1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

NGUỒN GÂY Ô NHIỄM NƯỚC VÀ SỰ THAY ĐỔI CHẤT LƯỢNG NƯỚC TRONG LƯU VỰC WUWEI SÔNG SHIYANG, TÂY BẮC TRUNG QUỐC

19 151 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 652,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dựa trên các cuộc điều tra và phân tích hóa học, chúng tôi thực hiện một nghiên cứu chi tiết về chất lượng nước mặt và nước ngầm trong lưu vực Wuwei, để hiểu được nguồn ô nhiễm nước và sự thay đổi của chất lượng nước sông Shiyang. Nồng độ các nguyên tố hóa học chủ yếu trong nước mặt có liên quan đến khoảng cách từ nguồn của dòng sông đến hạ lưu, với nước mặt ở thượng nguồn đạt chất lượng tốt, nhưng các sông từ thành phố Wuwei đến hồ chứa Hongya bị ô nhiễm nghiêm trọng với chỉ số ô nhiễm tổng hợp là 25. Chất lượng nước ngầm nói chung là tốt ở chân núi, chủ yếu bicarbonate và các ion canxi, nhưng độ mặn rất cao và ô nhiễm nitrate xảy ra trong phần phía bắc của lưu vực. Sự khoáng hóa của nước ngầm đã thay đổi nhanh chóng trong 20 năm qua. Có 23 nguồn nước thải xả tổng cộng 22,4 x 106m3y 1 vào các sông từ Thành phố Wuwei, kết hợp với việc giảm nước đầu vào, là những nguyên nhân chính gây ô nhiễm nguồn nước. Phát triển thủy sản trong hồ chứa Hongya từ năm 2000 cũng đã góp phần vào việc ô nhiễm. Việc tiêu thụ nước phải giảm đi cho đến khi nó đạt đến mức độ bền vững cho phép bởi các nguồn lực sẵn có trong toàn lưu vực và việc xả thải cũng phải được giảm mạnh.

Trang 1

Đại học Khoa Học Tự Nhiên TP.HCM

Khoa Môi Trường

MÔN: PHÂN TÍCH CHẤT LƯỢNG NƯỚC VÀ ĐẤT

CHỦ ĐỀ 2: NGUỒN GÂY Ô NHIỄM NƯỚC VÀ SỰ

THAY ĐỔI CHẤT LƯỢNG NƯỚC TRONG LƯU VỰC WUWEI SÔNG SHIYANG, TÂY BẮC TRUNG QUỐC

GVHD:

TS TÔ THỊ HIỀN

SVTT:

NGUYỄN MINH TUẤN 1022331 ĐINH XUÂN VƯỢNG 1022360

Trang 2

Tóm tắt

Dựa trên các cuộc điều tra và phân tích hóa học, chúng tôi thực hiện một nghiên cứu chi tiết về chất lượng nước mặt và nước ngầm trong lưu vực Wuwei, để hiểu được nguồn

ô nhiễm nước và sự thay đổi của chất lượng nước sông Shiyang Nồng độ các nguyên tố hóa học chủ yếu trong nước mặt có liên quan đến khoảng cách từ nguồn của dòng sông đến hạ lưu, với nước mặt ở thượng nguồn đạt chất lượng tốt, nhưng các sông từ thành phố Wuwei đến hồ chứa Hongya bị ô nhiễm nghiêm trọng với chỉ số ô nhiễm tổng hợp là 25 Chất lượng nước ngầm nói chung là tốt ở chân núi, chủ yếu bicarbonate và các ion canxi, nhưng độ mặn rất cao và ô nhiễm nitrate xảy ra trong phần phía bắc của lưu vực Sự khoáng hóa của nước ngầm đã thay đổi nhanh chóng trong 20 năm qua Có 23 nguồn

việc giảm nước đầu vào, là những nguyên nhân chính gây ô nhiễm nguồn nước Phát triển thủy sản trong hồ chứa Hongya từ năm 2000 cũng đã góp phần vào việc ô nhiễm Việc tiêu thụ nước phải giảm đi cho đến khi nó đạt đến mức độ bền vững cho phép bởi các nguồn lực sẵn có trong toàn lưu vực và việc xả thải cũng phải được giảm mạnh

