu trúc chương trình sách giáo khoa Ngữ văn có các tiết:

+ Tiết 99: Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống

Trang 3

+ Tiết 100: Cách làm bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống + Tiết 108: Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí

+ Tiết 112: Cách làm bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí

- Trong khuôn khổ bài viết tôi nghiên cứu và đưa ra bố cục của dàn ý cơ bản cho kiểu bài nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống và nghị luận

về một vấn đề tư tưởng đạo lí Hy vọng bài viết này giúp học sinh có cách tiếp cận và viết tốt được kiểu bài nghị luận xã hội đảm bảo yêu cầu

Phần II Nội dung

1 Cơ sở lí luận.

Văn nghị luận được ra đời từ rất lâu Ở Trung Hoa văn nghị luận có từ thời Khổng Tử Ở nước ta văn nghị luận cũng là một thể loại có truyền thống lâu đời, nó có giá trị và tác dụng hết sức to lớn trong trường kì lịchsử của công cuộc dựng nước và giữ nước Tác phẩm “Chiếu dời đô”(1010)của

Lí Công Uẩn, “Cáo bình Ngô” (1428) của Nguyễn Trãi, “Chiếu cầu hiền” ( 1788) của Nguyễn Trường Tộ,“Hịch tướng sĩ” (1825) của Trần Quốc Tuấn .và đặc biệt thế kỉ XX, văn nghị luận phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết Hàng loạt tên tuổi các nhà chính luận xuất sắc với những áng văn nghị luận bất hủ mà tiêu biểu nhất là Chủ tịch Hồ Chí Minh với “Tuyên ngôn độc lập (1945) và với biết bao nhà văn viết nghị luận nổi tiếng sau này: Hoài Thanh Xuân Diệu, Đặng Thai Mai

Văn nghị luận là loại văn viết ra để phát biểu ý kiến, bày tỏ nhận thức đánh giá thái độ đối với cuộc sống bằng những luận điểm, lí lẽ, dẫn chứng Nếu tác phẩm văn học nghệ thuật phát biểu ý kiến bày tỏ thái độ cuộc sống bằng những hình tượng nghệ thuật gợi cảm thì văn nghị luận điễn đạt bằng những mệnh đề, phán đoán lôgic thuyết phục.Từ những điều nói trên,có thể nêu khái niệm về văn nghị luận: Văn nghị luận là loại văn trong đó người viết(người nói) đưa ra những lí lẽ,dẫn chứng về một vấn đề nào đó và thông qua cách thức bàn luận thuyết phục được người nghe

Trang 4

Ví dụ: Hãy thử so sánh hai đoạn văn sau đây:

Đoạn 1: “Biết bao hứng thú khác nhau ta tập hợp được nhờ cách ngao

du thú vị ấy, không kể sức khoẻ được tăng cường, tính khí trở nên vui vẻ Tôi thường thấy những kẻ ngồi trong các cỗ xe tốt chạy rất êm nhưng mơ màng, buồn bã, cáu kỉnh hoặc đau khổ; còn những người đi bộ lại luôn luôn

vui vẻ, khoan khoái và hài lòng với tất cả ” ( trích Đi bộ ngao du - Ru-xô)

Đoạn 2: “ Nắng bây giờ bắt đầu len tới đốt cháy rừng cây Những cây thông chỉ cao quá đầu, rung tít trong nắng những ngón tay bằng bạc dưới cái nhìn bao che của những cây tử kinh thỉnh thoảng nhô cái đầu màu hoa

cà lên trên màu xanh của rừng Mây bị nắng xua, cuộn tròn lại từng cục, lăn trên các vòm lá ướt sương, rơi xuống đường cái, luồn cả vào gầm xe ”

(trích Lặng lẽ Sa Pa - Nguyễn Thành Long)

Ở đoạn văn 1 là đoạn văn nghị luận, tác giả dùng lí lẽ và dẫn chứng để nêu bật vai trò và tác dụng của việc đi bộ ngao du Ở đoạn văn 2 là đoạn miêu tả, tác giả đã dùng những từ ngữ gợi cảm, phép nghệ thuật tu từ để miêu tả vẻ đẹp hết sức lãng mạn ở Sa Pa - xứ sở của những rặng đào

