VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGUYỄN THỊ HƯƠNG LAN NGHIÊN CỨU NGÔN NGỮ ĐÁNH GIÁ TRONG SÁCH GIÁO KHOA BẬC TIỂU HỌC SO SÁNH SÁCH TIẾNG ANH TIỂU HỌC Ở SIN
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ HƯƠNG LAN
NGHIÊN CỨU NGÔN NGỮ ĐÁNH GIÁ TRONG SÁCH GIÁO KHOA BẬC TIỂU HỌC (SO SÁNH SÁCH TIẾNG ANH TIỂU HỌC Ở SINGAPORE VÀ
SÁCH TIẾNG VIỆT TIỂU HỌC Ở VIỆT NAM)
Ngành: Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu
Mã số: 9 22 20 24
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội
Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS Nguyễn Văn Hiệp
Phản biện 1: GS.TS Nguyễn Quang
Phản biện 2: GS.TS Đỗ Việt Hùng
Phản biện 3: PGS.TS Đỗ Kim Bảng
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại: Học viện khoa học xã hội
Vào hồi… giờ… , ngày………tháng……….năm………
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
Thư viện Học viện khoa học xã hội Thư viện Quốc gia Việt Nam
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngôn ngữ đánh giá – ngôn ngữ thể hiện cảm xúc cá nhân, đánh giá hành vi của người khác và đánh giá sự vật hoặc hiện tượng, là một phần quan trọng trong thực tiễn giao tiếp vì thế không ngạc nhiên khi nó trở thành một nội dung thu hút được sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu, đặc biệt những năm gần đây trong xu hướng khảo sát các chức năng của ngôn ngữ trong đời sống xã hội Tuy vậy hướng nghiên cứu này cũng chỉ mới bắt đầu được quan tâm nghiên cứu ở Việt Nam
Môn học ngôn ngữ ở bậc tiểu học có vai trò vô cùng quan trọng vì chức năng kép của
nó trong nhà trường: vừa là công cụ học tập, vừa là đối tượng học tập Nghiên cứu sách giáo khoa ngôn ngữ ở bậc tiểu học vì thế là yêu cầu hết sức cần thiết Tuy vậy nội dung này rõ ràng cũng chưa được chú ý nghiên cứu ở Việt Nam
Trong bối cảnh thực hiện nghị quyết Số 88/2014/QH13 “Về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông”, luận án của chúng tôi thực hiện rà soát và đánh giá chương trình và sách giáo khoa tiếng Việt tiểu học hiện hành trong sự so sánh với chương trình và sách giáo khoa tiểu học (tiếng Anh) của Singapore với mục đích đưa ra những đề xuất cho chương trình và sách giáo khoa mới Luận án áp dụng lý thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống (NHCNHT) và lý thuyết thể loại (genre theory) theo trường phái Sydney (Martin & Rose, 2008), sử dụng bộ công cụ đánh giá (Appraisal framework) được phát triển bởi Martin & White (2005) để phân tích ngôn ngữ đánh giá (NNĐG) trong các bài đọc hiểu
ở tầng ngữ nghĩa diễn ngôn
Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy việc vận dụng các lý thuyết được trình bày trên đây vào nghiên cứu đối chiếu giữa tiếng Anh và tiếng Việt đã được nhiều nhà nghiên cứu trong
và ngoài nước hết sức quan tâm Tuy nhiên chưa có một nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu trong lĩnh vực sách giáo khoa ngôn ngữ, đặc biệt là sách giáo khoa ngôn ngữ ở bậc tiểu học
Những lí do được trình bày trên là cơ sở để chúng tôi chọn đề tài Nghiên cứu ngôn ngữ đánh giá trong sách giáo khoa bậc tiểu học (So sánh sách tiếng Anh tiểu học ở Singapore và sách tiếng Việt tiểu học ở Việt Nam)
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Thông qua nghiên cứu này chúng tôi mong muốn tìm ra được những điểm tương đồng và khác biệt (nếu có) về cấu trúc thể loại và đặc điểm NNĐG thể hiện chức năng liên nhân trong một
Trang 4số thể loại văn bản, cụ thể là NNĐG thể hiện thái độ và thang độ trong các bài đọc hiểu trong sách tiếng Anh và tiếng Việt bậc tiểu học ở Singapore và Việt Nam để đáp ứng được mục tiêu của môn học
2.2 Nhiệm vụ của luận án