1 Giới thiệu

Ngày nay, sự cạnh tranh về nguồn nước khan hiếm xảy ra với cường độ cao cả ở Trung Quốc và ở nhiều nơi trên toàn thế giới Nhiều lưu vực sông không đủ nước để đáp ứng tất

cả các nhu cầu hoặc thậm chí ko đủ nước đến các hồ cuối lưu vực hoặc biển (Seth, 2003; Liu andJun, 2004) Áp lực này là rất nghiêm trọng trong khu vực khô cằn của vùng Tây Bắc một phần của Trung Quốc, nơi có nhu cầu cao với nguồn nước hạn chế (Shi và Zhang, 1995; Ma và cộng sự, 2005) Ô nhiễm nước là một vấn đề tương đối mới và làm tăng áp lực phát sinh như là kết quả của sự tăng dân số chưa từng có, đô thị hóa và công nghiệp hóa từ những năm 1990 (Chen, 2002) Với quá trình đô thị hóa tiếp tục, các vấn

đề ô nhiễm nước ngày càng trở nên rõ ràng và đã dẫn đến vấn đề nghiêm trọng về sinh thái và môi trường Sản xuất công nghiệp mà không quan tâm đầy đủ về các tác động môi trường đã tăng ô nhiễm nước và không khí, và đã dẫn đến suy thoái đất và các tác động quy mô toàn cầu như mưa axit, sự nóng lên toàn cầu và suy giảm tầng ozone(Seth, 2003) Nhưng, đầu tư đồng thời trong quản lý môi trường nước diễn ra chậm Hơn nữa, việc phát triển và quản lý tài nguyên nước thì vô tổ chức, và có sự thiếu ý thức của cộng đồng về

sự cần thiết cho việc bảo vệ môi trường và một cấu trúc pháp lý để thúc đẩy sự bảo vệ này Kết quả là, các cuộc xung đột nghiêm trọng phát sinh, giữa công nghiệp với nông nghiệp, nông nghiệp với môi trường, và khu vực thượng nguồn với các khu vực hạ lưu (Feng và cộng sự, 2000; Ma và cộng sự, 2005) Trong hầu hết các thành phố, các chất thải đô thị và công nghiệp chưa được xử lý đầy đủ, nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp ngày càng tăng, làm trầm trọng thêm tình trạng thiếu nước Chỉ khi chúng ta hành động để cải thiện việc sử dụng nước và quản lý nước, chúng ta mới đáp ứng những thách thức về nước cấp trong những năm tới

Trang 3

Sông Shiyang gần đây đã được chú ý do nhận thức được áp lực ngày càng tăng đặt trên nguồn tài nguyên nước và kết quả suy thoái môi trường trong lưu vực Minqin Thủ tướng Trung Quốc, Ôn Gia Bảo đã chỉ ra rằng phục hồi chức năng của khu vực quan trọng và lịch sử này là một quốc gia ưu tiên Một số nhà nghiên cứu đã điều tra các tương tác giữa nước mặt, nước ngầm, và đá trên lưu vực sông Shiyang và các khu vực khô cằn tương tự trong những năm gần đây (Shi và cộng sự, 2001; Feng và cộng sự, 2004; Zhang và cộng

sự, 2005) Tuy nhiên, hiện nay không có hiểu biết chi tiết về sự thay đổi của nồng độ hóa chất và ô nhiễm nước trong nước và đất của lưu vực này Tuy nhiên, người ta nghi ngờ rằng: lượng nước ra nhanh hơn nhiều so nó lượng nước thay thế, việc cấp nước mặt bị đe dọa bởi sự nóng lên toàn cầu, chất lượng nước có thể thay đổi như giảm thể tích, trong khi đó nông dân địa phương và các doanh nghiệp có ít hiểu biết về các vấn đề Tất cả các vùng khô cằn Trung Quốc và nhiều khu vực khô cằn khác trên thế giới đối mặt với những vấn đề này

Dựa trên các ước tính công bố trước đây về lượng nước ngầm tự nhiên chảy vào tầng nước ngầm trong khu vực, sự hiểu biết về phát triển nước ngầm và các phép đo sự biến đổi hóa học trong khu vực hồ cuối cùng của sông Shiyang, chúng tôi xác định phạm vi của nghiên cứu này và mục tiêu chính của mình là nâng cao sự hiểu biết của chúng ta về

sự phát triển của hóa học nước và ô nhiễm nước dọc theo hướng nguồn nước mặt và dòng chảy ngầm trong lưu vực Wuwei, nơi các tầng ngậm nước của vùng trầm tích hình quạt đạt năng suất cao được bổ sung bởi hệ thống sông và do đó hấp dẫn sự phát triển tại các expense của khu vực hạ lưu Bảo vệ tài nguyên nước và xử lý nước ô nhiễm là những vấn

