MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1.1. Một trong những mục tiêu, nhiệm vụ của giáo dục - đào tạo của nước ta hiện nay là đào tạo, phát triển nguồn nhân lực. Chỉ có thể thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước một cách nhanh chóng và bền vững bằng việc ưu tiên phát triển nguồn nhân lực, cung cấp đầy đủ nhân lực được đào tạo. Nhiều văn bản của Đảng, Nhà nước, các bộ ban ngành, các địa phương,… đã khẳng định quan điểm đó. Quyết định số 579/ QĐ-TTg ngày 19/4/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020 cũng đã khẳng định mục tiêu đưa nhân lực Việt Nam trở thành nền tảng và lợi thế quan trọng nhất để phát triển bền vững đất nước, hội nhập quốc tế và ổn định xã hội, nâng trình độ năng lực cạnh tranh của nhân lực nước ta lên mức tương đương các nước tiên tiến trong khu vực, trong đó một số mặt tiếp cận trình độ các nước phát triển trên thế giới. Nghị quyết 29 của Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI Đảng) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo (GD-ĐT), đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã khẳng định, đào tạo nhân lực có kiến thức, kỹ năng và trách nhiệm nghề nghiệp hình thành hệ thống giáo dục nghể nghiệp với nhiều phương thức và trình độ đào tạo kỹ năng nghề nghiệp theo hướng ứng dụng, thực hành, bảo đảm đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật công nghệ của thị trường lao động trong nước và quốc tế. Để thực hiện được nhiệm vụ trên, đòi hỏi GD-ĐT phải thay đổi trên nhiều lĩnh vực, thay đổi trong quản lý đào tạo nói chung, quản lý từng thành tố của quá trình đào tạo nói riêng. Tất cả phải tạo thành một hệ thống, có mối quan hệ biện chứng với nhau để tạo nên động lực thúc đẩy đổi mới căn bản, toàn diện một cách bền vững. Trong các yếu tố tạo nên sự đổi mới căn bản, toàn diện đó, sự đổi mới công tác quản lý phương tiện dạy học (PTDH) là một trong những thành tố giữ vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng (ĐBCL) và hiệu quả GD-ĐT. 1.2. Là một thành tố trong cấu trúc của quá trình dạy học, PTDH trực tiếp góp phần nâng cao chất lượng đào tạo (CLĐT) bên cạnh các điều kiện bảo đảm khác như chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý (CBQL) giáo dục; tính hợp lý, khoa học, hiện đại của chương trình, nội dung đào tạo và phương pháp giảng dạy; năng lực, quy trình tổ chức quản lý; điều kiện tài chính; công tác kiểm định chất lượng; chất lượng đầu vào và giải quyết việc làm sau tốt nghiệp; công tác xã hội hóa;... Đối với các trường cao đẳng kinh tế - kỹ thuật (CĐKT-KT), vai trò của PTDH được khẳng định rõ ràng hơn: muốn đào tạo tay nghề cho người học phải có máy móc thiết bị để dạy nghề, đó là những phương tiện cần thiết để chuyển tải thông tin, kiến thức và rèn luyện kỹ năng thực hành cho người học. Việc đầu tư, trang bị PTDH hợp lý, phù hợp với ngành nghề đào tạo có ý nghĩa thiết thực đối với hoạt động dạy nghề. Thương hiệu, uy tín và việc xếp hạng các cơ sở đào tạo, đặc biệt là đối với đào tạo khối nghề kỹ thuật, phụ thuộc rất lớn vào điều kiện PTDH. Quản lý, đầu tư, sử dụng, bảo quản PTDH hiệu quả cũng là một trong vấn đề không thể thiếu trong việc góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ sở giáo dục, trong đó có CLĐT, nghiên cứu khoa học (NCKH) và hoạt động dịch vụ. 1.3. Trong những năm gần đây, việc đầu tư PTDH đã được các trường cao đẳng (CĐ) công lập quan tâm nhưng vẫn còn nhiều bất cập, ảnh hưởng đến hoạt động đào tạo, NCKH và các hoạt động khác của nhà trường. Quan niệm, nhận thức của CBQL, giảng viên (GV), nhân viên (NV) và sinh viên (SV) về tầm quan trọng của PTDH trong đào tạo còn hạn chế; so với yêu cầu hiện nay, mức đầu tư chưa đáp ứng nhu cầu hoạt động của nhà trường; sự đồng bộ, tính hiện đại còn chậm so với thực tiễn sản xuất và sự phát triển của khoa học kỹ thuật; hiệu quả khai thác sử dụng chưa cao, chưa khai thác hết hiệu suất đầu tư; công tác bảo quản, bảo trì, bảo dưỡng chưa khoa học và kịp thời; việc quản lý, xây dựng đội ngũ NV chuyên trách, xây dựng và triển khai kế hoạch khai thác, sử dụng, giám sát, kiểm tra vẫn còn nhiều bất cập; công tác kiểm kê còn mang tính hành chánh, hình thức, chưa đi vào đánh giá hiệu suất sử dụng cũng như hiệu quả đầu tư; công tác NCKH, chuyển giao công nghệ, phát triển PTDH tự làm chưa thực sự phát huy vai trò của một trường CĐ; quan điểm xã hội hóa công tác đầu tư, sử dụng PTDH vẫn chưa thật sự nhận được sự quan tâm chú ý. Đặc biệt là đứng trước yêu cầu đảm bảo chất lượng giáo dục, nội dung thể hiện sự khẳng định, cam kết của một cơ sở giáo dục đối với xã hội. Điều này đã làm ảnh hưởng đến hoạt động của các cơ sở giáo dục nói chung và đào tạo nghề kinh tế - kỹ thuật nói riêng, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh chất lượng và sự phát triển của cách mạng khoa học công nghệ 4.0, của hội nhập quốc tế hiện nay. Với yêu cầu về đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, những kết quả đã nghiên cứu trong lĩnh vực quản lý vẫn chưa giải quyết những vấn đề căn bản liên quan đến lý luận về QLGD, quản lý nhà trường, đánh giá đúng thực chất hiện trạng công tác QL PTDH hiện nay vẫn chưa cụ thể hóa được thành các biện pháp có tính khả thi cho các trường CĐKT-KT. Những giải pháp, biện pháp mới chỉ mang tính chất định hướng hoặc là những kinh nghiệm cụ thể trong công tác QL nhà trường ở các cơ sở GD. Vì vậy, một số kết quả đã nghiên cứu chưa xuất phát từ quan điểm QL PTDH như là một hệ thống của các giải pháp QLGD, quản lý nhà trường, được xây dựng từ những cơ sở lý luận của khoa học giáo dục hiện đại và cơ sở thực tiễn đào tạo của các trường CĐKT-KT. Việc QL PTDH ở các trường CĐKT-KT từ trước tới nay không phát huy tác dụng, hiệu quả trong việc hướng tới mục tiêu phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao. Trong thời kỳ đổi mới nền KT-XH hiện nay, việc QL PTDH ở các trường CĐKT-KT phải nhằm phát huy được hết công năng của các phương tiện, hỗ trợ đặc lực cho hoạt động dạy học, hướng vào việc phát triển năng lực người học, thực hiện mục tiêu ĐBCL GD, chuyển quản lý trường học thành quản trị cơ sở giáo dục. Có như vậy, nhiệm vụ QL PTDH nói riêng và QL hoạt động của các trường CĐKT-KT nói chung mới đạt được mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện. Những phân tích trên là lí do của việc lựa chọn đề tài nghiên cứu luận án “Quản lý phương tiện dạy học ở trường cao đẳng kinh tế - kỹ thuật theo tiếp cận đảm bảo chất lượng giáo dục”.
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN VĂN MỪNG
QUẢN LÝ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC
Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT THEO TIẾP CẬN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Một trong những mục tiêu, nhiệm vụ của giáo dục - đào tạo của nước tahiện nay là đào tạo, phát triển nguồn nhân lực Chỉ có thể thực hiện công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước một cách nhanh chóng và bền vững bằng việc ưu tiên phát triểnnguồn nhân lực, cung cấp đầy đủ nhân lực được đào tạo Nhiều văn bản của Đảng,Nhà nước, các bộ ban ngành, các địa phương,… đã khẳng định quan điểm đó Quyếtđịnh số 579/ QĐ-TTg ngày 19/4/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệtChiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020 cũng đã khẳng định mụctiêu đưa nhân lực Việt Nam trở thành nền tảng và lợi thế quan trọng nhất để phát triểnbền vững đất nước, hội nhập quốc tế và ổn định xã hội, nâng trình độ năng lực cạnhtranh của nhân lực nước ta lên mức tương đương các nước tiên tiến trong khu vực,trong đó một số mặt tiếp cận trình độ các nước phát triển trên thế giới
Nghị quyết 29 của Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI Đảng) về đổi mới cănbản, toàn diện giáo dục - đào tạo (GD-ĐT), đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiệnđại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhậpquốc tế đã khẳng định, đào tạo nhân lực có kiến thức, kỹ năng và trách nhiệm nghềnghiệp hình thành hệ thống giáo dục nghể nghiệp với nhiều phương thức và trình độđào tạo kỹ năng nghề nghiệp theo hướng ứng dụng, thực hành, bảo đảm đáp ứngnhu cầu nhân lực kỹ thuật công nghệ của thị trường lao động trong nước và quốc tế
Để thực hiện được nhiệm vụ trên, đòi hỏi GD-ĐT phải thay đổi trên nhiềulĩnh vực, thay đổi trong quản lý đào tạo nói chung, quản lý từng thành tố của quátrình đào tạo nói riêng Tất cả phải tạo thành một hệ thống, có mối quan hệ biệnchứng với nhau để tạo nên động lực thúc đẩy đổi mới căn bản, toàn diện một cáchbền vững Trong các yếu tố tạo nên sự đổi mới căn bản, toàn diện đó, sự đổi mớicông tác quản lý phương tiện dạy học (PTDH) là một trong những thành tố giữ vaitrò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng (ĐBCL) và hiệu quả GD-ĐT
1.2 Là một thành tố trong cấu trúc của quá trình dạy học, PTDH trực tiếpgóp phần nâng cao chất lượng đào tạo (CLĐT) bên cạnh các điều kiện bảo đảmkhác như chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý (CBQL) giáo dục; tính hợp
lý, khoa học, hiện đại của chương trình, nội dung đào tạo và phương pháp giảngdạy; năng lực, quy trình tổ chức quản lý; điều kiện tài chính; công tác kiểm địnhchất lượng; chất lượng đầu vào và giải quyết việc làm sau tốt nghiệp; công tác xãhội hóa; Đối với các trường cao đẳng kinh tế - kỹ thuật (CĐKT-KT), vai trò của
Trang 3PTDH được khẳng định rõ ràng hơn: muốn đào tạo tay nghề cho người học phải cómáy móc thiết bị để dạy nghề, đó là những phương tiện cần thiết để chuyển tảithông tin, kiến thức và rèn luyện kỹ năng thực hành cho người học Việc đầu tư,trang bị PTDH hợp lý, phù hợp với ngành nghề đào tạo có ý nghĩa thiết thực đối vớihoạt động dạy nghề Thương hiệu, uy tín và việc xếp hạng các cơ sở đào tạo, đặcbiệt là đối với đào tạo khối nghề kỹ thuật, phụ thuộc rất lớn vào điều kiện PTDH.Quản lý, đầu tư, sử dụng, bảo quản PTDH hiệu quả cũng là một trong vấn đề khôngthể thiếu trong việc góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ sở giáo dục,trong đó có CLĐT, nghiên cứu khoa học (NCKH) và hoạt động dịch vụ
1.3 Trong những năm gần đây, việc đầu tư PTDH đã được các trường caođẳng (CĐ) công lập quan tâm nhưng vẫn còn nhiều bất cập, ảnh hưởng đến hoạtđộng đào tạo, NCKH và các hoạt động khác của nhà trường Quan niệm, nhận thứccủa CBQL, giảng viên (GV), nhân viên (NV) và sinh viên (SV) về tầm quan trọngcủa PTDH trong đào tạo còn hạn chế; so với yêu cầu hiện nay, mức đầu tư chưa đápứng nhu cầu hoạt động của nhà trường; sự đồng bộ, tính hiện đại còn chậm so vớithực tiễn sản xuất và sự phát triển của khoa học kỹ thuật; hiệu quả khai thác sử dụngchưa cao, chưa khai thác hết hiệu suất đầu tư; công tác bảo quản, bảo trì, bảo dưỡngchưa khoa học và kịp thời; việc quản lý, xây dựng đội ngũ NV chuyên trách, xâydựng và triển khai kế hoạch khai thác, sử dụng, giám sát, kiểm tra vẫn còn nhiều bấtcập; công tác kiểm kê còn mang tính hành chánh, hình thức, chưa đi vào đánh giáhiệu suất sử dụng cũng như hiệu quả đầu tư; công tác NCKH, chuyển giao côngnghệ, phát triển PTDH tự làm chưa thực sự phát huy vai trò của một trường CĐ;quan điểm xã hội hóa công tác đầu tư, sử dụng PTDH vẫn chưa thật sự nhận được
sự quan tâm chú ý Đặc biệt là đứng trước yêu cầu đảm bảo chất lượng giáo dục, nộidung thể hiện sự khẳng định, cam kết của một cơ sở giáo dục đối với xã hội Điềunày đã làm ảnh hưởng đến hoạt động của các cơ sở giáo dục nói chung và đào tạonghề kinh tế - kỹ thuật nói riêng, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh chất lượng và sựphát triển của cách mạng khoa học công nghệ 4.0, của hội nhập quốc tế hiện nay
Với yêu cầu về đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT, đáp ứng yêu cầu côngnghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa và hội nhập quốc tế, những kết quả đã nghiên cứu trong lĩnh vực quản lý vẫnchưa giải quyết những vấn đề căn bản liên quan đến lý luận về QLGD, quản lý nhàtrường, đánh giá đúng thực chất hiện trạng công tác QL PTDH hiện nay vẫn chưa
cụ thể hóa được thành các biện pháp có tính khả thi cho các trường CĐKT-KT
Trang 4Những giải pháp, biện pháp mới chỉ mang tính chất định hướng hoặc là những kinhnghiệm cụ thể trong công tác QL nhà trường ở các cơ sở GD Vì vậy, một số kếtquả đã nghiên cứu chưa xuất phát từ quan điểm QL PTDH như là một hệ thống củacác giải pháp QLGD, quản lý nhà trường, được xây dựng từ những cơ sở lý luận củakhoa học giáo dục hiện đại và cơ sở thực tiễn đào tạo của các trường CĐKT-KT.
