Á sử dụng mô hình tự hồi quy Véctor (Vector Autoregression – VAR) để tiến hành ước lượng và kiểm định mức độ liên kết các chỉ số chứng khoán các thị trường chứng khoán Đông Nam Á .là luận án được hoàn thiện có kết quả thực tiễn cao.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Trang 3LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGHIÊN CỨU MỨC ĐỘ LIÊN KẾT GIỮA CÁC THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN ĐÔNG NAM Á
Ngành: Kinh tế học Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 60310106
Họ và tên học viên: Phạm Phúc LộcNgười hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Hoàng Anh
Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2017
Trang 4Tôi tên là Phạm Phúc Lộc, học viên lớp cao học CH22 của Trường Đại họcNgoại Thương, chuyên ngành Kinh tế quốc tế, mã số 60310106 với đề tài luận văn
thạc sĩ: “Nghiên cứu mức độ liên kết giữa các thị trường chứng khoán Đông Nam Á”, xin cam đoan:
- Luận văn thạc sĩ này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi, đượcthực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Hoàng Anh
- Các thông tin, số liệu được sử dụng trong đề tài được thu thập, tổng hợp từnhững nguồn đáng tin cậy, được trích dẫn đầy đủ và đúng quy định
- Nội dung nghiên cứu của luận văn chưa từng được công bố
TP HCM, ngày 05 tháng 09 năm 2017
Người cam đoan
Phạm Phúc Lộc
Trang 5tác giả Trong suốt quá trình thực hiện đề tài, người viết đã gặp nhiều khó khăntrong việc thu thập và xử lý số liệu, định hướng và sắp xếp nội dung cũng nhưnhững áp lực về thời gian nghiên cứu và giới hạn về chuyên môn Để có thể vượtqua những khó khăn đó, tác giả đã may mắn nhận được sự hỗ trợ nhiệt tình của TS.Nguyễn Thị Hoàng Anh.
Thông qua đề tài, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắcđến quý thầy cô của Trường Đại học Ngoại thương Cơ sở II tại thành phố Hồ ChíMinh đã truyền đạt cho tác giả những kiến thức vô cùng giá trị trong năm học vừaqua, đặc biệt là TS Nguyễn Thị Hoàng Anh đã dành thời gian quý báu tận tìnhhướng dẫn và góp ý cho tác giả trong suốt quá trình hoàn thành luận văn này
Tuy nhiên, do hạn chế về kiến thức và thời gian thực hiện nghiên cứu nên chắcchắn luận văn này không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tác giả kính mongnhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô và bạn đọc để bài luận văn đượchoàn thiện hơn
Học viên cao học
Phạm Phúc Lộc
Trang 6LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 6
1.4 Đối tượng nghiên cứu 6
1.5 Phạm vi nghiên cứu 7
1.6 Phương pháp nghiên cứu 7
1.7 Tính mới của đề tài 8
1.8 Kết cấu của đề tài 8
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ LIÊN KẾT CÁC THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 10
2.1 Tổng quan về hội nhập quốc tế 10
2.1.1 Khái niệm hôi nhập quốc tế 10
2.1.2 Các lĩnh vực hội nhập quốc tế 12
2.2 Hội nhập kinh tế quốc tế 14
2.2.1 Các cấp độ hội nhập kinh tế quốc tế 14
2.2.2 Tính hai mặt của hội nhập kinh tế quốc tế 16
2.3 Hội nhập tài chính quốc tế và xu hướng hội nhập của thị trường chứng khoán.19 2.3.1 Hội nhập tài chính quốc tế 19
2.3.2 Hội nhập thị trường chứng khoán 23
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1 Lý thuyết mô hình tự hồi quy Véctơ (Vector Autoregression – VAR) 26
3.1.1 Khái niệm về mô hình tự hồi quy Véctơ 26
3.1.2 Lý do lựa chọn mô hình tự hồi quy Véctơ 27
3.1.3 Quy trình ước lượng và dự báo mô hình VAR 27
3.2 Lựa chọn mẫu dữ liệu 32
3.3 Giải thích các biến trong mô hình 33
Trang 74.1 Tổng quan về các Sở Giao dịch chứng khoán và các chỉ số thị trường các
quốc gia Đông Nam Á 35
4.1.1 Sở Giao dịch Chứng khoán Indonesia và Chỉ số IDX Composite 35
4.1.2 Sở giao dịch chứng khoán Thái Lan và Chỉ số SET Index 37
4.1.3 Sở Giao dịch chứng khoán Singapore và Chỉ số Straits Times Index (STI) 39
4.1.4 Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Chỉ số VN–Index .41
4.1.5 Sở Giao dịch chứng khoán Philippine và Chỉ số PSE Composite Index (PSEi) 43
4.1.6 Sở Giao dịch Chứng khoán Malaysia và Chỉ số FTSE Bursa Malaysia KLCI 45
4.1.7 Chỉ số thị trường chứng khoán đại diện cho các quốc gia phát triển 48
4.2 Kết quả ước lượng và kiểm định 50
4.2.1 Giai đoạn 01/1993 – 02/2002 50
4.2.2 Giai đoạn 03/2002 – 12/2016 61
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ GỢI Ý PHƯƠNG HƯỚNG XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH 71
5.1 Kết luận vấn đề nghiên cứu 71
5.2 Gợi ý xây dựng chính sách cho Việt Nam 75
5.2.1 Cơ sở gợi ý xây dựng chính sách cho Việt Nam 75
5.2.2 Gợi ý phương hướng xây dựng chính sách cho Việt Nam 82
5.2 Hạn chế của bài nghiên cứu và gợi ý nghiên cứu tiếp theo 90
KẾT LUẬN 92 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
CÁC PHỤ LỤC
Trang 8Từ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt
ADF Augmented Dickey–Fuller
AIC Akaike’s InformationCriterion Tiêu chuẩn thông tin AIC
ANZUS United States Security TreatyAustralia, New Zealand, Hiệp ước Liên minh Úc - NewZealand - MỹAPEC Asia-Pacific EconomicCooperation Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á– Thái Bình Dương ARF ASEAN Regional Forum Diễn đàn Khu vực ASEAN
ASEAN Association of South East
Asian Nations
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam
Á
ASEM Diễn đàn hợp tác Á–Âu The Asia-Europe Meeting
CPI Consumer price index Chỉ số giá tiêu dùng
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FED Federal Reserve System Cục Dự trữ Liên bang
FTA Free trade agreement Hiệp định thương mại tự do
GARCH Generalized AutoRegressiveConditional
GATT General Agreement on Tariffsand Trade Hiệp ước chung về thuế quan vàmậu dịch GDP Gross Domestic Product Tổng Sản phẩm quốc nội
GNP Gross National Product Tổng sản phẩm quốc gia
HQ Hannan – Quinn informationcriterion Chỉ số thông tin HQ
IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ Quốc tế
IRF Impulse Response Function Hàm phản ứng đẩy
JCI Jakarta Composite Index Chỉ số chứng khoán đại diện chothị trường Indonesia
KLCI Kuala Lumpur StockExchange Index Chỉ số chứng khoán đại diện chothị trường Malaysia
Trang 9PSEi Philippine Stock ExchangeIndex Chỉ số chứng khoán đại diện chothị trường PhilippineS&P 500 Standard & Poor's 500 StockIndex Chỉ số chứng khoán S&P 500, đạidiện cho thị trường Hoa Kỳ
SC Schwartz Criterion Chỉ số thông tin Schwartz
SCIC State Capital and Investment
Corporation
Tổng công ty Đầu tư và Kinhdoanh vốn Nhà nước
SET Stock Exchange of ThailandIndex Chỉ số chứng khoán đại diện chothị trường Thái Lan
STI Straits Times Index Chỉ số chứng khoán đại diện chothị trường Singapore
TVP – VAR Timevarying Parameter VARmodel Mô hình VAR với các tham sốthay đổi theo thời gianVAR Vector Autoregressions Mô hình tự hồi quy Véctơ
VN-Index đại diện cho thị trường Việt Nam Chỉ số chứng khoán VN-IndexWTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 101 Bảng 3.1: Các tiêu chuẩn thống kê được sử dụng để lựa
2 Bảng 3.2: Các biến đại diện cho chỉ số thị trường chứng
3 Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến giai đoạn 01/1993 –
7 Bảng 4.5: Tóm tắt kết quả ước lượng mô hình VAR của
mô hình hồi quy giai đoạn 01/1993 – 02/2002 52
8 Bảng 4.6: Kết quả kiểm định nhân quả Granger của mô
hình hồi quy giai đoạn 01/1993 – 02/2002 53
9 Bảng 4.7: Kết quả phân rã phương sai tại độ trễ 10 (10
10 Bảng 4.8: Thống kê mô tả các biến giai đoạn 03/2002 –
14 Bảng 4.12: Kết quả ước lượng mô hình VAR của mô hình
15 Bảng 4.13: Kết quả kiểm định nhân quả Granger của mô
hình hồi quy giai đoạn 03/2002 – 12/2016 64
16 Bảng 4.14: Kết quả phân rã phương sai tại độ trễ 10 (10
Trang 11T Nội dung biểu đồ Số trang
1 Sơ đồ 3.1: Quy trình ước lượng và dự báo mô hình VAR 27