đề cấp bách để xây dựng vùng sinh thái nhạy cảm và phát triển kinh tế xã hội bền vững trong toàn bộ lưu vực Để làm như vậy, đầu tiên cần hiểu được cơ chế chịu trách nhiệm

về ô nhiễm nguồn nước và mức độ nghiêm trọng của vấn đề Kiến thức này giúp các nhà quản lý phát triển chính sách hợp lý hơn cho quản lý chất thải và công tác phòng chống ô nhiễm nguồn nước dựa trên nỗ lực chung của chính quyền địa phương, doanh nghiệp và nông dân Cải thiện sự hiểu biết về tình hình do đó là nền tảng cho nhiều quyết định quan trọng cần phải được thực hiện ở Trung Quốc (cũng như trong vùng khô hạn khác), trong mối liên hệ với sự thay đổi dân số và cải cách nông nghiệp

2 Khu vực nghiên cứu và thủy văn

Lưu vực Wuwei nằm ở phần phía đông của Hành lang Hexi (Hà Tây) gần Lanzhou (Lan Châu), Qinghai (Thanh Hải) và Inner Mongolia (Nội Mông Cổ), là một ecotone (vùng chuyển tiếp giữa 2 quần xã) liên kết các cao nguyên Loess (Hoàng Thổ), cao nguyên Tibetan (Tây Tạng) và cao nguyên Mongolia-Xinjiang (Mông Cổ - Tân Cương)

chiều dài gần 300 km (Hình S1 , tài liệu hỗ trợ trực tuyến) Quá trình di chuyển của mảng

Ấn Độ dưới mảng Á-Âu tạo ra cao nguyên Qinghai-Tibet (Thanh Hải-Tây Tạng) để nâng cao lên và đẩy về phía bắc Từ khi kết thúc Đại Cổ Sinh và tiếp qua Đại Trung Sinh, trùng với sự nâng lên của địa máng Qilian, hình thức phôi thai của Hành lang Hexi được

Trang 4

Pleistocen, dãy núi Tibetan (Tây Tạng) đã trải qua một giai đoạn nâng lên nhanh và các lưu vực lún xuống hơn nữa Đồng thời sự bóc mòn và xói mòn từ vùng núi dẫn đến quá trình chuyển vật liệu vụn tới các vùng lưu vực trũng Sự lắng đọng này chủ yếu trong Kỷ

Đệ Tứ, các trầm tích lũ tích và phù sa dày, dẫn đến sự hình thành của tầng ngậm nước chính

Trong lưu vực Wuwei, tầng chứa nước lũ tích được hình thành từ đá cuội có độ thấm cao và sỏi trầm tích dày 200-300 m trong đó mực nước khoảng 50-200 m bên dưới bề mặt Điều này cho phép một số lượng lớn các dòng chảy bề mặt trong Piedmont fan thấm xuống và nạp vào tầng nước ngầm Từ rìa phía bắc của fan lũ tích này, tầng chứa nước bao gồm sỏi lẫn cuội, cát mịn và đất sét trở nên chật hẹp hoặc bán chật hẹp với áp lực nước ít hơn 5 m chiều sâu Ở nhiều nơi nước ngầm sau đó tràn như suối ngầm và tái xuất hiện như suối Có một mối quan hệ chuyển đổi phức tạp giữa bề mặt và nước ngầm Hơn 80% lượng nước bề mặt trong Piedmont fan thấm xuống tầng nước ngầm và sau đó tại vành đai đồng bằng đất, khoảng 40% lưu lượng nước ngầm để nuôi suối và sông

3 Phương pháp

Công tác thực địa đã diễn ra từ năm 2003, trong thời gian này mẫu nước ngầm và nước mặt được thu thập từ lưu vực Wuwei và núi Qilian Các điểm lấy mẫu được sử dụng để cung cấp các số liệu báo cáo trong bài báo này xuất hiện trong Fig.S1 Tổng cộng có 20 mẫu nước mặt và 18 mẫu nước ngầm được lấy để phân tích hóa học và ô nhiễm Chúng được thu thập và chia thành ba phần Hai trong số đó đã được lọc qua bộ lọc acetate 0.45mm sử dụng thiết bị lọc trước Nalgene và dịch lọc của một phần được axit hóa với HNO3siêu tinh khiết (1%) và được lưu trữ trong chai nhựa polyethylene đc làm sạch trước (60 ml) để phân tích cation chủ yếu Phần lọc khác (60 ml ) đã được lưu trữ không axit hóa trong chai nhựa polyethylene để xác định anion Sau khi bảo quản thích hợp tất

vào hai chai nhựa vô trùng vi khuẩn Những mẫu này được ngay lập tức giữ trong bóng tối, làm lạnh trong thùng cách nhiệt vận chuyển đến phòng thí nghiệm trong vòng 10 giờ,

và xử lý trong vòng 2 giờ, phân tích theo quy định trong phương pháp chuẩn quốc gia và quốc tế