Văn nghị luận được xây dựng trên cơ sở của tư duy lôgíc Nhiệm

vụ của bài văn nghị luận là phát biểu dưới hình thức các luận điểm Luận điểm là linh hồn của bài viết Luận điểm đúng đắn, chân thực, đáp ứng nhu cầu thực tế thì mới có sức thuyết phục

Trong văn nghị luận, mỗi đoạn văn có một kết cấu riêng, chúng

thường mang bóng dáng một trong những mô hình cấu trúc: tổng - phân – hợp, diễn dịch, quy nạp Ở cấp độ liên câu các câu cũng được sắp xếp theo một trật tự tuyến tính Nếu trật tự các câu không phù hợp với trình tự lập luận thì tính logíc bị phá vỡ

Sức thuyết phục của một bài văn nghị luận trước hết toát ra từ một nội dung tư tưởng sâu sắc, từ hệ thống lí lẽ và luận chứng phong phú,

xác đáng Nhưng nếu nội dung sâu sắc, phong phú mà kết cấu không chặt chẽ, trình bày không rạch ròi gãy gọn, giữa các ý không có mối quan hệ lôgíc thì sức thuyết phục cũng giảm Sự chính xác mạch lạc trong suy luận

Trang 5

phải được thể hiện qua sự khúc chiết, chặt chẽ nhất quán, liên tục trong trình bày

Căn cứ vào nôi dung nghị luận thì văn nghị luận được chia làm 2 loại:

Nghị luận xã hội:

+ Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống: Trình bày quan điểm,

suy nghĩ, thái độ (khẳng định hay phủ định, biểu dương hay phê phán)

về một sự việc nào đó xảy ra trong đời sống (gia đình, học đường, xã hội )

* Ví dụ:

- Suy nghĩ của em về tình trạng thanh thiếu niên ham mê trò chơi điện tử

- Một tấm gương vượt khó trong học tập

- Vấn đề bảo vệ môi trường

- Cảm nhận của em về cách ăn mặc của một số bạn ở tuổi mới lớn

+ Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí: Trình bày suy nghĩ, thái độ về một quan niệm tư tưởng, đạo lí, lối sống, văn hoá định hình trong cuộc sống con người Những quan niệm đó thường thể hiện dưới hình thức một ý kiến một nhận định, một đánh giá có tính chất khuyên răn (tục ngữ, ca dao, danh ngôn, nhận định mang tính chân lí)

* Ví dụ:

- Nghị luận về đạo lí “Tôn sư trọng đạo”, “Uống nước nhớ nguồn”,

“Yêu nước thương nòi”

- Bàn về sự tranh giành và nhường nhịn

- Ý nghĩa của tình yêu thương

- Đức tính khiêm nhường

- Suy nghĩ của em từ câu ca dao:

Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ nư nước trong nguồn chảy ra

- Nghị luận văn học: Trình bày những nhận xét, đánh giá thông

qua việc cảm nhận, phân tích nhân vật văn học Những ý kiến nhận xét xuất phát từ cách xây dựng hình tượng nhân vật của tác giả ( ngoại hình, tính cách, hành động ) hoặc những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của

Trang 6

tác phẩm

* Ví dụ:

- Vẻ đẹp và bi kịch của người phụ nữ trong văn học trung đại

- Vẻ đẹp của người lính bộ đội cụ Hồ qua ba thời kì (chống Pháp,

chống Mĩ, thời hoà binh) qua ba bài thơ: Đồng chí củaChính Hữu, Bài thơ

về tiểu đội xe không kính - Phạm Tiến Duật, Ánh trăng - Nguyễn Duy

- Chiếc lược ngà - Bi kịch về chiến tranh hay bài ca về tình phụ tử

Với những đặc điểm, đặc trưng, yêu cầu, phân loại của kiểu văn nghị luận như trên, bài viết của tôi tập trung vào một phần nhỏ là cách lập dàn ý cho kiểu bài nghị luận xã hội

2 Nội dung cụ thể.

Mục đích của việc lập dàn ý

Gơt-tơ, nhà văn nổi tiếng của Đức quả quyết: Tất cả đều lệ thuộc vào bố cục Còn Đôt-tôi-ep-xki, nhà văn Nga của thế kỉ XX ước ao: Nếu tìm được một bản bố cục đạt thì công việc sẽ nhanh như trượt trên băng.Ix-pen, một nhà văn của Thuỵ Điển đã để hẳn một năm lao động xây dựng bố cục cho bản trường ca và ông đã hoàn thành bản trường ca đó trong ba tháng Thật vậy, để làm một dàn ý tốt không phải dễ Muốn có một dàn ý tốt thì ngoài việc nghiên cứu kĩ đề để lĩnh hội yêu cầu của đề còn phải có thói quen bố trí cho khoa học Có nhiều học sinh cho rằng: Thời gian làm bài rất hạn chế, chỉ 90 phút nếu còn phải lập dàn ý thì lãng phí mất khoảng thời gian quý báu!