Việc QL PTDH ở các trường CĐKT-KT từ trước tới nay không phát huy tácdụng, hiệu quả trong việc hướng tới mục tiêu phát triển nguồn nhân lực có chấtlượng cao Trong thời kỳ đổi mới nền KT-XH hiện nay, việc QL PTDH ở cáctrường CĐKT-KT phải nhằm phát huy được hết công năng của các phương tiện, hỗtrợ đặc lực cho hoạt động dạy học, hướng vào việc phát triển năng lực người học,thực hiện mục tiêu ĐBCL GD, chuyển quản lý trường học thành quản trị cơ sở giáodục Có như vậy, nhiệm vụ QL PTDH nói riêng và QL hoạt động của các trườngCĐKT-KT nói chung mới đạt được mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện
Những phân tích trên là lí do của việc lựa chọn đề tài nghiên cứu luận án
“Quản lý phương tiện dạy học ở trường cao đẳng kinh tế - kỹ thuật theo tiếp cận đảm bảo chất lượng giáo dục”.
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng QL PTDH ở các trườngCĐKT-KT theo tiếp cận ĐBCL GD, luận án đề xuất một số biện pháp QL PTDH ởtrường CĐKT-KT theo tiếp cận ĐBCL GD, nhằm góp phần nâng cao chất lượng,hiệu quả đào tạo ở các trường CĐKT- KT
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động quản lý phương tiện dạy học ở trường Cao đẳng kinh tế kỹ thuật
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý phương tiện dạy học ở trường CĐKT-KT theo tiếp cận đảm bảo chấtlượng giáo dục
4 Giả thuyết khoa học
PTDH là một thành tố trong cấu trúc của quá trình dạy học, góp phần nângcao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực của các trường CĐKT-KT Thực trạngPTDH và quản lý PTDH ở các trường CĐKT-KT trong thời gian qua vẫn còn nhiềukhó khăn, bất cập và chưa đáp ứng yêu cầu là điều kiện ĐBCL GD Nếu đề xuấtđược các biện pháp QL PTDH theo tiếp cận ĐBCL GD một cách khoa học, đồng
Trang 5bộ, phù hợp với đặc thù các trường CĐKT-KT, thì sẽ nâng cao hiệu quả QL PTDH,góp phần nâng cao CLĐT ở trường CĐKT-KT.
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về QL PTDH ở các trường CĐKT-KT theo tiếpcận ĐBCL GD
- Khảo sát, đánh giá thực trạng QL PTDH ở trường CĐKT-KT công lập theotiếp cận ĐBCL GD
- Đề xuất các biện pháp QL PTDH ở trường CĐKT-KT công lập theo tiếpcận ĐBCL GD
- Tổ chức khảo nghiệm và thực nghiệm một số biện pháp QL PTDH tạitrường CĐKT-KT Tp Hồ Chí Minh
6 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài luận án chỉ nghiên cứu công tác QL PTDH ở các trường CĐKT-KT
công lập; đánh giá thực trạng QLPTDH các trường CĐKT-KT trên địa bàn Tp HồChí Minh giai đoạn 2014-2017
- Các biện pháp quản lý đề xuất để áp dụng cho công tác quản lý ở trườngCĐKT-KT công lập trong giai đoạn hiện nay Chủ thể quản lý là hiệu trưởng trườngCĐKT-KT, với sự phối hợp thực hiện của các phòng, khoa, tổ, trung tâm, các tổchức và CBQL, GV, NV của nhà trường
7 Phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp tiếp cận
7.1.1 Phương pháp tiếp cận hoạt động phát triển
Đây là phương pháp nghiên cứu tiếp cận việc QL PTDH ở các trườngCĐKT-KT như là một hoạt động luôn phát triển trong quá trình đào tạo nguồn nhânlực có trình độ hiện nay Việc xác định cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng, đề xuấtcác biện pháp phải tiếp cận các hoạt động quản lý của nhà trường, được triển khaitrên các hoạt động QL cụ thể của các trường CĐKT-KT, cũng như những hoạt độngcủa đội ngũ CBQL, GV, NV và các đối tượng liên quan; sự phát triển theo chiềuhướng đi lên trong việc nâng cao CLĐT của các trường CĐKT-KT
7.1.2 Phương pháp tiếp cận hệ thống
Phương pháp này đòi hỏi khi nghiên cứu cơ sở lý luận, đánh giá thực trạngcũng như đề xuất biện pháp phải đặt việc QL PTDH như một thành tố trong hệ
Trang 6thống các hoạt động quản lý của trường CĐKT-KT, trong hệ thống các điều kiệnĐBCL GD khác (đội ngũ, chương trình, kiểm tra đánh giá,…) Mặt khác, QL PTDHđáp ứng yêu cầu ĐBCL như là một mục tiêu, động lực trong hệ thống các nguồn lực
để nâng cao CLĐT nguồn nhân lực hiện nay Đó là một hệ thống cấu trúc có cácyếu tố có mối quan hệ biện chứng với nhau Vì vậy, biện pháp QL PTDH ở trườngCĐKT-KT theo tiếp cận ĐBCL GD có liên quan tới những yếu tố chủ quan vàkhách quan, ở trong trường và ngoài trường
7.1.3 Phương pháp tiếp cận thực tiễn
Phương pháp tiếp cận này đòi hỏi trong quá trình nghiên cứu phải bám sátthực tiễn hoạt động của các trường CĐKT-KT trên các địa bàn cụ thể Những yêucầu chung về QL PTDH theo tiếp cận ĐBCL GD phải phù hợp với thực tiễn củamỗi trường, thích ứng trong mỗi giai đoạn, có hiệu quả đối với yêu cầu sử dụngnguồn nhân lực theo ngành nghề, trình độ Vì vậy, các biện pháp được đề xuất cầnphải được vận dụng một cách sáng tạo, linh hoạt trong hệ thống các biện pháp khác,trong quá trình phát triển của mỗi trường CĐKT-KT trên các địa bàn khác nhau
7.1.4 Phương pháp tiếp cận đảm bảo chất lượng
PTDH là một thành tố trong cấu trúc của quá trình dạy học, PTDH góp phầnnâng cao chất lượng dạy học, hoạt động quản lý PTDH cần theo tiếp cận ĐBCL
GD, để từ đó có những biện pháp phù hợp, trang bị, khai thác, sử dụng có hiệu quả,phù hợp với quy định về điều kiện ĐBCL trong nhà trường
7.1.5 Phương pháp tiếp cận theo nội dung quản lý và chức năng quản lý
Quản lý PTDH là việc chủ thể quản lý sử dụng các chức năng của quản lý đểduy trì, phát triển làm cho PTDH ngày càng đáp ứng tốt hơn, hiệu quả hơn yêu cầuĐBCL GD của nhà trường
Theo tiếp cận về nội dung, đó là việc chủ thể quản lý, bằng các chức năngcủa quản lý, tác động vào các khâu trong vòng đời của PTDH (kế hoạch hoá PTDH;
tổ chức mua sắm; bảo quản, sử dụng; duy trì, bổ sung PTDH bằng cách nâng caohiệu quả, tần suất sử dụng, sử dụng chung, tự làm PTDH; kiểm kê, thanh lý để đánhgiá và tái đầu tư PTDH) nhằm đạt được mục tiêu quản lý
Phương pháp tiếp cận theo các khâu trong vòng đời PTDH, trong từng khâu
đó lại tiếp cận theo chức năng quản lý là một phương pháp thường dùng, giúp đáp
Trang 7ứng chi tiết hơn các mục tiêu của nghiên cứu Trong luận án này, ngoài các phươngpháp tiếp cận đã nêu, phần nội dung quản lý tác giả lựa chọn cách tiếp cận này.
7.2 Phương pháp nghiên cứu
7.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp các tài liệu lý thuyết, khái quát hóa và phân loại, hệ thốnghóa lý thuyết, cụ thể hóa lý thuyết trong các tài liệu các văn kiện, nghị quyết củaĐảng, Nhà nước; các thông tư, quyết định của Bộ Tài chính, Bộ GD-ĐT, Bộ Laođộng Thương binh và Xã hội; các quy định, văn bản hướng dẫn của thành phố cóliên quan để xây dựng cơ sở lý luận của vấn đề QL PTDH theo tiếp cận ĐBCL GD
ở các trường CĐ Việt Nam hiện nay
7.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin thực tiễn để xây dựng
cơ sở thực tiễn của đề tài Thuộc nhóm này có các phương pháp cụ thể sau đây:
- Phương pháp quan sát: nhằm tìm hiểu, đi đến nơi, quan sát thực tế công tác
QL PTDH ở trường CĐKT-KT theo tiếp cận ĐBCL GD
- Phương pháp điều tra: để điều tra, phỏng vấn, tư vấn, thăm dò, thu thập
thông tin về vấn đề QL PTDH ở trường CĐKT-KT theo tiếp cận ĐBCL GD, đánhgiá ưu điểm, nhược điểm để làm cơ sở để đề xuất đổi mới hoạt động quản lý; xâydựng các giải pháp thực hiện, thăm dò về tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp
QL PTDH theo tiếp cận ĐBCL GD ở các trường CĐKT-KT đã được đề xuất
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lý giáo dục: để đánh giá, tổng hợp
các bài học, kinh nghiệm, mô hình QL PTDH ở trường CĐKT-KT theo tiếp cậnĐBCL GD
- Phương pháp chuyên gia: lấy ý kiến tư vấn, trao đổi, tham khảo, thăm dò ý
kiến của các nhà quản lý, các chuyên gia giáo dục, các CBQL, GV, NV trong ngànhgiáo dục, về thực trạng QL PTDH ở trường CĐKT-KT theo tiếp cận ĐBCL GD;tính khả thi và hợp lý của các biện pháp đổi mới quản lý; phản biện, so sánh, chứngminh tính hiệu quả, tính khả thi của việc áp dụng các biện pháp QL PTDH ở trườngCĐKT-KT theo tiếp cận ĐBCL GD
- Phương pháp thực nghiệm: nhằm thống kê, đo đạc, lượng hóa và xử lý các
kết quả, số liệu liên quan đến thực trạng và tính cần thiết, tính khả thi của các biệnpháp QL PTDH ở trường CĐKT-KT theo tiếp cận ĐBCL GD
Trang 87.2.3 Nhóm các phương pháp xử lý kết quả khảo sát và thực nghiệm
Sử dụng toán thống kê và một số phần mềm tin học để xử lý kết quả điều tra,
kết quả thực nghiệm, khảo nghiệm
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý các số liệu liên quan đếnhoạt động khảo sát, thăm dò thực trạng và kiểm chứng tính hiệu quả, khả thi của cácbiện pháp được đề xuất về nâng cao chất lượng QL PTDH ở trường CĐKT-KT theotiếp cận ĐBCL GD
8 Những luận điểm cần bảo vệ
8.1 PTDH là một thành tố quan trọng, là điều kiện ĐBCL GD ở trường
CĐKT-KT PTDH phải phục vụ trực tiếp cho hoạt động dạy học, phản ánh đượcnhững thành tựu của khoa học - kỹ thuật, công nghệ sản xuất, kinh doanh hiện nay
8.2 Thực trạng PTDH và QL PTDH các trường CĐKT-KT hiện nay còn
nhiều bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu ĐBCL GD, ảnh hưởng tới chất lượng đào tạocủa các trường CĐKT-KT Vì vậy, cần phải có những biện pháp có tính cần thiết,khả thi để khắc phục thực trạng nói trên
8.3 Các biện pháp QL PTDH ở các trường CĐKT-KT phải thể hiện được
các chức năng quản lý của chủ thể ở các khâu: lập kế hoạch, đầu tư mua sắmPTDH; khai thác sử dụng, bảo trì, bảo dưỡng, sửa chữa PTDH; bảo quản, kiểm kê,kiểm toán, thanh lý PTDH nhằm làm PTDH đáp ứng các tiêu chí ĐBCL GD mộtcách có hiệu quả và bền vững
10 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Khuyến nghị, Tài liệu tham khảo, Phụ lục,luận án có 3 chương:
Trang 9Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý phương tiện dạy học ở trường cao đẳng
kinh tế - kỹ thuật theo tiếp cận đảm bảo chất lượng giáo dục
Chương 2 Thực trạng quản lý phương tiện dạy học ở các trường cao đẳng
kinh tế - kỹ thuật theo tiếp cận đảm bảo chất lượng giáo dục
Chương 3 Biện pháp quản lý phương tiện dạy học ở các trường cao đẳng
kinh tế - kỹ thuật theo tiếp cận đảm bảo chất lượng giáo dục
Trang 10Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC
Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT THEO TIẾP CẬN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Phương tiện dạy học nói riêng và cơ sở vật chất - thiết bị dạy học nói chung
là một yếu tố quan trọng của hoạt động GD-ĐT ở bất kỳ một quốc gia, dù thời kỳnào, dù hoạt động giáo dục đó theo những trường phái, quan điểm chính trị, tôn giáokhác nhau Theo quan điểm triết học thì mối quan hệ giữa ba phạm trù nội dung,phương pháp, phương tiện quyết định chất lượng một hoạt động của con người.Giáo dục là một hoạt động đặc biệt, ngoài yếu tố nội dung chương trình, giáo trình
và phương pháp dạy học thì PTDH là yếu tố rất quan trọng không thể thiếu, quyếtđịnh CLGD Chính vì vậy, việc nghiên cứu về vấn đề nói trên cũng đã được thựchiện, phát triển theo trình độ, tính chất của nền giáo dục tương ứng Sự tiếp nối vàhọc hỏi, vận dụng, phát huy kinh nghiệm của các quốc gia, của các chính sách trongQLGD trước đây là một yêu cầu quan trọng trong công cuộc đổi mới căn bản, toàndiện GD-ĐT hiện nay Để nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý PTDH ở cáctrường CĐKT-KT theo tiếp cận ĐBCL GD, không thể không xem xét, đánh giánhững kết quả đã được nghiên cứu trước đây ở trong và ngoài nước Những thànhtựu đã đạt được, những vấn đề chưa được đề cập sẽ làm cho việc nghiên cứu, đềxuất các giải pháp QL PTDH ở các trường CĐKT-KT sẽ có cơ sở lý luận và cơ sởthực tiễn vững chắc, đảm bảo tính khả thi trong ứng dụng vào thực tiễn dạy học Đó
là sự vận dụng kinh nghiệm trong và ngoài nước để đi tắt, đón đầu trong đổi mớiđào tạo nhân lực trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế, cuộc cách mạngcông nghiệp lần thứ 4.0 Trong bức tranh phong phú, đa dạng nói trên, chúng tôikhái quát hóa những điểm nổi bậc nhất liên quan tới việc nghiên cứu QL PTDH ởcác trường CĐKT-KT theo quan điểm tiếp cận ĐBCL GD ở Việt Nam và thế giới
1.1.1 Những kết quả nghiên cứu về phương tiện dạy học
1.1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới về phương tiện dạy học
Ngay từ khi hình thành cơ chế GD-ĐT, cơ chế truyền thụ tri thức, kinhnghiệm của thế hệ trước cho thế hệ sau, từ phạm vi cộng đồng này sang cộng đồngkhác của con người, những yếu tố hỗ trợ quá trình phát - nhận đã được nhìn nhậnnhư là những công cụ GD, công cụ dạy học CSVC nói chung và PTDH nói riêng
Trang 11được hình thành, phát triển song hành với sự phát triển, tiến bộ của kho tàng tri thứcloài người cũng như cách thức mà loài người lưu giữ, truyền thụ những tri thức đó.
