CÁC PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN TÍNH mơ hồ TRONG NGÔN NGỮ THƠ TƯỢNG TRƯNG CÁC PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN TÍNH mơ hồ TRONG NGÔN NGỮ THƠ TƯỢNG TRƯNG CÁC PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN TÍNH mơ hồ TRONG NGÔN NGỮ THƠ TƯỢNG TRƯNG CÁC PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN TÍNH mơ hồ TRONG NGÔN NGỮ THƠ TƯỢNG TRƯNG
Trang 1CÁC PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN TÍNH MƠ HỒ TRONG NGÔN NGỮ THƠ TƯỢNG
TRƯNG
Trang 2- Tính mơ hồ trong ngôn ngữ thơ tượng trưng được tạo ra qua các hình ảnh ẩn dụ, các ngữ âm lạ, lối so sánh đặc biệt và các kết hợp từ
-Tính mơ hồ trong ngôn ngữ thơ tượng trưng được thể hiện qua các hình ảnh ẩn dụ
Nếu như chủ nghĩa lãng mạn coi thế giới là hữu hình,miêu tả cảm xúc một cách trực tiếp, chẳng hạn như các nhà thơlãng mạn bộc lộ tâm trạng một cách không che dấu, coi trọngcảm xúc tình cảm:
“Hôm nay trời nhẹ dâng caoTôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn”
(Xuân Diệu) Thì các nhà thơ tượng trưng ngược lại, nhìn thế giới ởtrạng thái vô hình, nên không còn bộc lộ tình cảm trực tiếp
không còn là truyền cảm nữa mà là gợi cảm, ám thị Bên cạnh
đó thơ truyền cảm thì người đọc có thể dễ dàng nhận ra đượcnhững thông điệp những cung bậc cảm xúc mà tác giả muốnbộc bạch, còn thơ gợi cảm thì người đọc khó nắm bắt Và ngườiđọc phải tự cảm nhận tự khai mở để có thể tiếp nhận được
Trang 3những phần tinh túy nhất của thơ Như vậy ngôn ngữ có thểgiúp thi nhân truyền tải được những ý tưởng của mình về thếgiới đến người đọc thông qua những hình ảnh ẩn dụ Các hìnhảnh ấy được chắp vá, đứt đoạn khiến cho chúng trở nên độc đáođến kì dị, bất ngờ và cũng đầy phức tạp bởi nó được tạo ra từnhững giây phút cực thăng hoa của cảm xúc, của một trạng tháitinh thần nửa sảng nửa mê, thế nên các hình ảnh thơ, ý thơ rất
mờ nhòe mà lại mơ hồ hư ảo Các hình ảnh ẩn dụ góp phần làmnên một thế giới thơ đầy mối tương giao hòa điệu, thế giới đầynhững bí ẩn
Chẳng hạn như trong bài thơ “Mộng”, nhà thơ viết:
“Mộng trắng phau phau vót cung nga: Xuân Hương! Người ngọc, máu say ngà!”
“Mộng trắng phau phau” là hình ảnh ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, biến cái vô hình “Mộng”, thành cái hữu hình “Mộng trắng phau phau”, khiến cho ý thơ càng thêm ám ảnh mông lung, mộng trở nên có hình khối màu sắc
Trang 4“Chân nhịp nhàng, lòng nghe hương nằng nặng.
Đây bài thơ không tiếng của đêm tơ”
(Mộng cầm ca)Người đọc còn thấy những hình ảnh ẩn dụ từ màu sắc thành hương vị:
“Lờ mờ đường lên mây Chén trăng vừa tầm với Chàng ơi, vàng ròng đây
Kề môi say ân ái”
(Ngũ Hành Sơn)
Vầng trăng vàng bỗng nhiên biến thành người yêu, từ cảmnhân màu sắc của “chén trăng” thi nhân đã dắt người đọcthưởng thức hương vị của tình yêu mật ngọt “say tình ái” Chéntrăng đã trỏ thành người yêu hay người yêu trở thành chéntrăng? Đỗ Lai Thuý trong “Mắt thơ” đã bình thật độc đáo: “Ẩn
dụ chén trăng đã làm nổ một dây chuyền ngữ nghĩa Trăng màuvàng, nên chén trăng cũng là chén vàng (màu vàng), nhưng khi
Trang 5thi nhân hạ bút vàng ròng thì chén trăng lại thêm một lầnchuyển nghĩa nữa, chén bằng vàng, biểu tượng của sự quí giá.Chén làm liên tưởng đến thứ đựng trong chén, rượu nên cóthể kề môi và say, nhưng say ân ái thì chén trăng lại là chéntình yêu Vầng trăng bỗng thoắt biến thành người yêu, hoặcngười yêu biến thành vầng trăng lúc nào không ai hay”.