(TDS), pH, nhiệt độ và ôxy hòa tan (DO) được đo tại hiện trường Độ kiềm được đo bằng

pH (+-0.05), nhiệt độ và DO được đo bằng bộ dụng cụ di động với các điện cực khác nhau (METTLER TOLEDO), điện cực trước hiệu chỉnh với bộ đệm chuẩn Với phép đo nước ngầm tại chỗ, một in-line flow cell được dùng để đảm bảo loại trừ ô nhiễm không khí và cải thiện sự ổn định đo lường

Các anion chủ yếu (Cl-, SO42-, NO3-N, F- và Br-) trong mẫu nước mặt và nước ngầm được thực hiện bằng sắc ký ion (Dionex ICS-2500) tại Phòng thí nghiệm chính của Viện khảo sát địa chất Cam Túc Các cation chủ yếu (Na+, K+, Ca2+, Mg2+ ) được phân tích bằng

Trang 5

thiết bị phổ phát xạ quang học plasma kết hợp quy nạp (ICP-OES, ARL3400C) tại Đại học Lan Châu Dữ liệu nước ngầm sử dụng cho lưu vực Minqin được phân tích bằng sắc

kế tự động cho anion và ICP-MS (quy nạp coupled plasma khối phổ) cho cation tại Viện khảo sát địa chất Anh ở Wollingford Một cột phân tích AS4A với cacbonat/bicarbonate được sử dụng cho các anion (sai số 10% với một hệ số an toàn k = 2) Hiệu chuẩn để phân tích cation được thực hiện bằng cách sử dụng các tiêu chuẩn pha loãng phòng thí nghiệm thích hợp (sai số 10 -15%, k = 2) Độ chính xác và độ đúng của phân tích là khoảng 5% (đánh giá thông qua lặp lại phân tích các chuẩn và mẫu)

(COD), nhu cầu oxy sinh học (BOD), chỉ số permanganat (PI), phenol, và tổng phốt pho (TP) được thực hiện tại Phòng thí nghiệm chính của Viện khảo sát địa chất Cam Túc, theo phương pháp phân tích tiêu chuẩn chất lượng nước được cung cấp bởi Quản lý bảo

vệ môi trường Nhà nước Trung Quốc (SEPA, 2002), tương tự với các phương pháp chuẩn quốc tế về phân tích nước và nước thải (APHA, 1992) Sự hiện diện của tổng số coliform trong mẫu nước được xác định theo các phương pháp của Watkins và Jian (1997) Tổng

số khuẩn lạc màu vàng và màu xanh lá cây cho biết số tổng coliform trong mỗi mẫu

đối với COD và BOD, 5.2 với PI, 5.7% cho phenol và TP

Để điều tra ô nhiễm nước, tất cả các nguồn ô nhiễm công nghiệp, nước thải sinh hoạt

đô thị và ô nhiễm nông nghiệp được khảo sát từ tháng Năm đến tháng Sáu năm 2004 Chúng tôi đã khảo sát hơn 70 doanh nghiệp nhằm thu thập thông tin về các nguồn ô nhiễm nước, biện pháp bảo vệ môi trường được thực hiện bởi các doanh nghiệp, các loại chất ô nhiễm chính và thành phần của chất thải, vị trí xả thải và tải lượng, phương pháp kiểm soát chất thải, và các vấn đề tồn tại Khảo sát của chúng tôi về tình trạng ô nhiễm nước đô thị bao gồm dân số, lao động di cư theo mùa, lượng nước tiêu thụ bình quân đầu người, vị trí và quy mô các nhà máy xử lý nước thải và hệ thống xả thải Nguồn ô nhiễm nông nghiệp tập trung vào thuốc trừ sâu và phân bón sử dụng Tất cả các dữ liệu về tình trạng ô nhiễm nước và ô nhiễm nông nghiệp trong thời gian 1991-2004 được cung cấp bởi Văn phòng bảo hộ Môi trường Wuwei ( WEPO , 2004) Chúng tôi cũng sử dụng dữ liệu giám sát dài hạn từ các báo cáo môi trường được cung cấp bởi WEPO (2004) cho các thông số trên trong nước mặt, cũng như các dữ liệu giám sát nước ngầm

