mới… Song theo chúng tôi, một trong những nguyên nhân chậm trễ và chưa hiệu quả trong quá trình phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc, đó là chúng ta chưa n
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐÀO THU HƯƠNG
HỘI NHẬP VĂN HÓA – PHƯƠNG THỨC PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - năm 2018
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐÀO THU HƯƠNG
HỘI NHẬP VĂN HÓA – PHƯƠNG THỨC PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC
Chuyên ngành: CNDVBC & CNDVLS
Mã số: 92.29.002
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS Nguyễn Văn Huyên
HÀ NỘI - năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Những kết quả và nội dung của luận án là trung thực, chưa được công bố ở những công trình nghiên cứu khác
Tác giả luận án
Đào Thu Hương
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI LUẬN ÁN 8 1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến các vấn đề lý luận chung
về văn hóa 8
1.1.1 Những nghiên cứu về khái niệm văn hóa 8 1.1.2 Những nghiên cứu về bản chất của văn hóa 11 1.1.3 Những nghiên cứu về cấu trúc và vai trò của văn hóa trong phát triển xã hội 14
1.2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến vấn đề phát triển nền văn hóa Việt Nam trong hội nhập văn hóa 19
1.2.1 Nghiên cứu liên quan đến xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam 19 1.2.2 Nghiên cứu về hội nhập văn hóa với tư cách phương thức phát triển văn hóa 23
1.3 Đánh giá tình hình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra đối với luận án 28 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 31 Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA VÀ HỘI NHẬP VĂN HÓA 32 2.1 Những vấn đề lý luận về văn hóa 32
2.1.1 Khái niệm, bản chất văn hóa, quy luật vận động và phát triển của văn hóa 32 2.1.2 Văn hóa - tinh hoa của dân tộc 43
2.2 Một số vấn đề chủ yếu về hội nhập văn hóa và phát triển văn hóa 48
2.2.1 Khái niệm hội nhập văn hóa và phát triển văn hóa, tính tất yếu
và nội dung của hội nhập văn hóa 48
Trang 52.2.2 Vai trò của hội nhập văn hóa đối với sự phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc 63
TIẾU KẾT CHƯƠNG 2 76 Chương 3 THỰC TRẠNG HỘI NHẬP VĂN HÓA TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC 78 3.1 Thành tựu của hội nhập văn hóa trong sự phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc 78
3.1.1 Hội nhập văn hóa đã bổ sung, hình thành và phát triển nhiều giá trị văn hóa mới theo hướng tiên tiến và hiện đại 78 3.1.2 Hội nhập văn hóa đã làm mới và đậm đà thêm các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc theo hướng tiến bộ và nhân văn 92 3.1.3 Hội nhập văn hóa góp phần nâng cao vị thế văn hóa Việt Nam trên trường quốc tế 103
3.2 Hạn chế và những vấn đề đặt ra của hội nhập văn hóa trong sự phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc 105
3.2.1 Sự tiếp nhận giá trị mới từ bên ngoài và nguy cơ mai một nhiều giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc 105 3.2.2 Hội nhập văn hóa tạo nên sức ép cạnh tranh rất lớn từ bên ngoài vào các lĩnh vực văn hóa ở nước ta 109 3.2.3 Sự xâm nhập của các sản phẩm phản văn hóa và tư duy bảo thủ, chậm đổi mới kìm hãm hiệu quả hội nhập văn hóa hiện nay 117
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 120 Chương 4 ĐẨY MẠNH HỘI NHẬP VĂN HÓA NHẰM TIẾP TỤC PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC 122 4.1 Quan điểm và nguyên tắc đẩy mạnh hội nhập văn hóa nhằm tiếp tục phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc 122
Trang 64.1.1 Một số quan điểm cơ bản đẩy mạnh hội nhập văn hóa nhằm tiếp tục phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc 122 4.1.2 Một số nguyên tắc chủ yếu đẩy mạnh hội nhập văn hóa nhằm tiếp tục phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc 128
4.2 Giải pháp tiếp tục đẩy mạnh hội nhập văn hóa nhằm phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc 135
4.2.1 Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước trong việc đẩy mạnh hội nhập văn hóa nhằm phát triển nền văn hóa mới ở Việt Nam 135 4.2.2 Đẩy mạnh phát triển kinh tế, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ để nâng cao năng lực và hiệu quả hội nhập văn hóa 138 4.2.3 Phát triển nhanh các lĩnh vực, các yếu tố văn hóa để bổ sung
và phát triển các giá trị văn hóa 141 4.2.4 Đa dạng hóa các hình thức hội nhập văn hóa 143 4.2.5 Ngăn ngừa sự xâm nhập các sản phẩm phản văn hóa ngoại lai
và xóa bỏ các hủ tục lạc hậu trong nền văn hóa dân tộc 146
TIẾU KẾT CHƯƠNG 4 148 KẾT LUẬN 149 DANH MỤC NHỮNG CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Văn hóa là tinh hoa của con người và xã hội, là linh hồn và sức sống của mỗi quốc gia, dân tộc Mỗi dân tộc, bằng lao động sáng tạo của mình đã làm nên văn hóa riêng với bản sắc độc đáo của mình Đến lượt mình, văn hóa dân tộc lại trở thành nội lực cho dân tộc phát triển và trường tồn Vì vậy, văn hóa có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội Lịch sử nhân loại đã chứng minh văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực, vừa là công cụ của lịch
sử sinh tồn và phát triển của quốc gia, dân tộc Kinh nghiệm phát triển kinh tế
- xã hội ở nhiều quốc gia đã chỉ ra rằng nếu quốc gia nào trong sự phát triển của mình mà tách rời sự phát triển kinh tế ra khỏi môi trường văn hóa thì nhất định sẽ bị mất cân đối nghiêm trọng cả về mặt kinh tế lẫn văn hóa và nền văn hóa đó cũng sẽ bị mai một, suy yếu dần Do đó, trong thời đại ngày nay, bên cạnh việc cùng nhau hợp tác phát triển kinh tế, tất cả các quốc gia trên thế giới đều đã và đang nỗ lực không ngừng tìm cách hội nhập, trao đổi, hợp tác nhằm tìm ra những giải pháp phát triển văn hóa, làm động lực cho sự phát triển kinh tế, xã hội và con người
Nhưng làm thế nào để phát triển nền văn hóa? Trong quá trình phát triển ở bất kỳ quốc gia, dân tộc nào, văn hóa bao giờ cũng được phát triển từ nhiều yếu tố khác nhau: từ điều kiện tự nhiên, đặc điểm con người, truyền thống dân tộc, nhất là các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, Trong đó, giao lưu, hội nhập giữa các nền văn hóa là một cách thức quan trọng để xây dựng và phát triển nền văn hóa Lịch
sử phát triển của các quốc gia, dân tộc trên thế giới nói chung, phát triển văn hóa của các quốc gia nói riêng cho thấy, không hội nhập quốc tế nói chung, hội nhập quốc tế về văn hóa nói riêng thì không thể phát triển được
Cũng như quy luật phát triển xã hội nói chung, văn hóa không thể đứng tách biệt; nếu đứng tách khỏi cộng đồng văn hóa loài người, văn hóa dân tộc
Trang 8sẽ ngày một nghèo nàn Quy luật vận động và phát triển của văn hóa là thâm nhập vào các nền văn hóa khác, tiếp nhận, học hỏi, bổ sung, làm phong phú cho văn hóa riêng của dân tộc, đồng thời làm phong phú thêm các nền văn hóa khác Bởi vì văn hóa là tinh hoa của dân tộc Các nền văn hóa hội nhập, trao đổi với nhau có nghĩa là nền văn hóa này tiếp thu tinh hoa của các dân tộc khác Đó là một trong những phương thức tối ưu của quá trình mỗi nền văn hóa dân tộc tự làm giàu có cho chính mình, phát triển chính mình
Thông qua hội nhập văn hóa, nền văn hóa của các dân tộc đã tiếp thu, học hỏi tinh hoa văn hóa nhân loại, góp phần làm đa dạng, phong phú và sâu sắc hơn nền văn hóa dân tộc Đồng thời, hội nhập văn hóa cũng đòi hỏi các dân tộc phải giữ vững các giá trị văn hóa đặc sắc của mình và giới thiệu các giá trị văn hóa tiêu biểu đó với thế giới trong quá trình hội nhập
Hội nhập văn hóa có vai trò quan trọng như vậy trong sự phát triển văn hóa nhưng trong một thời gian dài trước đây, việc triển khai vấn đề này ở nước ta còn chưa đúng mức, làm hạn chế rất nhiều đến quá trình phát triển nền văn hóa nước nhà Trong thời gian gần đây, với chủ trương đẩy mạnh hội nhập quốc tế, trong đó có hội nhập văn hóa, lĩnh vực văn hóa của xã hội ta có nhiều khởi sắc Nội dung và phương thức hội nhập quốc tế về văn hóa đã được đổi mới nhiều và thực tế, nhiều khía cạnh của văn hóa Việt Nam được khám phá, vị trí và vai trò của văn hóa Việt Nam được khẳng định và tác động mạnh tới sự phát triển của nhiều lĩnh vực khác trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội…
Tuy nhiên, so với sự phát triển nhanh của các lĩnh vực như kinh tế, chính trị, xã hội… thì lĩnh vực văn hóa nước ta vẫn còn quá chậm và chưa đồng bộ, chưa toàn diện Điều đó có thể do chủ thể văn hóa chưa chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, có thể do chúng ta chưa khai thác và phát huy đúng