-Tính mơ hồ trong ngôn ngữ thơ tượng trưng được thể hiện qua các ngữ âm lạ
Ngôn ngữ thơ là phương tiện có thể khiến chúng ta “cảmthông đến cái vô cùng”, thấu hiểu được tận cùng mọi ý nghĩa vàthâm nhập được vào mọi cái đẹp tiềm tàng huyền diệu của thiênnhiên vũ trụ
Ngôn ngữ lạ hóa là thứ ngôn ngữ khiến cho người đọcthấy mới, cũng có thể nó phá vỡ những quy cách thông thường,khó hiểu nhưng ngược lại nó gây hiệu quả thẩm mỹ, giúp cholời thơ thêm huyền ảo mơ hồ đa nghĩa
Bích Khê cũng có những câu thơ sử dụng ngôn ngữ lạ hóagây mơ hồ hư ảo:
“ Nàng ơi! Tay đêm đang giăng mềm Trăng đan qua cành muôn tay mềm
Trang 6Mây nhung pha màu thu trên trời Sương lam phơi màu thu muôn nơi”.
(Tỳ bà) Mùa thu đã trở thành bức tượng muôn màu của thi nhân,trở thành hương thơm dịu ngọt của thơ ca, trở thành hơi mensay của câu chuyện tình ái, trở thành những cung bậc thăngtrầm của nhạc, và cũng là nguồn cơn của những nỗi sầu vạn cổcủa thi nhân Lời thơ thật hư ảo bởi sắc thu thật lạ “mây nhung”, với “sương lam” làm hiện lên trước mắt người đọc một cánhrừng vàng với mây với sương ngập sắc thu
Trong cõi thơ Bích Khê, bạn đọc có thể nhận ra ngay rằngông là người cách tân về kĩ thuật ngôn ngữ, và luôn tâm niệmtheo định hướng:
“Và mới mẻ, trên viện cổ Đông phương
Ai có nghe sức tiềm tàng bí mật”
(Duy tân)Ngôn ngữ trong thơ Bích Khê là sự tương giao hài hòagiữa cái hữu hình và cái vô hình, với ông ngôn ngữ là cái thứnhất của thơ ca, không có ngôn ngữ sẽ không có văn học, mà
Trang 7ngôn ngữ trong thơ thi nhân thật đẹp thật lạ mà cũng thật mơhồ:
“Mộng rất xanh, rất xanh, rất xanhChoáng thời gian vây môn đầu thục nữ”.Ngôn ngữ thơ thật lạ “mộng rất xanh”, mộng là giấc mộng
là cái vô hình mà thi nhân lại khái quát nó trở nên hữu hình cụthể, có màu sắc hấp dẫn, mang vẻ đẹp nguyên sơ Ngôn ngữ thơông đã thoát xác hoàn toàn ngôn ngữ thơ Mới, Ông lại sáng táctrong trạng thái ảo mộng nên chữ nghĩa cứ thế bay nhảy khôngtheo một khuôn phép nào cả Ngôn ngữ thơ trở thành phươngtiện để bạn đọc có thể cảm nhận thơ Để có thể lột tả được hếtthế giới nội tâm của mình Bích Khê đã dung ngôn ngữ, thật lạ
vì thi nhân đã vật chất hóa những gì thuộc về thể lỏng, chẳnghạn mắt được ví như ngọc:
“Hỡi đôi mắt, nơi người là ngọc thạch”
Và ngược lại nhà thơ lại hóa lỏng những gì thuộc vềthể rắn sang thể lỏng:
“Lệ tích lại sắp tuôn hang đũa ngọc”
(Tranh lõa thể)
Trang 8Trong thơ Bích Khê ngôn ngữ về thân thể là ngôn ngữ táobạo nhất và cũng là ngôn ngữ lạ hóa nhất Ngôn ngữ thân thểtrong thơ ông có thể chia thành các phần như sau: Phần ngoại lộ
có thể kể đến như: da, môi, vai, tóc…; Những phần được chekín như ngực, bụng…; Ngôn ngữ nói về những cảm xúc thầmkín trong lòng như: buồn, vui, uống, say, cắn…; Và một phầnnữa là phần bí ẩn trong cơ thể con người, chỉ thấy được khi màcon người ta phải đối diện trước sự sống hay cái chết như : sọ,tủy, máu, xương…Tất cả các bộ phận trên cơ thể con người đềutrở thành thứ ngôn ngữ mới lạ gây đam mê mê hoặc người đọc
Hãy xem trong bài thơ “Mộng cầm ca” thi nhân viết:
“Đâu đôi mắt mùa thu xanh tợ ngọc?
