CƠ sở lý LUẬN về QUẢN lý GIÁO dục kĩ NĂNG SỐNG CHO học SINH dân tộc THIỂU số ở TRƯỜNG TRUNG học PHỔ THÔNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CƠ sở lý LUẬN về QUẢN lý GIÁO dục kĩ NĂNG SỐNG CHO học SINH dân tộc THIỂU số ở TRƯỜNG TRUNG học PHỔ THÔNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM
Trang 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÔNG QUA HOẠT
ĐỘNG TRẢI NGHIỆM
Trang 2- Tổng quan nghiên cứu vấn đề liên quan đến đề tài luận văn
- Ở ngoài nước
Vào cuối những năm 1960, thuật ngữ KNS được đưa rabởi những nhà tâm lí học thực hành, coi đó như một khả năng
xã hội rất quan trọng trong việc phát triển cá nhân [39] Năm
1979, Tiến sĩ người Mỹ, Gilbert Botvin - nhà khoa học hành vi
và giáo sư tâm thần học - đã nghiên cứu và đưa ra một chươngtrình đào tạo KNS có hiệu quả cao cho thanh thiếu niên từ lớp 7tới lớp 9 Thông qua các môđun tương tác, chương trình củaông đã tạo cơ hội cho người học được tiếp cận với những kĩnăng xã hội như: quyết đoán, tư duy phê phán, ra quyết định,giải quyết vấn đề để thể hiện sự từ chối sử dụng các chất gâynghiện Chương trình đào tạo KNS của Botvin đã được triểnkhai trong nhiều trường học khác nhau, từ các trường công lậpđến các trung tâm tạm giam người chưa thành niên và đã thuđược nhiều kết quả ấn tượng Nó không chỉ giúp ngăn ngừa hútthuốc trong thanh thiếu niên mà còn giúp tăng thêm giá trị trongmối quan hệ giữa giáo viên và học sinh, tăng kết quả học tập và
sự quan tâm của nhà trường [46] Với sự tài trợ của các tổ chức
Trang 3quốc tế như: UNICEF, UNESCO, UNFPA, WHO, chương trìnhGDKNS đã được phát triển rộng khắp Thông qua mạng lướitoàn cầu, các tổ chức đã mở các cuộc hội thảo, cung cấp tài liệu,đồng thời phối hợp với nhau để đẩy mạnh hoạt động GDKNStrong thanh thiếu niên thông qua các cách tiếp cận khác nhau.Chương trình này đã được thực hiện và phát triển mạnh trongkhu vực Mỹ Latinh và Caribe (bao gồm: Chile, Colombia,Mexico, Peru, Venezuela, Uruguay, Brazil, Costa Rica và vùngCaribe), khu vực Nam Phi và Botswana, khu vực Châu Á(Bangladesh, Bhutan, Campuchia, Trung Quốc, Ấn Độ, Mông
Cổ, Nepal, Srilanka, Campuchia, Indonesia, Lào, Myanmar,Philipines, Thái Lan, Việt Nam) [40]; [46]; [31]; [58]; [38];[27]; [30]; [34]
Tại Mỹ Latinh, năm 1996, một cuộc hội thảo về KNS được
tổ chức tại Costa Rica nhằm đẩy mạnh giáo dục sức khoẻ thôngqua giáo dục kĩ năng sống trong các trường học và coi đó nhưmột trong những ưu tiên của mạng lưới y tế tại đây [46] Tạivùng biển Caribe, các cơ quan Liên Hiệp Quốc phối hợp vớiĐại học Tây Ấn, Bộ Giáo dục và Bộ Y tế đã tiến hành nghiêncứu và đưa chương trình giảng dạy KNS vào các bậc học: mẫu
Trang 4giáo, tiểu học và trung học trên toàn vùng Caribe thông quacách tiếp cận giáo dục sức khoẻ và cuộc sống gia đình [46] TạiBotswana và Nam Phi, bắt đầu từ năm 1996, được sự hỗ trợ bởiTrung tâm Chính sách quốc tế về rượu (ICAP), chương trình
“Growing Up” (1996-1999) được ra đời nhằm thực hiệnGDKNS cho một số trường tiểu học ở khu vực này Chươngtrình “Growing Up” được thiết kế để giúp người học tìm hiểumột số kĩ năng liên quan đến cuộc sống hàng ngày của các em,bao gồm 7 chủ đề rộng: (1) Xây dựng một lớp học chia sẻ; (2)học tập hợp tác, làm việc nhóm, giao tiếp, lắng nghe và kết bạn;(3) đối phó với tình cảm và cảm xúc; (4) Ra quyết định; (5) lớnlên khoẻ mạnh; (6) giúp đỡ để trường học và gia đình trở thànhnơi an toàn hơn; (7) mỗi cá nhân là một người đặc biệt Chươngtrình này đã đạt được nhiều thành công lớn và càng được mởrộng với sự nhấn mạnh thêm về HIV/AIDS [31] Tại khu vựcChâu Á, được sự tài trợ của các tổ chức quốc tế, đặc biệt làUNICEF, UNESCO, UNFPA, các nội dung về GDKNS đã đượcnghiên cứu và triển khai rộng khắp ở cả Nam Á (Bangladesh,Bhutan, ấn Độ, Nepal, Sri Lanka), Đông Á (Trung Quốc), Trung
Á (Mông Cổ), Đông Nam Á (Campuchia, Indonesia, Lào,Myanmar, Philipin, Thái Lan, Đông Timor, Việt Nam) [33];
Trang 5[37]; [38] Tại khu vực Đông Nam Á, các nghiên cứu về giáodục dựa trên KNS xuất hiện ở các quốc gia chủ yếu vào 5 nămcuối của thế kỉ XX [33]; [38] Dựa trên các cách tiếp cận khácnhau qua từng lĩnh vực cụ thể, các quốc gia đã từng bước triểnkhai để đưa KNS vào giáo dục ở trong và ngoài nhà trường.KNS được coi như một phương tiện hiệu quả trong việc pháttriển kĩ năng trong thanh thiếu niên để có thể lựa chọn lối sốnglành mạnh và tối ưu về mặt thể chất, xã hội và tâm lí Ở TháiLan, năm 1996, GDKNS được nghiên cứu và triển khai cùngchương trình ngăn chặn AIDS Chương trình được thực hiện ở
cả ba bậc học phổ thông, chủ yếu thông qua các hoạt động ngoạikhoá Hiện nay, Thái Lan đang trong giai đoạn duy trì và mởrộng phát triển GDKNS trên nhiều lĩnh vực khác nhau và coi đónhư là nội dung bắt buộc phải đưa vào giảng dạy trong chươngtrình của nhà trường ở tất cả các cấp học [33]; [38] ỞIndonesia, năm 1997, GDKNS được đưa ra qua chương trìnhGDKNS cho cuộc sống khoẻ mạnh, thực hiện trong cấp tiểuhọc Từ năm 2001, chính phủ Indonesia đã nỗ lực đưa KNS vàotrong chương trình giảng dạy của giáo dục cơ bản Nội dungGDKNS bao gồm: GDKNS cho sống khoẻ mạnh (dinh dưỡng,giáo dục vệ sinh, trẻ em/ nhân quyền); GDKNS cho phòng
Trang 6chống HIV/AIDS [33];[38] Ở Philippin, KNS bắt đầu được tíchhợp giảng dạy vào trong chương trình giáo dục cơ bản từ năm