Sự thật không phải như vậy Dàn ý là nội dung sơ lược của bài văn Nói khác, đó là những hệ thống suy nghĩ, tìm tòi, nhận xét, đánh giá của học sinhdựa trên yêu cầu cụ thể của đề bài Lập dàn ý trước khi viết bài có những cái lợi sau:

- Nhìn được một cách bao quát toàn cục nội dung chủ yếu mà bài làm cần đạt được, đồng thời thấy được mức độ giải quyết vấn đề sẽ nghị luận và đáp ứng những yêu cầu đề bài đặt ra, tránh bài làm xa lệch trọng tâm

- Thông qua việc làm dàn ý có điều kiện suy nghĩ sâu xa và toàn diện

Trang 7

hơn để điều chỉnh hệ thống luận điểm Lập dàn ý sẽ tránh tình trạng bỏ sót những ý quan trọng hoặc tránh những ý thừa

- Khi có dàn ý cụ thể người viết chủ động phân chia thời gian cho hợp lí Tránh tình trạng bài làm mất cân đối “đầu voi đuôi chuột”

Dưới đây là một số những cách lập dàn ý cơ bản cho các kiểu văn nghị luận xã hội:

KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT VẤN ĐỀ TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÍ

Dạng 1 Nghị luận về 1 tư tưởng, đạo lí trong 1 nhận định.

( Trong 1 câu châm ngôn, tục ngữ, nhận xét, ý kiến )

Dàn ý cơ bản.

1 Mở bài.

+ Giới thiệu vấn đề cần nghị luận

+ Đưa được vấn đề xác định được trong đề

+ Giới thiệu được nhận định

2 Thân bài.

- Giải thích khái niệm trong nhận định nếu có

* VD với đề: Tiền là nô lệ tốt nhưng là ông chủ tồi

Bài làm cần giải thích các khái niệm:

+ Tiền: là kim loại, giấy dùng để trao đổi hàng hoá

+ Nô lệ: người phục vụ, tuân theo mọi sự yêu cầu

+ Ông chủ: Người có quyền sai khiến người khác

- Lý giải vấn đề ( tại sao?) Tại sao tiền là nô lệ tốt và tại sao là ông chủ tồi?

- Nêu biểu hiện ( Như thế nào?) Có tiền có thể thể hiện lòng hiếu thảo; cung cấp đời sống tốt hơn, Khi là ông chủ thì con người ta bị đồng tiền chi phối, chạy theo đồng tiền…

- Đánh giá, luận bàn về vấn đề ( Là phần thể hiện rõ nhất bản lĩnh của người viết) Đưa ra các lập luận, giả thiết, lật xuôi, lật ngược vấn đề Tiền lúc nào cũng là nô lệ tốt? lúc nào cũng là ông chủ tồi?

3 Kết luận.

Trang 8

- Rút ra bài học thiết thực cho bản thân.

Dạng 2 Nghị luận về một tính cách, trạng thái tâm lí.

Dàn ý cơ bản.

1 Mở bài.

- Giới thiệu tính cách hoặc trạng thái tâm lí

2 Thân bài.

- Giải thích khái niệm

- Nêu biểu hiện của tính cách

- Cơ sở hình thành tính cách/ hoàn cảnh xuất hiện trạng thái tâm lí

- Đánh giá về tính cách, trạng thái ( tác dụng, tác hại, duy trì hay loại bỏ?)

- Luận bàn: lật ngược, lật xuôi vấn đề

3 Kết bài.

- Rút ra bài học cho bản thân

Ví dụ đề: Luận về sự bình yên.

Dàn ý cơ bản.

( Các phần mở bài cơ bản theo mẫu, bài viết này tập trung vào phần thân bài.)