và hiệu quả các tiềm năng văn hóa dân tộc; có thể do trình độ và năng lực tổ chức, triển khai các thế mạnh riêng của văn hóa Việt Nam trong các điều kiện
Trang 9mới… Song theo chúng tôi, một trong những nguyên nhân chậm trễ và chưa hiệu quả trong quá trình phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc, đó là chúng ta chưa nhận thức đúng và sâu sắc vai trò của hội nhập quốc tế về văn hóa đối với sự phát triển nền văn hóa nước ta; chưa có tầm nhìn và chiến lược xây dựng nội dung hội nhập quốc tế về văn hóa; từ đó, chưa vạch ra chính xác và cụ thể các khía cạnh, các nội dung, đặc biệt là các cách thức hội nhập quốc tế về văn hóa; làm thế nào để khai thác hiệu quả nhất các yếu tố của nền văn hóa Việt Nam trong quá trình hội nhập Có được
tư duy khoa học và năng lực hội nhập quốc tế về văn hóa, chắc chắn nền văn hóa Việt Nam vốn phong phú, đa dạng và đặc sắc sẽ nhanh chóng trở thành một nền văn hóa tiên tiến, hiện đại Với những vấn đề và tính cấp thiết trên,
nghiên cứu sinh chọn vấn đề “Hội nhập văn hóa - Phương thức phát triển
nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” làm đề tài luận án
tiến sỹ của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu của luận án
Nghiên cứu, luận giải một cách thuyết phục hội nhập quốc tế về văn hóa là một phương thức phát triển ưu trội của phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Để thực hiện mục đích nêu trên, luận án sẽ giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài,
đánh giá tình hình nghiên cứu và xác định những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu
Thứ hai, làm rõ những vấn đề lý luận về bản chất và vai trò của hội
nhập quốc tế về văn hóa với tư cách là một phương thức phát triển văn hóa
ưu trội
Trang 10Thứ ba, làm rõ thành tựu và hạn chế của quá trình hội nhập quốc tế
về văn hóa trong sự phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong những năm vừa qua
Thứ tư, đề xuất một số quan điểm, nguyên tắc và những giải pháp chủ
yếu nhằm tiếp tục đẩy mạnh hội nhập văn hóa vì sự phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận án
Nghiên cứu hội nhập quốc tế về văn hóa với tính cách là phương thức phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
3.2 Phạm vi nghiên cứu của luận án
Luận án tiếp cận những vấn đề văn hóa, hội nhập quốc tế về văn hóa và phát triển văn hóa theo quan điểm mácxít Hội nhập quốc tế về văn hóa có rất nhiều nội dung: có thể nghiên cứu từ phương diện lịch sử, chính trị, quan hệ quốc tế… Luận án này tiếp cận vấn đề từ phương diện triết học, chỉ tập trung luận giải, chứng minh cho thuyết phục bản chất khoa học và hiệu quả của hội nhập quốc tế trong phát triển văn hóa Việt Nam
3.3 Không gian, thời gian nghiên cứu của luận án
Luận án tiến hành nghiên cứu vấn đề từ khi Đảng và Nhà nước ta tiến hành công cuộc đổi mới đất nước và mở cửa hội nhập quốc tế (từ năm 1986 đến nay), trọng tâm là từ khi Việt Nam thực hiện hội nhập quốc tế về văn hóa
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Cơ sở lý luận của luận án
Cơ sở lý luận của luận án là những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa và hội nhập để phát triển văn hóa Bên cạnh đó, luận án có sử dụng các lý thuyết phát triển hiện đại về văn hóa và hội nhập văn hóa
Trang 114.2 Phương pháp nghiên cứu của luận án
Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử là công cụ chung nhất để nhìn nhận, tiếp cận và phân tích đối tượng của luận án một cách có căn cứ lý luận và thực tiễn làm rõ cơ sở của quá trình hình thành và phát triển các yếu tố cấu thành nền văn hóa, nguyên tắc và cơ chế tiếp nhận các giá trị văn hóa với tư cách là tinh hoa của các dân tộc, làm phong phú, hiện đại hóa và tiên tiến hóa bản sắc văn hóa của mỗi nền văn hóa thông qua
sự hội nhập quốc tế về văn hóa
Phương pháp cụ thể được sử dụng trong luận án là: lịch sử và lôgic, phân tích và tổng hợp, khái quát hóa, gắn lý luận với thực tiễn
Phương pháp lịch sử và logic luôn luôn gắn kết với nhau trong suốt quá
trình nghiên cứu và giải quyết các vấn đề và nội dung của luận án Cặp phương pháp này chứng minh quá trình hình thành và phát triển của bản chất, các yếu tố, các giá trị văn hóa Chúng sẽ luận giải một cách thuyết phục quá trình hội nhập văn hóa có tính lịch sử và logic như một tất yếu Quá trình hội nhập văn hóa của các dân tộc chỉ có thể diễn ra trong lịch sử - logic của nó, nó diễn ra từ thấp đến cao, bối cảnh lịch sử quy định sự lựa chọn các giá trị văn hóa phù hợp, không thể hội nhập một cách phi thực tế
Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng trong luận án nhằm
phân tích - tổng hợp để làm rõ quá trình tiếp nhận và phát triển các yếu tố, các giá trị văn hóa mới trong quá trình các nền văn hóa thống nhất với nhau, tác động và thúc đẩy quá trình nảy sinh các yếu tố và các giá trị mới trong mỗi nền văn hóa Sự phân tích các sự kiện, các yếu tố và việc xác định bản chất của chúng là căn cứ để đi đến sự tổng hợp kết quả phân tích đó Có thể nói, cặp phương pháp phân tích - tổng hợp là thế mạnh trong việc chứng minh tính tất yếu của sự hình thành và phát triển của các giá trị mới của nền văn hóa Việt Nam trong quá trình hội nhập
Trang 12Phương pháp khái quát hóa là phương pháp đứng trên kết quả của quá
trình phân tích - tổng hợp để rút ra những kết luận theo hướng khẳng định rằng, quá trình hội nhập quốc tế về văn hóa tất yếu sẽ đưa đến những kết quả hình thành và phát triển của những giá trị mới của mỗi bên tham gia hội nhập Khái quát hóa không chỉ là dựa trên số liệu, chất liệu của phân tích - tổng hợp,
mà là phương pháp hữu hiệu để người nghiên cứu đi đến những kết luận có cơ
sở khoa học, do đó có tính thuyết phục Phương pháp khái quát hóa đã cho phép nghiên cứu sinh rút ra được những kết luận có sức thuyết phục trong luận án
Phương pháp gắn lý luận với thực tiễn được sử dụng trong luận án để
làm tăng sức thuyết phục của những phương pháp phân tích - tổng hợp và khái quát hóa những kết luận Lý thuyết không thể tách rời với thực tiễn Thực tiễn là cơ sở của chân lý (V.I.Lênin) Luận án vừa có những nội dung trừu tượng, vừa kết hợp lý luận với thực tiễn đã được sử dụng trong luận án, làm cho những cái trừu tượng trở nên thực tế hơn
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Thứ nhất, luận án đã luận chứng, làm rõ về mặt lý luận tính ưu việt của hội nhập quốc tế về văn hóa trong sự phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc
Thứ hai, luận án đã làm rõ những thành tựu và hạn chế của hội nhập quốc tế về văn hóa trong quá trình phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong thời gian qua
Thứ ba, luận án đề xuất được một số quan điểm, nguyên tắc và giải pháp khả thi để tiếp tục đẩy mạnh hội nhập quốc tế về văn hóa nhằm đẩy nhanh quá trình phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận của luận án
Luận án góp phần làm rõ và sâu sắc thêm những vấn đề lý luận về hội nhập văn hóa với tư cách là một phương thức ưu việt của quá trình phát triển
Trang 13văn hóa nói chung, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc nói riêng; góp phần làm phong phú cả nội dung và phương thức xây dựng nền văn hóa Việt Nam hiện nay
6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho các cơ quan Đảng, Nhà nước và các cơ quan, tổ chức hữu quan trong việc hoạch định chiến lược xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam Luận án cũng là tài liệu tham khảo có tính chuyên sâu dành cho công tác nghiên cứu, học tập trong lĩnh vực cụ thể
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận án gồm 4 chương, 9 tiết
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI LUẬN ÁN
Nghiên cứu về vấn đề hội nhập văn hóa và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc những năm qua thu hút không ít nhà khoa học tham gia với những chủ đề phong phú, phương pháp tiếp cận đa dạng Theo mục đích, nhiệm vụ của luận án, chương tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài sẽ làm rõ hai nhóm vấn đề chính
1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến các vấn đề lý luận chung
về văn hóa
1.1.1 Những nghiên cứu về khái niệm văn hóa