2 Biểu đồ 4.1: Chỉ số IDX Composite giai đoạn 1993 – 2016 36
3 Biểu đồ 4.2: Chỉ số SET Index giai đoạn 1993 – 2016 39
4 Biểu đồ 4.3: Chỉ số Straits Times Index giai đoạn 1993 – 2016 40
5 Biểu đồ 4.4: Chỉ số VN–Index giai đoạn 03/2002 – 12/2016 42
6 Biểu đồ 4.5: Chỉ số PSE Composite Index (PSEi) giai đoạn
7 Biểu đồ 4.6: Chỉ số FTSE Bursa Malaysia KLCI giai đoạn
8 Biểu đồ 4.7: Chỉ số Nikkei 225 giai đoạn 1993 – 2016 48
9 Biểu đồ 4.8: Chỉ số S&P 500 giai đoạn 1993 – 2016 49
10 Biểu đồ 4.9: Biến động chỉ số Chỉ số tác động lan tỏa
(Spillover Index) giai đoạn 01/1993–02/2002 57
11 Biểu đồ 4.10: Vòng tròn đơn vị của mô hình giai đoạn 01/1993
12 Biểu đồ 4.11: Biến động chỉ số Chỉ số tác động lan tỏa
(Spillover Index) giai đoạn 03/2002–12/2016 70
13 Biểu đồ 4.12: Vòng tròn đơn vị của mô hình giai đoạn
Trang 12Đông Nam Á sử dụng mô hình tự hồi quy Véctor (Vector Autoregression – VAR)
để tiến hành ước lượng và kiểm định mức độ liên kết các chỉ số chứng khoán các thịtrường chứng khoán Đông Nam Á với nhau cũng như ảnh hưởng của các biến độngđến từ thị trường chứng khoán thế giới đối với các thị trường này Bài nghiên cứuđạt được một số kết quả chính, cụ thể như sau:
Một, trong các giai đoạn kinh tế khủng hoảng, mức độ liên kết thị trường
chứng khoán các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, cũng như ảnh hưởng từ các
cú sốc trên thị trường thế giới đối với các quốc gia này tăng mạnh, sau đó giảm dầnkhi nền kinh tế phục hồi và ổn định Xu hướng này được thể hiện qua mức tăng tạmthời của Chỉ số tác động lan tỏa trong các cuộc Khủng hoảng cuối thế kỉ XX, đầuthế kỷ XXI
Hai, cùng với xu thế toàn cầu hóa kinh tế diễn ra ngày càng mạnh mẽ, các thị
trường chứng khoán khu vực Đông Nam Á cũng liên kết ngày càng chặt chẽ hơn
Ba, ảnh hưởng của các cú sốc quốc tế, đặc biệt là cú sốc từ thị trường chứng
khoán Hoa Kỳ đối với thị trường các nước trong khu vực Đông Nam Á ngày càng
rõ ràng hơn
Bốn, do thị trường mới thành lập, còn non trẻ so với các nước trong cùng khu
vực, mức độ hội nhập của thị trường chứng khoán Việt Nam còn tương đối thấp.Trên cơ sở đó, kết hợp với thực trạng hệ thống tài chính của Việt Nam, ngườiviết đưa ra một số gợi ý phương hướng xây dựng chính sách đối với các nhà quản lývới mục đích xây dựng nền tảng tài chính quốc gia vững mạnh, làm cơ sở hội nhậpquốc tế nói chung, và hội nhập tài chính, tiêu biểu là hội nhập thị trường chứngkhoán nói riêng một cách hiệu quả
Trang 13
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, khi thị trường trong nước gắn liền vớithị trường khu vực và thế giới, hội nhập quốc tế là xu hướng tất yếu khi nền kinh tếvận hành theo cơ chế thị trường
Hội nhập quốc tế có nhiều tác động tích cực, tạo ra các cơ hội cho sự pháttriển kinh tế – xã hội ở mỗi quốc gia bởi vì hội nhập quốc tế làm tăng khả năng tiêuthụ hàng hoá, dịch vụ của mỗi quốc gia nhờ mở rộng thị trường hàng hoá và dịchvụ; tạo điều kiện làm tăng khả năng thu hút nguồn vốn trực tiếp và gián tiếp từ bênngoài nhờ môi trường đầu tư, kinh doanh trong nước được cải thiện; thúc đẩy nềnkinh tế chuyển dịch cơ cấu theo hướng hợp lý nhằm khai thác các tiềm năng, thếmạnh của mỗi quốc gia; đổi mới và hoàn thiện thể chế chính trị, kinh tế, luật pháp,chế độ quản lý ở mỗi quốc gia; thúc đẩy quá trình tự do hoá thương mại, đầu tư,chuyển giao công nghệ và càng thúc đẩy xu hướng toàn cầu hoá, quốc tế hoá đờisống kinh tế – xã hội của các nước
Tuy nhiên, hội nhập quốc tế cũng tạo ra những tác động tiêu cực đối với cácnền kinh tế như: làm cho quá trình cạnh tranh trở nên gay gắt, có thể dẫn đến nguy
cơ phá sản của các doanh nghiệp, ngành kinh tế làm ăn kém hiệu quả, gây thấtnghiệp, dễ dẫn đến bất ổn về chính trị và xã hội; Chính phủ các quốc gia sẽ mất đimột nguồn thu ngân sách do phải cắt giảm thuế quan; đối với các nước nghèo sẽthiếu tài chính và các nguồn lực khác cho việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất, kinhdoanh; dễ tạo sự phụ thuộc của nước nghèo, thiếu công nghệ, vốn vào nước giàu,ảnh hưởng đến sự độc lập dân tộc của các quốc gia yếu thế; Các giá trị đạo đứctruyền thống dễ bị xói mòn bởi văn hoá ngoại lai Do đó, mỗi quốc gia cần phải lựachọn một lộ trình hội nhập riêng, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế – chính trị củanước mình để có thể đạt được những lợi ích lớn nhất với mức rủi ro chấp nhận được(Nguyễn Văn Trình, 2014)
Việt Nam cũng đang trong tiến trình hội nhập quốc tế và khu vực trên nhiềulĩnh vực trọng yếu: kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, giáo dục… trong đó, hộinhập kinh tế giữ vị trí then chốt Là một thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông
Trang 14Nam Á (ASEAN), Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục thúc đẩy tiến trình hội nhậpkinh tế nói chung và hội nhập thị trường tài chính, mà tiêu biểu là thị trường chứngkhoán khu vực nói riêng.
Sau gần hai thập kỷ ra đời và phát triển, thị trường chứng khoán Việt Nam đãđạt được những thành tựu đáng ghi nhận Tính đến cuối Quý II/2017, thị trường cóquy mô 1.897 công ty và quỹ đầu tư niêm yết (mức vốn hóa đạt 3.513 nghìn tỷ đồng– khoảng 83% GDP), gần 1,8 triệu tài khoản của nhà đầu tư (Ủy ban Chứng khoánNhà nước, 2017)
Quá trình hội nhập của thị trường Việt Nam cũng đạt được nhiều cột mốc đángnhớ Quan hệ hợp tác song phương trong lĩnh vực chứng khoán đã được mở rộngvới nhiều đối tác, tổ chức quốc tế, cơ quan quản lý các nước như Nhật Bản, HànQuốc, Hoa Kỳ, Đức, Luxembourg, Anh nhằm thu hút nguồn tài trợ, hỗ trợ, tư vấncủa các nước phát triển Đặc biệt, năm 2014 đánh dấu mối quan hệ chiến lược giữaViệt Nam và đối tác truyền thống Nhật Bản, trong đó Ủy ban Chứng khoán Nhànước đã tổ chức thành công Hội nghị Xúc tiến Đầu tư "Việt Nam – điểm đến củanhà đầu tư Nhật Bản" vào tháng 4/2014 tại Nhật Bản Hội nghị còn là hoạt độnggóp phần vào hợp tác ngành tài chính nói riêng, cũng như hợp tác kinh tế nói chunggiữa hai nước, góp phần làm sâu sắc thêm mối quan hệ đối tác chiến lược giữa haiquốc gia Các hoạt động hợp tác đa phương của ngành chứng khoán cũng ghi nhậnnhững kết quả rất tích cực Ủy ban Chứng khoán Nhà nước luôn có các hoạt độnghợp tác thường xuyên và hiệu quả với các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới(World Bank), Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC), Ngân hàng Phát triển châu Á(ADB), Diễn đàn các Thị trường Vốn ASEAN (ACMF) Việc trở thành thành viênchính thức từ năm 2002 và thành viên đầy đủ, ở cấp độ cao nhất của Tổ chức cácỦy ban Chứng khoán quốc tế (IOSCO) từ năm 2013, là một thành công lớn của Ủyban Chứng khoán Nhà nước Việt Nam, góp phần vào việc hội nhập sâu thị trườngvốn quốc tế (Tạp chí Tài chính, 2015)
Cùng với những thành tựu đạt được, trong quá trình hình thành và phát triển,thị trường chứng khoán Việt Nam cũng trải qua nhiều thăng trầm, đặc biệt tronggiai đoạn khủng hoảng, tiêu biểu là khủng hoảng toàn cầu năm 2008 Chỉ trong hơn
Trang 15sáu tháng đầu năm 2008, VN–Index đã sụt giảm trên 60% so với thời điểm cuốinăm 2007 Trong 103 phiên giao dịch của giai đoạn này, có 71 phiên VN–Indexgiảm điểm Đỉnh điểm là chuỗi 34 phiên giảm liên tiếp từ giữa tháng 04/2008 tớiđầu tháng 06/2008 Các nhà đầu tư hoảng loạn, bán tháo cổ phiếu nhằm rút vốnbuộc phía chính phủ phải có những biện pháp làm suy giảm và ổn định thị trườngnhư giảm biên độ dao động giá, cho phép Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốnNhà nước (SCIC) được phép tham gia mua cổ phiếu bình ổn, các ngân hàng thươngmại, công ty chứng khoán được vận động ngừng giải chấp, các doanh nghiệp niêmyết được kêu gọi mua vào cổ phiếu quỹ (Nguyễn Hoàng, 2013).