Chính vì vậy, trên thế giới, đã có nhiều công trình, bài viết nghiên cứu liênquan đến PTDH từ nhiều góc độ khác nhau
Nhà giáo dục Slovakia-J.A.Cômenxki (1592-1670) viết: “Điều cần thiết làkhởi điểm của nhận thức bao giờ cũng xuất phát từ cảm giác” Ông nhấn mạnh tầmquan trọng của tính trực quan: “Kiến thức càng dựa nhiều vào cảm giác thì nó càngxác thực”, “Tính trực quan tạo ra khả năng làm cho nhà trường trở nên sinh động,
nó dạy cho học sinh hiểu và nghiên cứu thực tế một cách độc lập [11]
Cũng theo Slovakia-J.A.Cômenxki, trong tác phẩm “Phép dạy học vĩ đại”,
đã viết “…không có gì hết trong trí não nếu như trước đây không có gì trong cảmgiác Vì thế, tất nhiên bắt đầu dạy - học không thể bắt đầu từ sự giải thích bằng lời
về các sự vật mà phải từ sự quan sát trực tiếp chúng ”, và rút ra nguyên tắc “lờinói không bao giờ đi trước sự vật” Đóng góp lớn nhất của ông là đã tổng kết, pháttriển kinh nghiệm tích lũy được về trực quan và đưa áp dụng nó một cách có ýthức vào dạy học
Nhà giáo dục học J.J.Rútxô (1712-1778), J.H.Pextalôzi (1746-1827) pháttriển trên cơ sở Tâm lý học: “Trực quan là cơ sở xuất phát để tạo ra những hình ảnh,
để biến những biểu tượng chưa rỏ ràng thành những biểu tượng rỏ ràng, chính xác;tính trực quan là phương thức, phương tiện dẫn tới sự phát triển của tư duy” [11]
Nhà hoạt động văn hóa V.G.BêlinSki (1811-1848) đã có đóng góp to lớn vào
sự phát triển lý thuyết trực quan dạy học Tư tưởng của ông gắn liền với tư tưởngdạy học phát triển Với nhà giáo dục K.Đ.Usinxki (1824-1870) thì nguyên tắc trựcquan trong dạy học đã được nâng lên một trình độ cao hơn Ông cho rằng trực quan
là cái ban đầu và là nguồn gốc của mọi tri thức, cảm giác cung cấp tài liệu cho hoạtđộng trí tuệ của con người Trực quan làm cho quá trình lĩnh hội tri thức của họcsinh trở nên dễ dàng, tự giác, có ý thức và vững chắc hơn; tạo ra hứng thú học tậpcho học sinh, là phương tiện tốt nhất giúp giáo viên gần gũi học sinh và là phươngtiện quan trọng để phát triển tư duy cho học sinh
Công trình nghiên cứu của A.N Lêonchep (1947) “Những vấn đề tâm lý họccủa tính tự giác học tập” đã chỉ ra những cơ sở tâm lí học của tài liệu trực quan
Sự phân tích các thuyết khoa học cho rằng, các luận điểm xuất phát từ bất kỳ
lý thuyết trừu tượng nào và sự diễn giải các kết luận của nó cần gắn liền với các vậtthực, cần dựa trên những cấu trúc trực quan nhất định “Phát hiện ra ý nghĩa vật lí
Trang 12của các trừu tượng toán học, Omculianovski viết: là mặt cần thiết, quan trọng nhấtcủa sự phát triển lý thuyết vật lí Thiếu mặt này thì vật lí cuối cùng chỉ là những sơ
đồ toán học chứ không phải là lý thuyết vật lí Chỉ có mặt này mới cho các trừutượng toán học một thể xác vật lí”
Tổ chức lao động quốc tế ADB/ILO (Evaluation Rating creteria for the VTEIstitution ADB/ILO - Bangkok 1997) đưa ra 9 tiêu chuẩn và điểm đánh giá cơ sởGD-ĐT để kiểm định các nước thuộc tiểu vùng sông Mêkông thì trong đó các tiêuchuẩn về CSVC - kỹ thuật chiếm 125/500 điểm
Trong cuốn “Dựa vào các chỉ số thực hiện để đưa ra các quyết định chiếnlược” (Using Performance Indicators to Guide Strategic Decision Making, 1994),các học giả Mỹ Bottill và Borden (đã liệt kê 21 lĩnh vực thực hiện, trong đó có
“Phương tiện cơ sở vật chất” và “Dịch vụ” Đây cũng là 2 tiêu chí (tiêu chí 21: Hệthống hạ tầng cơ sở; tiêu chí 22: Hệ thống thư viện) trong tổng số 26 tiêu chí thuộc
Bộ tiêu chí kiểm định CL được đề xuất của công trình của Nguyễn Đức Chính [28]
Mạng toàn cầu world wide web (www) do Tim Berner-Lee (1991) xây dựng
đã tạo điều kiện cho sự ra đời hệ thống dạy học điện tử E-Learning
Vấn đề CLĐT cũng được nhiều nhà làm công tác giáo dục quan tâm Vàothập kỷ 70, các nước như Anh, Mỹ, Canada,… cho rằng CLĐT phải gắn liền vớikinh phí đầu tư Theo đó, đầu vào của quá trình đào tạo đóng vai trò quyết địnhCLĐT “Đầu vào” ở đây được hiểu là nguồn lực, bao gồm CSVC kỹ thuật, nguồntài chính, đội ngũ, chất lượng tuyển sinh,… Đều này đòi hỏi để duy trì CLĐT thìngân sách đầu tư cho giáo dục phải tăng tương ứng với tỷ lệ sinh viên vào học
Vào khoảng thập niên 80, GDĐH thế giới phải đương đầu với những tháchthức mới, đó là nguồn kinh phí đầu tư bị hạn chế, nhu cầu học đại học tăng đột biến
Vì vậy, Chính phủ các nước này cho rằng phải đầu tư ít nhưng giảng dạy phải nhiều
và tốt Họ xem đó là phương châm cho giáo dục, yêu cầu các cơ sở giáo dục phảiquan tâm đến hiệu quả và hiệu suất đào tạo của trường mình Khi đó, vấn đề “đầura” của quá trình đào tạo được quan tâm, đặc biệt là CLĐT
Vào khoảng thập niên thập kỷ 90, việc bàn về CLĐT được đề cập khá sôinổi, đã có nhiều định nghĩa về CLĐT dưới các góc độ khác nhau Một trong nhữngquan niệm được khá nhiều người thừa nhận, tiếp thu, phát triển đó là quan niệm củaHarvey and Green (1993), theo hai ông, CLĐT ĐH được thể hiện trên 5 phươngdiện cơ bản: sự xuất chúng, sự tuyệt vời, sự ưu tú, xuất sắc; sự hoàn hảo; sự thích
Trang 13hợp, phù hợp với mục đích; có giá trị đồng tiền, đáng giá để đầu tư; có sự biến đổilớn về chất Năm phương diện này của CLĐT ĐH được thể hiện trong toàn bộ quátrình đào tạo, từ việc xác định chất lượng của nguồn lực đầu tư ban đầu (mục tiêu,yêu cầu, CSVC, tài chính, chương trình, đội ngũ GV, chất lượng SV nhập học) đếnchất lượng của quá trình đào tạo và việc ĐBCL của sản phẩm đào tạo [109]
Ở các nước phát triển, hoạt động đào tạo nói chung và hoạt động dạy học nóiriêng, PTDH là điều kiện cơ bản để tổ chức hoạt động của một cơ sở giáo dục.Trong hệ thống các tiêu chí kiểm định chất lượng, PTDH chiếm một vị trí quantrọng Chính vì vậy, trong các nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà quản lý,CSVC và PTDH được khẳng định về tính chất quan trọng; những vấn đề liên quanđến hệ thống, quy mô PTDH, quá trình quản lý, khai thác sử dụng,… cũng đượcnghiên cứu, xác định những nguyên tắc và giải pháp Đặc biệt, vấn đề sử dụng, QLPTDH theo định hướng phát triển năng lực người học, đảm bảo thực hiện CLGD đã
có nhiều kiến giải mang tính khoa học, thực tiễn
Các kết quả nghiên cứu của thế giới liên quan đến PTDH trong hoạt độngdạy - học đã được tiếp thu, vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn Việt Nam
1.1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam về phương tiện dạy học
Một trong những điều kiện quyết định thành công mục tiêu của GD-ĐT làphải đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học PTDH là một trong những thành tốkhông thể thiếu được trong quá trình dạy học Để nâng cao chất lượng dạy học thìvai trò, vị trí của PTDH là rất quan trọng PTDH là các phương tiện thực nghiệm,trực quan, thực hành giúp người học gắn lí luận với thực tiễn, giúp cho quá trìnhnhận thức của người học trở nên hiệu quả hơn, đồng thời phát huy được tính tíchcực, chủ động, sáng tạo của người học Đổi mới phương pháp dạy học là sử dụng cóhiệu quả các PTDH, đưa người học vào vị trí chủ thể của hoạt động nhận thức
Từ những năm 60 của thế kỷ XX, Bộ Giáo dục và Đào tạo chính thức banhành các tiêu chí PTDH từ mẫu giáo đến phổ thông Tiếp theo là những tiêu chuẩn
để xây dựng và ban hành vào các năm 1975, 1985
Ngày 25/10/2010, tại Hà Nội, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức Hội nghịđánh giá thực trạng CSVC - TBDH của các trường ĐH, CĐ công lập toàn quốc.Các báo cáo, tham luận đã đề cập đến những vấn đề liên quan đến vai trò, vị trícủa CSVC, TBDH; thực trạng công tác quản lý hoạt động này ở các cơ sở GDĐH
- CĐ; đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả công tác
Trang 14CSVC, TBDH của các trường ĐH-CĐ công lập, phục vụ tốt yêu cầu đào tạonguồn nhân lực cho nền kinh tế - xã hội.
Khi tổng kết kinh nghiệm các cơ sở giáo dục tiên tiến, ngành GD-ĐT cũng
đã khẳng định rằng CSVC, TBDH ở trường học là một trong các yếu tố hết sứcquan trọng Thực tiễn giáo dục của các nước trên thế giới và nước ta cho rằng đàotạo con người mới đáp ứng yêu cầu ngày càng cao, ngày càng đa dạng nhằm phục
vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước tất yếu phải có những CSVC - kỹ thuật tương ứng
Chính vì vậy, những nghiên cứu về CSVC nói chung và PTDH nói riêngtrong hoạt động GD-ĐT, đã nhấn mạnh vào việc đổi mới tư duy về lĩnh vực CSVC,PTDH; xây dựng hệ thống CSVC, PTDH đáp ứng các yêu cầu cho GD-ĐT; quản lý,khai thác CSVC, PTDH đạt hiệu quả cao, đảm bảo đúng quy định của nhà nước
Tháng 11/2011, trong Hội thảo khoa học của Trường ĐHSP Tp Hồ ChíMinh với chủ đề “Khai thác TBDH hiện đại phục vụ DH ở trường THPT” Hội thảotập hợp được hơn 70 bài viết của các nhà khoa học, CBQL và các nhà giáo đánh giá
về thực trạng công tác quản lý, sử dụng TBDH ở cấp Chia sẻ kinh nghiệm sử dụngTBDH có hiệu quả để ứng dụng vào đổi mới phương pháp dạy và học, đồng thời đềxuất giải pháp khai thác hiệu quả TBDH trong giai đoạn mới [94]
Trong công trình “Phương tiện dạy học”, tác giả Tô Xuân Giáp đã đưa ra
những cơ sở phân loại và phân loại PTDH, cách thức lựa chọn, thiết kế, chế tạo, sửdụng PTDH và các điều kiện để đảm bảo sử dụng có hiệu quả PTDH Theo tác giả,PTDH được sử dụng đúng, có tác dụng làm tăng hiệu quả sư phạm của nội dung vàphương pháp dạy học lên rất nhiều [43]
Trong cuốn “Một số vấn đề lí luận và thực tiễn của việc xây dựng sử dụng
CSVC và TBDH ở trường phổ thông Việt Nam” (Trần Quốc Đắc, chủ biên) đã đưa ra
các quan điểm làm cơ sở cho việc sử dụng TBDH, xác định vị trí, vai trò của CSVC TBDH ở trường THPT [39]
-Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Quang, trong “Những khái niệm cơ bản
về lý luận quản lý giáo dục”, cho rằng PTDH là bao gồm mọi thiết bị kỹ thuật từ
đơn giản đến phức tạp được dùng trong quá trình DH để làm dễ dàng cho sự truyềnđạt và tiếp thu kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo [80] Tác giả Nguyễn Văn Hộ trong công
trình “Lý luận dạy học”, đã nêu ý nghĩa, vai trò của PTDH trong hoạt động DH; đã
liệt kê các PTDH phổ biến được sử dụng trong các nhà trường PT hiện nay [50]
Trang 15Trong công trình “Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học” tác giả
Nguyễn Đức Chính và các cộng sự đã trình bày cơ sở lý luận về đảm bảo và kiểmđịnh CL trong DH, đã ban hành bộ tiêu chí đánh giá CL và điều kiện ĐBCL Trong
đó có tiêu chí về hạ tầng cơ sở, thông tin thư viện (TC21, 22) Bên cạnh đó các tácgiả đã đưa ra các phụ lục về các quy chuẩn xây dựng CSVC phục vụ đào tạo [28]
Tác giả Lê Khánh Tuấn (2009) cũng đã phân tích một số nội dung liên quanđến QL PTDH khi thực hiện công tác dự báo và kế hoạch hóa trong QLGD [86]
Trong tài liệu “Lý luận dạy học”, tác giả Nguyễn Văn Tuấn (2009) đã trìnhbày những cơ sở chung về PTDH, vai trò của các kênh thu nhận thông tin và cácbiện pháp sử dụng PTDH nhằm tăng hiệu quả dạy học Công trình “Thiết bị dạy học
và ứng dụng CNTT trong dạy học” của tác giả Lê Huy Hoàng (1998) đã nêu kháiquát chung về PTDH, trình bày về cách sử dụng thiết bị nghe nhìn có hiệu quả vàứng dụng CNTT trong dạy học [51] Trong đề tài “Sử dụng hiệu quả các thiết bị,PTDH trong trường THCN - 2000”, tác giả Hồ Viết Lương đã trình bày các quanđiểm lý luận, giáo dục liên quan đến sử dụng hiệu quả, thực hiện điều tra thực trạng
về ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau đến kết quả dạy học, từ đó đề xuất các giảipháp nhằm hoàn thiện sử dụng PTDH tại các trường TCCN có hiệu quả [64]
Trong công trình “Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI”,tác giả Trần Khánh Đức đã cho rằng, PTDH nâng cao nhận thức nội dung dạy họcđối với người học, tạo cơ hội và điều kiện hỗ trợ cho họ tích cực, tự lực chiếm lĩnhtri thức Tuy nhiên vấn đề sử dụng và khai thác hiệu suất, hiệu quả của các phươngtiện kỹ thuật đặt lên vai các nhà sư phạm một trách nhiệm mới đòi hỏi người GVphải có hiểu biết và năng lực khai thác hiệu quả công năng của phương tiện, thiết bị