Trong những năm gần đây, đánh giá chất lượng nước đã được thực hiện trên cơ sở các tiêu chuẩn chất lượng nước mặt Tuy nhiên, chúng tôi phát triển một chỉ số ô nhiễm tổng hợp để tích hợp các tác động của chất gây ô nhiễm khác nhau về chất lượng nước Phương pháp này là rộng rãi sử dụng bởi vì nó cung cấp một cái nhìn tổng quan đơn giản Chỉ số này được tính toán bằng cách sử dụng phương trình sau đây:

1

n

i

=

=∑ −

Trang 6

Trong đó Pi đại diện cho các chỉ số ô nhiễm tổng hợp cho tham số i, n - số lượng các thông số, và Pi = 0, nếu Ci<Si Ci là nồng độ phân tích các tham số thứ i, và Si là tiêu chuẩn tập trung cho tham số thứ i, chúng được sử dụng ở đây là tiêu chuẩn quốc gia cho

như: vệ sinh, ô nhiễm nhẹ, ô nhiễm vừa phải, ô nhiễm đáng kể và ô nhiễm nghiêm trọng với giá trị Pidưới 0.5, 0.5-3, 3-5, 5-10 và hơn 10, tương ứng

4 Kết quả và thảo luận

4.1 Sự thay đổi chất lượng nước mặt

Bảng S1 tóm tắt dữ liệu đo nước mặt và thống kê kết quả Hình.1 trình bàycác chất chủ

và TP tại thượng nguồn sông Shiyang như một hàm của khoảng cách từ hồ chứa Nanying nằm ở chân núi Qilian Mẫu có độ kiềm vừa phải với pH từ 7.5-9.4 và nồng độ DO> 50% đối với phần lớn các mẫu chỉ ra điều kiện hiếu khí tốt, ngoại trừ ba mẫu với DO từ 20 đến 28% (S9, S11, S12) Cl-, SO42- có mặt ở nồng độ rất thấp (dưới 100 và 150 mg/L-1, tương

phenol, nước ở miền núi và chân núi có chất lượng tốt (ví dụ, nó đáp ứng chuẩn quốc gia

cả uống và tưới tiêu) Tuy nhiên, các chất ô nhiễm hữu cơ theo xu hướng tăng mạnh từ thành phố Wuwei Giá trị COD và BOD đặc biệt cao đối với các trung tâm của thành phố

tăng mạnh ở hạ lưu thành phố Wuwei đến hồ chứa Hongya và vượt quá tiêu chuẩn an toàn cho thủy lợi, nước uống (Bảng S1) Tổng coliform trong ba mẫu là rất cao tại các trạm quan trắc lâu dài, Xiaodongqiao, Zhazigou và hồ chứa Hongya, với giá trị 9,867,

Trang 7

Hình 1 Nồng độ DO, TDS, Cl, SO4, COD, BOD, NH4-N và TP trong mẫu nước mặt theo khoảng cách từ hồ chứ Nanying

hai phần trong khu vực giữa sông (tại Xiaodongqiao và Zhazigou) cho thấy một sự gia

0.62 lên 2.92 tại Zhazigou, và lên tới 9 năm 2004 Trong hai phần này, COD và BOD là

Trang 8

những chất gây ô nhiễm chính, trong đó tăng nhanh mỗi năm sau năm 1999 (Hình 3).

1986

Hình 3 Sự thay đổi COD và BOD tại 3 vị trí của sông Shiyang trong lưu vực Wuwei

từ năm 1986

Những thay đổi trong chất lượng nước của hồ chứa Hongya, nằm trong vùng hạ lưu của sông Shiyang, phản ánh quá trình thay đổi trong phần còn lại của sông Shiyang Hồ

nước Nó được xây dựng vào năm 1958 và được sử dụng để tưới đất nông nghiệp trong lưu vực Minqin Khi lưu trữ tại dung tích tối đa, hồ chứa có thể tưới cho diện tích gần 60