Nhận thấy sự cần thiết việc nghiên cứu về mức độ liên kết của các thị trườngchứng khoán trong khu vực Đông Nam Á, thông qua đó, để đánh giá mức độ hội
nhập của các thị trường này, tác giả quyết định thực hiện đề tài “Nghiên cứu mức
độ liên kết giữa các thị trường chứng khoán Đông Nam Á” Trong đó, tác giả
đặc biệt quan tâm đến mức độ liên kết giữa thị trường Việt Nam với các thị trườngkhác trong khu vực để làm cơ sở gợi ý cho các nhà quản lý xây dựng chính sáchphát triển hệ thống tài chính vững mạnh, tạo tiền đề để Việt Nam hội nhập tài chínhnói riêng và hội nhập quốc tế nói chung có hiệu quả
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Theo tìm hiểu của tác giả, trước đây đã có khá nhiều đề tài nghiên cứu về thịtrường chứng khoán các nước Đông Nam Á Một số đề tài tiêu biểu có thể kể ranhư sau:
Trong bài nghiên cứu “Common Volatility in International Equity Markets”
(Engle, 1993), các tác giả phân tích biến động thị trường chứng khoán châu Âu,Hoa Kỳ cùng một số quốc gia châu Á và kết luận rằng mặc dù tương quan giữa cácthị trường nghiên cứu là tương đối yếu, vẫn tồn tại mối liên hệ của biến động trêncác thị trường Ảnh hưởng của các thị trường trong cùng một khu vực rõ ràng hơn
so với từ thị trường bên ngoài
“The relationship between stock returns and volatility in international stock markets” (Qi Li, 2005) đánh giá mối liên hệ giữa lợi tức kỳ vọng và biến động của
mười hai (12) thị trường chứng khoán lớn trên thế giới trong giai đoạn từ 01/1980
Trang 16đến 12/2001 Kết luận tương tự với Engle và Susmel (1993), tác giả chỉ ra mối liên
hệ khá yếu giữa các thị trường này thông qua việc sử dụng mô hình EGARCH–M
Tác giả Chin WenHsin trong “A multilateral approach to examining the comovements among major world equity markets” (Chin WenHsin, 2004) phân tích
sự đồng dao động của các chỉ số giá chứng khoán của một số thị trường chứngkhoán lớn các quốc gia phát triển Như kỳ vọng, thị trường Hoa Kỳ đóng vai trò dẫndắt đối với các thị trường còn lại, tuy nhiên, tác động của nó là khác nhau đối vớithị trường các quốc gia châu Âu và châu Á Theo đó, thị trường châu Á nhạy cảmhơn đối với các biến động của thị trường Hoa Kỳ Bên cạnh đó, tác động của thịtrường Nhật Bản trở nên rõ ràng hơn trong giai đoạn khủng hoảng
Với sự tìm hiểu sâu hơn về thị trường các quốc gia Đông Nam Á, trong
“Nghiên cứu sự đồng dao động giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam
và ASEAN 3+” (Võ Xuân Vinh, 2015), các tác giả đã xem xét sự đồng dao động cổ
phiếu thông qua chỉ số giá chứng khoán đại diện cho thị trường chứng khoán ViệtNam (VN–Index), Singapore (STI), Thái Lan (SET), Philippine (PSEi), Indonesia(JCI), Malaysia (KLCI), Trung Quốc (SSECI), Hàn Quốc (KOSPI), Nhật Bản(NIKKEI 225) trong giai đoạn từ 01/02/2002 đến 31/12/2013 Nghiên cứu đã chothấy mối quan hệ khá chặt chẽ giữa các thị trường trong ngắn hạn với vai trò củaSingapore là thị trường dẫn dắt các thị trường còn lại
Bài nghiên cứu “Stock market and macroeconomic fundamental dynamic interactions: ASEAN–5 countries” (Praphan Wongbangpo, 2002) tập trung phân
tích mối quan hệ ngắn hạn và dài hạn giữa giá chứng khoán trên thị trường với cácbiến số kinh tế khác như Tổng sản lượng quốc gia GNP, Chỉ số giá tiêu dùng CPI,Mức cung tiền trên thị trường hay mức lãi suất ở các quốc gia Indonesia, Malaysia,Philippine, Singapore, và Thái Lan
Bằng việc sử dụng mô hình chuỗi thời gian, nghiên cứu “Stock market integration in ASEAN after the Asian financial crisis” (Reid W Click, 2005) đã chỉ
ra mức độ liên kết giữa thị trường chứng khoán của các quốc gia Indonesia,Malaysia, Philippine, Singapore, và Thái Lan sau khủng hoảng tài chính châu Á
Trang 17năm 1997 Kết quả cho thấy thị trường chứng khoán các quốc gia này có mối quan
hệ khá chặt chẽ với nhau mà không bị giới hạn bởi biên giới quốc gia
Trong bài nghiên cứu “Modelling Volatility Spillover Effects Between Developed Stock Markets and Asian Emerging Stock Markets” (Yanan Li, 2013) tác
giả tiến hành lượng hóa mối liên hệ giữa sự biến động của thị trường chứng khoáncủa hai quốc gia phát triển là Hoa Kỳ và Nhật Bản với sáu quốc gia châu Á khácbao gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Philippine, Thái Lan Từ việc
sử dụng mô hình GARCH đa biến bất đối xứng, tác giả đã tìm ra ảnh hưởng mộtchiều khá đáng kể của thị trường chứng khoán Hoa Kỳ đối với Nhật Bản và cácquốc gia còn lại
Để tìm hiểu sự tác động của chính sách tiền tệ Hoa Kỳ đối với các thị trườngchứng khoán Đông Nam Á thông qua sử dụng mô hình Markov đa biến, trong
nghiên cứu “Spillover effect of US monetary policy to ASEAN stock markets: Evidence from Indonesia, Singapore, and Thailand” (LuYang, 2014), tác giả chỉ ra
tác động ngược chiều của lãi suất ở Hoa Kỳ lên sự tăng trưởng của thị trườngASEAN trong giai đoạn tăng trưởng của nền kinh tế Tuy nhiên, trong giai đoạnkinh tế khủng hoảng, tác động này biến mất Các kết quả này có ý nghĩa tương đốiquan trọng đối với cơ chế truyền dẫn của giá tài sản thông qua các kênh tín dụng vàthương mại
Trong “Volatility Spillovers of the Major Stock Markets in ASEAN–5 with the U.S and Japanese Stock Markets” (Chan Sok–Gee, 2010) các tác giả đã sử dụng
mô hình EGARCH để nghiên cứu mối liên hệ giữa thị trường chứng khoán các quốcgia Đông Nam Á với nhau và với thị trường Hoa Kỳ và Nhật Bản giai đoạn trước vàsau khủng hoảng tài chính 1997 Kết quả cho thấy lợi tức của các thị trường ĐôngNam Á phụ thuộc chủ yếu vào các giá trị trong quá khứ của chính chúng Bên cạnh
đó, so với Nhật Bản, thị trường chứng khoán Hoa Kỳ có sức ảnh hưởng nhiều hơnđối với thị trường các quốc gia Đông Nam Á
Nhìn chung, kết quả thu được của các nghiên cứu thị trường chứng khoán cácquốc gia Đông Nam Á cũng không thống nhất, tùy thuộc vào phạm vi và phươngpháp nghiên cứu Việc nghiên cứu các thị trường chứng khoán này thường được đặt
Trang 18trong mối liên hệ với nhau và với nền kinh tế các quốc gia lớn khác trên thế giớinhư Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc
Hầu hết, các nghiên cứu tập trung vào thị trường các quốc gia phát triển đãđược thành lập từ lâu và hoạt động tương đối ổn định, ít nhắc đến các thị trườngmới của các quốc gia đang phát triển (tiêu biểu là Việt Nam) Hơn nữa, các nghiêncứu về thị trường chứng khoán Đông Nam Á hầu hết tập trung vào giai đoạn trước,trong và sau khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, hầu như ít đề cập đến giaiđoạn khủng hoảng toàn cầu năm 2008 và tác động của nó đối với nền kinh tế nóichung và biến động trên thị trường chứng khoán của các nước ASEAN nói riêng.Bài nghiên cứu của tác giả sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan và thiết thựcvề các vấn
đề còn chưa được nghiên cứu cụ thể này
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Xuất phát từ sự cần thiết của việc nắm bắt bản chất của các thị trường và sựtác động giữa chúng để làm cơ sở gợi ý phương hướng xây dựng chính sách cho cácnhà quản lý nhà nước, nghiên cứu được thực hiện với hai mục tiêu như sau:
- Đánh giá mức độ liên kết giữa các thị trường chứng khoán các quốc gia ĐôngNam Á, đặc biệt quan tâm đến sự phụ thuộc của thị trường chứng khoán ViệtNam với các quốc gia khác trong mô hình qua các giai đoạn trước, trong vàsau các cuộc khủng hoảng lớn, bao gồm: khủng hoảng tài chính châu Á năm
1997 và khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008
- Đưa ra các đề xuất cho phía nhà quản lý để thiết lập chính sách xây dựng hệthống tài chính ổn định và minh bạch, cải thiện hiệu quả của thị trường chứngkhoán và hoạt động của các cơ quan giám sát tài chính nhằm tạo cơ sở và tiền đềhội nhập tài chính nói riêng và hội nhập quốc tế nói chung ngày càng sâu rộng
1.4 Đối tượng nghiên cứu
Các chỉ số giá chứng khoán đại diện cho thị trường chứng khoán một số quốcgia trong khu vực Đông Nam Á bao gồm: Việt Nam (VN–Index), Singapore (StraitsTimes Index – STI), Thái Lan (Stock Exchange of Thailand Index – SET),Philippine (Philippine Stock Exchange Index – PSEI), Indonesia (JakartaComposite Index – JCI), Malaysia (Kuala Lumpur Stock Exchange Index – KLCI)
Trang 19Bên cạnh đó, để đánh giá tác động của sự biến động của các thị trường lớn, cósức ảnh hưởng trên thế giới đối với thị trường chứng khoán Đông Nam Á, sau khitiến hành sàng lọc và lựa chọn kỹ, tác giả còn thêm vào mô hình các biến tương ứngvới các thị trường chứng khoán Hoa Kỳ (Standard & Poor's 500 Stock Index – S&P500) và Nhật Bản (Nikkei 225 Index)
1.5 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Giới hạn trong thị trường chứng khoán các quốc gia trong khu
vực Đông Nam Á và một số quốc gia phát triển khác là Hoa Kỳ và Nhật Bản
Về thời gian:
- Các chỉ số của thị trường chứng khoán Singapore (STI), Philippine (PSEI),Indonesia (JCI), Malaysia (KLCI), Thái Lan (SET), Hoa Kỳ (S&P 500), NhậtBản (Nikkei 225): 01/01/1993 đến 31/12/2016
- Chỉ số của thị trường chứng khoán Việt Nam (VN–Index): 01/03/2002 đến31/12/2016
1.6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp nghiên cứu tại bàn.Sau khi thu được dữ liệu mong muốn, tác giả sẽ tiến hành phân tích định lượngbằng mô hình tự hồi quy Véctơ (Vector Autoregressions) để đo lường và đánh giámức độ liên kết và tác động lẫn nhau của các thị trường Quy trình nghiên cứu cụthể như sau:
Thu thập dữ liệu các chỉ số của thị trường chứng khoán
Dữ liệu hàng ngày về các chỉ số của thị trường chứng khoán các nước ĐôngNam Á sẽ được thu thập bằng ứng dụng Datastream của Thomson Reuters thôngqua hệ thốngCơ sở dữ liệu truy cập tại Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Tài chínhthuộc Trường Đại học Kinh tế Luật (Tp Hồ Chí Minh, Việt Nam)
Phân tích dữ liệu và đánh giá mối liên hệ giữa các thị trường
Bài nghiên cứu sẽ sử dụng mô hình VAR với quy trình tương tự như Diebold
và Yilmaz (2009) trong bài nghiên cứu “Modelling Volatility Spillover Effects Between Developed Stock Markets and Asian Emerging Stock Markets” (Diebold,
Trang 202009) để đánh giá mối liên hệ giữa các thị trường chứng khoán Đông Nam Á Quytrình ước lượng và kiểm định sẽ được trình bày cụ thể ở chương 3.