để công nghệ hóa DH Tác giả trình bày quan niệm về CL và CLGD, các tiêu chíđánh giá; Bộ ISO 900:2000 và các nguyên tắc QLCL; các mô hình QL CLGD [40]
Trên các tạp chí khoa học, đã đăng tải nhiều bài viết của các nhà khoa học,nhà QLGD, các nhà sư phạm viết về các vấn đề liên quan Các tạp chí khoa họcnhư: tạp chí Giáo dục, tạp chí Khoa học Giáo dục, tạp chí Thiết bị giáo dục, các tạpchí của các trường đại học, các cơ quan nghiên cứu, đã đăng tải nhiều công trìnhnghiên cứu lý luận về xây dựng hệ thống CSVC-TBGD nhằm nâng cao CLĐT, gắn
lý thuyết với thực hành, ĐT đáp ứng nhu cầu xã hội, theo tiêu chí ĐBCL hiện nay
Với cách nhìn từ quan điểm ĐBCL của các cơ sở GD ĐH-CĐ, một số bài
viết đăng tải trong tạp chí khoa học đã khẳng định vai trò, vị trí của CSVC-TBGD
nói chung và PTDH nói riêng
Trang 16Tác giả Nguyễn Thái Bình, trong bài viết “Một số giải pháp nâng cao chất lượng
dạy nghề tại Trường cao đẳng nghề Tp.Hồ Chí Minh” [15], đã chỉ rõ, chương trình
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là chương trình cần tập trung thực hiện ở Tp HồChí Minh Tuy nhiên, để thực hiện được điều này ngoài việc đầu tư về CSVC, trang thiết
bị thực tập cũng như đội ngũ GV,… rất cần có những giải pháp mang tính khả thi của cáctrường dạy nghề Tác giả đi vào phân tích về một số giải pháp nâng cao chất lượng dạynghề tại Trường CĐ nghề Tp Hồ Chí Minh, trong đó có giải pháp tăng cường CSVC vàPTDH, nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy nghề nói chung, thực hiện đổi mới côngtác dạy nghề theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
Các tác giả Nguyễn Văn Cường, Nguyễn Cẩm Thanh, trong bài viết “Môi
trường dạy học thực hành kĩ thuật theo quan điểm dạy học tương tác” [32], đã phân
tích quan niệm về môi trường dạy học theo quan điểm dạy học tương tác và đặcđiểm mỗi trường trong dạy học thực hành kỹ thuật Từ đó, đưa ra các hạng mụcthiết kế môi trường dạy học thực hành kỹ thuật, theo quan điểm dạy học tương tác.Môi trường học tập trong một lớp học không chỉ bao gồm những yếu tố như khônggian, thời gian, ánh sáng, trang thiết bị, phương tiện mà còn bao gồm: nội dung, tàiliệu, nhiệm vụ học tập, những phương pháp làm việc và hình thức tương tác củagiáo viên, học sinh Môi trường dạy học tương tác hỗ trợ việc đổi mới cách học từ
bị động sang tích cực và tự lực của người học Tác giả đã khẳng định vai trò củaPTDH trong việc dạy học thực hành kỹ thuật theo quan điểm tương tác
Tác giả Bùi Thị Thu Hương, trong bài viết “Mục tiêu và chuẩn đầu ra trong
chương trình giáo dục đại học theo hướng tiếp cận phát triển năng lực người học”
[54], khẳng định, CLGD nói chung và CLGD đại học nói riêng phải được bắt đầu từviệc thiết kế một chương trình; chương trình vừa là công cụ để đào tạo nguồn nhân lựccho xã hội vừa là thước đo phát triển kinh tế - xã hội và cũng là thước đo trình độ pháttriển của khoa học GD trong thời kì đó Trong cấu trúc của chương trình GD có các
thành tố: mục tiêu, chuẩn đầu ra, đây là thành tố quan trọng nhất quy định các thành tố
còn lại, vì mục tiêu của chương trình GD chính là một trong hai yếu tố để đánh giá CLcủa chương trình đó Tác giả cũng cho rằng, CSVC-TBGD là một trong những điềukiện cần thiết để thực hiện mục tiêu, chuẩn đầu ra trong chương trình GDĐH
1.1.2 Những kết quả nghiên cứu về quản lý phương tiện dạy học
1.1.2.1 Những kết quả nghiên cứu trên thế giới
Hội nghị Quốc tế về GD lần thứ 39 họp tại Giơnevơ (1984) cũng như nhiềuhội nghị về PTDH ở các nước XHCN đã khẳng định ngành giáo dục cần phải đổi
Trang 17mới thường xuyên về mục đích, cấu trúc, nội dung, PTDH và phương pháp đào tạocho tất cả các người học có những cơ hội học tập Tùy theo hoàn cảnh kinh tế, kỹthuật và xã hội tất cả các nước trên thế giới đều có khuynh hướng hoàn thiện CSVC,PTDH nhằm phù hợp với sự đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức tổ chứcdạy học Các nước có nền kinh tế phát triển đều quan tâm đến việc nghiên cứu, thiết
kế, sản xuất các PTDH hiện đại, đạt CL cao, cần thiết cho nhu cầu giáo dục
Trong công trình "Phương tiện kỹ thuật dạy học và ứng dụng" tác giả đã đềcập nhiều đến vị trí, vai trò, chức năng và các loại phương tiện kỹ thuật dạy học Tàiliệu cũng đã nêu ra được những ứng dụng cụ thể, chi tiết của phương tiện kỹ thuậtdạy học trong quá trình dạy học Tài liệu là cơ sở nghiên cứu cho lĩnh vực PTDH vàquản lý sử dụng PTDH ở nước ta trong một thời gian dài trước đây
Từ cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, ở nhiều nước Châu Âu và Bắc Mỹ, dokết quả của những thay đổi về dân số và sự ủng hộ chính trị đối với GDĐH đại trà
đã dẫn đến sự gia tăng rất đông số lượng SV Chất lượng giáo dục bị ảnh hưởng doCSVC có hạn Chính phủ nhiều nước cho rằng “đầu tư ít, nhưng giảng dạy phảinhiều và tốt” Yêu cầu thỏa mãn các nhu cầu của hoạt động ĐT ngày càng gia tăng,trong khi nguồn lực lại có giai đoạn suy giảm Trong điều kiện đó, hiệu quả QL khaithác các nguồn lực, hiệu suất sử dụng CSVC trở thành mối quan tâm chủ yếu củanhiều trường ĐH Việc cắt giảm chi tiêu ngân sách cùng với áp lực của các tổ chứctài trợ cho nhà trường thậm chí đã thúc đẩy các cơ sở GD phải đặt rõ vấn đề xácđịnh xem những nhu cầu về diện tích sử dụng với các thiết bị kèm theo có xác đánghay không, từ đó có sự điều chỉnh hoạt động ĐT để tận dụng hiệu quả CSVC Điểnhình cho quan điểm trên được thể hiện trong các công trình nghiên cứu của Bautista
O (1992), với việc chuyển đổi hệ thống một học kỳ sang ba học kỳ [105]; Hirsh E(1990) với chiến lược nâng cao tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp và giảm bỏ học [106];Lockwood G và Davies G (1985) với cơ chế khuyến khích điều tiết, chuyển đổiCSVC giữa các khu vực trong nhà trường [107] Đến thập niên 90, xu hướng giáodục đại trà lan đến các nước Châu Á, Châu Phi, Arập, Châu Mỹ La tinh Cuộc khảosát của IIEP (International Institute for Educationnal Planning - UNESCO) năm
1995 chỉ ra rằng, ở nhiều nơi trên thế giới, các trường ĐH đã có nhiều giải pháp cảitiến công tác qui hoạch, khai thác sử dụng CSVC phục vụ đào tạo [82]
Vào năm 1995, UNESCO đã tiến hành một cuộc khảo sát khá toàn diện vềhiệu quả khai thác diện tích sử dụng (diện tích hữu dụng và các thiết bị kèm theo)của các trường ĐH nhiều khu vực, châu lục trên thế giới Trong một công trình
Trang 18nghiên cứu liên quan, tác giả Sanyal B.C (1995) đã trình bày khá cụ thể về tình hìnhquản lý khai thác giảng đường, phòng học, phòng thí nghiệm, thực hành,… của một
số trường đại học ở Hoa Kỳ, Canada, Bỉ, Nga, Phần Lan, Hà Lan, Anh và Châu Mỹ
La tinh, đồng thời phân tích ưu nhược điểm của một số trường hợp [108]
Trong Hội thảo quốc tế tại Áo vào năm 1998 với chủ đề “ Nâng cao chấtlượng quản lý cơ sở vật chất hạ tầng giáo dục”, các đại biểu đều nhất trí rằng CSVC
có ảnh hưởng không chỉ tới kết quả học tập mà còn tác động tới sức khỏe, ý thứccủa người dạy và người học Tại Hội thảo, Ông Glen.J.Earthman thuộc Viện Nghiêncứu Bách khoa Virginia (Mỹ) cho biết các kết quả nghiên cứu đã chứng minh mốiquan hệ giữa thành tích, hành vi của SV tới môi trường học tập Một số yếu tố quantrọng tác động tới việc học tập của SV là nhiệt độ, ánh sáng, không gian và PTDHtrong phòng Theo đó, các CSVC chất lượng sẽ có CL sản phẩm GD cao hơn cáctrường khác Hàng năm, các nước thuộc tổ chức OECD (Tổ chức hợp tác và pháttriển kinh tế) đã dành ra hơn 5% tổng thu nhập quốc nội cho GD Năm 2006, Ủyban Kỹ thuật Châu Âu đã thành lập các tiêu chuẩn quản lý CSVC và được áp dụngtại tất cả các nước thuộc Liên minh Châu Âu
1.1.2.2 Những kết quả nghiên cứu ở Việt Nam về quản lý phương tiện dạy học
Nhà xuất bản Hà Nội đã xuất bản "Tài liệu khoá tập huấn của Dự án Việt
Úc" (2001) và "Quản lý và sử dụng nhằm tăng cường hiệu quả thiết bị dạy học"
(2006) đưa ra được một số phương pháp QL, khai thác, sử dụng CSVC, PTDH vàogiảng dạy để đạt hiệu quả cao [34]
Tác giả Đặng Quốc Bảo, với đề tài: “Các biện pháp quản lý của hiệu trưởng
nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng CSVC - kỹ thuật phục vụ cho việc dạy và học ở trường THPT công lập Tp Hồ Chí Minh”, đã khảo sát và phân tích thực trạng QL
CSVC - kỹ thuật ở một số trường tại Tp Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất các biện phápquản lý của hiệu trưởng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng CSVC - kỹ thuật phục vụcho việc dạy và học ở trường THPT công lập tại Tp Hồ Chí Minh Tác giả đã nhìnnhận vấn đề hiệu quả sử dụng nguồn lực CSVC trong phạm trù tổng thể về quản lýnhà trường, dưới góc độ kinh tế - xã hội - sư phạm
Công trình “Quản lý giáo dục” (Bùi Minh Hiền, chủ biên), đã đề cập đến các
vấn đề lí luận về vai trò của PTDH trong sự phát triển hệ thống giáo dục quốc dân,phân loại các nhóm PTDH mà người quản lý cần bao quát và đưa ra một số nguyên tắc
và giải pháp QL PTDH ở các cơ sở giáo dục trong giai đoạn hiện nay [47]
Trang 19Trong một đề tài nghiên cứu, tác giả Ngô Quang Sơn (2005) đã đề cập đến một
số biện pháp QL nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị GD, ứng dụng CNTT vàtruyền thông tại các Trung tâm GD thường xuyên và Trung tâm học tập cộng đồng.Bằng việc giới thiệu công nghệ giáo dục kỹ thuật và dạy nghề (được dịch từ nguyênbản tiếng Pháp “L'ingÐnierie de la formation professionnelle et technique”), dịch giảHoàng Ngọc Vinh (2009) [97] đã nêu lên vai trò của công tác tổ chức CSVC trong việcxây dựng chương trình ĐT GD kỹ thuật và dạy nghề; hướng dẫn triển khai nội dungthiết bị đào tạo theo mô phỏng trong môi trường chuyên nghiệp nhằm thực hiện đàotạo kỹ thuật và dạy nghề dựa trên phương pháp tiếp cận theo năng lực
Tác giả Phạm Hiền Lương, trong bài viết “Quản lí dạy học thực hành tại
Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I - thực trạng và giải pháp” [65], cho rằng,
QL DH thực hành là một nội dung rất quan trọng trong công tác QL ĐT tại Trường
CĐ Cảnh sát nhân dân I Tuy nhiên, người học còn nhiều bỡ ngỡ, lúng túng, chưathành thạo về kỹ năng thực hiện các quy trình công tác nghiệp vụ cụ thể chuyên sâukhi ra trường Một trong những bất cập của quá trình ĐT dẫn đến những thiếu sóttồn tại trên là do công tác QL DH thực hành Tác giả đã làm rõ việc quán triệt nhậnthức cơ bản về QL DH thực hành; phân tích thực trạng công tác QL dạy thực hànhcác chuyên ngành tại Trường CĐ Cảnh sát nhân dân I và những nguyên nhân củahạn chế, yếu kém; đề xuất giải pháp tăng cường QL DH thực hành, trong đó cũng
đã khẳng định điều kiện CSVC- TBDH là yếu tố ĐBCL của việc dạy thực hành
Trong thời gian qua, một số luận án tiến sĩ cũng đã nghiên cứu về đề tài quản
lý CSVC-TBGD, nghiên cứu về việc khai thác, sử dụng PTDH trong các cơ sở GD
từ phổ thông đến CĐ, ĐH Một trong những đóng góp của các luận án chính là việctrình bày, phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp quản
lý CSVC-TBGD trong các cơ sở GD hiện nay
Trong luận án tiến sĩ QLGD của mình, tác giả Lê Đình Sơn với đề tài “Quản
lý cơ sở vật chất phục vụ đào tạo của trường đại học theo quan điểm quản lý chất lượng tổng thể” đã nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về QL
CSVC phục vụ ĐT của trường ĐH khái quát một cách hệ thống những vấn đề cốtlõi của quan điểm TQM Từ đó đề xuất giải pháp vận dụng quan điểm TQM vào QLCSVC phục vụ đào tạo của trường ĐH nước ta [82] Tác giả Nguyễn Thị Hằng với
đề tài “Quản lý đào tạo nghề ở các trường dạy nghề theo hướng đáp ứng nhu cầu
xã hội” đã thực hiện khảo sát thực trạng QL các điều kiện ĐBCL ĐT với kết quả
khảo sát cho thấy, gần 50% các trường QL phát triển đội ngũ GV ở mức thấp; chỉ
Trang 20có 25,2% quản lý CSVC, thiết bị máy móc ở mức cao, gần 50% thực hiện QL ởmức thấp Từ công trình nghiên cứu này cho ta thấy một thực trạng cần được có giảipháp khả thi cho công tác QL CSVC nói chung, PTDH nói riêng [45].