Mục đích nêu trên của luận án được thực hiện qua các nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Miêu tả và tổng hợp thể loại văn bản xuất hiện trong cả hai bộ sách tiếng Anh và tiếng Việt bậc tiểu học ở Singapore và Việt Nam dựa theo lý thuyết về thể loại theo trường phái Sydney nhằm xác định nguồn ngữ liệu nghiên cứu
- Khảo sát, phân tích định lượng cho ra kết quả về tỷ lệ các loại ngôn ngữ đánh giá thể hiện thái độ và thang độ trong hai bộ sách tiếng Anh và tiếng Việt bậc tiểu học ở Singapore và Việt Nam
- Khảo sát, phân tích định tính một số thể loại văn bản được xem là cốt lõi trong chương trình tiểu học để tìm hiểu cấu trúc thể loại và đặc điểm ngôn ngữ đánh giá thực hiện chức năng liên nhân, cụ thể là ngôn ngữ thể hiện thái độ và thang độ trong từng thể loại văn bản đó
- Rút ra những điểm tương đồng và khác biệt, nếu có, để phục vụ cho mục đích giảng dạy, biên soạn sách giáo khoa môn tiếng Việt nói riêng và môn ngữ văn nói chung
ở Việt Nam
- Khẳng định tính khả thi khi áp dụng lý thuyết NHCNHT và bộ công cụ đánh giá trong việc miêu tả, phân tích cấu trúc thể loại và NNĐG trong tiếng Việt Đồng thời tìm ra những đặc trưng riêng biệt về NNĐG trong tiếng Việt
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Ngôn ngữ đánh giá, cụ thể là ngôn ngữ thể hiện thái độ và thang độ trong các bài đọc hiểu trong sách tiếng Anh tiểu học ở Singapore và sách tiếng Việt cùng bậc ở Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án của chúng tôi sử dụng nguồn ngữ liệu từ hai bộ sách giáo khoa bậc tiểu học, sách giáo khoa tiếng Anh lớp 3, 4 và 5 ở Singapore và sách giáo khoa tiếng Việt cùng bậc ở Việt Nam sau đây:
Sách giáo khoa ti ếng Anh bậc tiểu học ở Singapore
- My Pals are here! English 3A, 3B, NXB Marshall Cavendish Education, 2003
- My Pals are here! English 4A, 4B, NXB Marshall Cavendish Education, 2003
- My Pals are here! English 5A,5B, NXB Marshall Cavendish Education, 2004
Trang 5Sách giáo khoa ti ếng Việt bậc tiểu học ở Việt Nam
- Tiếng Việt 3, tập một, NXB Giáo dục, 2006
- Tiếng Việt 3, tập hai, NXB Giáo dục, 2004
- Tiếng Việt 4, tập một, NXB Giáo dục, 2006
- Tiếng Việt 4, tập hai, NXB Giáo dục, 2007
- Tiếng Việt 5, tập một, NXB Giáo dục, 2007
- Tiếng Việt 5, tập hai, NXB Giáo dục, 2007
Dựa vào cấu trúc tổng quan (global patterns) để phân biệt thể loại chúng tôi đã chọn
ra 14 văn bản trong sách tiếng Anh và 18 văn bản trong sách tiếng Việt làm ngữ liệu nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng cả hai phương pháp phân tích định tính và định lượng Phân tích định lượng dùng để tính toán và tìm ra sự giống và khác nhau về tỷ lệ từng loại Thái độ và Thang
độ trong ngữ liệu sách tiếng Anh và tiếng Việt Phân tích định tính cho phép phân tích sâu hơn về cấu trúc thể loại và đặc điểm ngôn ngữ đánh giá của một số thể loại trong ngữ liệu nghiên cứu Ngoài ra phương pháp phân tích ngữ cảnh cũng đặc biệt quan trọng trong luận án này để phân tích nghĩa của từ trong ngữ cảnh cụ thể Một số thủ pháp cải biến, mô hình hóa, thống kê v.v cũng được sử dụng một cách linh hoạt
Trang 6- Giúp những người xây dựng chương trình và biên soạn sách giáo khoa trong công việc phát triển chương trình, biên soạn sách giáo khoa và xây dựng tiêu chí đánh giá cho môn tiếng Việt ở bậc tiểu học cũng như các bậc học cao hơn
6 Cấu trúc của luận án
Ngoài Phần mở đầu và kết luận, luận án có 3 chương chính
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và Cơ sở lý luận
Chương 2 Ngôn ngữ đánh giá trong sách tiếng Anh tiểu học ở Singapore và sách tiếng Việt tiểu học ở Việt Nam – Phân tích định lượng