Văn hóa là khái niệm rộng lớn, tồn tại trong mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về khái niệm văn hóa thuộc các ngành khoa học lịch sử, nhân loại học, dân tộc học, xã hội học, văn hóa học, triết học Điều đó cho thấy các quan điểm về văn hóa là rất phong phú, đa dạng và hết sức phức tạp
Về xuất xứ khái niệm văn hóa, đa số các nhà nghiên cứu đều coi định nghĩa văn hóa của nhà nghiên cứu văn hóa người Anh Edward B Tylor (1832
- 1917) đưa ra trong công trình “Văn hóa nguyên thủy” (1871) là định nghĩa khoa học đầu tiên về văn hóa Trong công trình“Văn hóa: Tổng luận về các
khái niệm và định nghĩa” (1952), hai tác giả A.L.Kroeber và Clyde
Kluckhohn đã liệt kê hơn 150 định nghĩa văn hóa Từ đó cho đến nay, đã xuất hiện thêm rất nhiều định nghĩa văn hóa
Khoảng những năm 70 của thế kỷ XX, nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa trên thế giới đã tập trung làm rõ nội hàm của văn hóa, coi văn hóa là những đặc điểm về thói quen, lối sống, phong tục, tập quán, cách thức lao
Trang 15động sản xuất… của các cộng đồng người, các quốc gia, dân tộc, coi đó là những cái giúp phân biệt các dân tộc trên thế giới với nhau
Theo Từ điển Bách khoa thư Le Petit Larousse (năm 2000 của Pháp),
“văn hóa hiểu theo nghĩa rộng là tập tục, tín ngưỡng, ngôn ngữ, tư tưởng, thị hiếu, thẩm mỹ, những hiểu biết kỹ thuật, cũng như toàn bộ tổ chức môi trường của con người, văn hóa vật chất gồm những công cụ, nhà ở và nói chung toàn bộ công nghiệp có thể truyền lại được, điều tiết những quan hệ
và những ứng dụng của một nhóm xã hội với môi trường sinh thái của nó” [23; tr.20]
Nhà nghiên cứu người Trung Quốc, Đàm Gia Kiện trong cuốn sách
“Lịch sử văn hóa Trung Quốc” (1993) quan niệm: “Ngoại diên của văn hóa
có rộng, có hẹp…, song trong đó các mặt chủ yếu không ngoài chế độ điển chương (văn trị), tập tục xã hội, văn học, nghệ thuật, triết học, tôn giáo, khoa học, kỹ thuật” [Theo 121; tr.18]
UNESCO, trong Tuyên bố quốc tế về tính đa dạng văn hóa (2001) cũng
đã đưa ra một cách hiểu về văn hóa; cách hiểu đó cho rằng, văn hóa nên được xem như một tập hợp các đặc điểm nổi bật về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm của xã hội hay một nhóm xã hội, ngoài văn học, nghệ thuật, nó còn bao hàm lối sống, cách thức cùng chung sống, các hệ thống giá trị, các truyền thống và tín ngưỡng [Theo 121; tr.20]
Ở Việt Nam, hiện vẫn chưa rõ khái niệm văn hóa xuất hiện trong văn tự
lần đầu tiên từ khi nào Tuy nhiên, trong “Bình Ngô đại cáo” (1428), Nguyễn Trãi đã bàn đến văn hiến như sau: “Như nước Đại Việt ta từ trước/Vốn xưng
nền văn hiến đã lâu” Trong nền văn hiến đó, Nguyễn Trãi xác định nét đặc
trưng của văn hóa Việt là “phong tục” (“Phong tục Bắc Nam cũng khác”)
Cho đến nay, các công trình nghiên cứu liên quan đến văn hóa ở nước
ta là rất phong phú và đa dạng Trong đó, trước hết phải kể đến học giả Đào
Trang 16Duy Anh với quan niệm “Văn hóa là cách sinh hoạt của người” [1; tr.10-11]
trong công trình nghiên cứu “Việt Nam văn hóa sử cương” (2000).
Ngay từ năm 1943, Hồ Chủ tịch đã đưa ra một khái niệm văn hóa có thể nói là khái quát hầu hết nội hàm các khái niệm văn hóa trước đó:
Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương tiện sử dụng Toàn
bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của
nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn [102; tr.431]
Trong những thập niên gần đây, các nhà nghiên cứu ở Việt Nam đã đưa
ra thêm nhiều cách định nghĩa khác nhau về văn hóa
Trong công trình "Bản sắc văn hóa Việt Nam" (1998), nhà nghiên cứu
Phan Ngọc đã đề cập đến một số khái niệm như văn hóa, tiếp xúc văn hóa, khúc xạ văn hóa, giao lưu bản sắc đồng thời tác giả cũng đưa ra quan điểm
về sự giao lưu giữa văn hóa Việt Nam với các nền văn hóa khác trên thế giới Đặc biệt, tác giả đã đưa ra một định nghĩa mang tính chất thao tác luận về văn hóa Trong quan niệm về văn hóa, Phan Ngọc cho rằng văn hóa là một quan
hệ, có mặt ở mọi tộc người và chỉ ở con người mà thôi, cho nên cần tìm hiểu khái niệm văn hóa ở những khoa học nghiên cứu loài người một cách tổng thể như tâm lý học, triết học
Khác với Phan Ngọc, nhà nghiên cứu Trần Quốc Vượng tiếp cận văn hóa học từ các góc độ lịch sử và khảo cổ học Các công trình tiêu biểu của
ông phải kể đến: “Việt Nam, cái nhìn địa văn hóa” (1998); “Văn hóa Việt
Nam, tìm tòi và suy ngẫm” (2000); Cơ sở văn hóa Việt Nam (2004) Trong
các công trình nghiên cứu của mình, ông chủ yếu đề cập đến các giá trị văn
Trang 17hóa truyền thống của dân tộc cũng như đề cao vẻ đẹp truyền thống của con người Việt Nam - vốn được hình thành từ trong lịch sử dựng nước và giữ nước hào hùng của dân tộc ta
Trong công trình “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam (Cái nhìn hệ thống
loại hình)”(1997), nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm đã hướng đến những nét
bản sắc đặc trưng cơ bản cần thiết cho việc tìm hiểu văn hóa Việt Nam cùng những quy luật hình thành và phát triển của chúng Tác giả đã vận dụng cách tiếp cận hệ thống - cấu trúc kết hợp với phương pháp so sánh loại hình để tiến hành khảo sát văn hóa Việt Nam một cách toàn diện, trong sự liên hệ với các nền văn hóa khác nhau trên thế giới Trong công trình này, tác giả đã đưa ra định nghĩa về văn hóa với bốn đặc trưng quan trọng của văn hóa: tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử, tính nhân sinh
Kết quả khảo sát trên cho thấy, trên thế giới và ở Việt Nam có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về khái niệm văn hóa do cách tiếp cận về văn hóa của các nhà khoa học khác nhau Song, dù có khác nhau thì các quan điểm về
văn hóa vẫn có sự thống nhất, đó là xem văn hóa là toàn bộ những giá trị do
con người sáng tạo ra, bao gồm cả mặt vật chất và mặt tinh thần, là cái đặc trưng của một cộng đồng người, giúp phân biệt các cộng đồng người khác nhau trong lịch sử
1.1.2 Những nghiên cứu về bản chất của văn hóa
Cùng với các nghiên cứu và đưa ra các định nghĩa về văn hóa, thì các quan niệm về bản chất của văn hóa đã được nhiều học giả quan tâm, nghiên cứu từ lâu Nghiên cứu về bản chất của văn hóa, các học giả đều luận giải và
đi đến nhận định có tính chung về bản chất của văn hóa: Văn hóa là sản phẩm của hoạt động của con người, nó thể hiện sức mạnh của con người, năng lực của con người trong quá trình tồn tại và phát triển của mình
Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 10 - 2003 có giới thiệu bài “Bản chất
của văn hóa” của các tác giả David Hicks và Margazet A Gwynne Bài viết
Trang 18đã nêu lên được một số khía cạnh, thuộc tính của văn hoá đó là văn hoá không phải là cái có sẵn trong giới tự nhiên mà văn hoá là sản phẩm do con người tạo ra, là cái thuộc về con người và xã hội
Từ góc độ triết học, có rất nhiều công trình, sách, bài báo nghiên cứu về văn hóa với tư cách là phương thức hoạt động sáng tạo của con người Nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Hoàng đã công bố một số bài tạp chí bàn về bản chất
văn hóa, tiêu biểu phải kể đến cuốn sách “Tiếp cận hoạt động của Mác - Cơ
sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu và phát triển văn hóa con người ngày nay” Tác giả Lê Ngọc Anh có bài viết đăng trên tạp chí Triết học -
“Văn hóa với tư cách là phương thức hoạt động của con người” Ở đây tác
giả trình bày phương thức hoạt động của con người như một sự nhận thức, một tổ chức và cách thức lao động, sản xuất, hoạt động sống - chúng thể hiện văn hóa của cộng đồng người
Trong bài viết “Văn hóa với tiềm năng hoạt động sáng tạo của con
người”, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huyên đã phân tích sâu sắc bản chất của
văn hóa Theo ông, văn hóa là “bản tính thứ hai” của loài người, nơi chứa đựng toàn bộ tinh hoa trí tuệ, phẩm chất, năng lực, ý chí, khát vọng và niềm tin của con người; nói tổng quát là toàn bộ sức mạnh bản chất Người Quá trình tạo ra
“thiên nhiên thứ hai” thực chất cũng là quá trình loài người không ngừng tự nâng cao và hoàn thiện chính mình trong suốt chiều dài lịch sử Văn hóa luôn hiện thân trong mọi lĩnh vực hoạt động sống của xã hội; nó quy định phong cách tư duy, phương thức hành động, lối sống; nó cũng quy định hiệu quả và chất lượng hoạt động sáng tạo của mỗi cá nhân Sức mạnh quy định đó nằm trong nhân lõi tinh túy được kết tụ thành tiềm năng sáng tạo to lớn của văn hóa