Tác giả Trần Minh Hùng (2013) với đề tài “Quản lý ứng dụng CNTT trongdạy học ở trường trung học phổ thông”, tác giả đã làm rõ cơ sở lý luận việc ứngdụng CNTT trong DH cần phải có các điều kiện đảm bảo như điều kiện về conngười, CSVC - thiết bị CNTT, và để QL ứng dụng CNTT trong DH THPT đạthiệu quả, hiệu trưởng cần phải quản lý các nội dung chính như: Nâng cao trình độứng dụng CNTT cho GV; QL các điều kiện hỗ trợ cho việc ứng dụng CNTT trongdạy học, Từ yêu cầu trên tác giả đã đánh giá thực trạng về công tác CSVC - thiết
bị CNTT ở các trường THPT tỉnh Đồng Nai và đưa ra biện pháp thực hiện [52]
Nguyễn Thanh Giang với đề tài “Quản lí ứng dụng CNTT ở trường trung họcphổ thông vùng Đông Nam Bộ”, tác giả đã nêu ra các nội dung QL ứng dụng côngnghệ thông tin (UDCNTT) chủ yếu hiện nay trong QLGD, trong đó có ứng dụngCNTT trong QL CSVC-TBGD và thư viện; trong nội dung, phương pháp, phươngtiện QL UDCNTT phải có yếu tố quản lý của nguồn tài lực và vật lực, nó là phươngtiện tất yếu để thực hiện mục đích UDCNTT một cách QL lý này Trên cơ sở lýluận, tác giả đã đánh giá thực trạng CSVC-TBGD về CNTT ở các trường THPTvùng Đông Nam Bộ Từ đó đưa ra giải pháp phát triển các điều kiện và nguồn lựcđảm bảo cho hoạt động ứng dụng CNTT ở trường THPT, trong giải pháp này chủyếu là xây dựng hệ thống CSVC-TBGD về CNTT, đảm bảo nguồn lực tài chính đápứng yêu cầu của ứng dụng CNTT trong dạy học và quản lý ở trường THPT [42]
1.1.3 Đánh giá chung kết quả nghiên cứu về quản lý phương tiện dạy và vấn đề tiếp tục nghiên cứu
1.1.3.1 Những kết quả đã được khẳng định và bài học của thành công
Như vậy, việc quản lý PTDH nói chung và PTDH ở trường cao đẳng là mộtvấn đề quan trọng trong nhiều công trình về QLGD, quản lý nhà trường Các kếtquả nghiên cứu được tiếp cận từ nhiều phương diện, cách nhìn khác nhau, tùy thuộcvào quan điểm riêng của nhà nghiên cứu, thời gian và triết lý giáo dục của mỗi quốcgia Mặc dù vậy, vẫn có nhiều điểm thống nhất về những vấn đề cơ bản về QLPTDH trong hoạt động GD-ĐT Có thể nói, các nghiên cứu về PTDH dù ở trong vàngoài nước, đã đề cập một cách toàn diện về những vấn đề cơ bản:
- Khẳng định vai trò, vị trí của PTDH trong GD-ĐT, ở trường THPT, TCCN,
CĐ và ĐH Đó là một quy luật biện chứng của quá trình nhận thức, quá trình hình
Trang 21thành và phát triển năng lực cho người học PTDH là một yếu tố, điều kiện ĐBCL
để nâng cao CL GD-ĐT nói chung và phát triển nguồn nhân lực nói riêng Bài họcrút ra là nghiên cứu để quản lý hiệu quả PTDH là một nội dung tất yếu của hoạtđộng giáo dục và trong quá trình cải tiến công tác quản lý phải tôn trọng các quyluật khách quan, tuyệt đối không chủ quan, duy ý chí
- Các kết quả nghiên cứu đã đề cập đến những vấn đề về nội dung, chấtlượng của PTDH ở các cấp học, ngành học, chương trình dạy học để đảm bảo choPTDH phát huy tác dụng trong việc cung cấp tri thức, rèn luyện kỹ năng, giáo dụcnhân cách ở các đối tượng, hoàn cảnh khác nhau Như vậy, nghiên cứu về PTDH và
QL PTDH phải đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với nội dung dạy học, phương phápdạy học và hướng đến đạt được các mục tiêu của quá trình dạy học
- Các nghiên cứu đề cập nhiều đến công tác quản lý, sử dụng, khai thácPTDH với tư cách là một nội dung hoạt động quản lý các trường học Nhiều nghiêncứu để đề xuất những giải pháp, biện pháp để phát huy hiệu quả công tác QL PTDH
từ việc xây dựng kế hoạch, đầu tư mua sắm, khai thác, bảo quản,… Những đề xuất
ấy thể hiện bản chất của quy trình QLGD nói chung và việc QL PTDH ở nhà trườngnói riêng Đây là những tiền đề để xây dựng quy trình QL PTDH ở các trườngCĐKT-KT theo tiếp cận ĐBCL GD hiện nay
- Một số công trình nghiên cứu đã đề cập đến các điều kiện đảm bảo củaquản lý công tác PTDH, xem đó như là một yếu tố trong tổng thể các mối quan hệtrong công tác QL PTDH Điều này khẳng định mối quan hệ ràng buộc có tính hệthống về PTDH với các yếu tố của quá trình đào tạo Vì vậy, trong quá trình QLPTDH ở các trường CĐKT-KT theo tiếp cận ĐBCL GD, không thể chủ quan, duy ýchí mà phải dựa trên những điều kiện cần thiết, cụ thể
- Gần đây, một số công trình nghiên cứu đã đề cập đến QL PTDH như là mộtyếu tố, biện pháp để thực hiện ĐBCL GD Đây là cách tiếp cận mang tính khoa học,hiện đại, cập nhật với những yêu cầu đổi mới GD-ĐT hiện nay Chính cách tiếp cận
QL PTDH như là một yếu tố của điều kiện ĐBCL GD sẽ làm cho các trườngCĐKT-KT khai thác, sử dụng PTDH đúng mục tiêu, có chất lượng và hiệu quả hơn
Có thể nói, những kết quả nghiên cứu về QL PTDH đã đóng góp những nộidung quan trọng về lý luận và thực tiễn của QLGD, quản lý trường học, QL PTDHnhằm nâng cao CLĐT Tuy nhiên, trong bối cảnh đổi mới GD-ĐT hiện nay, việc
QL PTDH nói chung, đặc biệt là QL PTDH ở các trường CĐKT-KT đáp ứng yêucầu ĐBCL đang còn những vấn đề cần phải tiếp tục giải quyết Đây chính là lý do
Trang 22để tiếp tục nghiên cứu, đề xuất các biện pháp QL PTDH ở các trường CĐKT-KT,nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới đào tạo hiện nay.
1.1.3.2 Những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu
QL PTDH là một yêu cầu chung của QLGD, quản lý nhà trường Tuy nhiên,vấn đề QL PTDH ở các trường CĐKT-KT, một loại hình cơ sở đào tạo có nhữngđặc trưng riêng về sử dụng CSVC và TBDH, cần phải được làm sáng tỏ, cụ thể hơn.Chỉ có như vậy, khi đề xuất biện pháp đổi mới công tác QL PTDH, các biện pháp
ấy mới có tính khả thi, tính hiệu quả cho các trường CĐKT-KT Điều này đặt ra yêucầu lựa chọn những vấn đề lý luận phải phù hợp với đặc điểm của trường CĐKT-
KT, có như vậy mới giải quyết được vấn đề nghiên cứu một các thấu đáo, từ đó mới
đề xuất được biện pháp quản lý khoa học, khả thi
Chất lượng, hiệu quả QL PTDH ở các trường CĐKT-KT được định lượng,định tính như thế nào để có tính hệ thống, khoa học, không mang tính chất chủquan, phiến diện Để ĐBCL GD thì PTDH cần phải có những tiêu chí cần đảm bảonào? Và làm sao các trường đáp ứng được các tiêu chí trên? Nói cách khác, cần phảixây dựng được hệ thống các tiêu chí đánh giá CL PTDH ở các trường CĐKT-KT vànhững biện pháp cụ thể để đáp ứng được các tiêu chí ấy một cách nhanh chóng, bềnvững Vì vậy, để làm tốt công tác QL PTDH ở các trường CĐKT-KT theo tiếp cậnĐBCL GD, cần xây dựng được một hệ thống tiêu chí làm cơ sở xác lập hệ thống lýluận, khảo sát thực trạng và đề xuất biện pháp quản lý
Một vấn đề quan trọng mà các công trình nghiên cứu trước đây chưa đề cậpđến nhiều chính là việc QL PTDH ở các trường CĐKT-KT theo tiếp cận ĐBCL
GD Đổi mới đào tạo, đổi mới công tác phát triển nguồn nhân lực phải chú ý tới cáctiêu chí, các điều kiện ĐBCL Vì vậy, đây là một vấn đề cần phải được nghiên cứuđầy đủ, hệ thống về QL PTDH ở các trường CĐKT-KT, phù hợp với bối cảnh pháttriển của khoa học kỹ thuật, của yêu cầu cao về chất lượng nhân lực hiện nay Vìvậy, cần phải làm rõ những vấn đề liên quan (khái niệm, nội dung, các yếu tố liênquan, ) của tiêu chí, điều kiện ĐBCL GD trong việc QL PTDH ở các trườngCĐKT-KT
Vấn đề cơ bản nhất là phải đề xuất được hệ thống các biện pháp QL PTDH ởcác trường CĐKT-KT theo tiếp cận ĐBCL GD được nhìn nhận từ quan điểm củaquản lý nhà trường, QLGD Các biện pháp QL PTDH ở các trường CĐKT-KT theotiếp cận ĐBCL GD phải dựa trên những nguyên tắc nhất định, phải được cụ thể hóa
Trang 23về mục tiêu, nội dung, cách thức thực hiện, phải được kiểm chứng trong thực tiễnhoạt động của các trường CĐKT-KT Trên cơ sở đó, mới có thể kiến nghị với cáccấp quản lý về đổi mới công tác TBDH ở các trường CĐKT-KT hiện nay Trên cơ
sở lý luận và thực tiễn, cần phải đề xuất được các biện pháp có tính cần thiết, khảthi, hiệu quả trong việc QL PTDH theo tiếp cận ĐBCL GD ở trường CĐKT-KT
Quản lý PTDH đáp ứng yêu cầu ĐBCL ở các trường CĐKT-KT là một vấn
đề quan trọng, cần thiết, có vị trí quan trọng trong việc nâng cao chất lượng pháttriển nguồn nhân lực hiện nay Vấn đề này đã được các nhà khoa học trong và ngoàinước nghiên cứu, đã có những kết quả quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn.Tuy nhiên, trong bối cảnh đổi mới hiện nay, sự phát triển của khoa học kỹ thuật,những nghiên cứu nói trên chưa đề cập đến những vấn đề có tính cấp thiết, cụ thể.Chính vì vậy, trên cơ sở tiếp thu những kết quả nghiên cứu trước đây, bám sát vàonhững cơ sở lý luận và thực trạng QL PTDH, cần phải đề xuất các biện pháp QLPTDH theo tiếp cận ĐBCL GD
1.2 Các khái niệm công cụ
1.2.1 Phương tiện và phương tiện dạy học
1.2.1.1 Phương tiện
Phương tiện vừa nói lên sự hàm chứa, tính vị trí, vừa có chức năng chuyển
giao, liên kết trong quan hệ giữa người gửi và người nhận Như vậy, phương tiện là
một cấu trúc chứa đựng và thể hiện các tín hiệu nhằm chuyển giao nội dung nhất định giữa người gửi và người nhận bằng hệ thống các tín hiệu thông qua các giác quan cảm nhận của con người.
1.2.1.2 Phương tiện dạy học
Hiện nay, có nhiều tên gọi khác nhau về liên quan đến PTDH Các tên gọisau đây thường được sử dụng trong ngôn ngữ nói và viết: thiết bị giáo dục(educational equipments), thiết bị trường học (school equipments), đồ dùng dạy học(aids equipments), thiết bị dạy học (teaching equipments), dụng cụ dạy học (devicesequipments), phương tiện dạy học (means/facilities of teaching), học liệu (learning/school materials), Các khái niệm nói trên được xác định từ những cách nhìn nhận
cụ thể nhưng đều liên quan đến các vật chất phục vụ hoạt động giáo dục và dạy học.Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, xin được tiếp cận theo tên gọi là PTDH.PTDH là một vật thể hoặc một tập hợp các vật thể mà người dạy sử dụng trong quá
Trang 24trình dạy học để nâng cao hiệu quả của quá trình này, giúp người học lĩnh hội kháiniệm, định luật, hình thành các tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, thái độ cần thiết [87].