000 ha Trước năm 1993, nước đủ sạch để mọi người bơi Tuy nhiên từ năm 1994 đến

chuẩn quốc gia, mặc dù ô nhiễm môi trường vẫn ở mức tương đối thấp Từ 1997-2002,

Trang 9

Coliforms tăng lên rất nhiều và nước bị ô nhiễm nghiêm trọng vào năm 2002 Nước đã

chết được vớt từ hồ chứa

Trong thực tế, sự thay đổi của chất lượng nước cả trong sông lẫn hồ Hongya kết hợp chặt chẽ với sự thay đổi của hệ thống sông Shiyang Đến năm 2004, 24 hồ chứa đã được xây dựng ở thượng nguồn hệ thống sông Shiyang, với dung lượng lưu trữ tổng lượng

14% trong những năm 1960) Lượng nước công nghiệp tiêu thụ trong thành phố Wuwei trung bình 8.82 x 106 m3 y -1 trong những năm 1980, nhưng đã tăng lên đến 14,43 x 106 m3

y -1 đến năm 2002, tăng 63,6% Kết quả là, các đoạn sông giữa thành phố và hồ chứa Hongya bị khô, trừ thời gian xả lũ, từ tháng Sáu đến tháng Chín Dòng chảy của sông vào các vùng thấp tại hồ chứa Hongya đã giảm 74%, mặc dù việc xả của sông Shiyang tại các

tổng số dòng chảy (tức là 5% tổng số) tới hồ chứa Hongya Do không đủ nước ngọt vào kênh sông, khả năng tự làm sạch của sông giảm đáng kể Kết quả là, nước cống và nước thải thường chảy trực tiếp vào hồ chứa, lắng đọng một số lượng lớn bùn trong các kênh

và hồ chứa

Hình 4 Sự thay đổi dòng nguồn và dòng vào hồ chứa Hongya trong giai đoạn 1955-2005

Trang 10

4.2 Sự thay đổi đặc tính địa hóa nước ngầm và chất lượng

4.2.1 Đặc tính địa hóa nước ngầm

Trong Bảng 2 kết quả được sắp xếp theo khoảng cách từ hồ chứa Nanyin và một loạt các biểu đồ (Hình 5) minh họa cho xu hướng thủy địa hóa theo khoảng cách Để hiểu sự thay đổi của tính chất nước ngầm địa hóa trong toàn bộ lưu vực của sông Shiyang, các ion chính trong cả hai mẫu của lưu vực Wuwei và lưu vực Minqin được vẽ trong hình 6 với tỉ lệ mol 1:1 Độ mặn nước ngầm tăng lên rõ ràng khi đi từ phía nam tới phía bắc, theo hướng dòng chảy nước ngầm (Hình 5) Hàm lượng TDS trong các mẫu nước ngầm

của Todd (1980), nước ngầm ở trên tầng trên và tầng giữa sông Shiyang có thể được phân loại như nước ngọt, so với hạ lưu, lưu vực Minqin, có chứa nước lợ (Edmunds et al., 2006) Nồng độ cation trong nước ngầm có thứ tự như sau: Ca2+> Mg2+> Na+> K+(Hình 5) Hình thức phổ biến nhất của canxi trong đá trầm tích của lưu vực là cacbonat, đặc biệt

là canxit hoặc Dolomite, mà chiếm ưu thế là lưu vực Wuwei Việc phân hủy của xi-măng

và khoáng chất cacbonat làm cho canxi cacbonat được giải phóng vào nước ngầm Nồng

trong đá trầm tích, loại đá phổ biến trong khu vực nghiên cứu; biotit, hornblend, và talc

hiếm khi gặp phải Nguồn sơ cấp của hầu hết ion natri trong nước tự nhiên là từ các sản

ngoài ra ion natri cũng hiện diện trong các evaporate và trầm tích sét trong khu vực

tăng rõ ràng theo hướng hạ lưu, hướng dòng chảy nước ngầm (Hình 5) Tỷ lệ mNa/Ca rất thấp (0,2-1,0) trong hầu hết các mẫu nước cho thấy carbonate đang phong hóa trong lưu vực Wuwei, cũng được hỗ trợ bởi khoáng canxit (CaCO3) không bão hòa trong tất cả các mẫu Tuy nhiên, tỷ lệ mNa / Ca cao hơn tăng theo khoảng cách tới hạ lưu trong lưu vực Minqin chỉ ra rằng việc phát tán của khoáng chất silicat hoặc trao đổi cation đang xảy ra

Ngày đăng: 05/12/2018, 09:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w