Chương 3 Ngôn ngữ đánh giá trong sách tiếng Anh tiểu học ở Singapore và sách tiếng Việt tiểu học ở Việt Nam – Phân tích định tính
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Trong phần này, chúng tôi trình bày và phân tích các nghiên cứu đi trước có liên quan đến luận án, đó là các công trình nghiên cứu NHCNHT, nghiên cứu về thể loại văn bản trong trường phổ thông, đặc biệt là bậc tiểu học, nghiên cứu áp dụng Bộ công cụ đánh giá Cho đến nay, nghiên cứu NNĐG trong tiếng Việt vẫn còn rất hạn chế Theo khảo sát của chúng tôi có năm nghiên cứu sau đây áp dụng bộ công cụ đánh giá vào nghiên cứu của mình (Nguyen, 2010; Tran, 2011; Tran & Thomson, 2008; Vo, 2011, Thu, 2013)
Điều đáng nói ở đây là các nghiên cứu về SGK tiểu học ở Việt Nam hầu hết quan tâm đến phương pháp giảng dạy Rất ít các nghiên cứu quan tâm đến ngôn ngữ trong SGK và đặc biệt là chưa có một nghiên cứu nào tìm hiểu ý nghĩa liên nhân ở tầng ngữ nghĩa diễn ngôn thông qua tương tác giữa thể loại văn bản và ngôn ngữ đánh giá
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN
Trong phần này chúng tôi trình bày nền tảng lý luận của luận án để giúp chúng ta có
sự hiểu biết sâu rộng hơn về NHCNHT, lý thuyết về thể loại theo trường phái Sydney: cấu trúc và các thuộc tính của văn bản trong tiểu thể loại kể chuyện, tin tức Trên cơ sở những kiến thức về thể loại giúp chúng tôi xác định được các thể loại văn bản có trong sách tiếng Việt tiểu học ở Việt Nam Cơ sở quan trọng nhất là Bộ công cụ đánh giá để tìm hiểu ngôn ngữ đánh giá thực hiện chức năng liên nhân của NHCNHT
Trang 7Thái độ là hệ thống cốt lõi trong Bộ công cụ đánh giá gồm ba bình diện là tác động
(affect – thích, sợ), phán xét hành vi (judgement – hư hỏng, khéo léo) và đánh giá sự vật
hiện tượng (appreciation – đẹp, nổi bật) (White, 1998)
Tác động liên quan đến phản ứng cảm xúc đối với người khác hoặc đối với sự vật hiện
tượng thông qua từ vựng thể hiện cảm xúc, có thể là động từ, tính từ, trạng từ hoặc danh từ Tác động có thể là tích cực hoặc tiêu cực, thể hiện một cách hiển ngôn hoặc hàm ngôn Các
nhà nghiên cứu ngôn ngữ đánh giá phân chia tác động thành các nhóm sau: Hạnh phúc/không
hạnh; An toàn/không an toàn; Thoả mãn/không thoả mãn; Mong muốn/không mong muốn (Martin & White 2005: 49)
Phán xét hành vi liên quan đến những nguồn tài nguyên ngôn ngữ để đánh giá hành vi tích
cực hoặc tiêu cực dựa trên bộ nguyên tắc chung Bảng 1.3 dưới đây minh họa ngôn ngữ phán xét hành vi:
không may (unlucky), kỳ quặc (eccentric), không thời trang (unfashionable), dated (cập nhật)
Khả năng (Capacity) Có kỹ năng (skilled), khỏe
(strong), phối hợp (together)
Vụng về (clumsy), yếu (weak), không phối hợp (uncoordinated)
Kiên trì (Tenacity) dũng cảm (brave), tin tưởng
(reliable), phụ thuộc (dependable)
hèn hạ (cowardly), không tin tưởng (unreliable), không phụ thuộc (undependable)
Quy ước xã hội (Social
Khuôn phép (Propriety) Tốt (good), chăm sóc (caring)
Trang 8(Martin & White, 2005, tr.53)
Đánh giá sự vật hiện tượng là nguồn tài nguyên ngôn ngữ đánh giá bản chất hoặc giá
trị của sự vật, hiện tượng, chẳng hạn hiện tượng tự nhiên, sản phẩm hay quá trình Đánh giá sự
vật hiện tượng có thể là tích cực hoặc tiêu cực Đánh giá sự vật hiện tượng được chia làm ba
nhóm: “Phản ứng” (reaction), “tổng hợp” (composition) và “giá trị” (valuation)
Hệ thống đánh giá sự vật hiện tượng, cùng với câu hỏi thăm dò và một số ví dụ từ vựng hiện thực hóa đánh giá sự vật hiện tượng được thể hiện trong Bảng 1.4:
Đánh giá sự vật hiện
tượng
Phản ứng Điều đó có gây chú ý không? Gây chú ý, quyến rũ,
hấp dẫn Tổng hợp Điều đó đơn giản hay phức tạp, có
cân bằng hay không?
Đơn giản, cân bằng
Gía trị Điều đó có quan trọng không? Có
ích lợi không?
Thiết yếu, hữu ích
Bảng 1.4: Dựa theo hệ thống đánh giá sự vật hiện tượng (Thu, 2013)
Thang độ là hệ thống dùng để nâng cao hoặc hạ thấp giá trị tích cực hoặc tiêu cực của thái độ (và giọng điệu) Có hai cách điều chỉnh mức độ của thái độ đó là: lực và tiêu điểm
Lực bao gồm hai loại: sự tăng/giảm về “cường độ”, “lượng hóa” Trong tiếng Anh,
sau những tìm hiểu và phân tích khung lý thuyết ban đầu của Martin & White (2005) và các nghiên cứu đi trước của Hood & Martin (2007), Hood (2010) và (Thu, 2013), chúng tôi kết hợp để áp dụng trong nghiên cứu này
Các đánh giá về “cường độ” có thể vận hành qua chất lượng, quá trình và tình thái từ Các đánh giá về “lượng hóa” có thể vận hành qua khối lượng (như kích cỡ, trọng lượng, sức mạnh, con số), phạm vi kể cả thời gian và không gian (được phân bổ rộng đến mức nào, kéo dài bao lâu) và độ gần trong không gian và thời gian (gần cỡ nào, mới (xảy ra) cỡ nào) và tần xuất (mức độ thường xuyên của hành động, sự việc)
Martin & White (2005) đề xuất ngữ nghĩa của sự tăng/giảm “cường độ” được hiện
thực hóa thông qua các biện pháp đó là: từ vựng đơn thuần, pha trộn ngữ nghĩa (semantic infusion), lặp lại Martin & Rose (2007) đề xuất thêm một biện pháp đó là chửi thề Hood (2010) bổ sung thêm biện pháp dùng tình thái từ Qua khảo sát ngữ liệu nghiên cứu, chúng
Trang 9tôi bổ sung thêm hai biện pháp đó là: câu cảm thán và câu mệnh lệnh “Lượng hóa” có thể
hiện thực hóa thông qua các biện pháp đó là từ đơn thuần (từ vựng hoặc ngữ pháp), pha trộn ngữ nghĩa, liệt kê và lặp lại
Tiêu điểm bao gồm hai loại: (1) “ước lượng” (valeur) và (2) “đạt được” (fulfillment)
(1) “ước lượng”: dùng để thể hiện tăng giảm về phẩm chất (ví dụ: blueish – hơi xanh) và về
số lượng (ví dụ: about three years – khoảng ba năm) (Martin & Rose, 2007) “ước lượng” bao gồm hai yếu tố “xác thực” (authenticity) & “cụ thể hóa” (cụ thể hóa) (Hood, 2010)
+ “xác thực” được áp dụng khi muốn nói sự tăng giảm về “thực thể” (ví dụ: a real audience – một độc giả thực sự) hoặc “phẩm chất” (ví dụ: It’s a blueish colour – đó là màu hơi xanh)
+ “cụ thể hóa” được áp dụng khi muốn nói sự tăng giảm về “thực thể” (ví dụ particularly at primary level – đặc biệt là ở cấp tiểu học) hoặc “số lượng” (ví dụ: about three years – khoảng ba năm)
(2) “đạt được” nhấn mạnh vào sự tăng giảm quá trình bao gồm hai yếu tố “hoàn thành” (completion) (ví dụ: David attempts to compare… - David nỗ lực để so sánh …) (Hood, 2010, tr 104)) & “thực chất” (actualisation) (ví dụ: … he seems to be arguing that … - … anh ta dường như đang tranh luận rằng …) (Hood, 2010, tr.104))
Đặc điểm ngôn ngữ đánh giá trong tiếng Việt
Những nghiên cứu của các tác giả trước đây Van Tran & Elizabeth Thomson (2008), Tran (2011), Võ (2011) và Thu (2013) khi áp dụng khung lý thuyết đánh giá để phân tích diễn ngôn nói và viết trong tiếng Việt đã khẳng định khung lý thuyết này hoàn toàn có thể được sử dụng để tìm hiểu ngôn ngữ mang ý nghĩa đánh giá trong tiếng Việt Nói cách khác, xét về toàn cục tiếng Anh và tiếng Việt có nhiều điểm tương đồng trong nguồn lực ngôn ngữ thể hiện ý nghĩa đánh giá như đề xuất của Martin & White (2005) Tuy nhiên, tiếng Việt có những đặc điểm riêng biệt không có tương đương trong tiếng Anh
Nguồn lực ngôn ngữ thể hiện thái độ: từ xưng hô, phân loại từ và tiểu từ “được”
Nguồn lực ngôn ngữ thể hiện thang độ: từ ghép, từ láy và từ ngẫu hợp
Trang 10Chương 2 NGÔN NGỮ ĐÁNH GIÁ TRONG SÁCH TIẾNG ANH TIỂU HỌC Ở SINGAPORE
VÀ SÁCH TIẾNG VIỆT TIỂU HỌC Ở VIỆT NAM
PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG
Ở chương hai này, chúng tôi tập trung trình bày kết quả phân tích định lượng
từ ngữ liệu sách tiếng Anh tiểu học ở Singapore và sách tiếng Việt tiểu học ở Việt Nam Cụ thể là, chúng tôi trình bày tỷ lệ ngôn ngữ đánh giá thể hiện “thái độ” và “thang độ” trong các bài đọc hiểu trong hai bộ sách
2.1 Ngôn ngữ đánh giá thể hiện “thái độ” hiển ngôn trong sách tiếng Anh tiểu học ở Singapore và sách tiếng Việt tiểu học ở Việt Nam
Tỷ lệ ba loại “thái độ”, đó là: (1) “tác động”, (2) “phán xét hành vi” và (3) “đánh giá
sự vật hiện tượng” trong các bài đọc hiểu trong ngữ liệu sách tiếng Anh và tiếng Việt được trình bày trong Bảng 2.1 & 2.2:
Loại thái độ:
Phân cực
Tác động
+ -
Phán xét hành vi + -
Đánh giá sự vật, hiện tượng + -
Tỷ lệ (%) Tỷ lệ tính tổng (%) 58 42
42
78 22
29
53 47
29
Bảng 2.1: Tỷ lệ các loại “thái độ” trong sách tiếng Anh Loại thái độ: Phân cực Tác động + -
Phán xét hành vi + -
Đánh giá sự vật, hiện tượng + -
Tỷ lệ (%) Tỷ lệ tính tổng (%) 53 47
53
70 30
41 83 17
6
Bảng 2.2: Tỷ lệ các loại “thái độ” trong sách ti ếng Việt 2.1.1 Ngôn ngữ đánh giá thể hiện “tác động” trong sách tiếng Anh tiểu học ở Singapore và sách tiếng Việt tiểu học ở Việt Nam
Trang 11Tỷ lệ các nhóm trong giá trị “tác động” trong các bài đọc hiểu trong ngữ liệu sách tiếng Anh và tiếng Việt được trình bày trong Bảng 2.3 & 2.4:
Tác động:
Phân cực:
Mong muốn
+ -
An toàn + -
Thỏa mãn + -
Hạnh phúc + -
Tỷ lệ (%) Tỷ lệ tính tổng (%) 88 12
27
36 64
27
80 20
1
47 53
37
Bảng 2.3: Tỷ lệ các nhóm trong giá trị “tác động” trong sách ti ếng Anh Tác động: Phân cực: Mong muốn + -
An toàn + -
Thỏa mãn + -
Hạnh phúc + -
Tỷ lệ (%) Tỷ lệ tính tổng (%) 96 4
23
57 43
16
13 87
20
47 53
41
Bảng 2.4: So sánh tỷ lệ các nhóm trong giá trị “tác động” trong sách ti ếng Việt
Ngôn ngữ thể hiện “mong muốn” có tỷ lệ cao nhất ở cả hai bộ sách Vì vậy chúng tôi đi sâu thống kê phân loại người thể hiện “mong muốn” và điều họ “mong muốn” trong cả hai nguồn ngữ liệu
2.1.1.1 Ngôn ngữ đánh giá thể hiện “mong muốn” trong sách tiếng Anh tiểu học ở Singapore
a Người thể hiện “mong muốn”
Khi thống kê phân loại người thể hiện “mong muốn”, chúng tôi xuất phát từ người thể hiện “mong muốn” cụ thể và sau đó phân loại thành các nhóm theo trường Nhóm người thể hiện “mong muốn”
và tỷ lệ tương ứng trong ngữ liệu sách tiếng Anh được trình bày trong Bảng 2.7:
Trường (field) Người thể hiện
“mong muốn”
Số lượng
Tỷ lệ (%) Người: học sinh Jade
Leo
12
2
40
7
Trang 12Người: nhân vật lịch sử Marco Polo & his
relatives
Người: nhân vật thần thoại Sorab (con trai)
Rustum (chồng) Raja (người thống trị Singapore)
Lính Hoàng tử Nila Utama Vua Midas
Bảng 2.7: Người thể hiện “mong muốn” trong sách tiếng Anh
b Đích “mong muốn”
Tất cả các ví dụ thể hiện “mong muốn” đều hướng tới một đích nào đó (Martin & White, 2005, tr.47) Bước tiếp theo chúng tôi xem xét sách tiếng Anh muốn thể hiện “tác động” đến những hiện tượng nào Jade là nhân vật thể hiện “mong muốn” nhiều nhất nên chúng tôi phân tích sâu về nhân vật này
Từ kết quả phân tích cho thấy trong ngữ liệu sách tiếng Anh, nhà viết sách quan tâm nhiều nhất đến người thể hiện “mong muốn” thuộc trường “học sinh” và điều họ “mong muốn” là vượt qua khó khăn để vươn lên trong cuộc sống Ý nghĩa mà văn bản muốn truyền tải là cho
dù trong hoàn cảnh khó khăn tật nguyền như Jade, một học sinh cũng ở lứa tuổi tiểu học (tuổi của Jade được thể hiện trong bài đọc), nhưng cô bé vẫn thể hiện sự nỗ lực phấn đấu để hướng tới một cuộc sống tốt đẹp hơn Câu chuyện đã để lại một bài học cho các em học sinh tiểu học
ở Singapore có một thái độ tích cực trong cuộc sống
2.1.1.2 Ngôn ngữ đánh giá thể hiện “mong muốn” trong sách tiếng Việt tiểu học ở Việt Nam
a Người thể hiện “mong muốn”
Trang 13Trước hết chúng tôi trình bày nhóm người thể hiện “mong muốn” và tỷ lệ tương ứng trong ngữ liệu sách tiếng Việt trong Bảng 2.8:
Trường (field) Người thể hiện
“mong muốn”
Số lượng
Tỷ lệ (%) Người: học sinh Nen-li
Cương Thiếu niên Nhân dân Trần Hoài Đức Hàng Chúc Nguyên’s friends
Trong ngữ liệu sách tiếng Việt, người thể hiện “mong muốn” nhiều nhất là Cương, thuộc nhóm
“học sinh” và đích mà nhân vật hướng tới là trở thành một người có trách nhiệm với gia đình Hội chứng “người thể hiện cảm xúc: học sinh + mong muốn + đích: có trách nhiệm với gia đình”
Chúng ta có thể thấy rằng, cùng thể hiện “mong muốn” tích cực, nhưng sách tiếng Anh và sách tiếng Việt có một số điểm khác Người thể hiện cảm xúc trong sách tiếng Anh là Jade ở lứa tuổi tiểu học, còn trong sách tiếng Việt là Cương có lẽ ở lứa tuổi lớn hơn Jade vì ở đầu câu chuyện nói rằng “Từ ngày phải nghỉ học, Cương đâm ra nhớ cái lò rèn cạnh trường” Sách tiếng Anh hướng tới đích cải thiện bản thân còn sách tiếng Việt hướng người đọc tới ý thức trách nhiệm của người con trong gia đình