Vú non non? Da dịu dịu, êm êm?
Đâu hang báu cho ta phải khóc?
Trên môi son ta liếc lưỡi gươm mềm!”
Hay:
“Ô cặp mắt đa tình ngời sắc kiếmMột bàn chân ve vuốt một bàn chânMát làm sao! Mát rợn cả châu thân
Trang 9Máu ứ lại, máu dồn lên giữa ngực.
Ôi! thớ thịt có đàn lên cung bựcHồn tôi ôm gót ngọc lắng âm thanh…”
(Bàn chân)Các từ ngữ “Mắt xanh tợ ngọc”, “vú non non”, “da dịudịu”, “hồn tôi ôm gót ngọc” được thi nhân sử dụng rất lạ nhưphô bầy ra trước mặt chúng ta vẻ đẹp đầy quyến rũ mê đắm củathân thể giai nhân Thân thể đầy cám dỗ nhưng cũng chứa đựngsức mạnh, thể hiện qua hình ảnh “Và sắc lẻm như thanh gươmvấy máu” nó vừa tượng trưng cho sức mạnh lại biểu tượng cho
sự hủy diệt Tác giả dùng những hình ảnh so sánh lạ hóa khôngdấu diếm để khơi dậy vẻ đẹp vĩnh viễn quý giá của con người,
nó biểu tượng cho nhũng đam mê mơ mộng, ước ao của cái đẹpvĩnh hàng Ngôn ngữ vừa mang tính thân thể vừa mang tính giãibầy nội tâm vừa thể hiện được những cung bậc cảm xúc cũngnhư khoái lạc của con người, có như thế thì mới thăng hoa thoáttục
-Tính mơ hồ trong ngôn ngữ thơ tượng trưng được tạo
ra bởi các hình ảnh so sánh đặc biệt và các kết hợp từ
Trang 10Các hình ảnh so sánh trong thơ tượng trưng thường vượt
ra ngoài các khuôn phép bình thường, không phải đơn thuần sosánh hai sự vật sự việc với nhau nữa, mà là sự so sánh ấy buộcphải tạo tính ám gợi nhẹ nhàng êm dịu mà sức sống thì lại mãnhliệt:
“Màu trắng không gian như gờn gợn sóng”
(Nhạc – Bích khê)Màu không gian trắng nhẹ nhàng nhưng âm điệu lại thật
dữ dội “gờn gợn sóng” Hình ảnh so sánh giữu hai vật hữu hình với nhau, không gian màu trắng là cái vô hình lại được so sánh với cái hữu hình: con sóng gợn gợn khiến cho không gian trải dài như những lớp sóng trùng điệp miên man, làm cho tâm thứcngười đọc mơ hồ phải suy tư tưởng tượng
Thơ tượng trưng thường sử dụng các từ để so sánh, chẳng
hạn:
“Ngọc Kiều! Ngọc Kiều! Ðến cặp song đôi
Cho tôi đọ vẽ hương trời sắc nước”.
( Tranh lõa thể - Bích Khê)
Trang 11Hay trong bài thơ “Hồ Xuân Hương” tác giả Bích Khê viết:
“Xanh liễu ngoài song vừa đổi biếc
Màu thi sắc lá đọ dung nghi”.