1 Giải thích.

- Bình yên: là một trạng thái tâm lí của con người ( nhẹ nhõm, thanh thản,

an toàn, không phải chịu bất cứ áp lực, sự chi phối nào )

- Phân biệt giữa “bình yên” và “ bình an” Bình yên là cảm giác tỏa ra từ tâm hồn bên trong ( Rộng nghĩa hơn bình an), nó gầm với sự hạnh phúc

2 Biểu hiện.

- Khi ngồi bên người thân yêu, ngồi bên hồ nước, bên một cảnh đẹp,…con người ta sống với cái tôi của chính mình ( người cháu trong bài thơ “Bếp lửa” bình yên khi bên bà và bếp lửa, con người soi mình trong đôi mắt của

mẹ cảm thấy được bao bọc, được yêu thương…)

3 Khi nào con người ta có sự bình yên? Đây cũng đồng thời là phần luận bàn.

- Có thể dùng cách lập luận ngược vấn đề:

Trang 9

+ Con người tồn tại trong một cộng đồng xã hội luôn tiềm ẩn mọi bất trắc nên khó tìm thấy sự bình yên

+ Mỗi con người trong cuộc đời luôn là sự phấn đấu hướng tới những ước

mơ, điều đó dồng hành với những cảm xúc, lo lắng chưa đạt được mơ ước hay hưng phấn thái quá…thì cũng không có sự bình yên

+ Rời bỏ cộng đồng tìm về nơi thôn dã? Điều đó cũng trái với qui luật tự nhiên

+ Sự căng thẳng: Dù bận rộn nhưng biết tìm khoảng lặng trong một không gian, thời gian nào đó ( bữa cơm tối, những chia sẻ, những phút nghe nhạc…) làm vơi đi những căng thẳng, tìm đượ sự bình yên Những khoảnh khắc ấy tuy ít ỏi nhưng vô cùng quí giá

- Đánh giá về giá trị của sự bình yên: không phải là sự ngưng trệ, vẫn phải sống hết mình với cuộc đời nhưng vẫn phải tìm thấy sự thanh thản

4 Làm thế nào để ta có được sự bình yên?

- Bên ngoài: tự nguyện, chân thành, tích cực ( từ phạm vi nhỏ như gia đình, đến lớp học, làng xóm, quê hương, đất nước)

- Bên trong: sống đẹp, sống không ác, có cái nhìm tích cực trước cuộc sống, với con người, không thủ đoạn, cơ hội…

KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT SỰ VIỆC, HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG

Dàn ý cơ bản.

Thân bài.

1 Giải thích khái niệm

2 Nêu biểu hiện

3 Nguyên nhân

4 Đánh giá: + đúng / sai

+ Tích cực / tiêu cực

5 Luận bàn: + cách nhìn nhận của mọi người, của xã hội

+ Chúng ta đánh giá thế nào về những cách nhìn nhận ấy

+ Giải pháp: duy trì hay xoá bỏ?

Trang 10

Ví dụ đề: Luận về hiện tượng sống vô cảm.

Dàn ý

1 Giải thích khái niệm.

- Vô cảm: không có cảm xúc, thờ ơ, dửng dưng, bàng quan với mọi thứ xung quanh hoặc với chính bản thân mình

2 Biểu hiện.

- Thờ ơ với những buồn vui, sướng khổ, số phận của những người xung quanh

- Thờ ơ với những vấn đề của xã hội dù lớn, dù nhỏ Ví dụ: Sự kiện “giờ trái đất” , cộng đồng hưởng ứng nhiệt tình, có những người thản nhiên bật đèn, nghe nhạc…

- Thờ ơ với chính cuộc sống, tương lai của mình

3 Nguyên nhân

- Do cách sống vị kỉ

- Nhịp sống hối hả của xã hội thời hiện đại ( không đủ thời gian, sức lực)

- Tính chất của cuộc sống: đô thị hóa, không còn cách sống “hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau”

- Bị một cú sốc trong tâm lí dẫn đến sự chán trường

- Được bao bọc quá không cần phải phấn đấu, bận tâm

4 Luận bàn.

- Trách nhiệm của xã hội và mỗi con người?

- Tại sao lại có những con người sống luôn cống hiến mà lại có những người vô cảm?

- Tác hại của cách sống ấy?

5 Bài học.

- Bản thân mình nên sống như thế nào? Tránh xa hay đưa ra những giải pháp làm giảm bớt hiện tượng sống vô cảm?

Ngày đăng: 05/12/2018, 15:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w