Do thiếu sót về mặt dữ liệu (Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố HồChí Minh – tiền thân của Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh(HOSE) mở phiên giao dịch đầu tiên ngày 28/07/2000, tuy nhiên kể từ tháng03/2002, khi HOSE mở thêm phiên giao dịch buổi chiều, dữ liệu về chỉ số VN–Index mới được thống kê đầy đủ) cũng như để phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu bàinghiên cứu còn tiến hành chia mẫu thành hai mẫu với quy trình kiểm định tương tự,
cụ thể như sau:
- Mẫu 1: Chuỗi dữ liệu giai đoạn tháng 01/1993 – 02/2002
- Mẫu 2: Chuỗi dữ liệu giai đoạn tháng 03/2002 – 12/2016
Tổng hợp và viết báo cáo dựa trên kết quả kiểm định
1.7 Tính mới của đề tài
- Dữ liệu của bài viết được cập nhật đến tháng 12/2016
- Đề tài nghiên cứu đến cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 và ảnhhưởng của nó đối với mức độ liên kết của các thị trường chứng khoán trongkhu vực
1.8 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chính của khóa luận được kếtcấu thành năm chương với nội dung như sau:
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Nêu tính cấp thiết của đề tài, tổng quan tình hình nghiên cứu, mục tiêu nghiêncứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, và kếtcấu của đề tài
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ LIÊN KẾT CÁC THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Tóm tắt một số lý thuyết về hội nhập kinh tế và hội nhập tài chính để làm cơ
sở đưa ra các giả thuyết nghiên cứu
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 21Tóm tắt và giải thích mô hình hồi quy sẽ sử dụng để phân tích và đánh giá kếtquả phân tích dữ liệu.
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG VÀ KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Trình bày sơ lược về thị trường chứng khoán các quốc gia ASEAN và tiếnhành phân tích lần lượt các mẫu dữ liệu đã chọn theo quy trình ước lượng và kiểmđịnh mô hình đã lựa chọn ở chương 3
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ GỢI Ý PHƯƠNG HƯỚNG XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH
Dựa trên các kết quả phân tích, tác giả sẽ tiến hành tổng hợp, đối chiếu và rút
ra ý nghĩa thực tế và kết luận về vấn đề nghiên cứu Đồng thời đề xuất phương ánthiết lập chính sách với mục đích xây dựng hệ thống tài chính vững mạnh và phùhợp với tình hình hội nhập tài chính nói riêng và hội nhập quốc tế nói chung củaViệt Nam hiện nay
Trang 22CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ LIÊN KẾT CÁC THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Trong thế giới hiện đại, cùng với sự thay đổi bản chất xã hội của lao động vàmối quan hệ giữa con người, hội nhập quốc tế trở thành một quá trình phát triển tấtyếu Sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường chính là động lực hàng đầu thúcđẩy quá trình hội nhập Hội nhập được diễn ra trên nhiều lĩnh vực khác nhau, dướinhiều hình thức, cấp độ và theo tiến trình từ thấp đến cao Vấn đề hội nhập đã trởthành một xu thế lớn của thế giới hiện đại và đã tác động mạnh mẽ đến quan hệquốc tế cũng như đời sống của từng quốc gia
2.1 Tổng quan về hội nhập quốc tế
2.1.1 Khái niệm hôi nhập quốc tế
Thuật ngữ “hội nhập quốc tế” trong tiếng Việt có nguồn gốc dịch từ tiếng Anh
là “international integration” và tiếng Pháp là “intégration internationale” Kháiniệm này được sử dụng chủ yếu trong các lĩnh vực chính trị học quốc tế và kinh tếquốc tế, ra đời trong bối cảnh những người theo trường phái thể chế chủ trương thúcđẩy sự hợp tác và liên kết giữa các cựu thù (Đức – Pháp) từ khoảng giữa thế kỷtrước ở châu Âu, nhằm tránh nguy cơ tái diễn chiến tranh thế giới thông qua việcxây dựng Cộng đồng châu Âu
Trên thực tế đến nay, khái niệm “hội nhập quốc tế” có nhiều cách hiểu và địnhnghĩa khác nhau Chung quy, có ba quan điểm chủ yếu sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng hội nhập (integration) là một sản phẩm cuối
cùng hơn là một quá trình Và sản phẩm đó chính là sự hình thành một Nhà nướcliên bang kiểu như Hoa Kỳ hay Thụy Sỹ Những người theo trường phái này quantâm chủ yếu tới các khía cạnh luật định và thể chế để đánh giá sự liên kết
Quan điểm này được xem là có nhiều hạn chế vì nó không đặt hiện tượnghội nhập trong quá trình phát triển mà chỉ nhìn nhận (chủ yếu về khía cạnh luậtđịnh và thể chế) trong trạng thái tĩnh cuối cùng gắn với mô hình Nhà nước liênbang Vì vậy rất khó áp dụng cách tiếp cận này để phân tích và giải thích thựctiễn của quá trình hội nhập diễn ra với nhiều hình thức và mức độ khác nhau trên
Trang 23thế giới hiện nay Không phải bất cứ sự hội nhập nào cũng dẫn đến việc hìnhthành một Nhà nước liên bang.
Quan điểm thứ hai, với Karl W Deutsch, hội nhập trước hết là sự liên kết
các quốc gia thông qua việc phát triển các luồng giao lưu như thương mại, đầu tư,thông tin, thư tín, di trú, du lịch, văn hóa… từ đó dần hình thành các cộng đồng anninh (security community) Theo Deutsch, cộng đồng an ninh được phân thành hailoại bao gồm loại cộng đồng an ninh hợp nhất như kiểu Hoa Kỳ và loại cộng đồng
an ninh đa nguyên như kiểu Tây Âu Như vậy, hội nhập vừa là một quá trình vừa làmột sản phẩm cuối cùng khi tiếp cận theo cách thứ hai này
Điểm mạnh của cách tiếp cận này là đã nhìn nhận hiện tượng hội nhập vừatrong quá trình tiến triển vừa trong trạng thái tĩnh cuối cùng và đồng thời cũng đưa
ra được những nội dung khá cụ thể, sát thực tiễn của quá trình hội nhập nhằm gópphần phân tích và giải thích nhiều vấn đề của hiện tượng này
Quan điểm thứ ba xem xét hội nhập ở góc độ là hiện tượng/hành vi các
nước mở rộng và làm sâu sắc hóa quan hệ hợp tác với nhau dựa trên cơ sở phâncông lao động quốc tế một cách có chủ đích dựa vào lợi thế của mỗi nước và mụctiêu theo đuổi
Quan điểm thứ ba tập trung vào hành vi của hiện tượng mà không quan tâmxem xét góc độ thể chế cũng như kết quả cuối cùng của hội nhập Do đó cách tiếpcận này thiếu tính toàn diện và hạn chế trong khả năng giải thích bản chất của quátrình hội nhập
Ở Việt Nam, thuật ngữ ‘hội nhập kinh tế quốc tế” đã bắt đầu được sử dụng
từ khoảng giữa thập niên 1990 cùng với quá trình Việt Nam gia nhập ASEAN,tham gia Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) cũng như các thể chế kinh tếquốc tế khác
Như vậy, hội nhập quốc tế được hiểu là quá trình các nước tiến hành các hoạt động tăng cường sự gắn kết với nhau dựa trên việc chia sẻ về lợi ích, mục tiêu, nguồn lực, giá trị, quyền lực (thẩm quyền định đoạt chính sách) và tuân thủ các luật chơi chung trong khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế
Trang 24Như vậy, khác với hợp tác quốc tế (là hành vi các chủ thể quốc tế đáp ứng lợi
ích hay nguyện vọng của nhau và không chống đối nhau), hội nhập quốc tế đã vượt lên trên sự hợp tác quốc tế thông thường: nó đòi hỏi sự chia sẻ và tính kỷ luật cao của những chủ thể tham gia Khi nhìn ở góc độ thể chế, quá trình hội
nhập hình thành và củng cố các định chế/tổ chức quốc tế, hay thậm chí là các chủthế mới của quan hệ quốc tế
Chủ thể của hội nhập quốc tế trước hết là các quốc gia, là chủ thể chính củaquan hệ quốc tế có đủ năng lực và thẩm quyền đàm phán, ký kết và thực hiện cáccam kết quốc tế Bên cạnh chủ thể chính này, các chủ thể khác cùng hợp thành lựclượng tổng hợp tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế
2.1.2 Các lĩnh vực hội nhập quốc tế
Hội nhập quốc tế có thể diễn ra trên từng lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế,chính trị, văn hóa, giáo dục, xã hội, an ninh – quốc phòng, ) nhưng cũng có thểđồng thời diễn ra trên nhiều lĩnh vực với tính chất, phạm vi và hình thức rất khácnhau, cụ thể như sau:
Hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình gắn kết các nền kinh tế của từng nướcvới kinh tế khu vực và thế giới thông qua nỗ lực tự do hóa và mở cửa nền kinh tếdựa trên những hình thức khác nhau, từ đơn phương đến song phương, từ tiểu khuvực/vùng, khu vực, liên khu vực đến toàn cầu Hội nhập kinh tế cũng có thể diễn ravới nhiều mức độ
Một nước có thể đồng thời tham gia vào nhiều tiến trình hội nhập với tínhchất, phạm vi và hình thức khác nhau Tuy nhiên về cơ bản đều phải trải qua cácbước hội nhập từ thấp đến cao, việc đốt cháy giai đoạn chỉ có thể diễn ra trongnhững điều kiện đặc thù nhất định (chẳng hạn như Cộng đồng Kinh tế châu Âu đãđồng thời xây dựng khu vực mậu dịch tự do và liên minh thuế quan trong nhữngthập niên 60 – 70) Hội nhập kinh tế được xem là nền tảng hết sức quan trọng cho
sự tồn tại bền vững của vấn đề hội nhập trong các lĩnh vực khác, đặc biệt là hộinhập về chính trị và được các nước ưu tiên thúc đẩy như một đòn bẩy cho sự hợptác và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa
Trang 25Hội nhập chính trị
Hội nhập về chính trị là việc các nước tham gia vào các cơ chế quyền lực tậpthể (giữa hai hay nhiều nước) để theo đuổi các mục tiêu nhất định đồng thời hành xửcho phù hợp với những luật chơi chung Hội nhập chính trị thể hiện mức độ liên kếtđặc biệt giữa các nước, trong đó các nước sẽ chia sẻ với nhau về các giá trị cơ bản (ýthức hệ, tư tưởng chính trị), lợi ích, mục tiêu, nguồn lực và đặc biệt là quyền lực
Ở giai đoạn thấp của hội nhập chính trị thì liên kết giữa các thành viên với nhaucòn nhiều hạn chế, các thành viên về cơ bản vẫn giữ thẩm quyền định đoạt các chínhsách riêng Hiện nay ASEAN vẫn đang trong giai đoạn đầu của quá trình hội nhậpchính trị nên rõ ràng vẫn còn tồn tại nhiều sự khác biệt và độ tin cậy giữa các thànhviên còn rất hạn chế Về mặt tổ chức quyền lực, ASEAN chính là một khuôn khổ liênchính phủ Một khi hoàn tất việc xây dựng Cộng đồng ASEAN dựa trên ba trụ cộtbao gồm Cộng đồng Chính trị – An ninh, Cộng đồng Kinh tế và Cộng đồng Văn hóa– Xã hội sẽ giúp tăng cường quá trình hội nhập chính trị trong ASEAN, điều này sẽtạo điều kiện để ASEAN có thể bước đến một giai đoạn hội nhập cao hơn
Ở giai đoạn hội nhập chính trị cao đòi hỏi sự tương đồng về thể chế chính trị
và độ tin cậy của các thành viên một cách hoàn toàn Các thành viên chỉ giữ lại một
số thẩm quyền nhất định ở cấp quốc gia và trao hết các quyền lực còn lại cho một
cơ cấu siêu quốc gia về mặt tổ chức quyền lực Điển hình như Liên minh châu Âu
(EU) hiện nay được xem là một mô hình hội nhập chính trị cao.
Hội nhập chính trị thông thường được xem là bước đi sau cùng dựa trên cơ sởcác nước tham gia đã đạt đến trình độ hội nhập kinh tế và văn hóa – xã hội rất cao.Liên bang Hoa Kỳ, Liên bang Canada trước đây và EU hiện nay cơ bản là sự hìnhthành theo phương thức này Tuy nhiên, hội nhập chính trị cũng có thể đi trước mộtbước để mở đường thúc nhằm đẩy hội nhập trong các lĩnh vực khác trong một sốbối cảnh nhất định ASEAN được xem là một trường hợp thể hiện khá đặc biệt sựkết hợp nhiều tiến trình hội nhập
Hội nhập an ninh – quốc phòng
Hội nhập về an ninh – quốc phòng là việc các quốc gia tham gia vào quá trìnhgắn kết họ với các quốc gia khác nhằm mục đích duy trì hòa bình và an ninh Để hội
Trang 26nhập, các nước phải tham gia vào các thỏa thuận song phương hay đa phương vềvấn đề an ninh – quốc phòng dựa trên các nguyên tắc chia sẻ và liên kết như mụctiêu chung của các nước hội nhập, đối tượng/kẻ thù chung của họ và tiến hành cáchoạt động chung về đảm bảo an ninh – quốc phòng
Vấn đề hội nhập trong lĩnh vực an ninh – quốc phòng liên quan trực tiếp tớinhững vấn đề nhạy cảm nhất – cốt lõi tồn tại của một quốc gia, đó là hòa bình, độclập và chủ quyền nên đây được xem là tiến trình khó khăn hơn cả
Hội nhập về văn hóa – xã hội
Hội nhập về văn hóa – xã hội là quá trình mở cửa, trao đổi văn hóa với cácnước khác cũng như chia sẻ các giá trị văn hóa, tinh thần với thế giới nhằm tiếpthu các giá trị văn hóa tiến bộ của thế giới để bổ sung và làm giàu nền văn hóa dântộc, là việc tham gia vào các tổ chức hợp tác và phát triển văn hóa – giáo dục – xãhội khu vực và hợp tác chặt chẽ với các nước thành viên nhằm hướng tới việc xâydựng một cộng đồng văn hóa – xã hội lớn hơn trên phạm vi khu vực và toàn cầu(như tham gia Cộng đồng văn hóa – xã hội ASEAN, đồng thời ký kết và thực hiệncác hiệp định song phương về hợp tác – phát triển văn hóa – giáo dục – xã hội vớicác nước
Hội nhập văn hóa – xã hội có ý nghĩa rất quan trọng trong việc làm sâu sắcquá trình hội nhập và thực sự gắn kết các nước với nhau bền vững hơn cả Quá trìnhhội nhập văn hóa – xã hội giúp các dân tộc ở các quốc gia khác nhau gần gũi và chia
sẻ với nhau nhiều hơn về các giá trị, phương thức tư duy, hành động để tạo ra sự hàihòa và thống nhất ngày càng cao giữa các chính sách xã hội của các thành viên.Đồng thời quá trình này góp phần tạo điều kiện để người dân mỗi nước được thụhưởng tốt hơn các giá trị văn hóa của nhân loại cũng như các phúc lợi xã hội đadạng Và đặc biệt hơn cả là việc hình thành và củng cố tình cảm gắn bó thuộc vềmột cộng đồng chung rộng lớn hơn quốc gia của riêng mình gọi là ý thức công dânkhu vực/toàn cầu (Nguyễn Quốc Trụ, 2011)
2.2 Hội nhập kinh tế quốc tế
2.2.1 Các cấp độ hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 27Theo một số nhà kinh tế thì tiến trình hội nhập kinh tế được chia thành năm
mô hình cơ bản từ thấp đến cao như sau:
nhau những ưu đãi thương mại dựa trên cơ sở cắt giảm thuế quan nhưng vẫnhạn chế về phạm vi (số lượng các mặt hàng đưa vào diện cắt giảm thuế quan)
và mức độ cắt giảm Hiệp định PTA của ASEAN (1977), Hiệp định GATT(1947 và 1994), Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (2001) là những
ví dụ cụ thể của mô hình liên kết kinh tế ở giai đoạn thấp nhất
hàng rào thuế quan cũng như các hạn chế về định lượng (có thể bao gồm cảviệc giảm và bỏ một số hàng rào phi thuế quan) trong thương mại hàng hóanội khối, nhưng vẫn duy trì chính sách thuế quan độc lập đối với các nướcngoài khối Ví dụ: Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Khu vực mậudịch tự do Bắc Âu (EFTA), Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) Trongnhững năm gần đây, phần lớn các hiệp định FTA mới có phạm vi lĩnh vựcđiều tiết rộng hơn nhiều Ngoài lĩnh vực hàng hóa, các hiệp định này còn cónhững quy định tự do hóa đối với các lĩnh vực khác như dịch vụ, đầu tư, muasắm chính phủ, sở hữu trí tuệ… Ví dụ: Hiệp định FTA giữa ASEAN với Úc–New Zealand (2009), Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình dương (TPP – đangđàm phán)
thương mại nội khối các thành viên còn thống nhất thực hiện chính sách thuếquan chung đối với các nước bên ngoài khối Ví dụ: Nhóm ANDEAN và Liênminh thuế quan Nga –Belarus –Kazakhstan
bỏ thuế quan và hàng rào phi quan thuế trong thương mại nội khối và có chínhsách thuế quan chung đối với ngoài khối, còn phải xóa bỏ các hạn chế đối vớiviệc lưu chuyển của những yếu tố sản xuất khác (lao động, vốn…) để tạothành một nền sản xuất chung của cả khối Ví dụ: Liên minh châu Âu trước
Trang 28khi trở thành một liên minh kinh tế đã trải qua giai đoạn xây dựng thị trườngduy nhất (Thị trường chung châu Âu).
sở một thị trường chung/duy nhất cộng thêm việc thực hiện chính sách kinh tế
và tiền tệ chung (một đồng tiền chung, ngân hàng trung ương thống nhất củakhối) Ví dụ: Liên minh châu Âu (EU) hiện nay (Nguyễn Quốc Trụ, 2011)
2.2.2 Tính hai mặt của hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng và hội nhập quốc tế nói chung là một xu thế
lớn tất yếu của thế giới Nói cách khác, con đường phát triển không thể nào khác đối với các nước trong thời đại toàn cầu hóa là tham gia vào hội nhập kinh tế quốc tế Sự lựa chọn tất yếu này còn được quyết định bởi rất nhiều lợi ích chủ yếu
mà các nước có thể tận dụng nhờ hội nhập kinh tế quốc tế sau:
- Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của lựclượng sản xuất, đưa lại sự tăng trưởng cao cho nền kinh tế các quốc gia.Trong đó, cơ cấu nền kinh tế sẽ có bước chuyển dịch mạnh về chất: Tỷ trọngcác ngành công nghiệp chế tạo và dịch vụ dựa vào công nghệ cao và tri thứctăng Đây là cơ hội và tiền đề hết sức quan trọng cho sự phát triển và hiện đạihóa xã hội Các nền kinh tế đang phát triển nhờ tham gia quá trình hội nhậpkinh tế sẽ có điều kiện tiếp nhận các nguồn lực phát triển từ bên ngoài nhưvốn đầu tư nước ngoài, công nghệ chuyển giao, kinh nghiệm tổ chức quản lý,khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nước như lao động, đấtđai, tài nguyên…
- Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế giúp mở rộng và phát triển thị trường toàncầu Sự giao lưu hàng hóa thông thoáng hơn, hàng rào quan thuế và phi quanthuế bị dỡ bỏ, nhờ đó trao đổi hàng hóa tăng mạnh, có lợi cho sự phát triển củacác nước Nửa đầu thế kỷ XX, kim ngạch buôn bán của thế giới tăng hai lần,đến nửa sau thế kỷ XX, do cắt giảm hàng rào quan thuế và phi quan thuế nênkim ngạch buôn bán của thế giới đã tăng 50 lần (Nguyễn Thị Tỵ, 2013) Đốivới người tiêu dùng, quá trình hội nhập kinh tế của mỗi quốc gia tạo cơ hội để
họ được thụ hưởng các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đa dạng về chủng loại,
Trang 29mẫu mã và chất lượng với giá cạnh tranh; được tiếp cận và giao lưu nhiều hơnvới thế giới bên ngoài, từ đó có cơ hội phát triển và tìm kiếm việc làm cả tronglẫn ngoài nước.
- Những thành tựu của khoa học – công nghệ được chuyển giao nhanh chóng vàứng dụng rộng rãi tạo điều kiện cho các nước đi sau trong sự phát triển kinh tế
có điều kiện tiếp cận với những thành tựu mới của khoa học – công nghệ đểphát triển
- Cùng với quá trình hội nhập kinh tế, nguồn vốn đầu tư vào mỗi quốc gia sẽtăng mạnh, góp phần điều hòa dòng vốn theo lợi thế so sánh tạo điều kiện chocác nước tiếp cận được nguồn vốn và công nghệ từ bên ngoài, hình thành hệthống phân công lao động quốc tế có lợi cho cả bên đầu tư và bên nhận đầu tư
- Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thúc đẩy sự cải cách sâu rộng các nền kinh
tế quốc gia và sự hợp tác khu vực để các chủ thể này có thể nâng cao vị thếcạnh tranh và phát triển được trong nền kinh tế thế giới
- Hội nhập kinh tế tạo điều kiện để mạng lưới thông tin và giao thông vận tảibao phủ toàn cầu góp phần làm giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm,nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng tính thuận tiện nhanh chóng
- Về mặt chính trị, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế làm gia tăng tính tùy thuộclẫn nhau giữa các quốc gia có lợi cho cuộc đấu tranh vì hòa bình, hợp tác vàphát triển, đồng thời mở ra khả năng phối hợp các nỗ lực và nguồn lực của cácnước để giải quyết những vấn đề quan tâm chung của khu vực và thế giới.Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích mà hội nhập mang lại, hội nhập cũng đặtcác quốc gia trước nhiều bất lợi và thách thức mà đặc biệt là:
- Quá trình chuyển giao công nghệ từ các nước công nghiệp phát triển thườngkhông chuyển giao những thành tựu mới nhất mà chuyển giao những côngnghệ lạc hậu hoặc đã khấu hao hết giá trị vào các nước chậm phát triển Điềunày tác động xấu đến sự phát triển kinh tế ở các nước chậm phát triển và dẫnđến nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế ở các nước này
- Trong quá trình hội nhập, các nước đang phát triển phải đối mặt với nguy cơchuyển dịch cơ cấu kinh tế tự nhiên bất lợi, do thiên hướng tập trung vào các
Trang 30ngành sử dụng nhiều tài nguyên, nhiều sức lao động, nhưng có giá trị gia tăngthấp Do vậy, các quốc gia này dễ trở thành bãi rác thải công nghiệp và côngnghệ thấp, bị cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên và hủy hoại môi trường.
- Hội nhập kinh tế có thể tạo ra một số thách thức đối với quyền lực Nhà nước(theo quan niệm truyền thống về độc lập, chủ quyền) và phức tạp đối với việcduy trì an ninh và ổn định ở các nước đang phát triển Nó tạo ra nguy cơ chocác nước chậm và đang phát triển bị lệ thuộc vào kinh tế, từ đó dẫn đến lệthuộc về chính trị, gây nguy hại đến chủ quyền dân tộc và an ninh quốc giathông qua con đường trao đổi, hợp tác kinh tế, đầu tư, viện trợ, cho vay theohướng khuyến khích tư nhân hóa
- Hội nhập kinh tế không phân phối công bằng lơi ích và rủi ro cho các nước vàcác nhóm khác nhau trong xã hội, do vậy có nguy cơ làm tăng khoảng cáchgiàu – nghèo Những nước được hưởng lợi nhiều nhất trong quá trình hội nhậpkinh tế là những nước có nền kinh tế phát triển, những nước chịu nhiều thiệtthòi nhất trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế là những nước có nền kinh tếđang và chậm phát triển, các yếu tố của kinh tế thị trường chưa được hìnhthành đồng bộ
- Hội nhập làm gia tăng nguy cơ xói mòn bản sắc dân tộc và văn hóa truyềnthống do sự “xâm lăng” của văn hóa nước ngoài bên cạnh nguy cơ khủng bốquốc tế, buôn lậu, tội phạm xuyên quốc gia, dịch bệnh, nhập cư bất hợp pháp
- Quá trình hội nhập kinh tế giúp các dòng hàng hóa, dịch vụ, vốn, công nghệ…
dễ lưu thông trên bình diện toàn thế giới Song cũng chính vì vậy mà sự đổ vỡ
và “khủng hoảng” ở một khâu hoặc ở một nước nào đó theo hiệu ứng lantruyền có thể làm rung chuyển đến tất cả các quốc gia và khu vực trên thế giới.Cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ ở Châu Á năm 1997 là một ví dụ
Như vậy, hội nhập kinh tế mang lại cả lợi ích lẫn bất lợi đối với các nước Tuynhiên, không phải cứ tham gia quá trình hội nhập kinh tế là mỗi quốc gia chắc chắn
sẽ hưởng đầy đủ mọi lợi ích và chịu tất cả bất lợi như đã nêu ở trên Do các nướckhông giống nhau về điều kiện, hoàn cảnh, trình độ phát triển…, nên nhìn chungcác lợi ích và bất lợi đều ở dạng tiềm năng và đối với mỗi nước một khác Mức độ
Trang 31khai thác lợi ích và hạn chế các bất lợi, thách thức đến đâu sẽ phụ thuộc vào nhiềuyếu tố mà đặc biệt quan trọng là năng lực của mỗi nước như chiến lược/chính sách,biện pháp hội nhập và việc tổ chức thực hiện
Trên thực tế, đã có nhiều nước tiêu biểu như Hàn Quốc, Đài Loan, HồngKông, Singapore, Trung Quốc, Malaysia, Mexico, Brasil… đã khai thác rất tốt các
cơ hội và lợi ích của hội nhập để đạt được tăng trưởng và phát triển kinh tế – xã hộicao, duy trì một cách ổn định trong nhiều năm liên tục và đã nhanh chóng vươn lênhàng các nước công nghiệp mới cũng như tạo dựng được vị thế quốc tế đáng nể,đồng thời xử lý khá thành công các bất lợi và thách thức của quá trình hội nhập Một số nước khác như Thái Lan, Philippine, Indonesia, Việt Nam, Hy Lạp, BồĐào Nha, Tây Ban Nha… tuy cũng thu được nhiều lợi ích từ quá trình hội nhập,song xử lý chưa tốt những mặt trái của quá trình này, nên vẫn phải đối mặt vớinhiều khó khăn và thách thức lớn
Tuy vậy, nếu xét trên phương diện tăng trưởng và phát triển kinh tế, thì suycho cùng lợi ích mà hầu hết các nước đã gặt hái được trên thực tế từ quá trình hộinhập vẫn lớn hơn cái giá mà họ phải trả cho những tác động tiêu cực Điều này giảithích tại sao hội nhập quốc tế trở thành lựa chọn hàng đầu trong chính sách pháttriển của hầu hết các nước trên thế giới hiện nay (Nguyễn Văn Trình, 2014)
2.3 Hội nhập tài chính quốc tế và xu hướng hội nhập của thị trường chứng khoán 2.3.1 Hội nhập tài chính quốc tế
2.3.1.1 Khái niệm và phân loại
Hội nhập tài chính quốc tế diễn ra khi việc kiểm soát các giao dịch được bãi
bỏ, tài khoản vốn và tài chính cho phép các nguồn lực tài chính ra vào quốc gia.Những rào cản gia nhập vào thị trường nội địa của các định chế tài chính nướcngoài cũng được bãi bỏ và các tổ chức này sẽ được tự do tiếp cận các hoạt động thịtrường cũng như các dịch vụ tài chính Thị trường tự do sẽ bù đắp cho lạm pháttrong nước bằng việc điều chỉnh của tỷ giá hối đoái và lãi suất nội địa
Theo Peter B Kenen (2007), hội nhập tài chính có thể chia thành bốn loại theomức độ và khu vực hội nhập sau đây:
- Hội nhập của khu vực công: chính phủ các nước tiến hành vay bằng cách
Trang 32phát hành nợ thông qua nhiều hình thức bằng tiền nước ngoài và tiền trongnước Người nước ngoài có thể mua chứng khoán trên thị trường quốc giaphát hành.
- Hội nhập của khu vực doanh nghiệp: hội nhập thông qua nguồn vốn FDI,
vốn cổ phần và các khoản vay xuyên biên giới ở thị trường của các quốc giakhác nhau
- Hội nhập sâu rộng hơn của khu vực doanh nghiệp: nhà đầu tư cá nhân/tổ chức
mua/bán cổ chứng khoán của các doanh nghiệp ở các nước khác nhau trên cácthị trường của các quốc gia này
- Hội nhập của khu vực ngân hàng: thông qua thị trường liên ngân hàng quốc tế
nơi mà các ngân hàng có thể vay/cho vay tạm thời với nhau
2.3.1.2 Một số thước đo mức độ hội nhập tài chính quốc tế
Hội nhập tài chính chính là một trong những chỉ số khó đo lường nhất trongkinh tế học Mặc dù những nghiên cứu trước đây đã đưa ra nhiều phương án đểnhận diện và đo lường các biện pháp kiểm soát vốn nhưng hầu như không có cáchnào bao quát hết toàn bộ các biện pháp vốn rất phức tạp này trong thực tế Cácphương pháp đo lường kiểm soát vốn hầu hết đều là định tính trên dữ liệu được xâydựng bởi Quỹ tiền tệ Quốc tế IMF, chỉ cho biết quốc gia đó có tiến hành kiểm soátvốn hay không chứ không đo lường được mức độ kiểm soát vốn trên thực tế, điểnhình là chỉ số KAOPEN
Chỉ số KAOPEN được xây dựng bởi Chinn và Ito (2006, 2008) dựa trên
những số liệu trong báo cáo hàng năm về cơ chế tỷ giá và những hạn chế trên tàikhoản vãng lai, tài khoản vốn - do Quỹ tiền tệ Quốc tế IMF phát hành Vì vậy,KAOPEN chỉ cho thấy một quốc gia về mặt pháp lý (de jure) có tiến hành các chínhsách kiểm soát vốn hay không mà không đánh giá được hiệu quả của các chính sách
đó trên thực tế như thế nào và cũng không đánh giá được chiều hướng của dòng vốnvào hay ra cũng như mục tiêu của các giao dịch vốn Chỉ số KAOPEN được chuẩnhóa nằm trong khoảng từ 0 đến 1 Chỉ số càng cao nghĩa là quốc gia đó càng tiếnđến tự do hóa các giao dịch vốn Tuy nhiều hạn chế nhưng phương pháp đo lườngmức độ tự do hóa tài chính thông qua chỉ số KAOPEN vẫn được áp dụng ở một số
Trang 33nghiên cứu khác như của Huchison và cộng sự (2011), Popper và cộng sự (2011),Cortuk và Singh (2011).
Trước Chinn và Ito, để đo lường mức độ hội nhập tài chính theo hướng định
lượng Edison và Warnock (2001) đã đưa ra một phương pháp đơn giản để đo mức
độ kiểm soát vốn dựa trên sự thay đổi vốn cổ phần của một quốc gia từ nhà đầu tưnước ngoài, bằng cách tính tỷ lệ chỉ số đầu tư trên chỉ số chung của một quốc giatheo giá trị vốn hóa thị trường Phương pháp này cho biết mức độ kiểm soát vốn tạimột thời điểm cũng như sự thay đổi theo thời gian Hai chỉ số trên được tính toánbởi tổ chức tài chính quốc tế (IFC) Tuy nhiên, cách đo lường này có nhược điểm làchưa bao quát được tất cả các dòng vốn đầu tư vào và ra khỏi một quốc gia để đánhgiá mức độ tự do hóa tài khoản vốn trên thực tế
Điển hình cho phương pháp đo lường mức độ hội nhập tài chính trên thực tếchính là việc dựa vào tỷ lệ tổng dòng vốn (bao gồm nợ và tài sản nước ngoài) trong
cán cân thanh toán của một quốc gia so với GDP theo hai tác giả Lane và Milesi – Ferretti (2007) Bằng cách tính toán tài sản và nợ nước ngoài dựa trên cán cân
thanh toán, Lane và Milesi – Ferretti đã sưu tầm dữ liệu của khoảng 180 quốc gia từnăm 1970 đến 2007 cho vị thế đầu tư quốc tế Tổng tài sản của mỗi quốc gia baogồm: danh mục vốn cổ phần, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tài sản nợ (bao gồm
nợ vốn cổ phần cộng với các đầu tư khác như các khoản cho vay của ngân hàng vàtín dụng thương mại), tài sản tài chính phái sinh và dự trữ ngoại hối Tổng nợ baogồm: FDI, danh mục vốn cổ phần, nghĩa vụ nợ và nợ tài chính phái sinh Sau đó, tácgiả tính tổng tài sản và tổng nợ chia cho GDP hoặc chia cho tổng xuất khẩu và nhậpkhẩu Các chỉ số này sẽ dùng để đại diện cho mức độ hội nhập tài chính
Tuy nhiên, theo Ito và Kawai (2012), cách đo lường của Lane và Milesi –
Ferretti vẫn có một số bất cập Một là việc lấy tổng tài sản và tổng nợ chia cho GDP
có thể khiến cho chỉ số hội nhập tài chính trở nên nhạy cảm với chu kỳ kinh doanh,
và đồng thời có thể khiến chỉ số hội nhập của những nền kinh tế lớn, được xem là
có mức độ hội nhập tài chính cao nhất như Mỹ lại trở nên thấp, trong khi của nhữngtrung tâm tài chính như Ireland, Luxemburg, Hong Kong, Singapore, Trung Quốclại quá cao (cao hơn nhiều so với Mỹ) Ngược lại, khi lấy tổng tài sản và tổng nợ
Trang 34chia cho tổng giá trị xuất nhập khẩu sẽ làm cho chỉ số hội nhập kém nhạy cảm vớichu kỳ kinh doanh Điều này giúp khắc phục việc bóp méo chỉ số ở các nước đượcxem là trung tâm tài chính tuy nhiên lại trở nên vô vùng bất lợi đối với những nước
có độ mở thương mại cao như Singapore Do đó việc chuẩn hóa tổng tài sản và tổng
nợ theo GDP và theo tổng giá thị mậu dịch vừa có ưu điểm và cũng có nhược điểm.Bất cập thứ hai trong công thức tính này là việc đưa cả dự trữ ngoại hối vào côngthức tính tổng tài sản Theo Ito và Kawai, cần phải tách biệt các khoản đầu tư của
cơ quan điều hành chính sách tiền tệ khỏi các khoản đầu tư tư nhân Bởi vì nếu đưa
cả dự trữ vào thì những nước như Trung Quốc và một số nước Châu Á khác vớilượng dự trữ ngoại hối lớn sẽ được xem như hội nhập tài chính hoàn toàn, trong khitrên thực tế thì các quốc gia đó vẫn kiểm soát chặt dòng vốn quốc tế Ito và Kawaicũng đưa ra thêm một lý do khác là theo cách tính của Lane và Milesi – Ferretti chỉ
số hội nhập tài chính có thể không phù hợp trong bối cảnh lý thuyết bộ ba bất khảthi và các chuỗi chỉ số không có tính dừng Vì vậy cần phải chuẩn hóa công thứctính chỉ số cho phù hợp Dựa trên chỉ số hội nhập tài chính được đo lường theophương pháp thực tế của Lane và Milesi – Ferretti (2001, 2007) nêu trên, Ito vàKawai (2012) đã tính tổng của tài sản và nợ bên ngoài, trừ đi dự trữ ngoại hối chínhthức, rồi tính tỷ lệ trên GDP hoặc tổng kim ngạch xuất nhập khẩu, lấy trung bìnhcủa hai giá trị này
Khác với cách tính trên, tác giả Dorrucci và cộng sự (2009) đã tính toán
thông qua các chỉ tiêu thể hiện sự phát triển khu vực tài chính để đo lường mức độhội nhập trên thực tế Theo đó, mức độ phát triển khu vực tài chính càng cao sẽtương ứng với mức độ hội nhập càng cao
Ngoài ra, một số nghiên cứu khác như Rajan (2003), Kose và cộng sự (2006),
đã phân loại phương pháp đo lường hội nhập tài chính trên luật pháp và đo lườngtrên thực tế dựa vào sự thay đổi giá như nghiên cứu ngang giá lãi suất thực(Cheungvà cộng sự, 2003), hay mô hình định giá tài sản vốn quốc tế (ICAPM), môhình kinh doanh chênh lệch lãi suất quốc tế (IAPM) Ngoài ra còn có chỉ số củaOECD, chỉ số Montiel – Reinhart, chỉ số Quinn, chỉ số Share… cũng đo lường mức
độ tự do hóa tài khoản vốn
Trang 35Nhìn chung, trong khi việc đo lường mức độ hội nhập tài chính về mặt pháp lý– de jure (như chỉ số KAOPEN) dễ bị ảnh hưởng bởi ý muốn chủ quan của nhữngnhà quan sát đối với các mục tiêu chính sách quốc gia, thì chỉ số đo lường mức độhội nhập tài chính thực tế (defacto) lại dễ bị tác động bởi hiệu quả của những nhân
tố kinh tế vĩ mô khác hơn là bản thân những chính sách liên quan đến kiểm soátvốn Ngoài ra, việc đo lường mức độ hội nhập tài chính về mặt pháp lý có một vàigiới hạn khác như trong một số trường hợp, khu vực tư nhân có thể né tránh nhữnghạn chế trên tài khoản vốn – làm giảm đi hiệu quả mong đợi của các quy định kiểmsoát vốn; hoặc khi các biến số được Quỹ tiền tệ Quốc tế IMF đo lường quá tổngquát nên không đánh giá được những chi tiết của hoạt động kiểm soát vốn trên thực
tế - như chiều hướng dòng vốn vào hay ra, mục đích của các giao dịch vốn Do đónhững tính toán thực tế sẽ phản ánh trực tiếp hơn mức độ hội nhập của một quốc gianhư thế nào trên thị trường tài chính quốc tế
2.3.2 Hội nhập thị trường chứng khoán
Trong vài thập kỷ trở lại đây, cùng với quá trình hội nhập quốc tế, trong đóbao hàm cả hội nhập kinh tế lẫn hội nhập các thị trường tài chính, x u hướng hộinhập thị trường chứng khoán cũng dần được hình thành theo các cấp độ từ thấpđến cao
Giai đoạn sơ khai của hội nhập thị trường chứng khoán, mức độ liên kết củacác thị trường chỉ dừng ở việc các bên liên kết trao đổi thông tin liên quan đến cácdoanh nghiệp niêm yết và hợp tác quản lý Minh họa rõ ràng nhất cho giai đoạn này
là sự thành lập Diễn đàn các Ủy ban Chứng khoán châu Âu (FESCO) năm 1997.Mỗi thành viên thuộc FESCO cam kết thực hiện các tiêu chuẩn đã được thống nhất
từ trước Kỳ vọng của FESCO là xóa bỏ sự chồng chéo, lãng phí nguồn lực cho cácvấn đề quản lý, năng cao sự đồng bộ về phân tích và ra quyết định, và đơn giản hóacác quy định quản lý trong nội khối
Cấp độ tiếp theo là giai đoạn hội nhập thị trường chứng khoán thông qua niêmyết chéo và phát triển các sản phẩm mới Ở giai đoạn này các thị trường chứngkhoán bắt đầu có sự liên kết thông qua việc hài hòa hóa các chuẩn mực về niêm yết,các chuẩn mực về giao dịch và thông tin tài chính doanh nghiệp Hoạt động này sẽ
Trang 36tạo điều kiện cho cổ phiếu của các doanh nghiệp có thể niêm yết chéo giữa các thịtrường chứng khoán trong khu vực, đồng thời tạo tính thanh khoản cao hơn chodoanh nghiệp đi kèm với việc giúp cho các thị trường chứng khoán đồng bộ trongviệc chuẩn hóa các kết nối về pháp lý và kỹ thuật Tiếp theo, thị trường chứngkhoán liên kết thông qua hoạt động thanh toán bù trừ, thực chất là sự phát triển caohơn về mặt kỹ thuật của xu hướng niêm yết chéo Ý nghĩa của cấp độ này sẽ đượcthể hiện cao hơn nếu như có sự liên kết chéo giữa nhiều quốc gia bởi lẽ điều này sẽhình thành nên một trung tâm thanh toán bù trừ đa quốc gia đủ khả năng thực hiệncác hoạt động thanh toán bù trừ tại nhiều thị trường chứng khoán tạo điều kiện chọnhà đầu tư có thể thực hiện các hoạt động giao dịch liên tục ở nhiều quốc gia khácnhau Qua đó, tính thanh khoản của thị trường chứng khoán các quốc gia sẽ nânglên mạnh mẽ, đồng thời giúp cho luồng vốn dịch chuyển liên tục Kết nối thị trườnggiữa Singapore – Australia, kết nối Malaysia – Australia hay niêm yết chéo các tạicác Sở Giao dịch chứng khoán London, Singapore, Hàn Quốc và Malaysia là những
ví dụ điển hình cho cấp độ này
Ở cấp độ cao hơn, các thị trường chứng khoán kết nối với nhau, đặc biệthướng tới các Sở Giao dịch chứng khoán Hoạt động này tạo điều kiện cho các SởGiao dịch chứng khoán trực tiếp kết nối để hình thành nên một mạng lưới Sở Giaodịch chứng khoán đồng bộ về mặt công nghệ, hài hòa các tiêu chuẩn pháp lý vàniêm yết Điển hình là sự xuất hiện của ba liên minh Sở Giao dịch chứng khoánNorex, Euronext và OMX Năm 1997, Liên minh Sở Giao dịch chứng khoán Norexđược thành lập thông qua sự hợp tác giữa Sở Giao dịch chứng khoán Thụy Điển và
Sở Giao dịch Chứng khoán Đan Mạch với mục đích để thiết lập một thị trườngchứng khoán liên kết khối Bắc Âu Năm 2000, Liên minh Sở Giao dịch chứngkhoán Euronext được thành lập từ sự liên kết, sát nhập ba thị trường cổ phiếu và sảnphẩm phái sinh của Amsterdam, Bruxelles và Paris, với mục tiêu tạo ra tính thanhkhoản cao cho các nhà đầu tư, đồng thời giảm thiểu chi phí giao dịch Năm 2004,Liên minh Sở Giao dịch chứng khoán OMX được ra đời từ sự liên kết, sát nhập SởGiao dịch chứng khoán Helsinki của Phần Lan (HEX) với Sở Giao dịch hợp đồngtương lai của Thụy Điển
Trang 37Hiện nay, mức độ hội nhập thị trường chứng khoán Việt Nam với hầu hết cácthị trường quốc tế mới dừng ở giai đoạn sơ khai và sơ bộ đạt tới mức thứ hai vớimột vài đối tác Các Sở Giao dịch chứng khoán Việt Nam thiết lập cơ chế trao đổithông tin về niêm yết song song, hỗ trợ cung cấp thông tin, phát triển sản phẩm, hệthống giao dịch, phát triển quản trị công ty, tổ chức hội nghị, hội thảo với cácđối tác là các Sở Giao dịch chứng khoán của nhiều quốc gia trên thế giới như NhậtBản, Đài Loan, Hàn Quốc, London và hầu hết các quốc gia Đông Nam Á; đồngthời, tìm kiếm khả năng hợp tác chiến lược thông qua niêm yết chéo và giao dịchchéo với Sở Giao dịch chứng khoán Malaysia (từ 2007), Thâm Quyến (từ 2011) vàThái Lan (từ 2014).
Trang 38CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Lý thuyết mô hình tự hồi quy Véctơ (Vector Autoregression – VAR)
3.1.1 Khái niệm về mô hình tự hồi quy Véctơ
Trong mô hình hệ phương trình đồng thời truyền thống (SimultaneousEquations Model), một số biến được coi là nội sinh và một số được coi là ngoại sinhhay đã xác định trước Trước khi ước lượng, ta cần đảm bảo chắc chắn rằng cácphương trình trong hệ được nhận dạng bằng cách giả thiết rằng một số biến xác địnhtrước chỉ có mặt trong một số phương trình Việc giả thiết này thường mang tínhchủ quan và bị Christopher Sims chỉ trích mạnh mẽ (C.A Sims, 1980)
Theo Sims, nếu có sự đồng thời giữa một tập hợp các biến thì chúng phải đượcxét trên cùng một cơ sở; không có một sự phân biệt tiên nghiệm nào đối với cácbiến nội sinh và ngoại sinh Đây là cơ sở để Sims xây dựng mô hình VAR
Mô hình VAR là mô hình véctơ các biến số tự hồi quy Mỗi biến số phụthuộc tuyến tính vào các giá trị trễ của biến số này và giá trị trễ của các biến sốkhác Các biến trong mô hình đều là biến nội sinh, không có biến ngoại sinh.Thuật ngữ “tự hồi quy” là do sự xuất hiện của các giá trị trễ của các biến phụthuộc trong vế phải, “véctơ” bắt nguồn từ việc mô hình được tiến hành với mộtvéctơ của hai hay nhiều biến
Mô hình VAR đơn giản với 2 biến và độ trễ 1 có dạng như sau:
Trong đó: y 1,t và y 2,t là hai biến số kinh tế được bố trí nằm trong một véctơ và
được hồi quy theo hai biến độc lập tương ứng là giá trị quá khứ của
từng biến y 1,t–1 và y 2,t–2
u 1,t và u 2,t là các sai số nhiễu trắng (white noise).
Hệ số a ii,l đo lường tác động của biến trễ y i,t–l lên biến y i,t
Hệ số a ij,l đo lường tác động của biến trễ y i,t–l lên biến y i,t
Mô hình VAR dạng tổng quát, hay còn gọi là mô hình TVP – VAR (Mô hìnhVAR với các tham số thay đổi theo thời gian – Timevarying Parameter VAR
model) bao gồm k biến giải thích, p độ trễ Như vậy, số lượng tham số được ước
Trang 39lượng trong mô hình sẽ là k+pk 2 hay mỗi phương trình trong k phương trình sẽ có 1+pk tham số được ước lượng Số lượng tham số được ước lượng càng nhiều thì sai
số ước lượng trong dự báo sẽ càng cao Trong thực tế, thông thường người ta duy trì
k nhỏ và chỉ bao gồm những biến có sự tương quan cao với nhau.
3.1.2 Lý do lựa chọn mô hình tự hồi quy Véctơ
Trong quá trình tìm hiểu tổng quan nghiên cứu của đề tài, người viết nhận thấyrằng các đề tài nghiên cứu với quy mô và mục tiêu nghiên cứu tương tự cũng sửdụng mô hình tự hồi quy Véctơ, tiêu biểu như bài nghiên cứu “Modelling VolatilitySpillover Effects Between Developed Stock Markets and Asian Emerging StockMarkets” (Diebold, 2009)
Tác giả lựa chọn mô hình tự hồi quy Véctơ để tiến hành ước lượng và kiểmđịnh bởi vì các ưu điểm của phương pháp này:
Một, đây là phương pháp đơn giản; ta không cần phải lo lắng về việc xác định
các biến nào là biến nội sinh và biến nào là biến ngoại sinh Tất cả các biến trongVAR đều là biến nội
Hai, phép ước lượng đơn giản, tức là, phương pháp bình phương nhỏ nhất
thông thường có thể được áp dụng cho từng phương trình riêng rẽ
Ba, các dự báo tính được bằng phương pháp này, trong nhiều trường hợp, tốt
hơn các dự báo tính được từ các mô hình phương trình đồng thời phức tạp hơn (D
E Runkle, 1987)
3.1.3 Quy trình ước lượng và dự báo mô hình VAR
Sơ đồ 3.1: Quy trình ước lượng và dự báo mô hình VAR
Kiểm định nhân quả Granger
Hàm phản ứng đẩy
Phân rã phương sai
Phân tích trượt mẫu
Kiểm định tính ổn định của
mô hình
Trang 40(Nguồn: Tác giả tổng hợp) 3.1.3.1 Kiểm định tính dừng của các chuỗi thời gian
Một trong những giả thiết của mô hình VAR là các biến phải có tính dừng.Theo Gujarati (2003) một chuỗi thời gian là dừng khi giá trị trung bình, phương sai,hiệp phương sai (tại các độ trễ khác nhau) giữ nguyên không đổi cho dù chuỗi đượcxác định vào thời điểm nào đi nữa
Kiểm định nghiệm đơn vị là một kiểm định được sử dụng khá phổ biến đểkiểm định một chuỗi thời gian là dừng hay không dừng Dickey và Fuller (1981) đãđưa ra kiểm định Dickey và Fuller (DF) và kiểm định Dickey và Fuller mở rộng(ADF) Nghiên cứu này sử dụng kiểm định ADF để thực hiện kiểm định nghiệmđơn vị nên chỉ tập trung vào lý thuyết của mô hình này Cụ thể, theo Dickey vàFuller (1981) mô hình kiểm định nghiệm đơn vị mở rộng ADF có dạng:
Nhiễu trắng là số hạng chỉ sai số ngẫu nhiên xuất phát từ các giả định cổ điểnrằng nó có giá trị trung bình bằng 0, phương sai là hằng số và không tự tương quan.Nghiên cứu sẽ tiến hành kiểm định trong cả hai trường hợp không có và có xuhướng về thời gian bằng cách sử dụng lần lượt các mô hình (1) và (2)
Kết quả của kiểm định ADF thường rất nhạy cảm với sự lựa chọn chiều dài độ
trễ k nên tiêu chuẩn thông tin AIC (Akaike’s Information Criterion) của Akaike (1973) được sử dụng để chọn lựa k tối ưu cho mô hình ADF Cụ thể, giá trị k được