PTDH là toàn bộ những trang thiết bị, đồ dùng, dụng cụ được sử dụng phục
vụ trực tiếp cho việc giảng dạy, học tập và các hoạt động khác trong nhà trường Vídụ: hệ thống tăng âm, loa, micro; ti vi và các đầu đọc VIDEO, VCD, DVD; các loạimáy chiếu phim dương bản, máy chiếu qua đầu, máy chiếu đa phương tiện, máy vitính; các loại tranh, ảnh, tranh giáo khoa, bản đồ, bảng biểu; các loại mô hình, vậtthật; các dụng cụ, thiết bị thí nghiệm; máy móc, thiết bị, dụng cụ dạy học thựchành Trong một số trường hợp, người ta coi tất cả các phương tiện kể trên cũngthuộc về CSVC của trường học Một cách hiểu khác, xem PTDH bao gồm mọi thiết
bị kỹ thuật từ đơn giản đến phức tạp được dùng trong quá trình dạy học để làm dễdàng cho sự truyền đạt và tiếp thu kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo [80]
PTDH bao gồm sách giáo khoa, sách tham khảo, tranh, ảnh, phương tiện
nghe nhìn, đồ dùng dạy học, các vật tự nhiên và các phương tiện, thiết bị kỹ thuậtđược đưa vào phục vụ cho quá trình dạy - học Như vậy, có thể coi PTDH gồm thiết
bị giáo dục và các phương tiện kỹ thuật hữu hình hoặc vô hình (các phần mềm dạyhọc, bài học điện tử; thiết bị thực hành ảo, thí nghiệm ảo; kho tư liệu, tài liệu, họcliệu điện tử,…) khác phục vụ cho quá trình DH và GD của nhà trường [86]
Ngoài ra còn có rất nhiều cách hiểu, cách quan niệm khác nhau về PTDH:
- PTDH là những đối tượng vật chất giúp cho người dạy và người học tổchức có hiệu quả quá trình DH nhằm đạt được mục đích dạy học Nhờ những đốitượng vật chất này, người dạy tiến hành tổ chức, điều khiển quá trình dạy học giúpngười học tự tổ chức hoạt động nhận thức của mình một cách có hiệu quả [50].PTDH là tập hợp những đối tượng vật chất được người dạy sử dụng với tư cách lànhững phương tiện tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của người học, thôngqua đó mà thực hiện những nhiệm vụ dạy học [56] PTDH là một cấu trúc chứađựng và thể hiện các tín hiệu hàm chứa đầy đủ những ý định của người dạy và nó cóthể được sử dụng hoặc chọn lựa nhằm chuyển tải, truyền đạt nội dung đến ngườihọc và nhằm liên kết giữa dạy - học và nội dung theo mục tiêu và phương phápcũng như hoạch định ban đầu của người dạy [39]
- Theo quan điểm giáo dục học, PTDH là đại diện khách quan của đốitượng nhận thức ẩn chứa trong đó đầy đủ những ý định, hoạch định ban đầu cả vềnội dung truyền đạt, phương pháp truyền đạt của người dạy và lĩnh hội của người
Trang 25học PTDH là một tập hợp những đối tượng vật chất được người dạy sử dụng với
tư cách là những phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức của người học Đốivới người học, phương tiện còn là nguồn tri thức phong phú để lĩnh hội tri thức,rèn luyện kỹ năng
- TBDH hay còn gọi là đồ dùng dạy học, PTDH, thiết bị giáo dục, học cụ,
là tất cả những phương tiện vật chất cần thiết giúp cho GV, HS tổ chức và tiến hànhhợp lý, có hiệu quả quá trình giáo dưỡng và giáo dục ở các môn học, cấp học [43]
- PTDH là tập hợp những đối tượng vật chất được giáo viên sử dụng với tưcách là những phương tiện tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh vàđối với học sinh, đó là phương tiện để tiến hành hoạt động nhận thức của mình,thông qua đó mà thực hiện nhiệm vụ dạy học PTDH là tập hợp những đối tượng vậtchất và tinh thần được giáo viên sử dụng để điều khiển hoạt động nhận thức của họcsinh và đối với học sinh đó là nguồn tri thức trực quan sinh động, là công cụ để rènluyện kỹ năng kỹ xảo [57]
Từ những phân tích trên, trong luận án này, khái niệm PTDH được hiểu như
sau: PTDH là nguồn tài nguyên, thông tin, thiết bị kỹ thuật, đồ dùng, dụng cụ,
được sử dụng phục vụ cho việc giảng dạy và học tập; là phương tiện giúp dễ dàng cho sự truyền đạt của người dạy; tiếp thu kiến thức, hình thành kỹ năng và phát triển tư duy của người học.
1.2.2 Quản lý và quản lý phương tiện dạy học
1.2.2.1 Quản lý
Trong lý luận quản lý, khái niệm quản lý đã được các nhà nghiên cứu đưa ratheo nhiều cách khác nhau, tùy theo những cách tiếp cận khác nhau
Các nhà nghiên cứu lý luận Liên bang Nga cho rằng: “Quản lý một hệ thống
xã hội, là khoa học, là nghệ thuật tác động vào hệ thống, chủ yếu là vào con người, nhằm đạt được những mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định” hay “Quản lý là tính toán sử dụng hợp lí các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài chính) nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ bởi kết quả tối ưu về kinh tế - xã hội” [55].
Các tác giả nghiên cứu quản lý khác cũng có những định nghĩa quản lý rất cụthể như: “Quản lý chính là dự báo, lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp vàkiểm tra” hay “Quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo phối hợp những nỗ lực
cá nhân nhằm đạt được những mục tiêu của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lý làhình thành một môi trường mà con người có thể đạt được các mục đích của nhóm
Trang 26với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất Với tư cách thực hành thìquản lý là nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức thì quản lý là khoa học” [56].
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng có nhiều khái niệm khác nhau về QL:
Theo tác giả Hà Sĩ Hồ: “Quản lý là một quá trình tác động có định hướng,
có tổ chức nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định” [49] Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang, quản lý là
những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bịquản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định [80]
Từ nhiều quan niệm, khái niệm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước,
có thể rút ra các đặc trưng của hoạt động quản lý như sau: Là hoạt động được tiếnhành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội; là tác động có hướng đích của chủ thểquản lý (bằng các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp; thôngqua các quyết định); là những tác động có hệ thống, có kế hoạch (phối hợp nỗ lựccủa các cá nhân, huy động các nguồn lực) để thực hiện mục tiêu của tổ chức
Quản lý một tổ chức có thể được xem xét ở các phương diện khác nhau.Dưới góc độ chức năng, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng có 4 chức năng quản lý cơbản: lập kế hoạch; tổ chức; chỉ đạo (lãnh đạo, điều phối) và kiểm tra Ở góc độkhác, hoạt động quản lý được xem xét theo các nhóm nguồn lực chủ yếu nhằm đảmbảo cho tổ chức đạt được mục tiêu quản lý như: nguồn lực con người; nguồn lực tàichính; nguồn lực vật chất; nguồn lực thông tin Tùy theo tính chất của từng loạihình tổ chức, quản lý còn được nghiên cứu ở dạng tổ hợp các phương pháp, biệnpháp, chính sách tác động
1.2.2.2 Quản lý phương tiện dạy học
Hoạt động quản lý nhà trường tác động có định hướng, có kế hoạch của chủthể quản lý đến đối tượng quản lý, nhằm huy động tối ưu các nguồn lực để thựchiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường, thì CSVC -PTDH phục vụ đào tạo chính là một trong những nguồn lực quan trọng đó
Một mặt, quản lý về CSVC và cụ thể là QL PTDH phục vụ đào tạo là mảngquan trọng nhất thuộc hoạt động quản lý hạ tầng vật chất - kỹ thuật của trường học,nằm trong hệ thống quản lý nhà trường nói chung Mặt khác, đây là một mảng côngtác thuộc hệ thống QLĐT của trường CĐ-ĐH (cung cấp nguồn lực để thực hiệnmục tiêu giáo dục của nhà trường)
Trang 27QL CSVC trường học nói chung hay cụ thể QL PTDH phục vụ đào tạo nóiriêng đều rất phức tạp, bao gồm nhiều lĩnh vực công việc: lập kế hoạch mua sắm; tổchức mua sắm; khai thác sử dụng, sửa chữa, bảo trì bảo dưỡng; kiểm kê, thanh lýPTDH Các nội dung công việc này, về tổng thể, có thể hình dung như các côngđoạn trong chu trình quản lý Vị trí của mỗi công đoạn phụ thuộc vào loại hình,chủng loại PTDH Mục đích của từng công đoạn giúp phân biệt chúng với nhau.Lập kế hoạch là xác định nội dung các giai đoạn đầu tư Đầu tư mua sắm là quátrình thực hiện kế hoạch đầu tư đã được phê duyệt Khai thác sử dụng PTDH làPTDH vào sử dụng, tận dụng tiềm năng, công suất PTDH hiện có Sửa chữa, bảo trìbảo dưỡng là khắc phục sự xuống cấp, hư hỏng, tăng tuổi thọ độ bền của thiết bị đãđược đầu tư Bảo quản, kiểm kê, thanh lý PTDH là những công việc nhằm duy trìtuổi thọ, chất lượng của PTDH, nhằm đánh giá tình trạng của PTDH để có cơ sởthực hiện công tác thanh lý như (thanh lý bán, tiêu hủy, điều chuyển) Đồng thời củacông tác thanh lý là có kế hoạch đầu tư thay thế Mỗi công đoạn này đều có mụctiêu, nội dung, yêu cầu quản lý cụ thể được xác định trên cơ sở mục tiêu, nhiệm vụcủa nhà trường, đặc tính của chủng loại PTDH Để thực hiện từng công đoạn nàykhông thể thiếu hoạt động quản lý với những nghiệp vụ thích hợp
Đặc thù hoạt động của trường cao đẳng, đồng thời cũng là một tổ chức hànhchính sự nghiệp, cùng với sứ mạng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đòi hỏi lĩnhvực QL PTDH phục vụ đào tạo cần tính đến đầy đủ các khía cạnh: tính sư phạm, tínhkinh tế, tính kỹ thuật và tính mỹ thuật Tính sư phạm đặt ra yêu cầu: PTDH với vai trò
là một nhân tố của quá trình giáo dục phải phù hợp với mục tiêu, nội dung dạy học,giáo dục Để phù hợp với mục tiêu, nội dung dạy học, các thành phần PTDH phải thíchứng, cập nhật với chương trình môn học, thỏa mãn những yêu cầu của quá trình nhậnthức khoa học Tính kinh tế đòi hỏi hiệu quả sử dụng phải trở thành mục đích của toàn
bộ hoạt động quản lý đầu tư Tính kỹ thuật đòi hỏi các PTDH phục vụ đào tạo phảiđồng bộ, đáp ứng các yêu cầu công nghệ và được bố trí, sắp xếp tối ưu, sử dụng, vậnhành hiệu quả Tính mỹ thuật đòi hỏi PTDH có hình thức thẩm mỹ cao, hấp dẫn, lôicuốn người sử dụng Đây là một giá trị cần thiết không chỉ tác động đến quá trình thunạp kiến thức, kỹ năng của người học, mà còn mang ý nghĩa giáo dục óc thẩm mỹ, lòngsay mê sáng tạo, rèn luyện thói quen làm việc của các nhà khoa học, các kỹ sư, cử nhâncủa xã hội tương lai
Từ những phân tích theo các góc nhìn khác nhau, ta có thể khái quát công tác
QL PTDH phục vụ đào tạo của nhà trường nhằm: (1) Đáp ứng tối đa các nhu cầu về
Trang 28PTDH nhằm phục vụ hoạt động đào tạo và NCKH; (2) Kế hoạch hóa và qui trìnhhóa, thể chế hóa công việc nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho đối tượng phục vụ, đặcbiệt là sinh viên; (3) Đầu tư, điều phối hợp lý, kịp thời PTDH cho các nhiệm vụ cụthể trong điều kiện nguồn lực thực tế; (4) Đảm bảo các tính năng kỹ thuật, khôngngừng nâng cao hiệu quả khai thác sử dụng PTDH, năng lực phục vụ đào tạo vàNCKH; (5) Thực hiện tốt công tác quản lý, bảo quản sử dụng PTDH.
Từ những phân tích trên, luận án hiểu khái niệm QL PTDH như sau: Quản lý
PTDH là tác động có mục đích của người quản lý lên hệ thống PTDH nhằm thực hiện tốt các khâu: lập kế hoạch mua sắm; tổ chức mua sắm PTDH; khai thác sử dụng, bảo trì, bảo dưỡng, sửa chữa PTDH; bảo quản, kiểm kê, kiểm toán, thanh lý PTDH nhằm góp phần nâng cao CLGD toàn diện ở nhà trường
Nếu theo tiếp cận chức năng của quá trình quản lý thì QL PTDH là việc chủthể quản lý sử dụng các chức năng kế hoạch hóa, chỉ đạo, tổ chức và kiểm tra để tácđộng lên toàn bộ vòng đời của phương tiện dự báo nhu cầu mua sắm, sử dụng, bảoquản, đến thanh lý, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo
1.2.3 Chất lượng và đảm bảo chất lượng giáo dục
1.2.3.1 Chất lượng
Chất lượng là phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sựvật chỉ rõ nó là cái gì? Tính ổn định tương đối của sự vật phân biệt nó với sự vậtkhác Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật, được biểu thị ra bên ngoài quacác thuộc tính Nó là sự liên kết các thuộc tính của sự vật lại làm một, gắn bó các sựvật như một tổng thể, bao quát toàn bộ và không tách khỏi sự vật Sự vật trong khivẫn còn là bản thân nó thì không thể mất chất lượng của nó Sự thay đổi về chấtlượng kéo theo sự thay đổi của sự vật về căn bản chất lượng của sự vật bao giờcũng gắn liền với tính quy định về số lượng của nó và không thể tồn tại ngoài tínhquy định ấy Mỗi sự vật bao giờ cũng có sự thống nhất của số lượng và chất lượng
Theo nghĩa chung nhất, chất lượng được hiểu là tập hợp các yêu cầu tạo nênphẩm chất, giá trị con người sự vật hoặc sự việc, là tổng thể tính chất, thuộc tính
cơ bản của sự vật, cái làm cho sự vật này phân biệt với sự vật khác; là mức độ hoànthiện, đặc trưng so sánh, đặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu các đặc thù, các dữ kiện,thông số cơ bản Theo định nghĩa ISO 9000-2000, “Chất lượng là mức độ đáp ứngcác yêu cầu của một tập hợp các đặt tính vốn có”; trong đó yêu cầu được hiểu là cácnhu cầu hay mong đợi đã được công bố, ngầm hiểu hay bắt buộc
Trang 29Từ những quan niệm trên, tác giả cho rằng, chất lượng là thuộc tính làm nên
sự khác biệt tích cực của đối tượng, thỏa mãn các tiêu chuẩn, tiêu chí theo quanniệm của người nhận thức, tiếp cận
1.2.3.2 Chất lượng giáo dục và đảm bảo chất lượng giáo dục
a) Chất lượng giáo dục
CLGD là những thuộc tính của một nền giáo dục, đảm bảo thỏa mãn yêu cầucủa xã hội theo những tiêu chuẩn, tiêu chí đã định CLĐT là kết quả của quá trìnhđào tạo phản ánh các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức laođộng hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chươngtrình đào tạo theo ngành nghề cụ thể [87]
Xuất phát từ quan niệm CLĐT như trên, hệ thống các tiêu chí đánh giáCLĐT nhất định có thể bao gồm các tiêu chí sau: (1) Phẩm chất xã hội - nghềnghiệp (đạo đức, ý thức, trách nhiệm, uy tín, ); (2) Các chỉ số về sức khỏe, tâm lý,sinh học, (3) Trình độ kiến thức, kỹ năng chuyên môn; (4) Năng lực hành nghề(cơ bản và thực tiễn); (5) Khả năng thích ứng với thị trường lao động; (6) Năng lựcnghiên cứu và tiềm năng phát triển nghề nghiệp
Tổ chức ĐBCL GDĐH quốc tế đã đưa ra hai định nghĩa về CL GDĐH là:Tuân theo các chuẩn quy định; đạt được các mục tiêu đề ra CLGD là sự phù hợp vớimục tiêu giáo dục, gắn liền với sự hoàn thiện của tri thức - kỹ năng - thái độ của sảnphẩm giáo dục và sự đáp ứng yêu cầu đa dạng của nền KT-XH trước mắt cũng nhưtrong quá trình phát triển CLGD có tính không gian, thời gian và phù hợp với sự pháttriển QL CLDH không đơn thuần chỉ là quản lý các hoạt động dạy học mà phảiquản lý quá trình tác động tới tất cả thành tố hoạt động sư phạm có tác dụng hỗ trợ,giúp đỡ phục vụ cho hoạt động dạy học của thầy và trò
CLGD trường CĐ là sự đáp ứng mục tiêu do nhà trường đề ra, đảm bảo cácyêu cầu về mục tiêu trình độ CĐ, phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho
sự phát triển kinh tế - xã hội Tiêu chuẩn đánh giá CLGD trường CĐ là mức độ yêucầu và điều kiện mà trường CĐ phải đáp ứng để được công nhận đạt tiêu chuẩnCLGD CLĐT ở một trường CĐ thường được nhận diện thông qua các nội dung:Khối lượng, nội dung và trình độ kiến thức liên quan đến chuyên ngành đào tạo màngười học chiếm lĩnh được tương ứng với trình độ đào tạo; kỹ năng, kỹ xảo thựchành sư phạm trang bị cho người học; năng lực nhận thức và năng lực tư duy của
SV tốt nghiệp; phẩm chất nhân văn của SV [70]
Về một phương diện khác, có thể nói CLGD là sự tổng hòa giữa việc thựchiện mục tiêu, nội dung, phương pháp, hiệu quả GD với việc theo tiếp cận ĐBCL
Trang 30GD Chất lượng GD còn được hiểu theo nghĩa rộng là bao gồm tất cả các hoạt độngcủa nhà trường (hoạt động trong giờ, hoạt động ngoài giờ) Trong thời đại kinh tế trithức và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, nếu không theo tiếp cận ĐBCL GD,không thể nói đến CLGD theo nghĩa đúng đắn.
Như vậy, chất lượng giáo dục là sự đáp ứng, thỏa mãn mục tiêu nâng cao dântrí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài của một nền giáo dục đối với sựphát triển kinh tế - xã hội trong một thời gian, phạm vi, lĩnh vực cụ thể
b) Đảm bảo chất lượng giáo dục
ĐBCL được xem như một hệ thống trong đó bao gồm những hình thức đánhgiá khác nhau được áp dụng để thực hiện quy trình nhất định Quá trình ĐBCL baogiờ cũng phải được bắt đầu từ sự QL bên trong cơ sở GDĐH [27] Trong GD, ĐBCLđược xác định như các hệ thống, chính sách, thủ tục, quy trình, hành động và thái độđược xác định từ trước nhằm đạt được, duy trì và củng cố chất lượng (Woodhouse,1998) Định nghĩa này cũng được Cơ quan ĐBCL Australia sử dụng [67]
Theo luận án, ĐBCL là những quan điểm, chủ trương, chính sách, mục tiêu,hành động, công cụ, quy trình và thủ tục, thông qua sự hiện diện và sử dụng, cóthể đảm bảo rằng các mục tiêu đã đề ra đang được thực hiện, các chuẩn mực họcthuật phù hợp đang được duy trì và không ngừng nâng cao ở cấp trường và ởchương trình đào tạo của nhà trường
ĐBCL là mô hình quản lý chất lượng giáo dục đại học phù hợp với điềukiện của nước ta hiện nay
1.2.3.3 Quản lý phương tiện dạy học theo tiếp cận đảm bảo chất lượng giáo dục
Quản lý PTDH theo tiếp cận ĐBCL GD là một quá trình quản lý hoạt độngcủa nhà trường được tiếp cận theo chức năng (lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểmtra; mục tiêu, nội dung, nguồn lực, đánh giá) nhưng ở tất cả các nội dung quản lý(xây dựng kế hoạch; tổ chức mua sắm ĐBCL, số lượng, chủng loại; khai thác, bảoquản, sử dụng; kiểm tra, bảo dưỡng, thanh lý; nhân lực; duy trì, phát triển làmphong phú PTDH,…) đều phải hướng đến mục đích là làm cho PTDH đáp ứng ngàycàng tốt hơn yêu cầu về ĐBCL GD Quản lý PTDH theo tiếp cận ĐBCL GD củanhà trường phải tuân thủ những nguyên tắc, quy định chung về quản lý tài sản công,vừa phải thực hiện một cách cụ thể, linh hoạt, phù hợp với chức năng, nhiệm vụtrong từng giai đoạn cụ thể
Bản chất của quản lý PTDH theo tiếp cận ĐBCL GD là làm cho quá trìnhquản lý này tiếp cận với những mục tiêu chung của quản lý CLGD Đây chính
Trang 31là quá trình thực hiện những tiêu chí, nội dung, phương pháp quản lý PTDHnhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động dạy học nói riêng và hoạtđộng giáo dục của nhà trường nói chung, đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ trongbối cảnh đổi mới.
1.3 Phương tiện dạy học ở trường cao đẳng kinh tế - kỹ thuật
1.3.1 Trường cao đẳng kinh tế-kỹ thuật trong hệ thống giáo dục quốc dân
Trong hệ thống các trường cao đẳng ở Việt Nam hiện nay, có các trườngcao đẳng kinh tế - kỹ thuật, một loại hình cơ sở giáo dục nghề nghiệp giữ vai tròquan trọng trong việc cung ứng nguồn nhân lực các ngành kinh tế và kỹ thuật cho
xã hội Trường CĐKT-KT là tên gọi của trường CĐ đào tạo ngành nghề thuộcngành kinh tế và ngành kỹ thuật, công nghệ Theo Quyết định số 01/2017/QĐ-TTgngày 17/01/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Danh mục GD-ĐTcủa hệ thông quốc dân, danh mục các chuyên ngành thuộc khối ngành kỹ thuật,bao gồm các ngành trong mã ngành cấp II.51.Công nghệ kỹ thuật, mã ngành cấpII.52.Kỹ thuật
Mục tiêu của trường CĐKT-KT nhằm thực hiện mục tiêu chung của giáo dụcnghề nghiệp Mục tiêu cụ thể đào tạo trình độ cao đẳng: là đào tạo trình độ cao đẳng
để sinh viên có kiến thức chuyên môn cơ bản, kỹ năng thực hành thành thạo, hiểubiết được tác động của các nguyên lý, quy luật tự nhiên - xã hội trong thực tiễn và
có khả năng giải quyết những vấn đề thông thường thuộc ngành được đào tạo.Trường cao đảng thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của Luật giáo dụcnghề nghiệp [77]
Theo quy định hiện hành, các trường CĐ hoạt động theo Luật giáo dục nghềnghiệp (trừ trường CĐ sư phạm) Hệ thống các trường CĐKT-KT, có các loại hìnhtrường: trường CĐ kinh tế; trường CĐ kỹ thuật; trường CĐKT-KT; trường CĐ côngnghệ, các trường này chịu sự quản lý của ngành Lao động - Thương binh và Xãhội Vấn đề này, tác giả sẽ trình bày một cách cụ thể, hệ thống trong chương 2 củaluận án
1.3.2 Phương tiện dạy học ở trường cao đẳng kinh tế - kỹ thuật
1.3.2.1 Nhận diện về phương tiện dạy học
PTDH là những điều kiện, phương tiện, thiết bị phục vụ cho đào tạo, không
có PTDH thì không có điều kiện để thực hiện mục đích, nội dung, phương pháp đàotạo có được kết quả Do đó, PTDH đóng vai trò quan trọng trong hoạt động đào tạocủa nhà trường PTDH bao gồm những trang thiết bị, phương tiện vật tư kỹ thuật
Trang 32hàm chứa những yếu tố về năng lực, trình độ, về quy trình mang hàm lượng chấtxám cao, có tính mỹ thuật, kỹ thuật, kinh tế,… PTDH ở trường cao đẳng là điềukiện vật chất kỹ thuật, là các phương tiện, thiết bị phục vụ hoạt động dạy và học,NCKH, thực hành, thực nghiệm, rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên [72].
1.3.2.2 Phân loại phương tiện dạy học ở trường cao đẳng kinh tế - kỹ thuật
Việc phân loại PTDH cụ thể là rất khó, phức tạp và không bao hàm hết tất cảcác ngành nghề Tùy theo ngành nghề, nội dung chương trình, yêu cầu của pháttriển nguồn nhân lực, sự phát triển của khoa học kỹ thuật,… sẽ có sự khác nhau vềPTDH ở trường CĐKT-KT, được khái quát lại thành các nhóm sau đây:
a) Nhóm PTDH dùng để thực hành, thực nghiệm, thí nghiệm, sản xuất
Nhóm PTDH được phân loại dùng cho khối ngành kỹ thuật và nhóm PTDHdùng cho khối ngành kinh tế; bao gồm: PTDH dùng cho thực hành, thực nghiệm, thínghiệm cơ bản; PTDH dùng cho thực hành, thực nghiệm, thí nghiệm chuyên ngành
- Nhóm PTDH dùng cho khối ngành kỹ thuật bao gồm: Các loại máy móc,
mô hình hoạt động, mô hình mô phỏng; PTDH ảo; các phần mềm, hệ thống truyềndẫn, hệ thống mạng, hệ thống cảnh báo; các loại công cụ, dụng cụ; vật tư, nguyênvật liệu, hóa chất,… (sử dụng trong lĩnh vực công nghiệp); các loại máy móc, môhình hoạt động, mô hình mô phỏng; PTDH ảo; các loại phần mềm, hệ thống truyềndẫn, hệ thống mạng, hệ thống cảnh báo; các loại công cụ, dụng cụ; vật tư, nguyênvật liệu, hóa chất, con giống, cây giống,… (sử dụng trong lĩnh vực nông nghiệp)
- Nhóm PTDH dùng cho khối ngành kinh tế: Các loại máy móc như máy vitính, máy in, máy fax, máy chấm công,…; các mô hình mô phỏng, mô hình thựchành ảo: doanh nghiệp, cơ quan tổ chức, các loại hình kinh tế, thị trường, giao dịch,
…; các loại phần mềm, hệ thống mạng, hệ thống truyền dẫn, hệ thống thông tin,…;vật phẩm, văn phòng phẩm, các biểu mẫu, sổ sách, chứng từ,…
Trang 33Sơ đồ 1.1 : Phân loại phương tiện dạy học ở trường CĐKT-KT
b) Nhóm PTDH dùng chung
- Phương tiện nghe nhìn bao gồm: Máy thu hình, đầu VCD, DVD, màn hình,
hệ thống trang âm trong dạy học; máy quét ảnh (scaner), máy chiếu vật thể (visualprojector- video presentation stand), máy chiếu qua đầu (overhead), máy chiếu đanăng (Projector), bảng tương tác thông minh (starBoard), máy photocopy, máychiếu phim dương bản, máy ảnh, máy quay phim kỹ thuật số, máy in, máy vi tính,ống nhòm, hệ thống mạng internet,…
- Phương tiện trực quan khác bao gồm: mô hình, mẫu vật, vật thật, tranh ảnh,
sơ đồ, lược đồ, video clip,…[72]
PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT
Nguồn thông tin, nguồn tài nguyên
- Phương tiện nghe
nhìn: máy móc nghe nhìn, dụng cụ nghe nhìn, vật liệu nghe nhìn, …
- Phương tiện trực quan: mô hình, mẫu vật, vật thật, tranh ảnh, sơ đồ, lược đồ,…
- Phần mềm, hệ thống mạng, hệ thống truyền dẫn,…
- Vật phẩm, văn phòng phẩm,…
Trang 34c) Nhóm nguồn thông tin, nguồn tài nguyên: Nhóm PTDH này là các Trungtâm học liệu, thư viện bao gồm nguồn thông tin, tài nguyên là các sách, tài liệu, báo,tạp chí,… Bên cạnh thư viện sách truyền thống thì ngày nay thư viện điện tử, phònghọc E-learning, các phòng học trực tuyến, học bằng phần mềm,… đã được pháttriển một cách mạnh mẽ, đó là nguồn tài nguyên số được chia sẽ, liên kết với cáctrường, viện nghiên cứu, các thư viện quốc gia, các nước trên toàn thế giới nhằmchia sẻ thông tin với nhau một cách nhanh chóng và sâu rộng.
1.3.2.3 Vị trí, vai trò, chức năng của phương tiện dạy học
a) Vị trí của PTDH trong cấu trúc của quá trình dạy học
Quá trình giáo dục và dạy học được cấu thành bởi nhiều thành tố có liênquan chặt chẽ và tương tác với nhau Các thành tố đó là: mục tiêu, nội dung,phương pháp, giáo viên, học sinh và phương tiện (cơ sở vật chất) Các yếu tố cơ bảnnày giúp thực hiện quá trình giáo dục và dạy học
Sơ đồ dưới đây thể hiện các thành tố cấu thành quá trình giáo dục và dạy học
và mối quan hệ giữa chúng
Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ giữa các thành tố trong quá trình giáo dục
Như vậy, trong quá trình giáo dục và dạy học, CSVC trường học là mộtthành tố không thể tách rời của 6 thành tố (mục tiêu dạy học, nội dung dạy học,PTDH, giáo viên vàhọc sinh) CSVC (với tư cách là phương tiện) còn chịu chi phốibởi mối quan hệ biện chứng giữa 3 phạm trù của một hoạt động là nội dung, phươngpháp, phương tiện Chỉ khi 3 phạm trù đó có mối liên hệ phù hợp thì hoạt động giáodục mới có chất lượng [86]
Mục tiêu
Học sinh
Phương phápNội dung
Phương tiện (CSVC)Giáo viên
Trang 35b) Vai trò, chức năng của PTDH ở trường cao đẳng kinh tế - kỹ thuật
Từ vị trí, tầm quan trọng của PTDH, ta càng thấy rỏ hơn vai trò, chức năngcủa PTDH trong hoạt động đào tạo ở trường CĐKT-KT như sau:
Nâng cao tính tích cực, kích thích hứng thú và thúc đẩy quá trình nhận thứccủa người học PTDH phải là một trong những cơ sở chủ yếu cho người học nhậnthức được thế giới khách quan, lĩnh hội tri thức, phát huy tư duy cũng như tạo điềukiện cho họ từng bước tham gia cải tạo thực tiễn vì lợi ích của con người [55] Việc
sử dụng PTDH có thể giúp SV nâng cao hứng thú học tập Cơ sở tâm lý học, hứngthú ham mê học tập là một trong những nguồn gốc chủ yếu nhất của việc học tập cókết quả cao, là con đường dẫn tới sáng tạo tài năng [39] Trong hoạt động dạy học,PTDH là công cụ rất quan trọng để tạo nên hứng thú trong nhận thức người học.Bên cạnh đó, trong công tác dạy học thực hành - thí nghiệm, PTDH là công cụ, làphương tiện giúp người học nâng cao hứng thú nhận thức trong nghề nghiệp, hìnhthành nên lòng yêu nghề, có đạo đức với nghề nghiệp Khi tiếp xúc với PTDH sẽhình thành trong người học tinh thần tự học, tự nghiên cứu, thúc đẩy quá trình nhậnthức trong hoạt động NCKH
PTDH không những cung cấp và hình thành cho người học kiến thức bềnvững, mà nó còn giúp cho người học kiểm chứng, chứng minh được tính đúng đắncủa kiến thức lý thuyết khoa học, sửa chữa hoặc bổ sung, phát triển, đánh giá lại nếukhông phù hợp với thực tiễn
Rèn luyện, phát triển kỹ năng thực hành, thực tập Nguyên tắc cơ bản nhấtchỉ đạo phương pháp dạy học là nguyên lý giáo dục: học đi đôi với hành, giáo dụckết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trườngkết hợp với gia đình và xã hội Trong quá trình hoạt động thực tiễn, vật chất tácđộng lên các giác quan, qua đó tác động vào vỏ não làm phát triển nảo bộ Trên cơ
sở bên trong của hoạt động trí tuệ phải được xây dựng trên những hoạt động thựctiễn bên ngoài Qua hoạt động thực tiễn, cấy trúc của các vật và phương pháp hoạtđộng đối với cùng dần dần chuyển vào vỏ não biến thành nhận thức cấu trúc của cácvật và phương pháp hoạt động trí tuệ với chúng, logic hoạt động thực tiễn chuyểnvào vỏ não và biến thành logic tư duy Do đó, qua công tác thực hành, năng lựcnhận thức của người học dần dần phát triển [88] PTDH là cầu nối để giảng viên vàsinh viên của nhà trường tiếp cận chính xác và kịp thời PTDH là điều kiện, làphương tiện để thực hiện phương pháp giáo dục, có vai trò quan trọng trong việcrèn luyện, phát triển kỹ năng thực hành, thực tập cho người học
Trang 36Phát triển trí tuệ, kích thích nhu cầu học tập và NCKH Trong quá trình dạyhọc, nếu PTDH được người giảng viên sử dụng một cách có hệ thống, phù hợp vớimục tiêu, nội dung, phương pháp thì sẽ giúp cho sinh viên phát triển tư duy, tăngkhả năng quan sát, phân tích nhận định, so sánh, tổng hợp Đồng thời thông quahoạt động sử dụng PTDH của người thầy, sự tương tác của trò trong quá trình thựchành, thực tập làm kích thích nhu cầu cầu học tập Từ đây sẽ dần hình thành kỹnăng tự học, tự nghiên cứu, tìm tòi phát triển cái mới Để thực hiện được nhiệm vụnày đòi hỏi nhà trường phải có đầy đủ CSVC - PTDH, phải có đầy đủ phòng thựchành, thí nghiệm, bên cạnh số lượng thì đòi hỏi phải đáp ứng được tiêu chí hiện đại,
có như vậy thì khi sinh viên tiếp cận với PTDH này thì sẽ làm tăng nhu cầu mongmuốn được nghiên cứu, được tìm tòi
Giáo dục đạo đức nghề nghiệp, kỹ luật lao động, nhân cách người học.Thông qua việc sử dụng PTDH, hình thành cho sinh viên hệ thống các khái niệm,nhận thức được thế giới xung quanh, hứng thú trong học tập và NCKH, từ đó hìnhthành lòng yêu nghề, hiểu và khẳng định được giá trị bản thân để tiến đến hìnhthành nhân cách một mẫu người tri thức trong thời đại mới Thông qua quá trình sửdụng, vận hành PTDH sẽ dần hình thành tính kỹ luật, tính nghiêm túc trong khoahọc, trung thực, chăm chỉ, cần cù trong lao động, trong sản xuất Như vậy sử dụngPTDH hợp lý sẽ tác động đến việc hình thành nên đạo đức nghề nghiệp, nhân cáchcủa sinh viên
Là công cụ lao động của giảng viên Cùng với sự phát triển của tri thức, khoahọc kỹ thuật và công nghệ, để truyền tải một khối lượng kiến thức lớn đến ngườihọc, hướng dẫn để hình thành kỹ năng tay nghề cho người học thì người thầy rấtcần phương tiện kỹ thuật hỗ trợ, đó chính là PTDH Đây là công cụ giúp cho ngườihọc dễ dàng tiếp cận những kiến thức, tri thức từ người thầy, nó còn là động lực làmcho hoạt động giảng dạy của người thầy thêm sáng tạo và sinh động
1.3.3 Các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục ở trường cao đẳng kinh tế - kỹ thuật 1.3.3.1 Quan niệm về chất lượng giáo dục ở trường cao đẳng kinh tế - kỹ thuật
Theo tổ chức UNESCO (1998), trong “Bản tuyên ngôn quốc tế về GDĐHtrong thế kỷ XXI: Tầm nhìn và hành động” đã quan niệm chất lượng trong GDĐHnhư một khái niệm đa chiều, bao quát tất cả các chức năng và hoạt động của cơ sởGDĐH: các chương trình giảng dạy và học tập, nghiên cứu và học thuật, xây dựng
Trang 37đội ngũ giảng viên, sinh viên, phòng học, trang thiết bị, dịch vụ cho cộng đồng vàmôi trường học thuật.
Quan điểm của tổ chức ĐBCL GDĐH quốc tế (INQAAHE) về chất lượngtrong GDĐH được hiểu thông qua 2 khía cạnh: (*) Tuân theo các chuẩn quy địnhđối với GDĐH; (*) Đạt được mục tiêu đề ra cho quá trình GDĐH Vì vậy có thểquan niệm CL trong GDĐH như sau: (1) Chất lượng là kết quả của cả quá trình đàotạo; (2) Chất lượng là sự đạt được mục tiêu đào tạo đề ra đối với một chương trìnhđào tạo và được thể hiện ở năng lực hành nghề của người đã tốt nghiệp [48]
Do đó, trong giáo dục nói chung và GDĐH nói riêng, không thể có một địnhnghĩa về CL mà mọi người đều chấp nhận, tuy nhiên, trong GDĐH chúng ta có thểquan niệm: CL là việc đạt được mục tiêu của các cơ sở GDĐH và thỏa mãn đượcnhu cầu của khách hàng Từ quan niệm này, khi đã xác định được mục tiêu phù hợp,các cơ sở GDĐH có thể hướng các nỗ lực của mình vào từng lĩnh vực nhằm đạtđược mục tiêu dự kiến, đáp ứng được các yêu cầu của khách hàng và của xã hội
Chất lượng đào tạo ở một trường cao đẳng thường được nhận diện qua cácnội dung sau: (*) Khối lượng, nội dung và trình độ kiến thức liên quan đến chuyênngành mà người học chiếm lĩnh được tương ứng với trình độ đào tạo; (*) Kỹ năng,
kỹ xảo tay nghề thực hành trang bị cho người học; (*) Năng lực nhận thức và nănglực tư duy của sinh viên tốt nghiệp; (*) Phẩm chất nhân văn của người học
Trên cơ sở các thành tố trên, có thể dựa vào các yếu tố sau để đánh giá CLGD:
(1) Chất lượng đầu vào: trình độ đầu vào thỏa mãn các tiêu chí, mục tiêu đề
ra (chất lượng tuyển sinh) và chất lượng các yếu tố của điều kiện ĐBCL
(2) Chất lượng quá trình đào tạo: mức độ thực hiện các tiêu chuẩn, tiêu chí
đề ra cho sản phẩm hoạt động đào tạo và việc tuân thủ thủ tục quy trình đã vạch ra;mức độ đáp ứng của nhu cầu quá trình dạy học và các kết quả quá trình ĐT khác
(3) Chất lượng đầu ra: mức độ đạt được của đầu ra (chất lượng SV cuối quá
trình đào tạo, SV tốt nghiệp ra trường) so với chuẩn đầu ra đã tuyên bố (kiến thức,
kỹ năng, thái độ cần đạt được quy định cho từng môn học và chuẩn đào tạo trongmối quan hệ của chuẩn nghề nghiệp)
(4) Chất lượng sản phẩm: mức độ đạt các yêu cầu của SV tốt nghiệp qua
đánh giá của chính bản thân SV, của gia đình và xã hội [81]
Trang 38Chất lượng đào tạo là đạt được mục tiêu của giáo dục đào tạo Mục tiêu đàotạo của Trường CĐKT-KT là cung cấp cho người học những kiến thức, kỹ năng,thái độ cần có theo chuẩn đầu ra
Từ những quan niệm trên, luận án quan niệm: Chất lượng giáo dục ở Trường cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật là hướng đến đào tạo ra con người có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp và khả năng giải quyết vấn đề tương ứng với trình độ cao đẳng, được nhận diện thông qua: trình độ kiến thức chuyên ngành đào tạo mà người học lĩnh hội được; kỹ năng tay nghề có được; năng lực nhận thức và năng lực tư duy;
kỹ năng sống và kỹ năng giải quyết vấn đề
1.3.3.2 Vị trí của phương tiện dạy học trong đảm bảo chất lượng giáo dục ở trường cao đẳng kinh tế - kỹ thuật
CLGD không chỉ phụ thuộc vào PTDH mà nó còn phụ thuộc vào các điềukiện đảm bảo của trường CĐKT-KT Đó chính là mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực
có đáp ứng được nhu cầu xã hội hay không; chương trình, nội dung đào tạo có bámsát kỹ năng nghề nghiệp và sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ sảnxuất; là đội ngũ giảng viên, nhân viên có đảm bảo về số lượng, chất lượng, cơ cấu;
là người học đảm bảo chuẩn đầu vào và chuẩn đầu ra của quá trình đào tạo; phươngpháp, hình thức đào tạo tiếp cận với định hướng phát triển năng lực người học;…
Từ phân tích về vị trí, vai trò, chức năng của PTDH, ta có thể khẳng địnhCLGD phụ thuộc vào các yếu tố để đảm bảo thực hiện mục tiêu đào tạo Xuất phát
từ quan điểm trên, ta thấy được mối quan hệ giữa các yếu tố quyết định đến CLĐT
Mục tiêu của giáo dục cao đẳng khác với mục tiêu của giáo dục phổ thôngnên các yếu tố để thực hiện mục tiêu như nội dung, phương pháp, đội ngũ vàphương tiện kỹ thuật cũng khác nhau Ở trình độ cao đẳng, tùy theo thời gian, ngànhnghề đào tạo sẽ yêu cầu người học phải nắm vững những kiến thức cơ bản, kiếnthức chuyên môn nghề nghiệp, kỹ năng thực hành, kỹ năng giải quyết vấn đề ở mức
độ nào thì những điều kiện về PTDH kỹ thuật phải tương ứng và đáp ứng được
Bên cạnh PTDH kỹ thuật đáp ứng cho công tác đào tạo, trường cao đẳng cònphải đảm bảo đủ điều kiện về CSVC, PTDH để GV, SV thực hiện công tác NCKH
Ngoài các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến CLĐT thì hệ thống đào tạo ở trường
CĐ còn vận hành trong môi trường văn hóa, chính trị, xã hội nhất định và chịu sựtác động qua lại của các điều kiện môi trường Dù các yếu tố này không đóng vai
Trang 39trò quyết định nhưng lại có ảnh hưởng đến CLĐT Như vậy các yếu tố bên ngoài tácđộng đến CLĐT thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như: thể chế chính trị, kinh tế - xãhội, khoa học - kỹ thuật, vị trí địa lý, truyền thống văn hóa, cơ cấu lao động, nhậnthức xã hội về đào tạo trình độ cao đẳng.
1.3.3.3 Phương tiện dạy học trong vai trò là một điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục ở trường cao đẳng kinh tế - kỹ thuật
Để đào tạo được người học sau khi ra trường có kiến thức, có kỹ năng thựchành, có tay nghề vững vàng thì quá trình đào tạo phải làm cho người học tiếp thu đượcnhững kiến thức từ cơ bản đến kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp theochuyên đào tạo Muốn vậy, các cơ sở đào tạo phải có đầy đủ các điều kiện về PTDH đểngười học tiếp thu kiến thức chuyên môn và rèn luyện kỹ năng tay nghề
Trên các cơ sở lý luận, định luật, khái niệm,…được học từ lý thuyết của cácmôn học cơ bản cần được thực nghiệm, chứng minh lại nếu không có đầy đủ PTDHthì không thể chứng minh tính đúng đắn của khoa học Bên cạnh đó là những vấn đềcần được nghiên cứu, thí nghiệm để phát hiện ra vấn đề mới góp phần vào sự pháttriển của khoa học kỹ thuật ứng dụng vào đời sống con người
Không có PTDH để đảm bảo cho hoạt động dạy - học, NCKH thì SV không
có đủ kiến thức chuyên môn và không có kỹ năng nghề nghiệp để giải quyết các vấn
đề cần thiết trong cuộc sống thực tế; không có đủ điều kiện đảm bảo cho GV và SVthực hiện được nội dung chương trình đào tạo, rèn luyện kỹ năng GV, SV không cóđiều kiện để thực hiện công tác NCKH
Đã có nhiều nghiên cứu khẳng định vai trò của CSVC - kỹ thuật trong hoạtđộng của trường học Một số nghiên cứu đã định lượng hóa vai trò của CSVC - kỹthuật trong các tiêu chí để đánh giá CLGD của nhà trường, dưới đây là một số ví dụ:
- Các nhà nghiên cứu lý luận về GD đã khẳng định hai yếu tố sau: 1) Trình
độ, năng lực của đội ngũ GV; 2) Trình độ của CSVC - kỹ thuật của nhà trường,quyết định hiệu quả hoạt động GD của nhà trường và đưa ra hàm Cobb- Douglass:
Trang 40- Tổ chức lao động quốc tế ADB/ILO (Evaluation Rating criteria for theVTE Institution ADB/ILO - Bangkok 1997) đưa ra 9 tiêu chuẩn và điểm đánh giá
cơ sở GD-ĐT để kiểm định tại các nước thuộc tiểu vùng sông Mekong, trong đóđịnh lượng hóa vai trò của CSVC - kỹ thuật của nhà trường như sau:
Bảng 1.1: Cơ cấu các chuẩn kiểm định cơ sở giáo dục của ADB/ILO
2 Tổ chức và quản lý 45 9
3 Chương trình giáo dục và đào tạo 130 26
4 Đội ngũ cán bộ quản lý - giáo viên 95 19
5 Thư viện và các nguồn lực cho dạy học 25 5
Báo cáo quốc gia về ĐBCL GD (Country Report on QualityAssurance in Higher Education, Bangkok 1998) đưa ra tỉ lệ đánhgiá các điều kiện ĐBCL GD của Malaysia với 6 chỉ số:
Bảng 1.2: Chỉ số đảm bảo chất lượng giáo dục đại học, Malaysia 1998
1 Các thông tin chung về giáo dục và đào
tạo
5%
3 Chương trình đào tạo 20%
4 Cơ sở vật chất và trang thiết bị 20%