2001 Bên cạnh các chương trình tiếp cận KNS trong giáo dục,Philippin còn triển khai GDKNS trong quân sự, nhằm lồng ghépđưa 11 KNS cốt lõi (tư duy phản biện, tư duy sáng tạo, giảiquyết vấn đề, ra quyết định, tự nhận thức, đối phó với cảm xúc,đối phó với căng thẳng, đồng cảm, giao tiếp hiệu quả, kĩ năngquan hệ tích cực, kĩ năng sản xuất kinh doanh) vào chương trìnhgiảng dạy [33]; [29]; [38] Ở Lào, năm 1998, các nghiên cứu vềKNS bắt đầu phát triển Nhìn chung, GDKNS ở Lào được thựchiện thông qua các nội dung cơ bản: phòng chống HIV/AIDS;phòng chống ma tuý và sử dụng rượu, thuốc lá; phòng chốngdịch bệnh; sức khoẻ sinh sản; vấn đề giới; vệ sinh; giáo dục dânsố; bảo vệ môi trường; các mối quan hệ với gia đình và bạn bè;trách nhiệm công dân Các nội dung này được đưa vào trongchương trình giảng dạy của 5 môn học: Thế giới xung quanh ta(ở tiểu học); Sinh học, Công dân, Địa lí, Khoa học tự nhiên (ởtrung học) [33]; [38] Ở Myanmar, năm 1998, dự án “Chươngtrình giáo dục sống khoẻ mạnh và phòng chống HIV/AIDS dựavào trường học” (School-based healthy living and HIV/AIDSpreventive education) (SHAPE) được bắt đầu Dự án này là sự
Trang 7hợp tác giữa chính phủ Myanmar và tổ chức UNICEF nhằm đưaKNS vào trong giáo dục để thúc đẩy lối sống lành mạnh vàngăn ngừa lây nhiễm HIV Nội dung của dự án tập trung vàocác vấn đề y tế và xã hội liên quan đến trẻ em, thanh thiếu niên
và đã có tác động rộng lớn trên cả quốc gia Myanmar [33]; [41;[38]
Ở Campuchia, năm 2001, chương trình GDKNS được pháttriển bởi một nhóm liên ngành của Bộ Giáo dục, thanh niên vàthể thao (MoEYS) Chương trình này là một phần của kế hoạchquốc gia “Giáo dục cho mọi người”, được thực hiện ở cả chínhkhoá và ngoại khoá trong cả hai cấp học: tiểu học và trung học.Một số dự án thí điểm đã được thực hiện bởi MoEYS cùng với
sự hỗ trợ của một số tổ chức phi chính phủ để phát triển cácKNS, cùng với nó là phát triển các tập sách về KNS (tập trungvào nông nghiệp, chăn nuôi và vệ sinh) [33]; [38] Đến nay, trênthế giới đã có rất nhiều công trình, dự án nghiên cứu về KNS vàGDKNS Đối tượng, phạm vi nghiên cứu cũng rất phong phú,
đa dạng cả trong lĩnh vực chính quy và không chính quy, trong
đó số lượng các công trình nghiên cứu về GDKNS cho trẻ em
và vị thành niên chiếm ưu thế hơn Nhìn chung, trong các
Trang 8nghiên cứu này, KNS và GDKNS đã được chỉ ra khá rõ về vaitrò, khái niệm, cách phân loại, các nguyên tắc, lí thuyết nền tảnglàm cơ sở cho việc tiếp cận GDKNS Việc triển khai GDKNScũng được áp dụng mạnh mẽ vào trong giáo dục chính quy vàgiáo dục không chính quy Trong hệ thống giáo dục chính quy,việc đưa các KNS lồng ghép, tích hợp vào các môn học đượcgiảng dạy ở nhà trường là biện pháp được nhiều quốc gia lựachọn và đã đạt được nhiều kết quả tốt.
- Ở trong nước
Từ những năm 1995- 1996, thuật ngữ “kĩ năng sống” bắtđầu được biết đến ở Việt Nam qua dự án của Quỹ Nhi đồngLiên Hợp Quốc (UNICEF) phối hợp với Bộ Giáo dục và Đàotạo cùng Hội Chữ thập đỏ Việt Nam thực hiện chương trình:
“GDKNS để bảo vệ sức khoẻ và phòng chống HIV/AIDS chothanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” Chương trình nàyđược tập huấn dưới sự dẫn dắt bởi các chuyên gia Australia.Thông qua dự án này, UNICEF đã giới thiệu tại Việt Nam cácKNS cơ bản như: Tự nhận thức, giao tiếp, xác định giá trị, raquyết định, kiên định và thiết lập mục tiêu nhằm vào các chủ đềgiáo dục sức khoẻ [21]; [22] Năm 2003, hội thảo “Chất lượng
Trang 9giáo dục và KNS” do UNESCO phối hợp với Viện Chiến lược
và Chương trình giáo dục tổ chức từ 23- 25 tháng 10 tại Hà Nội
đã làm rõ hơn, đầy đủ hơn về khái niệm KNS KNS được tiếpcận dựa trên bốn trụ cột của việc học trong báo cáo của Delors:
“Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để tựkhẳng định” và KNS được coi như là năng lực cá nhân để thựchiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàngngày [21]; [22] Năm 2003- 2004, Viện Chiến lược và Chươngtrình giáo dục phối hợp với tổ chức UNESCO triển khai nghiêncứu về “GDKNS ở Việt Nam” Nghiên cứu này sau đó đã đượcxuất bản thành sách năm 2006 Trong nghiên cứu này, các tácgiả đã tập trung nghiên cứu, tìm hiểu về: Quá trình nhận thức vềKNS và tổng quan các chủ trương, chính sách, điều luật phảnánh yêu cầu tiếp cận kĩ năng sống trong giáo dục và quá trìnhnghiên cứu, thực hiện GDKNS ở Việt Nam; Thực trạng giáodục kĩ năng sống cho người học từ trẻ mầm non đến người lớn ởViệt Nam; Khái quát được cách thức giáo dục kĩ năng sống ởViệt Nam, những phương pháp cụ thể và hình thức đã được sửdụng để tiến hành GDKNS; Đánh giá về GDKNS ở Việt Nam
và rút ra những bài học kinh nghiệm; Xác định những tháchthức và định hướng trong tương lai để đẩy mạnh GDKNS ở Việt
Trang 10Nam trên cơ sở thực tiễn Việt Nam và đối chiếu với mục tiêu 3
và mục tiêu 6 của Chương trình Hành động Dakar [21] Năm
2005, có một số tài liệu, đề tài nghiên cứu được triển khai liênquan đến GDKNS trong các trường trung học cơ sở và trunghọc phổ thông như: Dự án VIE 01/10 do UNFPA tài trợ “Giáodục dân số và sức khoẻ sinh sản vị thành niên thông qua hoạtđộng ngoại khoá trong nhà trường”; đề tài cấp Bộ “Giáo dụcmột số KNS cho học sinh trung học phổ thông”, mã số B 2005-75- 126 do trung tâm nghiên cứu Giáo dục học, trường Đại học
Sư phạm Hà Nội triển khai nghiên cứu, nội dung các đề tài nàychủ yếu đề cập đến thực trạng, quan niệm GDKNS, những KNScần được giáo dục cho lứa tuổi học sinh trung học phổ thông ởViệt Nam [3]; [21] Đến năm 2007, các kết quả nghiên cứu của
đề tài đã được biên tập và in thành sách: “Giáo dục kĩ năngsống” (2007), “Giáo trình chuyên đề GDKNS” (2009, 2010)được sử dụng làm giáo trình, tài liệu tham khảo cho các trườngcao đẳng, đại học Nhìn chung, các nghiên cứu này đã đưa ranhững vấn đề chung về KNS: quan niệm, đặc tính, cách phânloại KNS và vai trò cấp thiết của việc GDKNS trong xã hội hiệnđại; đồng thời thiết kế một số chủ đề GDKNS cho học sinhTHPT Qua đó, người học có cái nhìn tổng quan về KNS và
Trang 11GDKNS, có những KNS cần thiết cho chính bản thân mình, đặcbiệt có thể vận dụng để khai thác tiềm năng GDKNS trong cácchương trình giáo dục hiện nay thông qua việc tổ chức dạy họccác môn học và các hoạt động giáo dục ở nhà trường [3] Năm2010- 2011, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có công văn triển khai
số 453/KH-BGDĐT ngày 30/07/2010 về việc tăng cường thựchiện GDKNS trong tất cả các bậc học Theo chủ trương này, Bộ
đã cho phép thực hiện biên soạn và xuất bản bộ tài liệu về tíchhợp GDKNS qua dạy học các môn học ở cả ba cấp học phổthông Trong các tài liệu này, các tác giả đã nêu khá rõ kháiniệm, các cách phân loại, nguyên tắc, phương pháp tiếp cận,quy trình để GDKNS, đồng thời chỉ ra nội dung KNS được tíchhợp trong các môn học ở nhà trường và đưa ra những hướngdẫn cụ thể để giáo viên trong trường phổ thông có thể thực hiệnđược tốt việc đưa GDKNS vào tích hợp giảng dạy trong cácmôn học ở nhà trường Tuy nhiên, các hướng dẫn của Bộ đượcđưa ra trong các tài liệu này mới chỉ đề cập đến những vấn đềchung, cơ bản về KNS và GDKNS cho tất cả các cấp học phổthông ở tất cả các khu vực, địa bàn trên cả nước, chưa có nhữnghướng dẫn, chương trình cụ thể cho việc GDKNS trong các nhàtrường cho các đối tượng học sinh khác nhau ở các khu vực sinh
Trang 12sống khác nhau [4]; [5]; [6]; [7]; [8]; [9] Bên cạnh nhữngnghiên cứu liên quan đến GDKNS trong giáo dục phổ thông ởnước ta, còn có một số chương trình, dự án và tài liệu nghiêncứu khác đề cập đến GDKNS trong giáo dục thường xuyên Cóthể kể ra một vài chương trình, dự án tiêu biểu như: Dự án Dân
số và sức khoẻ sinh sản (Tổ chức dân số và phát triển quốc PDI và Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc – UNFPA tài trợ); Dự án
tế-“GDKNS ở trung tâm học tập cộng đồng” (2005); tế-“GDKNScho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn” (Dự án hợp tác Viện Khoahọc Giáo dục Việt Nam với văn phòng UNESCO Hà Nội,2006) [22];[24];[3]
Như vậy, nhiều quốc gia đã thực hiện GDKNS thông qua nhiều hình thức trải nghiệm khác nhau song có thể khái quát thành hai hình thức: trong dạy học các môn học và ngoài các môn học Các cơ sở lí luận về KNS đã được hình thành khá rõ với các khái niệm, nội dung, các cách phân loại KNS; các con đường thực hiện GDKNS; nguyên tắc, phương pháp GDKNS Tuy nhiên, trong các nghiên cứu về KNS hiện nay, đặc biệt những nghiên cứu về quản lý giáo dục KNS thông qua hoạt động trải nghiệm còn mới mẻ Do đó, nghiên cứu về lí luận và
Trang 13thực tiễn quản lý GDKNS thông qua trải nghiệm thực sự là khoảng trống, cần nghiên cứu làm rõ, đặc biệt ở các trường THPT huyện Lâm Hà tỉnh Lâm Đồng.
- Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh dân tộc thiểu số ở trường trung học phổ thông qua hoạt động trải nghiệm
- Các khái niệm cơ bản
* Khái niệm kĩ năng và kĩ năng sống
Kĩ năng: Theo từ điển Tiếng Việt của Trung tâm từ điểnhọc Hà Nội, kĩ năng là “khả năng vận dụng những kiến thức thunhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” [20; tr.517].Theo cách giải thích này thì kĩ năng và kiến thức luôn gắn liền
và có quan hệ mật thiết với nhau Kĩ năng gắn với việc chủ thểđưa kiến thức đã được học vào hành động trong thực tế Theo từđiển Anh - Anh: kĩ năng (Skill) được mô tả là khả năng đưa racác giải pháp trong một số vấn đề nhất định, nó có thể đượchình thành thông qua rèn luyện, đào tạo Còn “ability” được mô
tả là các phẩm chất bên trong cá nhân, tạo điều kiện thuận lợi để
họ tạo ra những thành công hay thành tích nào đó, “ability” cóthể hiểu là khả năng thuộc về lĩnh vực tâm lí, nó mang những
Trang 14đặc điểm tâm lí của con người, nó là yếu tố tạo ra tính khả thitrong sự thành công của một cá nhân Như vậy, kĩ năng có bảnchất tâm lí nhưng có biểu hiện cụ thể là hành động, hoạt độngcủa cá nhân, nó có thể rèn luyện được và là yếu tố tạo ra sựthành công trong cuộc sống của con người Trong tâm lí học, khibàn về kĩ năng, các nhà nghiên cứu như: Ph.N.Gônôbôlin,N.D.Lêvitôv, V.V.Bôgxloxki, K.K.Platônôv cũng đưa ra nhiềuquan niệm khác nhau, nhưng nhìn chung, các nhà nghiên cứuđều cho rằng: kĩ năng và tri thức luôn gắn liền và có mối quan
hệ mật thiết với nhau, có tri thức (hiểu được biểu hiện, ý nghĩa,mục đích, cách thực hiện…) thì mới có kĩ năng (thực hiện hànhđộng trong thực tiễn ứng với các điều kiện, hoàn cảnh khácnhau), và khi chủ thể thực hiện kĩ năng thì sẽ khẳng định lại vốntri thức, hiểu biết của chính chủ thể về những vấn đề liên quanđến hành động của chính họ Nói cách khác kĩ năng được hìnhthành thông qua việc lĩnh hội tri thức và kinh nghiệm rèn luyệnthực tế của chính chủ thể KN vừa có tính ổn định, vừa có tínhmềm dẻo, linh hoạt, có mục đích cụ thể Theo Đặng ThànhHưng, “kĩ năng là một dạng hành động được thực hiện tự giácdựa trên tri thức về công việc, khả năng vận động và những điềukiện sinh học-tâm lí khác của cá nhân (chủ thể có kĩ năng đó)
Trang 15như nhu cầu, tình cảm, ý chí, tính tích cực cá nhân… để đạtđược kết quả theo mục đích hay tiêu chí đã định, hoặc mức độthành công theo chuẩn hay quy định” [15] Theo WHO, “kĩnăng là khả năng cho phép con người thực hành một hành vinhất định” [45; tr.8] Theo cách giải thích này thì kĩ năng luôngắn liền với năng lực hoạt động, làm việc, giải quyết vấn đề củacon người Do đó, kĩ năng hoàn toàn có thể nhận thấy, đo đạc vàđánh giá được Điều đó cũng có nghĩa rằng để có được kĩ năngthì con người cần phải trải qua một quá trình rèn luyện, thựchành các hành vi của bản thân trong thực tiễn cuộc sống Mặc
dù có nhiều quan niệm khác nhau về kĩ năng, chủ yếu là khácnhau ở phạm vi vận dụng tri thức của chủ thể hành động vàothực tiễn, nhưng nhìn chung các tác giả đều thống nhất ở cácđiểm sau:
- Thứ nhất, KN có nguồn gốc tâm lí, nhưng có hình thứcvật chất là hành vi hoặc hành động, kĩ năng luôn gắn liền vớiviệc thực hiện các thao tác hay hành động nhất định
- Thứ hai, KN luôn gắn liền với tri thức, tức là nó gắn liềnvới việc triển khai và vận dụng những kiến thức mà cá nhân lĩnhhội được thông qua quá trình học tập, rèn luyện vào thực tiễn
Trang 16- Thứ ba, KN hoàn toàn có thể giáo dục và rèn luyện được.
Sự hình thành và mức độ phát triển của kĩ năng thể hiện quatính đúng đắn, thành thạo và sáng tạo của chủ thể hành động
Nó được tích lũy, rèn luyện thông qua sự kết hợp giữa tri thức
và kinh nghiệm của mỗi cá nhân trong các hoạt động thực tiễnhàng ngày Từ những đặc điểm trên, chúng tôi quan niệm: kĩnăng là khả năng chủ thể thực hiện được hành động dựa trênvốn tri thức, kinh nghiệm đã có để đạt được kết quả theo nhữngtiêu chí nhất định, phù hợp với mục đích và điều kiện hànhđộng
Như vậy, kĩ năng có các đặc điểm cơ bản sau:
- Kĩ năng cho phép con người thực hiện các hành động cụthể, có tính khoa học, cá nhân, có tính chuẩn mực nhất định và
có thể đánh giá được dựa trên những tiêu chí nhất định
- Kĩ năng luôn có tính linh hoạt trong những hoàn cảnhkhác nhau sao cho phù hợp với mục đích, điều kiện thực hiện
- Kĩ năng của một con người chỉ quan sát và đánh giá đượcthông qua hành động cụ thể của họ trong các tình huống thựctiễn
Trang 17- Kĩ năng có thể rèn luyện được thông qua sự lĩnh hội cáctri thức khoa học cùng với những hành động cụ thể của cá nhântrong cuộc sống.
- Kĩ năng và tri thức luôn gắn liền và có quan hệ chặt chẽvới nhau
Kĩ năng sống
Cho đến nay, có rất nhiều cá nhân, tổ chức cùng nghiêncứu về KNS, tuy nhiên chưa có một sự thống nhất chung, rõràng về khái niệm này Tuỳ thuộc vào người sử dụng hay tiếpcận ở góc độ, lĩnh vực nào mà KNS được mô tả với nội hàm, ýnghĩa khác nhau Theo UNESCO (Hà Nội, 2003): KNS là khảnăng của cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và thamgia vào cuộc sống hàng ngày [22]; [21]; [24]; [35] Như vậy,theo UNESCO, khái niệm KNS được hiểu theo nghĩa rộng, gắnvới toàn bộ khả năng của con người khi tham gia vào tất cả cáchoạt động của xã hội Khả năng cá nhân này không chỉ chịu sựchi phối và ảnh hưởng đến bản thân cá nhân mà nó còn tác độngtới các cá nhân khác trong xã hội khi cá nhân thực hiện quátrình tham gia vào cuộc sống hàng ngày Theo WHO (1993):KNS là khả năng thích ứng và thực hành các hành vi tích cực
Trang 18giúp cá nhân có thể giải quyết vấn đề có hiệu quả và khắc phụcnhững khó khăn của cuộc sống hàng ngày KNS bao gồm mộtnhóm các năng lực tâm lí xã hội và kĩ năng nhận biết, làm chủbản thân để giúp mọi người thông báo, ra quyết định, giải quyếtvấn đề, suy nghĩ, phê bình, sáng tạo và giao tiếp hiệu quả, xâydựng mối quan hệ lành mạnh, thông cảm với người khác và đểđối phó với những thách thức của cuộc sống KNS có thể dẫnđến các hành động đối với bản thân cá nhân hay hành động đốivới những người khác, cũng như những hành động đối với môitrường để làm cho nó trở nên thân thiện và an toàn [45]; [41];[42]; [43]; [44] So sánh cách biểu đạt khái niệm KNS củaWHO với cách biểu đạt khái niệm KNS của UNESSCO chúngtôi thấy rằng: nội hàm khái niệm KNS đã được thu hẹp hơn.KNS được gắn với năng lực tâm lí của mỗi cá nhân và thể hiệnthông qua hành động, cách ứng xử, giao tiếp với người khác(năng lực xã hội) một cách có hiệu quả Theo UNICEF (TháiLan: 1995): KNS là khả năng phân tích tình huống và hành vi,khả năng phân tích hậu quả của hành vi và khả năng phòngtránh một số tình huống nào đó KNS là một cách tiếp cận đểgiải quyết sự cân bằng giữa các yếu tố: kiến thức, thái độ và kĩnăng UNICEF đưa ra quan điểm này dựa trên các bằng chứng
Trang 19nghiên cứu cho thấy: sự thay đổi hành vi của con người khôngthể có được nếu như không có kiến thức, thái độ và kĩ năng dựatrên năng lực của cá nhân [35]; [41] Như vậy, theo quan điểmcủa UNICEF, KNS được xem xét và nhấn mạnh đến việc conngười tham gia phòng tránh và giải quyết các vấn đề trong cuộcsống hàng ngày, đề cao đến khả năng tư duy của con ngườitrong cuộc sống KNS luôn gắn liền với năng lực cá nhân khicon người tham gia phòng tránh và giải quyết các tình huống,vấn đề nảy sinh trong cuộc sống dựa trên những hiểu biết, quanđiểm và thái độ đã có của bản thân Nhìn chung, trên thế giớicho đến nay có rất nhiều các quan niệm về KNS với nội hàmrộng, hẹp khác nhau Tuy nhiên, về cơ bản, có thể chia các quanniệm này thành 2 nhóm:
Nhóm thứ nhất, quan niệm KNS với nội hàm rộng(UNESCO), nó bao gồm tất cả các nhóm kĩ năng Bất cứ cái gìthuộc về khả năng của con người (ability) và được con người sửdụng khi tham gia vào cuộc sống hàng ngày đều là KNS Nhưvậy, KNS được hiểu với phạm vi rất rộng, nó bao gồm tất cả các
kĩ năng cơ bản của của cuộc sống như: kĩ năng đọc, viết, tínhtoán, kĩ năng tìm kiếm việc làm, kiếm tiền, kĩ năng giao tiếp, kĩ
Trang 20năng tư duy…
Nhóm thứ hai, quan niệm KNS với nội hàm hẹp hơn (WHO,UNICEF…), coi KNS là những biểu hiện của nhóm kĩ năngnhận biết, ứng phó với bản thân và kĩ năng xã hội của conngười, giúp cá nhân giải quyết có hiệu quả các tình huống củacuộc sống Tuy quan niệm KNS này có nội hàm hẹp hơn nhưng
nó lại phản ánh sự phức tạp hơn, bởi nó đề cập đến những nănglực tâm lí xã hội (psychosocial competencies) và kĩ năng nhậnbiết, ứng phó với bản thân (interpersonal skills)
Ở Việt Nam, cũng tồn tại nhiều quan niệm khác nhau vềKNS Theo quan điểm gần đây nhất của Viện Khoa học giáodục Việt Nam (2010): KNS bao gồm một loạt các kĩ năng cụthể, cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người Bản chấtcủa KNS là kĩ năng tự quản bản thân và kĩ năng xã hội cần thiết
để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả.Nói cách khác, KNS là khả năng làm chủ bản thân của mỗingười, khả năng ứng xử phù hợp với người khác, khả năng ứngphó tích cực trước các tình huống của cuộc sống [4]; [5]; [6];[7]; [8]; [9] Theo cách biểu đạt này, KNS được mô tả có nhữngđặc điểm tương đồng, giống với cách biểu đạt về KNS của
Trang 21WHO, UNICEF KNS bao gồm các khả năng tâm lí bên trongmỗi cá nhân để làm chủ cảm xúc, hành vi của bản thân và nănglực ứng xử trong thực tiễn bên ngoài khi tham gia vào các hoạtđộng sống, học tập và làm việc.
Trong nghiên cứu này, KNS được quan niệm là: khả năng
cá nhân được thể hiện thông qua hành động làm chủ bản thân,hành động ứng xử tích cực với mọi người xung quanh và ứngphó, giải quyết có hiệu quả các tình huống, vấn đề trong cuộcsống dựa trên những tri thức, thái độ và giá trị mà chủ thể cóđược Theo đó có thể thấy rằng:
- KNS có hình thức vật chất là hành động Nó chỉ được thểhiện khi con người tham gia giải quyết các tình huống, các vấn
đề cụ thể gắn liền với các mối quan hệ với bản thân, với ngườikhác và với xã hội xung quanh
- KNS giúp con người sống thành công và làm việc hiệuquả
- KNS chỉ có được khi cá nhân đã có những tri thức, thái
độ và giá trị nhất định
- KNS khác với các kĩ năng để sống còn (livelihood skills,
Trang 22survival skills) như học chữ, học nghề, làm toán, bơi lội … haycác kĩ năng có thể giúp một người trẻ tuổi tự tìm kiếm việclàm, kiếm tiền cho cuộc sống như: phỏng vấn, tìm kiếm việclàm, mở tài khoản ngân hàng… (nó thuộc về khả năng, nguồnlực và cơ hội để đạt được mục đích cá nhân và kinh tế gia đình,
nó liên quan đến thu nhập) KNS được coi như là những kĩnăng cốt lõi để phát triển con người
* Khái niệm giáo dục kĩ năng sống
Khi nói đến GDKNS, có nhiều cách biểu đạt nhấn mạnhđến những khía cạnh khác nhau như: “GDKNS nhằm tạo thuậnlợi cho việc thực hành, củng cố các kĩ năng tâm lí trong một nềnvăn hoá và phát triển một cách thích hợp, nó góp phần vào việcthúc đẩy phát triển cá nhân và xã hội, phòng chống các vấn đề y
tế, xã hội và việc bảo vệ quyền con người” [43;tr.5] GDKNS là
“hình thành cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, là xâydựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thóiquen tiêu cực trên cơ sở giúp người học có cả kiến thức, giá trị,thái độ và kĩ năng thích hợp”.[3; tr.32] Giáo dục KNS cho HS,với bản chất là “hình thành và phát triển cho các em khả nănglàm chủ bản thân, khả năng ứng xử phù hợp với những người
Trang 23khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tìnhhuống của cuộc sống nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục phổthông”.[4; tr.12] Nhìn chung, các quan niệm về GDKNS trênđây đều được biểu đạt nhấn mạnh đến một khía cạnh nào đó củaquá trình giáo dục KNS, WHO và tác giả Nguyễn Thanh Bìnhnhấn mạnh đến mục đích thực hiện GDKNS, Viện KHGDVNnhấn mạnh đến tính chất và ý nghĩa của GDKNS Trong nộihàm các quan niệm chưa nêu ra được cách thức để thực hiệnGDKNS Giáo dục được hiểu theo nghĩa rộng, hẹp khác nhau Ởcấp độ nhà trường, khái niệm giáo dục chỉ quá trình giáo dụctổng thể (dạy học và giáo dục theo nghĩa hẹp) được thực hiệnthông qua các hoạt động giáo dục Đó là những hoạt động docác cơ sở giáo dục tổ chức, thực hiện theo kế hoạch, chươngtrình giáo dục và trực tiếp điều hành, chịu trách nhiệm vềchúng Trong các hoạt động giáo dục thì hoạt động dạy học giữvai trò nền tảng và chủ đạo Các hoạt động giáo dục được tổchức trên cơ sở các giá trị, nhằm tạo ra môi trường hoạt động vàgiao tiếp có định hướng cho người học, tuân theo những nguyêntắc chung, những mục tiêu chung, những chuẩn mực giá trịchung, những biện pháp chung [2].
Trang 24Dựa vào cách hiểu về khái niệm giáo dục ở cấp độ nhàtrường, căn cứ vào khái niệm về KNS mà đề tài đã xác định,
trong nghiên cứu này, chúng tôi quan niệm rằng: GDKNS là
trang bị cho người học những kiến thức, thái độ, giá trị và tạo
cơ hội cho họ rèn luyện, trải nghiệm trong cuộc sống thực tiễn
từ đó giúp họ có thể làm chủ bản thân, ứng xử tích cực với mọi người xung quanh và ứng phó, giải quyết có hiệu quả các tình huống, vấn đề trong cuộc sống GDKNS thông qua hoạt động
TN ngoài giờ chính khóa là quá trình tổ chức các hoạt động TNtrong thực tế nhằm giúp người học vừa chiếm lĩnh được kiếnthức, hình thành được kĩ năng sống, rèn luyện để có được nhữngKNS nhất định
* Khái niệm trải nghiệm [16]; [19]; [32]
Theo triết học, trải nghiệm được hiểu là kết quả của sự tácđộng qua lại giữa con người với thế giới khách quan Sự tácđộng qua lại này gồm có cả hình thức và kết quả các hoạt độngthực tiễn trong xã hội, gồm cõ cả kỹ thuật và kỹ năng, cả nhữngnguyên tắc hoạt động và phát triển thế giới khách quan.Solovyev V.S.- Nhà triết học vĩ đại người Nga quan niệm rằngtrải nghiệm là tri thức kinh nghiệm thực tế; là thể thống nhất
Trang 25bao gồm tri thức và kỹ năng Trải nghiệm là kết quả của tácđộng qua lại giữa thế giới và con người, được truyền qua nhiềuthế hệ.
Đối với tâm lý học, trải nghiệm thường được xem như lànăng lực của cá nhân, ví dụ Platon K.K nhận định trải nghiệmcũng như sự tích lũy của nhận thức và năng lực (cá nhân, nhóm)tạo lên trong quá trình hoạt động, đào tạo và giáo dục, trong đótổng hợp những tri thức, kỹ năng, khả năng và thói quen Theoquan điểm của tâm lý học giáo dục, A N Leontiev đã giảiquyết được vấn đề trải nghiệm của nhân loại: “Trong cuộc đờimình, con người đã đồng hóa kinh nghiệm của nhân loại, kinhnghiệm của những thế hệ trước Nó diễn ra dưới hình thức nắmvững kiến thức và ở mức độ làm chủ kiến thức”
Lý thuyết về trải nghiệm trở thành đối tượng nghiên cứutrong các tài liệu sư phạm học Các sư phạm quan niệm trảinghiệm được hiểu theo một vài ý nghĩa sau:
Trải nghiệm trong đào tạo là một hệ thống tri thức và kỹnăng có được trong quá trình giáo dục và đào tạo chính quy;
Trải nghiệm là tri thức, kỹ năng mà trẻ tiếp thu được từ
Trang 26bên ngoài các cơ sở giáo dục: thông qua sự giao tiếp với nhau,với người lớn, hay qua những tài liệu tham khảo không đượcgiảng dạy trong nhà trường…
Trải nghiệm (qua thử nghiệm, thực nghiệm) là một trongnhững phương pháp đào tạo, trong điều kiện lý thuyết hay thực
tế nhất định, để tạo ra hoặc minh họa cho một quan điểm lý luận
cụ thể
Kinh nghiệm giảng dạy là hệ thống các phương pháp đàotạo được giáo viên tổng kết và hoàn thiện dần trong quá trìnhlàm việc thực tế của mình
Theo Wikipedia: Trải nghiệm là kiến thức hay sự thànhthạo một sự kiện hoặc một chủ đề bằng cách tham gia hay lĩnhhội nó
* Khái niệm giáo dục kĩ năng sống thông qua trải nghiệm
Hiện nay giáo dục KNS là một nội dung quan trọng đượcthực hiện một cách có hệ thống trong các nhà trường Giáo dụcKNS giúp học sinh rèn luyện hành vi có trách nhiệm đối với bảnthân và cộng đồng, đối phó với những sức ép của cuộc sống,phòng ngừa những hành vi có hại cho thể chất và tinh thần của
Trang 27các em Giáo dục KNS giúp tăng cường khả năng tâm lí, khảnăng thích ứng, giúp các em có cách thức ứng phó với nhữngthách thức của cuộc sống.
Giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động trải nghiệm
là một quá trình được tiến hành bằng việc thực hiện lồng ghép mục tiêu, nội dung giáo dục kỹ năng sống với nội dung trải nghiệm trong và ngoài môn học, là sự vận dụng phối hợp các phương pháp dạy học tích cực, giúp học sinh hình thành hành
vi mới hoặc thay đổi hành vi thói quen theo chiều hướng tích cực và thực hiện có hiệu quả mục tiêu, nhiệm vụ dạy học đề ra.
Việc giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động trảinghiệm được đánh giá là hình thức hiệu quả cho việc tổ chứcthực hiện giáo dục kĩ năng sống Những hoạt động trên tạo điềukiện học sinh hình thành và phát triển những kĩ năng sống cầnthiết, như giao tiếp, giải quyết vấn đề, hợp tác, chia sẻ, ứng phóvới những tình huống trong cuộc sống hàng ngày, đồng thờihọc sinh có cơ hội bộc lộ những kĩ năng sống mà các em đã cóđược
- Phân loại kĩ năng sống
Trang 28Do có nhiều cách tiếp cận, nhiều quan niệm khác nhau vềKNS nên trong cách phân loại KNS cũng tồn tại nhiều cáchphân loại KNS khác nhau Theo tổng hợp của tác giả NguyễnThanh Bình [3], hiện có một số cách phân loại KNS cơ bản sau:Cách thứ nhất là cách phân loại của WHO Dựa trên cách phânloại từ lĩnh vực sức khoẻ, WHO chia KNS thành 3 nhóm: Nhómthứ nhất là kĩ năng nhận thức: tư duy phê phán, tư duy phântích, khả năng sáng tạo, giải quyết vấn đề, nhận thức hậu quả, raquyết định, tự nhận thức, đặt mục tiêu, xác định giá trị ; Nhómthứ hai là các kĩ năng đương đầu với xúc cảm: ý thức tráchnhiệm, cam kết, kìm chế căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tựquản lí, tự giám sát và tự điều chỉnh ; Nhóm thứ ba là kĩ năng
xã hội hay kĩ năng tương tác: giao tiếp, tính quyết đoán, thươngthuyết, từ chối, hợp tác, cảm thông, chia sẻ Cách thứ hai làcách phân loại của UNESCO Theo UNESCO thì 3 nhóm KNS
mà WHO phân loại như trên được coi là những KNS chung.Ngoài ra, còn có những KNS được thể hiện trong những vấn đề
cụ thể khác nhau của đời sống xã hội như: Vệ sinh, sức khoẻ,thực phẩm, dinh dưỡng; Các vấn đề về giới, giới tính, sức khoẻsinh sản; Ngăn ngừa và phòng bệnh HIV/AIDS; … Cách thứ ba
là cách phân loại của UNICEF Với mục đích giúp người học có
Trang 29kĩ năng ứng phó với các vấn đề của cuộc sống và tự hoàn thiệnmình, UNICEF đã đưa ra cách phân loại KNS theo các mốiquan hệ gồm 3 nhóm: Kĩ năng nhận biết và sống với chính mình(tự nhận thức; lòng tự trọng; sự kiên định; đương đầu với cảmxúc; đương đầu với căng thẳng); Kĩ năng nhận biết và sống vớingười khác (kĩ năng quan hệ/ tương tác liên nhân cách; sự cảmthông- thấu cảm; đứng vững trước áp lực tiêu cực của bạn bè vàngười khác; thương lượng; giao tiếp có hiệu quả); Các kĩ năng
ra quyết định một cách có hiệu quả (kĩ năng tư duy phê phán; tưduy sáng tạo; ra quyết định; giải quyết vấn đề) Cách thứ tư làcách phân loại dựa trên sự phân chia các lĩnh vực học tập (theoBloom) Theo cách tiếp cận này, KNS được chia thành 3 nhóm:Nhóm kĩ năng thuộc lĩnh vực nhận thức (kĩ năng tư duy sángtạo và tư duy phê phán); Nhóm kĩ năng thuộc lĩnh vực tình cảm(tự nhận thức; thấu cảm; tự trọng; trách nhiệm xã hội); Nhóm kĩnăng thuộc lĩnh vực tâm vận động (kĩ năng quan hệ liên nhâncách; giao tiếp có hiệu quả; ra quyết định; giải quyết vấn đề;đương đầu với cảm xúc và căng thẳng) Trong giáo dục chínhquy ở nước ta những năm vừa qua, KNS thường được phân loạitheo các mối quan hệ (theo cách phân loại của UNICEF), baogồm ba nhóm: Nhóm các kĩ năng nhận biết và sống với chính
Trang 30mình, bao gồm các KNS cụ thể như: tự nhận thức, xác định giátrị, ứng phó với căng thẳng…; Nhóm các kĩ năng nhận biết vàsống với người khác, bao gồm các KNS cụ thể như: giao tiếp cóhiệu quả, giải quyết mâu thuẫn, thương lượng, từ chối…; Nhómcác kĩ năng ra quyết định một cách có hiệu quả, bao gồm cácKNS cụ thể như: tìm kiếm và xử lí thông tin, tư duy phê phán, tưduy sáng tạo …[21] Ngoài ra, còn có cách phân loại theo cáchchỉ ra từng KNS cụ thể mà một số môn học đang áp dụng: Tựnhận thức; Giao tiếp; Tư duy sáng tạo; Tư duy phê phán; Giảiquyết vấn đề; Làm chủ bản thân [4]; [5]; [6]; [7]; [8]; [9] Nhìnchung, trong thực tế cuộc sống hàng ngày, các KNS không hoàntoàn tách biệt nhau mà giữa chúng luôn có mối quan hệ mật thiết,gắn bó chặt chẽ, bổ sung cho nhau Tùy theo đặc điểm kháchquan và chủ quan của đối tượng người được giáo dục mà tachúng ta xác định và mô tả biểu hiện của các KNS một cách cụthể.
Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi hướng đến cách phânloại chỉ ra từng KNS cụ thể được xác định dựa trên cách tiếpcận: giáo dục các KNS chung, cơ bản và các KNS riêng gắn vớingữ cảnh của đối tượng HS THPT người DTTS thông qua hoạt
Trang 31động trải nghiệm ngoài môn học.
- Đặc điểm giáo dục kĩ năng sống
* GDKNS là quá trình giáo dục có mục đích, nội dung, kếhoạch, biện pháp cụ thể
Mục đích cuối cùng của GDKNS là giúp người học cóđược cuộc sống thành công và hiệu quả khi tham gia vào cáchoạt động hàng ngày Do đó, GDKNS là một quá trình lâu dài,phức tạp, đòi hỏi nhiều lực lượng tham gia Nội dung GDKNSrất phong phú, nó có thể gắn với việc giáo dục để con người cóđược hành động làm chủ bản thân; thích ứng trước những thayđổi của cuộc sống; giáo dục cách sống, cư xử với người khác;giáo dục lối sống lạc quan, tự tin… Nội dung GDKNS rất phongphú Ngoài những KNS chung cần thiết cho tất cả mọi ngườinhư: KN làm chủ bản thân, KN giao tiếp, KN xác định giá trị,
KN kiên định , nó còn có các KNS gắn với những vấn đề cụthể của cuộc sống hàng ngày như: vấn đề vệ sinh, dinh dưỡng,phòng chống HIV/AIDS, vấn đề dân số, chăm sóc sức khỏesinh sản Đối với các đối tượng khác nhau, nội dung GDKNS
là khác nhau, nó thay đổi và phụ thuộc vào đặc điểm địa lí, vănhóa, lứa tuổi… GDKNS là một quá trình lâu dài, phức tạp, đòi
Trang 32hỏi phải kết hợp nhiều lực lượng giáo dục, nhiều đối tượngcùng tham gia Nó không phải chỉ tiến hành trong một vài ngày
mà cần được xây dựng nội dung và lập kế hoạch rõ ràng, trên
cơ sở đó tiến hành theo các biện pháp cụ thể
* GDKNS phải dựa trên nền tảng của GD giá trị
GDKNS nhằm trang bị cho người học những kiến thức,giá trị, thái độ và kĩ năng phù hợp để hướng đến việc hìnhthành những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực; loại bỏ cáchành vi, thói quen tiêu cực xung quanh các mối quan hệ, cáctình huống và hoạt động hàng ngày của con người Do đó, việcGDKNS cần phải định hướng và hình thành cho trẻ những giátrị sống đúng đắn để từ đó trẻ biết nhìn nhận và đánh giá cáiđúng/ cái sai; biết đặt ra mục tiêu và lí tưởng sống đúng đắn để
từ đó rèn luyện được khả năng đứng vững trước những lôi kéo,
rủ rê của bạn bè và người xấu; cư xử đúng mực, giao tiếp cóhiệu quả với những người xung quanh; Khả năng quan sát,phân tích, suy nghĩ, đánh giá để đối phó và giải quyết được cáctình huống khác nhau của đời sống xã hội một cách có hiệuquả… Như vậy, GDKNS và GD giá trị có mối quan hệ gắn kếtchặt chẽ với nhau, GD giá trị sẽ tạo ra nền tảng, định hướng
Trang 33cho việc thể hiện thái độ và hành vi của mỗi cá nhân Nó chiphối đến hành động của chủ thể, đến việc chủ thể ra các quyếtđịnh để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống hàng ngày Do
đó có thể nói rằng, tất cả các quyết định của con người đều dựatrên giá trị, GDKNS là quá trình phải được tiến hành song songvới GD giá trị, nó cũng tuân theo những nguyên tắc của GD giátrị
* GDKNS có tính linh hoạt cao.
GDKNS luôn gắn liền với hành động của con người trongthực tiễn cuộc sống với sự vận động và biến đổi khác nhau.Chính vì vậy, GDKNS không phải là bất động, nó biến đổi vàvận động linh hoạt cùng những diễn biến, vận động của xã hội.Tùy theo không gian, thời gian, đối tượng, hoàn cảnh khácnhau mà mục đích, nội dung, biện pháp GDKNS cũng khácnhau: KNS của người miền núi khác với KNS của người miềnbiển; KNS của học sinh tiểu học khác với KNS của học sinhtrung học phổ thông; KNS của con người trong thời kinh tế thịtrường khác với KNS của con người trong chế độ phong kiến
* GDKNS gắn liền với việc trải nghiệm và sử dụng các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học tích cực.
Trang 34GDKNS không phải chỉ đơn thuần là việc truyền giảngnhững vấn đề lí thuyết, lí luận chung chung mà là quá trình rấtphức tạp, đòi hỏi người học phải được cung cấp cơ hội để đượctrải nghiệm, vận dụng những kiến thức đã học vào việc giảiquyết các vấn đề cụ thể của thực tiễn Thông qua hoạt động trảinghiệm, người học sẽ được rèn luyện các KNS, từ đó có nhậnthức rõ ràng hơn về vai trò, vị trí của bản thân; rút ra được nhiềukinh nghiệm sống khi tiếp xúc, quan hệ với người khác; giảiquyết các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống hàng ngày một cáchlinh hoạt, tích cực hơn Khác với các quá trình giáo dục khác,việc sử dụng các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học tíchcực có vai trò to lớn trong việc GDKNS thông qua dạy học cácmôn học Nó không chỉ kích thích được hứng thú, giúp họcsinh phát huy khả năng tự học, độc lập khám phá tri thức củamôn học mà nó còn tạo cơ hội để người học được “học cáchhọc”, qua đó được rèn luyện một số KNS chung, cơ bản như:
KN giao tiếp trong trình bày, phát biểu ý kiến; KN lắng nghe
ý kiến người khác; KN hợp tác làm việc tập thể; KN tư duyphê phán trước một vấn đề; KN ra quyết định
- Các nguyên tắc giáo dục kĩ năng sống
Trang 35Dựa vào đặc điểm, bản chất của GDKNS; nội dung một sốthuyết tâm lí học có liên quan (lí thuyết về sự phát triển của trẻ
em và vị thành niên; lí thuyết học tập xã hội; thuyết vấn hành vi; thuyết ảnh hưởng xã hội; thuyết đa trí tuệ [45]); một sốcông trình nghiên cứu về GDKNS đã được công bố, có thể tổnghợp một số nguyên tắc chung, cơ bản về GDKNS như sau:
đề-+ Đảm bảo sự tương tác cao cho người học GDKNS phảitạo điều kiện và cơ hội để người học được hoạt động trong môitrường học tập có sự giao tiếp và tương tác tích cực GDKNSphải tạo điều kiện cho trẻ quan sát, đóng vai, tạo ra sự tương tácgiữa những người học với nhau và với các cá nhân khác trong
xã hội Thông qua quá trình tương tác với bạn học và nhữngngười xung quanh, học sinh sẽ có dịp thể hiện các ý tưởng củamình, xem xét ý tưởng của người khác, được đánh giá và tựxem xét lại những kinh nghiệm sống của cá nhân Vì vậy, việc
tổ chức các hoạt động có tính chất tương tác cao trong nhàtrường tạo cơ hội quan trọng để giáo dục KNS hiệu quả, đặcbiệt là các nhóm KN giao tiếp, KN xác định giá trị, KN ra quyếtđịnh, KN giải quyết vấn đề
+ Đảm bảo cho học sinh được trải nghiệm Nội dung
Trang 36GDKNS tập trung giáo dục cho người học khả năng vận dụngkiến thức và thể hiện giá trị bản thân trong những tình huống
cụ thể hàng ngày thông qua quá trình cá nhân tương tác vớingười khác GDKNS phải tạo ra cơ hội để trẻ bộc lộ được vốnkinh nghiệm, hiểu biết đã có của bản thân xung quanh việc giảiquyết những vấn đề của cuộc sống Từ đó, trẻ biết chọn lọc, kếthừa những hiểu biết, kinh nghiệm đúng vào việc thay đồi hành
vi tiêu cực, hình thành hành vi tích cực [25]; [46] Chính vìvậy, trong quá trình GDKNS, giáo viên cần thiết kế và tổ chứcthực hiện các hoạt động gắn kết ở cả trong và ngoài giờ học,nhằm tạo cơ hội để học sinh được thể hiện ý tưởng cá nhân, tựtrải nghiệm bản thân và biết phân tích kinh nghiệm sống củachính mình và người khác Thông qua việc thực hiện các hoạtđộng, giải quyết các vấn đề gắn với thực tiễn, người học bộc lộcảm xúc của bản thân; phân tích về những gì bản thân họ đã làm
và những gì họ thấy; suy đoán về các hành động có thể thay thế
để giải quyết vấn đề hợp lý hơn, hiệu quả hơn phù hợp với tìnhhình thực tế
+ Đảm bảo tiến trình thực hiện bản chất của GDKNS làrèn luyện kĩ năng Do đó, nó không chỉ đơn thuần là việc hình
Trang 37thành cho người học có được những kiến thức về các mối quan
hệ, các hoạt động trong cuộc sống; hiểu được mối quan hệ giữagiá trị cá nhân với các giá trị chung mà hơn cả là hình thành vàrèn luyện cho người học có được kĩ năng thực hiện các hànhđộng tích cực trong các mối quan hệ với bản thân, người khác
và với cộng đồng xã hội Chính vì vậy, GDKNS cần đảm bảotiến trình của việc hình thành KN, tức là phải đi từ việc học sinhhình thành kiến thức, nhận biết các giá trị đến việc thực hành,vận dụng và rèn luyện trong thực tiễn
+ Đảm bảo hình thành và thay đổi hành vi Hành vi củamỗi người là kết quả của tri thức, thái độ… và có thể coi đó làkết quả cao nhất, khó nhất cần phải đạt được trong GDKNS.GDKNS cần phải định hướng vào việc hình thành cho học sinhnhững giá trị sống đúng đắn, từ đó giúp các em có khả năngđứng vững trước những lôi kéo, rủ rê của bạn bè và người xấu;
cư xử đúng mực, giao tiếp có hiệu quả với những người xungquanh; Khả năng quan sát, phân tích, suy nghĩ, đánh giá để đốiphó và giải quyết được các tình huống khác nhau của đời sống
xã hội một cách có hiệu quả… Kết quả của GDKNS được thểhiện thông qua những hành vi của chủ thể khi họ tham gia vào
Trang 38những tình huống khác nhau của thực tiễn cuộc sống vàGDKNS hiệu quả là phải làm cho chủ thể biết phân tích cáiđúng/cái sai; cái tốt/cái xấu một cách đúng đắn, từ đó hình thànhmong muốn và thực hiện điều chỉnh hành vi để hướng đếnnhững hành vi tích cực.
- Các con đường giáo dục kĩ năng sống trong nhà trường
Giáo dục KNS trong nhà trường phổ thông không được tổchức thành một môn học hay một lĩnh vực học tập cụ thể màđược thực hiện qua hai con đường cơ bản: (1) qua dạy học cácmôn học phù hợp hiện đang được giảng dạy ở nhà trường; (2)qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
* GDKNS qua dạy học các môn học
Để thực hiện GDKNS qua dạy học các môn học, giáo viên
có thể thực hiện theo hai cách tiếp cận:
Thứ nhất là khai thác nội dung môn học, lựa chọn nhữngbài học phù hợp với đối tượng học sinh để GDKNS Trên cơ sởmục tiêu, nội dung môn học; đặc điểm học tập, sinh hoạt củađối tượng học sinh; môi trường địa phương… giáo viên lựa
Trang 39chọn những bài học có nội dung gần gũi với đối tượng học sinh
để GDKNS Trong nhà trường THPT hiện nay, một số môn họcnhư: Giáo dục công dân, Sinh học, Văn học… được coi lànhững môn học có nhiều tiềm năng để giáo viên có thể khai thácnhằm GDKNS Môn Giáo dục công dân, trên cơ sở hướng tớimục tiêu cao nhất là hình thành cho HS những tri thức, kĩ năng
và thái độ đúng đắn liên quan đến các chuẩn mực hành vi đạođức thì hầu hết tất cả các bài học đạo đức đều có tiềm năng đểgiáo dục KN giao tiếp, KN xác định giá trị, KN ra quyết định Nội dung trong môn học cũng được chú trọng nhiều đến giáodục các KNS khác như: kĩ năng tự nhận thức, đánh giá bản thân;
KN tự tin, trình bày vấn đề thuyết phục; KN kiên định; KN đặtmục tiêu; KN ra quyết định và giải quyết vấn đề liên quan đếnviệc tự chăm sóc sức khỏe, xây dựng hành vi sống tích cực chobản thân, gia đình và cộng đồng Để hình thành các KNS thìcác phương pháp học tập chủ động như: động não, đóng vai,thảo luận nhóm, nghiên cứu tình huống, rèn luyện… thườngxuyên được sử dụng, điều này góp phần làm cho việc GDKNStrở nên dễ dàng và hiệu quả hơn Những hình thức giáo dụcKNS nên có sự trải nghiệm