Theo tác giả Lê Lưu Oanh trong bài “Thơ Bích Khê - Mộtthể nghiệm thơ tượng trưng” có viết: “Tuy có đem hai haynhiều sự vật, hiện tượng đặt ở thế trực tiếp để đối lập nhaunhưng kết quả so sánh thì thường là ngầm ẩn, còn các mô thứccòn lại đều ít nhiều mang lại hiệu quả so sánh” Hay trong bàithơ “Hồn ngàn xưa”, Nguyễn Xuân Sanh viết:
“Hồn ngàn mùa lạnh lẽo tay hương
Hoàng hôn kinh dậy đất mênh mông Trái đẹp sau xưa gợn gió bồng
Vai sầu chín thuở Đức say Bông Người ngàn mùa kiếp trắng nghiêng Sông”
Các hình ảnh so sánh giữa các vế trong câu thơ dường như không có nét tương đồng nhau “Hồn” lạnh lẽo như “tay hương”, và “người” như “kiếp trắng nghiêng sông” Chúng ta còn bắt gặp những hình cùng trường so sánh như thế trong bài thơ “Sắc đẹp” của Bích Khê:
Trang 12“Và rùng rợn như một điểm quái lạ.
Hồn ngươi nặng bị riềng khoan sắt đỏ,
Hễ chiêm bao là thấy chuyện đau thương
Hồn người mê như sắc đẹp trên giường”
Hay hình ảnh so sánh trong bài “Nàng bước tới”:
“Nàng bước tới như sông trăng chảy ngọc;Như nắng thơm hớp đặc cả nguồn hương”
“Hồn người” so sánh với sắc đẹp, nhan sắc của giai nhân đẹpnhư “nắng” lan tỏa mùi hương Thông qua cảm nhận các hình ảnh
so sánh bằng giác quan đã được cách tân, thi sĩ dẫn người đọc bướcvào thế giới thơ đầy trừu tượng Chính vì thế khiến thơ tượng trưngkhó đọc, khó hiểu, thơ là bức tranh tượng trưng mà các con chữ làmột miền bí ẩn không phải dễ dàng mà hiểu được
Bên cạnh đó các hình ảnh được gợi lên từ những kết hợp
từ cũng khiến cho không gian thơ tràn ngập mơ hồ hư ảo:
“Nàng dội thiêng liêng lên mái tócNàng lùa thanh sắc vô tay”
(Châu - Bích khê)
Trang 13Hai động từ “dội”, và “lùa” thường để miêu tả nhữnghành động có thể quan sát được, thế nhưng trong câu thơ nàynhà thơ lại kết hợp với các từ mang tính trừu tượng khó nắm bắt
“thiêng liêng”, và “thanh sắc” khiến cho ý thơ mờ nhòe giữa cáihữu hình với cái vô hình, giữa thực và hư
Trong bài thơ “Một cõi trời”, cũng bắt gặp kết hợp từ rất lạ:
“Trí thơm tho nên rung động bồi hồi Trong phút lạ! - mơ hồ xương sọ vỡ ”
(Bích Khê)Hoặc bài “Mộng”:
“Có người thi sĩ nhặt hoa rụng
Những cánh đau thương sắp mặt lầu”.Các kết hợp từ “trí thơm tho”, “cánh đau thương”, là sựsáng tạo tuyệt vời của thi nhân, đó là phép thơ rất riêng của ông,một phép thơ đã khiến cho thơ đầy hương sắc âm thanh, dẫn dắtngười đọc vào thế giới đầy mơ hồ huyền bí
- Âm nhạc trong ngôn ngữ thơ tượng trưng tạo tính mơ hồ đa nghĩa
Trang 14Theo tác giả Lê Lưu Oanh: “Nhạc không chỉ là nhịp điệu củathế giới huyền diệu mà còn là nhịp điệu của vũ trụ, của thế giớitâm linh sâu thẳm, là nhịp điệu của hồn thơ, của sáng tạo” (ThơBích Khê- Một thể nghiệm thơ tượng trưng) Nhìn thế giới bằngcon mắt âm nhạc chính là một bước đi của thơ ca tượng trưng vớituyên bố của P.Veclen, thi sĩ nổi tiếng của trường phái thơ tượngtrưng Pháp: “Âm nhạc đi trước mọi thứ Nơi nơi thế giới hòa tantrong nhạc”.