Trong cuốn “Tìm hiểu về văn hóa và văn minh”, tác giả Hồ Sĩ Quý cho rằng: “Văn hóa là biểu hiện của phương thức sống của con người, là tổng
hòa mọi giá trị người”, do đó, ông cũng cho rằng, bản chất của văn hóa nằm
Trang 19ở thái độ và cách thức hoạt động của con người trong việc duy trì và thực hiện cuộc sống của mình
Các nhà nghiên cứu kể trên có quan niệm chung về bản chất của văn hóa ở khía cạnh coi văn hóa là sản phẩm của con người, kết tinh của các giá trị vật chất và tinh thần, do con người sáng tạo ra
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, để tồn tại và phát triển, hoạt động sản xuất cơ bản đầu tiên mà con người tiến hành là hoạt động sản xuất vật chất Đó là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác động vào tự nhiên, cải biến giới tự nhiên, tạo ra sản phẩm để thỏa mãn các nhu cầu cho con người Khi sản xuất vật chất, con người đã thiết lập quan hệ giữa con người với tự nhiên và quan hệ giữa người với người Sản xuất vật chất là hoạt động nền tảng cơ bản mà trên đó mọi lĩnh vực của đời sống xã hội được hình thành: lối sống, phong tục, tập quán, đạo đức, pháp luật, nghệ thuật, chính trị, tín ngưỡng, tôn giáo, khoa học, nghệ thuật, thẩm mỹ, Khi các mặt cơ bản của đời sống được hình thành thì cũng tức là văn hóa được hình thành Như vậy, văn hóa đã xuất hiện với tư cách là sản phẩm của mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và quan hệ giữa con người với con người trong sản xuất và sinh hoạt Văn hóa được hình thành, tồn tại và phát triển từ mọi mặt, mọi yếu tố trong đời sống xã hội
Văn hóa là sản phẩm do con người sáng tạo ra nhưng không phải cái gì do con người sáng tạo ra cũng là văn hóa Những giá trị nào được đúc kết từ trong lao động sản xuất và sinh hoạt xã hội, có vai trò quy định, điều chỉnh suy nghĩ, hành vi, ứng xử của con người, hướng con người đến với những lý tưởng tốt đẹp, góp phần hoàn thiện nhân cách con người, phát triển con người và xã hội thì mới được coi là văn hóa Vậy thì, văn hóa còn là cái để phân biệt con người với động vật Con người là loài động vật tiến hóa cao cấp nhất của giới tự nhiên, là thực thể thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội (C.Mác) Cái cơ bản để con người tách
Trang 20mình ra khỏi loài vật và phát triển cho đến ngày ngày nay nằm ở bản chất
xã hội của con người, đó chính là văn hóa
1.1.3 Những nghiên cứu về cấu trúc và vai trò của văn hóa trong phát triển xã hội
Dưới các góc độ tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu có các quan niệm khác nhau về cấu trúc của văn hóa Song, dù khác nhau thì trong các định nghĩa của các nhà nghiên cứu đều chứa đựng hai lĩnh vực sản phẩm, hai lĩnh vực giá trị chung Thông thường, văn hóa có cấu trúc gồm hai phần: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Văn hóa vật chất là những sản phẩm, những hiện vật, những công trình, nói chung là những sáng tạo của con người mà chúng ta có thể cảm nhận được thông qua các giác quan, với những kích thước, trọng lượng, hình dáng, màu sắc, mùi vị, âm thanh nhất định Văn hóa tinh thần cũng là những sản phẩm do con người sáng tạo ra nhưng đó là những sáng tạo thuộc lĩnh vực tri thức, tâm linh, hiểu biết, tình cảm, suy tư của con người Văn hóa tinh thần thuộc về lĩnh vực tư duy trừu tượng mà chúng ta không thể dùng các khí quan để cầm, nắm, quan sát nó, chỉ có thể nhận biết thông qua suy nghĩ, cảm nhận và liên tưởng
Tương tự cách phân chia trên, nhưng cách sử dụng từ ngữ khác nhau, UNESCO đưa ra khái niệm cấu trúc văn hóa bao gồm hai thành tố: văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể, tức là tổng thể văn hóa được phân định một cách tương đối - một phần là những giá trị văn hóa được thể hiện ở các dạng vật thể
- được cảm nhận bằng hình khối, kích thước khá cụ thể; một phần là những giá trị văn hóa có tính trừu tượng thuộc tinh thần, những gì thuộc phi vật thể
Có thể thấy, việc xác định cấu trúc của văn hóa là một vấn đề phức tạp
vì bản thân văn hóa là mang tính muôn vẻ do các yếu tố môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, điều kiện địa lý - lịch sử và tâm lý con người chi phối Khái niệm văn hóa đa dạng như thế nào thì cấu trúc văn hóa cũng đa dạng như vậy Bên cạnh việc phân chia văn hóa thành văn hóa vật chất và tinh thần,
Trang 21văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể như trên, còn có nhiều cách phân chia cấu trúc văn hóa khác nữa Có mô hình cấu trúc văn hóa thành các thành tố khác nhau, các bộ phận văn hóa khác nhau; hoặc có cách phân chia cấu trúc văn hóa thành hệ, tiểu hệ, vi hệ…
- Về cấu trúc văn hóa gồm các bộ phận khác nhau, học giả Đào Duy Anh phân chia văn hóa thành ba bộ phận: sinh hoạt kinh tế, sinh hoạt xã hội, sinh hoạt tri thức; nhà nghiên cứu Trần Quốc Vượng lại phân chia cấu trúc văn hóa bao gồm ba thành tố: văn hóa sản xuất, văn hóa vũ trang, văn hóa sinh hoạt
- Trong công trình “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam”, từ cách tiếp
cận hệ thống, nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm cho rằng, có thể xem văn hóa như một hệ thống gồm 4 thành tố (tiểu hệ) cơ bản với các vi hệ như sau: Văn hóa nhận thức bao gồm nhận thức về vũ trụ, nhận thức về con người; Văn hóa tổ chức cộng đồng bao gồm văn hóa tổ chức đời sống tập thể, văn hóa tổ chức đời sống cá nhân; Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên; Văn hóa ứng xử với môi trường xã hội
- Từ bản chất của văn hóa với tư cách là sản phẩm chung nhất của loài người, của xã hội, của các dân tộc, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huyên lại phân loại cấu trúc văn hóa theo các lĩnh vực hoạt động sống của con người: văn hóa lao động, văn hóa tư tưởng, văn hóa chính trị, văn hóa kinh tế, văn hóa pháp luật, văn hóa đạo đức, văn hóa thẩm mỹ, văn hóa kinh doanh, văn hóa ứng xử [Xem 90; tr.296-322] Như vậy, trong cấu trúc văn hóa bao giờ cũng bao gồm nhiều yếu tố; mỗi yếu tố có vị trí, vai trò khác nhau nhưng luôn gắn kết chặt chẽ với nhau tạo nên tính thống nhất và phong phú, đa dạng của văn hóa
Theo chúng tôi, các cách phân loại cấu trúc văn hóa trên không hề mâu thuẫn, mà là thống nhất với nhau Tính thống nhất là về bản chất của văn hóa
- là sản phẩm, phương thức hoạt động sống của con người Khác nhau là ở
Trang 22chỗ, mỗi học giả, từ góc độ quan tâm của mình mà đưa ra cấu trúc văn hóa của mình Song, cách phân loại chung nhất là phân loại văn hóa theo văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, và cụ thể hơn, đó cũng có nghĩa là văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể Bên cạnh đó, có cách phân loại văn hóa theo các lĩnh vực hoạt động của con người, như văn hóa sản xuất, văn hóa sinh hoạt, văn hóa ứng xử, văn hóa đạo đức, văn hóa pháp luật, văn hóa thẩm mỹ…
Nghiên cứu về văn hóa, tất cả các công trình khoa học không thể không bàn đến vai trò của văn hóa Văn hóa có vai trò rất đa dạng Từ nhiều góc độ tiếp cận và luận giải khác nhau về văn hóa, nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa ở nước ngoài đều khẳng định rằng văn hóa là yếu tố thúc đẩy sự hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách của con người
Hội nghị văn hóa thế giới Mondiacult 1982 đã khẳng định về vai trò của văn hóa như sau: “ văn hóa tạo cho con người khả năng suy tưởng về chính mình Chính văn hóa là cái làm cho chúng ta trở thành những bản thể mang tính người, có lý trí, có óc phê phán một cách đặc thù và có trách nhiệm đạo đức Chính thông qua văn hóa mà chúng ta phân biệt được các giá trị và thực hiện được những sự lựa chọn Thông qua văn hóa mà con người được tự thể hiện, có ý thức về mình, tự nhận ra mình như là một dự đồ chưa hoàn thiện, xem xét lại những thành tựu của riêng mình, tìm kiếm không mệt mỏi những ý nghĩa mới và sáng tạo ra những tác phẩm vượt lên trên bản thân mình” [Theo 24; tr.18]
Công trình “Tu dưỡng đạo đức tư tưởng” (2003) của nhà nghiên cứu
người Trung Quốc La Quốc Kiệt đã có cách nhìn riêng về vai trò của văn hóa trong hoàn thiện nhân cách con người Ông cho rằng: “tố chất văn hóa” có ảnh hưởng lớn và thẩm thấu rất mạnh đối với sự hình thành và phát triển các yếu tố trong cấu trúc của nhân cách
Ở Việt Nam, vai trò của văn hóa trong phát triển ngày càng được quan tâm chú ý hơn Trước hết, thể hiện ở sự đổi mới về mặt nhận thức nhằm nâng
Trang 23cao vai trò của văn hóa trong sự nghiệp phát triển đất nước và những chính sách, đường lối phát triển văn hóa của Đảng và Nhà nước ta Tại Hội nghị lần
thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, trong Nghị quyết“Về xây
dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”,
Đảng ta đã đề ra chủ trương phát triển văn hóa đúng đắn theo quan điểm hội nhập quốc tế, xây dựng con người và văn hóa Việt Nam trong mối quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại, giữa dân tộc với quốc tế, coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy
sự phát triển kinh tế, xã hội
Vấn đề vai trò của văn hóa đã được đề cập từ rất sớm ở nhiều công trình nghiên cứu, nhất là từ khi tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất
nước Những công trình như “Đến hiện đại từ truyền thống” (1996) của Trần Đình Hượu; “Văn hóa Việt Nam - tìm tòi và suy ngẫm” (2000) của Trần Quốc Vượng; “Góp phần nghiên cứu văn hóa và văn hóa tộc người” (1996) của Nguyễn Từ Chi; “Về giá trị và giá trị châu Á” (2005) của Hồ Sĩ Quý và một
số tác phẩm của Trần Văn Giàu, Vũ Khiêu đã nghiên cứu sâu sắc về văn hóa Việt Nam và vai trò của nó đối với sự phát triển xã hội
Công trình “Phương pháp luận về vai trò của văn hóa trong phát
triển” (1993) của nhiều tác giả do các nhà nghiên cứu Vũ Khiêu, Phạm Xuân
Nam và Hoàng Trinh chủ biên Đáng chú ý là bài viết “Bản sắc văn hóa dân
tộc của văn hóa - một động lực của phát triển” của học giả Hoàng Trinh
Trong đó, tác giả khái quát bản sắc văn hóa dân tộc có vai trò động lực như là một điểm tựa Archimede Nếu giữ vững và phát huy được bản sắc dân tộc của văn hóa thì sẽ thúc đẩy nền văn hóa dân tộc phát triển
Từ góc nhìn khác về vai trò của văn hóa, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huyên đã luận giải vai trò chủ thể hoạt động sáng tạo của con người đối với
sự phát triển văn hóa và đối với chính sự phát triển nhân cách trong bài viết
“Quá trình hoạt động sáng tạo là sự tự hoàn thiện và phát triển nhân cách”
Trang 24trong cuốn sách “Mấy vấn đề triết học về xã hội và phát triển con người” (2002) Tập trung nhất, trong công trình “Văn hóa - mục tiêu và động lực của
sự phát triển xã hội” (2006), tác giả Nguyễn Văn Huyên (chủ biên) đã phân
tích, chứng minh văn hóa vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển
xã hội
Đề cập đến vai trò của văn hóa đối với sự phát triển phải kể đến công trình
“Văn hóa vì phát triển” của nhà nghiên cứu Phạm Xuân Nam (2005) Cuốn sách
đã đưa ra quan niệm về văn hóa từ hệ thống cấu trúc, chức năng của nó Trong
đó, tác giả khẳng định rằng rõ ràng văn hóa không đứng ngoài phát triển, nó nằm bên trong, là nhân tố nội sinh, vừa là mục tiêu, vừa là động lực và hệ điều tiết của sự phát triển Từ đó, tác giả phân tích vai trò của văn hóa đối với các lĩnh vực cụ thể, đó là vai trò của văn hóa trong phát triển nông thôn, văn hóa trong sản xuất kinh doanh, văn hóa và quản lý môi trường và văn hóa trong đổi mới tư duy lý luận
Trong cuốn sách “Tác động của toàn cầu hóa đối với sự phát triển văn
hóa và con người Việt Nam”, nhà nghiên cứu Dương Phú Hiệp cho rằng,
trong bối cảnh toàn cầu hóa, “phát triển con người phải lấy văn hóa làm trọng tâm, làm nền tảng cho mọi sự phát triển; và phát triển văn hóa không phải là
vì văn hóa mà là để phục vụ con người nhằm đạt được mục đích cuối cùng là
phát triển con người bền vững” Với bài “Vai trò của văn hóa đối với phát
triển” in trong “Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 - Những vấn đề phương pháp luận” (nhà nghiên cứu Phạm Duy Đức chủ biên, 2010),
tác giả Dương Phú Hiệp cũng đã bàn đến vai trò của văn hóa đối với sự phát triển kinh tế, phát triển con người và phát triển nguồn nhân lực
Nghiên cứu về vai trò của văn hóa đặt trong mối quan hệ với văn minh,
nhà nghiên cứu Hồ Sĩ Quý công bố một số bài viết “Vai trò của nhân tố văn
hóa trong nền văn minh” (1993) và bài viết “Vai trò của văn hóa trong quan
niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen” (1996) Ngoài ra còn có các bài viết của các
Trang 25nhà nghiên cứu khác về vai trò của văn hóa như: “Văn hóa Việt Nam và sự
phát triển lâu bền của quốc gia” của nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Chuẩn
(1998); “Một vài suy nghĩ về bản sắc dân tộc của văn hóa” (1990) của nhà
nghiên cứu Đỗ Huy
Vai trò của văn hóa trong phát triển xã hội được thể hiện tập trung và khái quát nhất trong tác phẩm nổi tiếng của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng:
“Văn hóa và Đổi mới”, trong đó, tác giả phân tích sâu sắc vai trò của văn hóa
trong sự nghiệp đổi mới, đổi mới chính là phát triển, văn hóa là đổi mới
Các công trình kể trên đều khẳng định rằng văn hóa có vai trò vô cùng
to lớn đối với sự phát triển xã hội trên tất cả các phương diện: kinh tế, chính trị, con người và nguồn nhân lực, làm phong phú giá trị vật chất và tinh thần của xã hội Các công trình nghiên cứu đều chứng minh rằng văn hóa không hề tách rời sự phát triển mà ngược lại, văn hóa có mối quan hệ biện chứng với phát triển Văn hóa vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển, đồng thời còn là hệ điều tiết cho sự phát triển
1.2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến vấn đề phát triển nền văn hóa Việt Nam trong hội nhập văn hóa
1.2.1 Nghiên cứu liên quan đến xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam
Vấn đề xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc từ lâu đã nhận được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta, của nhiều học giả nghiên cứu về văn hóa
Từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho rằng phát triển nền văn hóa Việt Nam phải dựa trên việc tiếp thu, học hỏi có chọn lọc các giá trị văn hóa tiến bộ từ các nước khác nhằm tạo ra một nền văn hóa vừa có tính dân tộc vừa
có tính tiên tiến, hiện đại Người khẳng định rằng:
Văn hóa Việt Nam là kết quả ảnh hưởng lẫn nhau của văn hóa Đông phương và Tây phương chung đúc lại ( ) Tây phương hay
Trang 26Đông phương có cái gì tốt ta phải học lấy để tạo ra một nền văn hóa Việt Nam Nghĩa là lấy kinh nghiệm tốt của văn hóa xưa và văn hóa nay, trau dồi cho văn hóa Việt Nam thật có tinh thần thuần túy Việt Nam để hợp với tinh thần dân chủ” [102; tr.157] Tiếp nối tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển nền văn hóa mới, vấn đề xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc được thể hiện rất rõ trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam
Ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam rất coi trọng sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa Đảng ta xác định rằng lĩnh vực hoạt động văn hóa là một bộ phận quan trọng của cách mạng Việt Nam Sự
quan tâm, chú trọng của Đảng về lĩnh vực văn hóa được thể hiện trong Đề
cương văn hóa Việt Nam năm 1943 của Đảng ta
Từ năm 1986, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới, đặc biệt là đổi mới tư duy trên nhiều lĩnh vực, trong đó có
lĩnh vực văn hóa Trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội” (1991), Đảng ta đã xác định nền văn hóa mới mà nước ta
xây dựng và phát triển là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, coi đây
là mục tiêu, là nhiệm vụ trọng yếu trong sự nghiệp phát triển đất nước nói chung, phát triển nền văn hóa nói riêng
Tư tưởng về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc tiếp tục được bổ sung, phát triển đầy đủ và phong phú hơn trong các văn kiện của Đảng sau này Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đã chỉ rõ: “Nền văn hóa mà Đảng ta lãnh đạo toàn dân xây dựng là nền văn hóa tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc” Năm 1998, trong
Nghị quyết “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc”, Đảng ta tiếp tục xác định nền văn hóa mà nước ta phấn
đấu xây dựng và phát triển là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Trang 27Nhận thức sâu sắc vai trò của văn hóa và tính cấp thiết của công cuộc xây dựng và phát triển nền văn hóa mới, các kỳ Đại hội Đảng lần thứ IX, X,
XI, XII tiếp tục nhấn mạnh vai trò và cách thức phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong thời gian tới
Từ chủ trương, quan điểm xây dựng và phát triển văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam, các nhà nghiên cứu về văn hóa cũng đặc biệt quan tâm đến vấn đề này Có thể kể đến các công trình như sau:
Nhà nghiên cứu Nguyễn Khoa Điềm có công trình “Xây dựng và phát
triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” (chủ biên,
2001) Nội dung của công trình này phản ánh những nét chính yếu về tính tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc của nền văn hóa mà Việt Nam đang xây dựng, đồng thời đề xuất một số giải pháp cơ bản và những kiến nghị để xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần phát triển nền văn hóa Việt Nam nói riêng, đất nước Việt Nam nói chung
Nhà nghiên cứu Phạm Minh Hạc có các công trình nghiên cứu về vấn
đề này như: “Phát triển văn hóa, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc kết hợp
với tinh hoa nhân loại” (1996);“Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (1996); “Về phát triển văn hóa và xây dựng con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (Phạm Minh Hạc và Nguyễn
Khoa Điềm, 2003)
Công trình “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc: thành tựu và kinh nghiệm” của nhà nghiên cứu Đỗ
Thị Minh Thúy (chủ biên, 2004) Công trình này chủ yếu tập trung vào các vấn đề: Một số vấn đề chung quán triệt những quan điểm chỉ đạo cơ bản của Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về xây dựng và phát triển văn hóa; xây dựng tư tưởng đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa; bảo tồn và phát huy các
di sản văn hóa; một số vấn đề về: xây dựng chính sách văn hóa, củng cố xây
Trang 28dựng và hoàn thiện thể chế văn hóa, tăng cường nguồn lực và phương tiện cho hoạt động văn hóa, mở rộng hợp tác, hội nhập quốc tế
Các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm chủ đề về phát triển văn hóa hiện nay thời gian gần đây Nhà nghiên cứu Dương Phú Hiệp xuất bản công trình
“Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 - Những vấn đề phương pháp luận” (2010) Nhà nghiên cứu Phạm Duy Đức có bài viết “Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”… Các bài viết đã trình bày đặc trưng
cơ bản của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và những quan điểm cơ bản chỉ đạo cùng với những nhiệm vụ xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
Về thực trạng văn hóa và hướng xây dựng, phát triển văn hóa Việt
Nam, tác giả Đỗ Huy có các bài viết “Mô thức xây dựng “nền văn hóa tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”; “Cái truyền thống và cái hiện đại trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa mới ở nước ta”; “Mấy suy nghĩ về thực trạng văn hóa Việt Nam”;
“Giao tiếp văn hóa và hệ giải pháp hình thành những giá trị văn hóa mới ở Việt Nam”; “Hướng phát triển của văn hóa Việt Nam”
Cùng mảng nghiên cứu này còn có một số bài viết: “Giữ gìn và phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc, một nhu cầu phát triển của xã hội hiện đại”
của tác giả Lương Quỳnh Khuê (1992); “Khả năng phát triển giá trị truyền
thống Việt Nam trước xu thế toàn cầu hóa” của nhà nghiên cứu Nguyễn
Tài Thư (2001)
Như vậy, vấn đề xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã được định hình rõ nét trong đường lối xây dựng, phát triển văn hóa, phát triển đất nước theo quan niệm của Đảng và Nhà nước ta Những quan điểm này cũng ngày càng thu hút sự quan tâm của
Trang 29các nhà nghiên cứu về văn hóa Cùng với việc nghiên cứu về đặc trưng cơ bản của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, một số nhà nghiên cứu cũng đã quan tâm đến vấn đề phương thức và các cách thức xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Tuy nhiên, ở vấn đề này, phần lớn chỉ tập trung vào các cách thức giải pháp,
ít chú ý tới phương thức phát triển văn hóa
1.2.2 Nghiên cứu về hội nhập văn hóa với tư cách phương thức phát triển văn hóa
Không phải đến bây giờ vấn đề giao lưu, hội nhập văn hóa mới được các nhà nghiên cứu quan tâm Ngay từ khi các quốc gia ý thức được tầm quan trọng của văn hóa đối với phát triển xã hội, việc nghiên cứu cách thức, phương hướng phát triển văn hóa, trong đó có vấn đề hội nhập văn hóa đã được coi như là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy văn hóa phát triển Dưới các góc độ tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu có các quan điểm khác nhau về hội nhập văn hóa
Về vấn đề văn hóa và phát triển văn hóa, trong “Tuyên ngôn thế giới
của UNESCO về đa dạng văn hóa” (2001), Liên hợp quốc thể hiện tinh thần
đề cao vai trò của văn hóa trong sự phát triển các quốc gia, dân tộc và khuyến khích tăng cường sự giao lưu, hội nhập giữa các nền văn hóa trên thế giới với nhau để tạo ra một nền văn hóa nhân loại phong phú và đa dạng
Trong cuốn sách “Toàn cầu hóa văn hóa” (2003), tác giả Dominique
Wolton đưa ra quan niệm cho rằng các quốc gia, dân tộc với những bản sắc văn hóa khác nhau có thể tăng cường trao đổi, học hỏi các giá trị văn hóa mới
để phát triển nền văn hóa của mình thông qua quá trình hội nhập quốc tế hiện nay Từ đó, tác giả khuyến khích các quốc gia, dân tộc trên thế giới nên chấp nhận nền văn hóa đa dạng ngôn ngữ, đa tôn giáo, kết hợp truyền thống văn hóa của các dân tộc với nhau để tạo nên nền văn hóa chung của thế giới…
Trang 30Trong cuốn sách “Sự đối thoại giữa các nền văn hóa” (2007), tác giả
Léopold Sédar Senghor khẳng định rằng, trên thực tế, không có một nền văn hóa nào tồn tại và phát triển được chỉ dựa trên các giá trị văn hóa bản địa, tách biệt hoàn toàn với những nền văn hóa khác Từ đó, ông nhấn mạnh rằng xu hướng hội nhập quốc tế đã làm cho các nền văn hóa trên thế giới ngày càng phát triển theo hướng phong phú và đa dạng
Có thể thấy, đa số nhà nghiên cứu về văn hóa trên thế giới đều cho rằng giao lưu, hội nhập văn hóa giúp cho các dân tộc xích lại gần nhau hơn, nền văn hóa các dân tộc có điều kiện để trao đổi, học hỏi các giá trị văn hóa của nhau; hội nhập văn hóa là điều kiện, tiền đề để các dân tộc cùng nhau giải quyết các vấn đề mang tính toàn cầu, góp phần vào sự phát triển chung của toàn nhân loại
Ở Việt Nam, vấn đề hội nhập văn hóa với tư cách một phương thức phát triển văn hóa đã được quan tâm từ lâu, đầu tiên phải kể đến quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về giao lưu, hội nhập văn hóa
Từ khi đất nước ta tiến hành công cuộc đổi mới đất nước năm 1986 cho đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn thực hiện chủ trương, đường lối đẩy mạnh giao lưu, hội nhập văn hóa giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới nhằm tiếp nhận những giá trị văn hóa tiên tiến, đặc sắc nhất để làm giàu có, phát triển nền văn hóa nước nhà Đặc biệt là từ Nghị quyết Trung
ương năm khóa VIII “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Kể từ đó, các kỳ đại hội đại biểu toàn quốc
của Đảng ta luôn tiếp tục thực hiện đường lối phát triển văn hóa và đề ra phương pháp thực hiện sự nghiệp phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ hội nhập quốc tế hiện nay
Hưởng ứng mạnh mẽ đường lối hội nhập quốc tế về văn hóa nhằm phát triển văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhiều công trình nghiên cứu văn
Trang 31hóa và hội nhập văn hóa ở Việt Nam đã được công bố quan tâm đến nhiều khía cạnh vừa cơ bản vừa mới mẻ:
Công trình nghiên cứu “Triết lý phát triển ở Việt Nam - mấy vấn đề cốt
yếu” do nhà nghiên cứu Phạm Xuân Nam chủ biên (2005) có một tư tưởng
quan trọng về giao lưu, hội nhập văn hóa: giao lưu, hội nhập văn hóa là điều kiện không thể thiếu đối với sự tồn tại và phát triển của cả dân tộc Trong thời đại ngày nay, giao lưu, hội nhập văn hóa càng mang một ý nghĩa đặc biệt quan trọng
Nghiên cứu về hội nhập văn hóa, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dân có
công trình“Văn hóa và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa” (2006) Trong
công trình này, tác giả đưa ra quan niệm về một nền văn hóa chung cho toàn nhân loại trong bối cảnh hội nhập văn hóa toàn cầu:
Một nền văn hóa toàn cầu chân chính trước hết phải là nền văn hóa đại diện được cho những giá trị chung của nhân loại, thứ hai là nó phải dung hợp được những giá trị tiến bộ của các nền văn hóa dân tộc trên toàn thế giới, và thứ ba là nó còn phải đại diện được cho tinh thần của nền văn minh thời đại Và một nền văn hóa như thế đang tồn tại một cách khách quan không thể phủ nhận trên toàn hành tinh, với tư cách là sản phẩm của nền văn minh hiện đại chứ không phải là của riêng lĩnh vực văn hóa” [23; tr.124]
Cùng quan tâm đến vấn đề này, tác giả Ngô Đức Thịnh (chủ biên,