Bích Khê là thi sĩ đi theo quan điểm của Verlaine “trênhết mọi sự của thơ là âm nhạc” Đối với thi nhân thơ phải là sựkết hợp hài hòa là sự hội tụ đủ các yếu tố hội họa, âm nhạc,điêu khắc, nhiếp ảnh, và cả vũ đạo Để không những sống dậyđược sức mạnh nguyên thủy sơ khai mà còn bật dậy được sứcmạnh hiện đại:
“Hỡi lời ca man dại
Điệu nhạc thở hơi rừngĐêm nay xuân đã lại
Thuần túy và tượng trưng”
(Thuần túy và tượng trưng)
Trang 15Nhạc trong thơ Bích Khê chính là sức mạnh tạo nên giá trịthưởng thức của thơ ông Thơ của ông là thơ của âm thanh màusắc và hương thơm Thi nhân đã khiến cho âm thanh phải liênkết lại với nhau theo những quy luật ngữ âm nhất định để có thểkhơi gợi gửi gắm được ý tưởng nghệ thuật của mình Với BíchKhê, vỏ âm thanh của ngôn ngữ có khả năng mã hóa cuộc sống,thêm nữa còn có thể đúc tạc được hình tượng cuộc sống bằngnguyên liệu là âm thanh Thi nhân ý thức khai thác triệt để tất
cả các quy luật ngữ âm của ngôn ngữ Đó là nét độc đáo trongthủ pháp nghệ thuật của Bích Khê và làm nên phong cách nghệthuật của thi nhân Nhà phê bình văn học Thuệ Khê đã cónhững lời nhận xét hết sức tinh tế: “Khó phân biệt được lúc nàoông dung bút để viết, lúc nào ông vung cọ để vẽ, lúc nào ôngvung đũa để đánh nhạc Và cũng cần phân biệt nhạc trong thơBích Khê với nhạc trong thơ Hàn Mặc Tử: Nhạc trong thơ Hàn
là nhạc trầm trong mỗi chữ, nhạc trong thơ Bích Khê là nhạcnổi trong thanh âm lạ, âm bằng.Ở những bài thật hay, thơ BíchKhê là sự hòa âm giữa các điệu nhạc cổ, như điệu hoàng hoa,điệu mộng cầm, bằng những màu sắc tân kỳ của hội họa hiệnđại”
Nhạc tính nổi bật trong thơ của thi nhân chính là nhạc tínhthơ bình thanh, thi sĩ đã khoác lên mình thơ bộ áo âm thanh
Trang 16mượt mà êm ái đầy ảo diệu mà mơ hồ đầy cảm xúc Nhà thơXuân Diệu cũng có những câu thơ sử dụng bình thanh:
“Sương nương theo trăng ngừng lưng trời Tương tư nâng long lên chơi vơi”
(Nhị hồ)Nguyễn Xuân Sanh trong bài thơ “Xây mơ” cũng có viết:
“Tay sương lam mờ đường buông tơ, Nghe sương lam mờ đường giăng tơ, Đêm rải men tràn nơi lối đi
Hàng dương say đường thôi ngâm thơ”
Tuy vậy đây mới chỉ là ngẫu hứng phải đến thơ Bích Khêthì sức mạnh về bình thanh mới được khẳng định Hãy xem bàithơ “Tỳ bà”, toàn bộ bài thơ toàn sử dụng thanh bằng với nhữngcâu thơ được coi là tuyệt bút:
“Mây nhung pha màu thu trên trời Sương lam phơi màu thu muôn nơi”
Lời ca vang lên nhẹ như hơi thở, như tiếng nhạc điệu ngânnga réo rắt, bình thản đến lạ, như dẫn dắt con người ta vào
Trang 17mênh mông xa vắng mà mơ hồ ảo diệu Khiến cho ta lạc vàochốn bồng lai tiên cảnh “bồng lai tiên nhạc phách” là chốn thầntiên, cõi mộng cõi mơ Gam màu mùa thu trong thơ ông cũngthật lạ Mây màu “nhung”, còn sương màu “lam”, tất cả đềuthật khiến cho người ta thêm mơ hồ ảo diệu.
Thơ Bích Khê du dương luyến láy như những nốt nhạctrầm bổng làm mê đắm lòng người là bởi lối thơ gieo vần cùngdòng, ở việc khai thác giá trị âm thanh ở thanh điệu như caothấp, các thủ pháp nghệ thuật như điệp từ điệp khúc Lời thơnhư phiêu diêu mơ hồ hư ảo :
“Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu Sao tôi không màng kêu: em yêu”
(Tỳ bà )
“Phiêu diêu” là từ dùng để chỉ trạng thái cảm xúc của conngười, nhưng trong lời thơ lại dùng để chỉ một cái rất trừutượng “muôn hồn” với chủ thể của động từ ôm lại là thời gian
“thu”, khiến cho lời thơ như mơ hồ hư ảo, tạo cảm giác mênhmông bận tận cùng thời gian
Hay trong bài thơ “Hoàng hoa”:
Trang 18“Lam nhung ô! Màu lưng chừng trời Xanh nhung ô! Màu phơi nơi nơi”.
Hay :
“ Đêm ôm hồn tôi chơi phiêu diêu”
Lời thơ khiến cho cảm xúc trạng thái của con người bỗngnhiên mờ ảo trong sự thăng hoa của nghệ thuật Ý thơ đẹp mơmàng với màu xanh thật lạ “xanh nhung ô”, khiến cho ngườiđọc phải tư duy cùng sáng tạo Bởi thơ ông là tiếng lòng củanhững cảm xúc bí ẩn, đằng sau những sự vật được biểu đạtđược phô ra ấy nhà thơ đã dấu đi cái được biểu đạt, cái biểuhiện Thế giới thơ của thi nhân đẹp lộng lẫy mang tính mơ hồ vì
lẽ đó
Theo Hàn Mặc Tử: “Thi sĩ Bích Khê là người có đôi mắt rất
mơ, rất mộng, rất ảo, nhìn vào thực tế thì thực tế trở thành chiêmbao, nhìn vào chiêm bao thì lại thấy xô sang địa hạt huyền diệu”.Vườn thơ của ông ngân vang đầy nhạc điệu” Với Bích Khê ngoàitrời là cả một trời nhạc, chẳng thế mà thi nhân đã viết:
“Thơ bay, thơ bay vô bàn tay ngà Thơ ngà ngà say, thơ ngà ngà say
Trang 19Nàng ơi đừng động, có nhạc trong giây Nhạc gây hoa mộng, nhạc ngát trời mây” (Nhạc)
Nhạc bao trùm khắp không gian hòa giữa con người vàcảnh vật Nhạc lan tỏa khắp nơi nơi, nhạc làm nên hồn của thếgiới huyền diệu này, nó làm xôn xao cả vạn vật, lan truyền từtrong tiềm thức của mỗi con người đến cả vũ trụ bao la Nhạcđược tạo ra bởi thủ pháp điệp từ:
“Mưa hoa rụng, mưa hoa xuân rụngMưa xuống lầu, mưa xuống thềm lan
Mưa rơi ngoài nẻo dặm ngàn,Nước non rả rích giọng đàn mưa xuân…
Đầm mưa xuống, nẻo đồi mưa xuống,Bóng dương tà rụng bóng tà dương
Hoa xuân rơi với bóng dươngMưa trong ý khách mưa cùng nước non
(Tiếng đàn mưa)
Trang 20Điệp từ “mưa” và điệp ngữ “mưa xuống” được nhắc lạikhiến cho không gian được mở rộng ra hơn, mưa xuống “thềmlan”, mưa xuống đầm, mưa xuống đồi Mưa từ hữu hình cụ thểchuyển sang trạng thái hư vô “mưa trong ý khách, mưa cùngnước non” Tiếng mưa tạo thành bản nhạc đàn mưa khiến chokhông gian thêm yên ắng tĩnh mịch, khiến cho lời thơ thêmhoang hoải mênh mông là buồn, khiến cho lòng người thêmkhắc khoải mông lung Mưa hiện thực mưa trong tiềm thứckhắc khoải khôn nguôi, lời thơ vì thế mà mơ hồ dắt người đọcnhư bước vào thế giới của cơn mưa đầy mờ nhòe.
Nhạc trở thành hình tượng cơ bản, ở đó có sự biến hóa củađất trời, của vũ trụ bao la, là sự thăng hoa của cảm xúc Thế nênnhạc được cảm nhận bằng mọi giác quan, không chỉ nghe bằngthính giác mà còn cảm nhận bằng cả thị giác:
“Ô! Nắng vàng thơm…rung rinh điệu ngoc”
(Nhạc)Điệu nhạc mang màu nắng với hương thơm tràn khắpchốn, tiếng nhạc ở đây đẹp như những viên ngọc, kết tinh từnhững viên ngọc, nhạc vang lên hay chính là nhạc lòng của thinhân Tâm hồn nhà thơ thật đẹp mới có thể dẫn dắt người đọcvào thế giới của những bản nhạc màu nắng ngát hương thơm,