2010) có công trình “Những giá trị truyền thống Việt Nam” Trong chương
VIII “Giao lưu và hội nhập văn hóa là động lực phát triển xã hội”, các tác giả đã đề cập đến một số khái niệm như tiếp biến văn hóa, đối thoại văn hóa, tiếp xúc, giao lưu văn hóa, hội nhập văn hóa với quan điểm các khái niệm này có những sắc thái ngữ nghĩa khác nhau nhưng chúng đều hướng tới một hiện tượng chung là hai hay nhiều nền văn hóa “gặp gỡ”, hội nhập với nhau,
Trang 32“cho và nhận” những giá trị, những hiện tượng văn hóa của nhau, từ đó tạo nên những biến đổi văn hóa của mỗi nền văn hóa đó Tiếp đó, các tác giả đề cập đến vai trò của giao lưu và hội nhập văn hóa trong xu hướng toàn cầu hóa văn hóa hiện nay
Đề cập đến vai trò của giao lưu, hội nhập văn hóa có các công trình
như: Công trình “Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu
hóa” (2002) do các nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Chuẩn và Nguyễn Văn
Huyên chủ biên Trong công trình này, các tác giả đã phân tích bản chất của toàn cầu hóa, những thách thức và cơ hội của toàn cầu hóa đối với việc giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống dân tộc Việt Nam trong giai đoạn phát triển hiện nay
Công trình “Những thách thức của văn hóa Việt Nam trong quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế” (2006) do tác giả Phạm Duy Đức chủ biên Công
trình này đã làm rõ những tác động của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc
tế đối với văn hóa Việt Nam hiện nay, đồng thời đưa ra một số phương hướng
và giải pháp để phát huy những ưu thế, vượt qua những thách thức nhằm xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế
Công trình “Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc
tế” (2010) do tác giả Nguyễn Chí Bền (chủ biên) đã nhấn mạnh đến vai trò
của giao lưu và hội nhập văn hóa, đó là giao lưu và hội nhập văn hóa là một trong những nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy quá trình phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc
Cùng chủ đề này, còn có các công trình khác liên quan đến vấn đề giao
lưu, hội nhập văn hóa như: “Văn hóa Việt Nam truyền thống và hiện đại”
(2000) do các tác giả Lê Huy Hòa, Hoàng Đức Nhuận tuyển chọn và giới
thiệu; “Tìm hiểu giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa” (2001) do các tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Văn
Trang 33Đức và Hồ Sỹ Quý đồng chủ biên; công trình “Bản sắc văn hóa dân tộc”
(2003) của tác giả Hồ Bá Thâm tập hợp, hệ thống hóa các bài viết thành chuyên luận
Bên cạnh các cuốn sách, công trình nghiên cứu kể trên, còn có một số bài báo liên quan đến mảng vấn đề này như:
Bài viết "Mấy suy nghĩ về văn hóa Việt Nam" của tác giả Hồ Sĩ Quý
(1998) đã đề cập đến bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam và đưa người đọc đến với nhận định rằng văn hóa Việt Nam không thuộc vào dạng nền văn hóa đóng kín mà còn là kết quả của sự giao lưu và tiếp biến với các nền văn minh bên ngoài Trong quá trình giao lưu này, văn hóa Việt Nam đã hình thành và chứng tỏ được cốt cách của mình đồng thời cũng thường xuyên tiếp thu các giá trị ngoại sinh để hoàn thiện bản sắc dân tộc của mình
Tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn có một loạt các bài viết về vấn đề văn
hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay như: “Toàn cầu hóa: Những cơ
hội và những thách thức”; “Những thách thức của toàn cầu hóa”; “Hội nhập quốc tế: cơ hội và thách thức đối với giá trị truyền thống trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay”
Cùng nghiên cứu đến vấn đề này có một số bài viết của tác giả Nguyễn
Văn Huyên như: “Bản sắc văn hóa Việt Nam trước thách thức của toàn cầu
hóa” ; “Văn hóa - phát huy bản sắc và hội nhập” ; “Giá trị truyền thống - nhân lõi và sức sống trong cả sự phát triển đất nước”; “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc”; “Lối sống người Việt Nam dưới tác động của toàn cầu hóa hiện nay”
Cùng hướng nghiên cứu trên, còn có một số bài viết khác như: tác giả
Trường Lưu với bài viết “Giao lưu quốc tế về văn hóa và việc cảnh giác đối
với độc tố văn hóa”; tác giả Phạm Xuân Nam với bài viết: “Đối thoại giữa các nền văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa”; tác giả Phạm Thái Việt với
bài viết: “Bản sắc văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa”; tác giả Bùi Thanh
Trang 34Quất có bài viết: "Bản sắc và giao lưu văn hóa - từ góc nhìn triết học"; tác giả Trần Nguyên Việt với bài viết: “Giá trị nhân văn truyền thống Việt Nam
trong bối cảnh toàn cầu hóa”; tác giả Đỗ Huy có bài viết: “Bao dung là một lối sống văn hóa” và “Mấy suy nghĩ về thực trạng văn hóa Việt Nam”
Trong công trình “Mấy vấn đề triết học về xã hội và phát triển con
người” (2002), tác giả Nguyễn Văn Huyên có tiểu luận rất đáng chú ý, đó là
“Hội nhập văn hóa - phương thức tối ưu của quá trình phát triển nền văn
hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Theo tác giả, trên thế giới
có bao nhiêu dân tộc thì có bấy nhiêu nền văn hóa với các bản sắc độc đáo với hệ thống giá trị khác nhau mà mỗi dân tộc giữ gìn và vươn tới Giao lưu, hội nhập văn hóa làm lưu thông huyết mạch văn hóa giữa các dân tộc, đó là phương thức tồn tại tự nhiên của mỗi cơ thể lành mạnh, sinh động Trong quá trình giao lưu, hội nhập đó, mỗi cơ thể văn hóa thực hiện sự chọn lọc, đồng hóa và dị hóa, tiếp thu và gạt bỏ theo cơ chế tiến hóa Một cơ thể văn hóa lành mạnh sẽ là một nền văn hóa biết cách hội nhập những tinh hoa đặc sắc; và điều quyết định nhất là nó có đủ sức đồng hóa các tinh chất đặc sắc của các nền văn hóa khác sao cho phù hợp và có lợi cho mình, biến cái bên ngoài thành cái bên trong, tạo ra nội lực phát triển
Với quan điểm hội nhập văn hóa là tích hợp tinh hoa nhân loại, làm phong phú và hiện đại nền văn hóa dân tộc, tác giả khẳng định hội nhập là phương thức tối ưu của quá trình phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Từ đó, tác giả đưa ra một số nguyên tắc hội nhập vì một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc
1.3 Đánh giá tình hình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra đối với luận án
Nghiên cứu về văn hóa trên thế giới đã được quan tâm từ xa xưa; những vấn đề về bản chất, nội dung, cấu trúc của văn hóa đã được nghiên cứu rất sâu sắc, các quan điểm bổ sung cho nhau, các nội dung làm phong
Trang 35phú cho nhau làm cho nhận thức về văn hóa ngày càng sâu sắc, các lý giải
về nội dung của văn hóa là hết sức đa dạng và ngày càng toàn diện Ở Việt Nam, nghiên cứu về văn hóa nói chung, về bản chất và vai trò của văn hóa trong phát triển xã hội nói riêng ngày càng giành được nhiều thành quả quan trọng Nhận thức về vai trò của văn hóa trong phát triển xã hội nói chung, quan điểm, chủ trương, đường lối phát triển nền văn hóa Việt Nam đã được Đảng ta thể hiện trong các Văn kiện Đại hội của Đảng, nhất là ở các Đại hội thời kỳ đẩy mạnh công cuộc đổi mới đất nước Tư tưởng “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi” (Hồ Chí Minh); “Văn hóa là nền tảng tinh thần của
xã hội”; “Văn hóa là mục tiêu và động lực của phát triển xã hội” không chỉ trở thành trọng tâm nghiên cứu, mà đã được lý giải, chứng minh một cách khoa học và thuyết phục trong thời gian nghiên cứu gần đây, làm nền tảng lý luận quan trọng trong việc sử dụng văn hóa vào phát triển kinh tế, chính trị,
xã hội… và thực sự văn hóa đã trở thành mục tiêu và động lực của phát triển trong xã hội ta
Vấn đề hội nhập văn hóa đã trở thành một trong những sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình phát triển văn hóa Để làm rõ sự đúng đắn trong chủ trương, đường lối hội nhập văn hóa của Đảng, nhiều công trình khoa học đã đi sâu, luận giải nhiều nội dung căn bản của giao lưu, hội nhập văn hóa; tầm quan trọng của giao lưu, hội nhập văn hóa đối với quá trình làm phong phú các giá trị văn hóa Việt Nam, xây dựng và phát triển nền văn hóa mới Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế Tuy nhiên, nhìn chung, mỗi công trình đi vào một vấn đề, một nội dung, một khía cạnh riêng rẽ Cho đến nay, ở nước ta chưa có một công trình khoa học nào đi sâu chứng minh một cách hệ thống và toàn diện về vai trò to lớn, đặc điểm ưu trội của hội nhập văn hóa quốc tế trong quá trình xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc
Trang 36Trong bối cảnh toàn cầu hóa và trong đẩy mạnh hội nhập quốc tế hiện nay của Việt Nam, nhất là trong yêu cầu xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam hiện nay việc thực hiện một công trình khoa học, nhất là từ góc độ triết học, nghiên cứu một cách hệ thống và cơ bản về lợi thế hay tính ưu việt của hội nhập quốc tế về văn hóa trong việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một đòi hỏi cấp thiết
Những vấn đề đặt ra đối với luận án là:
Thứ nhất, trên cơ sở lý luận về bản chất, nội dung, đặc điểm, cấu trúc
của văn hóa, luận án đi sâu nghiên cứu, làm rõ vai trò to lớn của hội nhập văn hóa đối với sự phát triển của một nền văn hóa, nhất là sự phát triển có tính ưu việt trong sự làm giàu các bản sắc văn hóa của mỗi nền văn hóa dân tộc
Thứ hai, từ lý luận về vai trò đó, luận án khảo sát thực tế sự hội nhập
văn hóa của Việt Nam với các nền văn hóa khác trên thế giới trong mấy thập niên vừa qua (Từ khi Đảng lãnh đạo nhân dân ta tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, mở cửa hội nhập quốc tế), chứng minh một cách thuyết phục rằng, quá trình hội nhập quốc tế về văn hóa đó đã tạo ra một cách hiệu quả sự tiên tiến hóa, sự đậm đà hóa bản sắc văn hóa Việt Nam
Thứ ba, từ tính ưu việt của quá trình hội nhập văn hóa đó, luận án sẽ
đề xuất những quan điểm, nguyên tắc và giải pháp nhằm tiếp tục đẩy mạnh hội nhập văn hóa quốc tế để nền văn hóa Việt Nam nhanh chóng phát triển theo hướng đúng đắn nhất, đó là vừa tiên tiến, vừa đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam
Trang 37TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Nghiên cứu về văn hóa đã được quan tâm từ xa xưa trong lịch sử, có nội dung hết sức phong phú, đa dạng và rất sâu sắc trên thế giới và ở Việt Nam Khi quan tâm nghiên cứu lĩnh vực này, các nhà nghiên cứu về văn hoá đã phân tích sâu vào các khía cạnh của văn hóa như khái niệm, bản chất, cấu trúc của văn hóa Những nghiên cứu đó là nền tảng khoa học để nghiên cứu sinh khai thác, kế thừa, giải quyết những vấn đề trong đề tài luận án Nghiên cứu về vai trò của văn hóa trong sự phát triển xã hội cũng đặc biệt được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm Những công trình nghiên cứu này đã phân tích, làm rõ các khía cạnh khác nhau về vai trò của văn hóa, đặc biệt là hai khía cạnh
cơ bản: văn hóa là mục tiêu và văn hóa là động lực phát triển xã hội
Việc nghiên cứu về hội nhập văn hóa, vai trò của hội nhập văn hóa đối với quá trình phát triển xã hội và quá trình phát triển của bản thân văn hóa đã
có một số nhà khoa học quan tâm, song chưa nhiều; hơn nữa các công trình nghiên cứu chủ yếu đi sâu vào một số khía cạnh của vấn đề hội nhập văn hóa, chưa có nhiều công trình đi sâu vào bản chất, đặc điểm, những nét đặc thù của hội nhập quốc tế về văn hóa; chưa có công trình nào với tư cách một công trình khoa học đi sâu luận giải vị trí, vai trò ưu trội của quá trình phát triển văn hóa qua quá trình hội nhập quốc tế về văn hóa
Việc nghiên cứu vấn đề hội nhập văn hóa với tư cách là một phương thức phát triển ưu việt nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
là rất quan trọng và cần thiết xét về mặt lý luận lẫn thực tiễn, nhất là đối với tình hình phát triển đất nước nói chung, phát triển văn hóa nói riêng hiện nay
Là mảng nghiên cứu có nội dung lớn, quan trọng và thiết thực hiện nay, nó có hiệu quả lớn trong việc xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Nghiên cứu làm rõ những vấn đề nêu trên về hội nhập quốc tế về văn hóa sẽ góp phần quan trọng vào việc đẩy nhanh yêu cầu phát triển nền văn hóa Việt Nam theo đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 38Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ VĂN HÓA VÀ HỘI NHẬP VĂN HÓA
2.1 Những vấn đề lý luận về văn hóa
Nghiên cứu về sự phát triển của văn hóa dân tộc trong hội nhập văn hóa khi coi hội nhập là phương thức phát triển văn hóa, cần thiết phải làm rõ về khái niệm, bản chất của văn hóa, quy luật vận động và phát triển của văn hóa Trong đó, cần thiết phải làm rõ quy luật giao lưu, hội nhập giữa các nền văn hóa trên thế giới; đồng thời, cần làm rõ các đặc điểm của nền văn hóa dân tộc
- chủ thể của quá trình hội nhập văn hóa Nền văn hóa dân tộc không thể tách rời truyền thống lịch sử văn hóa dân tộc, không thể tách rời các điều kiện kinh
tế, chính trị, xã hội trong nước, cũng như không thể tồn tại nếu thiếu mối liên
hệ qua lại của nền văn hóa dân tộc với các nền văn hóa trên thế giới
2.1.1 Khái niệm, bản chất văn hóa, quy luật vận động và phát triển của văn hóa
2.1.1.1 Khái niệm văn hóa
Văn hóa là toàn bộ những giá trị do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn Mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau thường có các quan niệm khác nhau về văn hóa Bởi lẽ cùng với sự vận động của xã hội, phát triển về nhận thức của loài người, khái niệm văn hóa ngày càng được bổ sung thêm những nội dung mới Chính vì vậy, khái niệm văn hóa là một trong những khái niệm rất phức tạp với nhiều cách hiểu khác nhau Tuy nhiên, dù rất phức tạp và có nhiều cách hiểu khác nhau, để thực hiện mục đích luận án
là chứng minh thuyết phục rằng, hội nhập quốc tế về văn hóa là phương thức
ưu trội của phát triển nền văn hóa dân tộc, thì điều đầu tiên là xác định về triết học một khái niệm văn hóa phù hợp với hướng tiếp cận của luận án
Trang 39Mặc dù đồng nhất văn hóa với văn minh, song vẫn có thể coi định nghĩa đầu tiên về văn hóa là quan điểm của nhà văn hóa người Anh Edward
B Tylor (1832 -1917) với định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa hay văn minh, hiểu theo nghĩa rộng nhất về dân tộc học của nó, là toàn bộ phức thể bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và những khả năng, những tập quán mà con người có được với tư cách là thành viên xã hội” [Theo 64; tr.32]
Ở một khía cạnh khác, văn hóa được tiếp cận như là quan hệ ứng xử của con người với tự nhiên và xã hội trong đời sống xã hội loài người Cho nên ở khía cạnh này, có thể thấy là văn hóa gắn liền với phong tục, tập quán, cách suy nghĩ, tình cảm, lối ứng xử của các tộc người như trong định nghĩa về
văn hóa của UNESCO trong Tuyên ngôn thế giới về đa dạng văn hóa (2001):
… Văn hóa nên được xem như là một tập hợp các đặc điểm nổi bật về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm, của xã hội hay một nhóm xã hội, ngoài văn học, nghệ thuật, nó còn bao gồm lối sống, cách thức cùng chung sống, các hệ thống giá trị, các truyền thống và tín ngưỡng [158; tr.19]
Đề cập đến khái niệm văn hóa, nhiều học giả trong nước cũng đã đưa
ra những định nghĩa khác nhau về văn hóa Có thể tìm hiểu một số định nghĩa đó:
Với cách tiếp cận địa văn hóa, học giả Đào Duy Anh quan niệm văn
hóa là hoạt động sinh hoạt của các dân tộc qua từng giai đoạn, từng thời kỳ
lịch sử [1; tr.11].
Gần với cách tiếp cận của Đào Duy Anh, nhà nghiên cứu Trần Quốc Vượng quan niệm “Văn hóa, trước hết, là một sự trả lời, một sự ứng phó, của một cộng đồng dân cư, trước những thách thức của những điều kiện địa lý - khí hậu (géoclimatique), và sau đó là sự trả lời, ứng phó, trước những điều kiện xã hội - lịch sử” [175; tr.65]
Trang 40Hiểu văn hóa theo nghĩa rộng, nhiều công trình nghiên cứu cho rằng, văn hóa bao gồm tất cả những gì do con người sáng tạo ra Với cách hiểu này, Chủ tịch Hồ Chí Minh định nghĩa văn hóa một cách sâu sắc:
Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương tiện sử dụng Toàn
bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của
nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn [102; tr.431]
Cùng chung quan điểm trên về văn hóa, học giả Vũ Khiêu cho rằng:
“Văn hóa thể hiện trình độ được vun trồng của con người, của xã hội… Văn hóa là trạng thái con người ngày càng tách khỏi giới động vật, ngày càng xóa bỏ những đặc tính của động vật, để khẳng định những đặc tính của con người” [99; tr.8]
Từ góc độ giá trị, Trần Ngọc Thêm đưa ra khái niệm văn hóa như sau:
“Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [153; tr.27]
Với quan niệm “văn hóa là hoạt động”, nhà nghiên cứu Phan Ngọc đưa
ra định nghĩa mà các nhà nghiên cứu văn hóa cho rằng nó mang tính chất thao tác luận Ông viết:
Văn hoá là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hoá theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hoá dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành