1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các công nghệ marketing mới và sức phát triển mạnh mẽ trong hoạt động kinh doanh hiện tại

13 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 126,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Anh/chị hãy chọn một trong những thuật ngữ dưới đây và có thể chọn nhiều hơn một thuật ngữ và kết hợp chúng trong bài luận dài từ 7-10 trang của mình cùng với các tài liệu tham khảo của

Trang 1

CÁC CÔNG NGHỆ MARKETING MỚI VÀ SỨC PHÁT TRIỂN MẠNH MẼ

TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH HIỆN TẠI

Bài tập này yêu cầu anh/chị nghiên cứu những phát triển mới về truyền thông và công nghệ thông tin Chúng tôi muốn anh/chị nghiên cứu những công nghệ và các bước phát triển này một cách trọn vẹn và cho biết anh/chị suy nghĩ như thế nào về những thay đổi mà chúng mang lại cho lĩnh vực marketing trong tương lai gần và trung hạn

Anh/chị hãy chọn một trong những thuật ngữ dưới đây và có thể chọn nhiều hơn một thuật ngữ và kết hợp chúng trong bài luận dài từ 7-10 trang của mình cùng với các tài liệu tham khảo của Harvard:

 Điện toán đám mây

 Marketing xã hội

 Marketing du kích (Guerrilla Marketing)

 Những bước phát triển mới trong thương mại điện tử

 Công nghệ truyền thông di động

 Marketing lan truyền (Viral Marketing)

Mỗi bài luận cần có một trang tóm lược (về mục đích, nội dung chính… của bài luận), phần giới thiệu, thân bài và kết bài Độ dài của bài luận là 7-10 trang

CHÚ Ý:

- Bài tập được làm theo hướng dẫn trình bày: làm trên file Word Office 97- 2003,

- Yêu cầu font chữ 13, giãn dòng 1.4 lề trái 2.5, lề phải 2.0

- Đặt tên files bài tập theo đúng quy định của chương trình:

Trang 2

VD: ID_NguyenvanA_Marketing_Viet.doc

1.

Công nghệ thông tin và truyền thông,[1] thường được gọi là ICT, là cụm

từ thường dùng như từ đồng nghĩa rộng hơn cho công nghệ thông tin (IT), nhưng thường là một thuật ngữ chung để nhấn mạnh vai trò của truyền thông hợp nhất và

sự kết hợp của viễn thông (đường dây điện thoại và tín hiệu không dây), hệ thống quản lý tòa nhà thông minh và hệ thống nghe-nhìn trong công nghệ thông tin hiện đại ICT bao gồm tất cả các phương tiện kỹ thuật được sử dụng để xử lý thông tin

và trợ giúp liên lạc, bao gồm phần cứng và mạng máy tính, liên lạc trung gian cũng như là các phần mềm cần thiết Mặt khác, ICT bao gồm IT cũng như là điện thoại, phương tiện truyền thông, tất cả các loại xử lý âm thanh và video, điều khiển dựa trên truyền tải và mạng và các chức năng giám sát.[2] Cách diễn tả này xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1997[3] trong một báo cáo của Dennis Stevenson gửi chính phủ Anh[4] và được lan truyền rộng rãi trong các tài liệu mới của Chương trình giảng dạy Quốc gia Anh vào năm 2000

ICT thường được sử dụng trong "lộ trình ICT" (ICT roadmap) để trình bày đường

lối phát triển cho những tổ chức có các nhu cầu về công nghệ thông tin và truyền thông.[5]

Cụm từ ICT giờ đây cũng được sử dụng để ám chỉ đến sự gắn kết của nghe-nhìn và

mạng điện thoại với mạng máy tính qua một đường dây đơn hoặc hệ thống liên kết

Trang 3

Có những biện pháp khuyến khích kinh tế lớn (tiết kiệm được một số tiền khổng lồ qua việc loại trừ mạng điện thoại) để kết hợp nghe nhìn, quản lý tòa nhà và mạng

phối và quản lý tín hiệu Điều này dần dần đã thúc đẩy sự tăng trưởng của các tổ chức với cụm từ ICT trong tên để chỉ ra chuyên môn của họ trong việc xử lý và gắn kết các hệ thống mạng khác nhau

"ICT" được sử dụng như là một thuật ngữ chung cho tất cả các loại công nghệ cho phép người dùng tạo, truy cập và thao tác với thông tin ICT là một sử kết hợp của

kết với nhau, sự tương tác giữa các thiết bị, hệ thống và con người đang tăng lên đáng kể Các doanh nghiệp cần phải đáp ứng các nhu cầu của nhân viên và khách hàng của họ để cho phép tiếp cận nhiều hơn với các hệ thống và thông tin Tất cả những nhu cầu liên lạc phải được truyền đi theo một cách thống nhất Bằng cách cung cấp cơ sở hạ tầng có thể mở rộng, những mô hình điện toán đám mây cho phép các công ty làm việc thông minh hơn nhờ vào việc truy cập công nghệ và thông tin thông minh và hiệu quả về chi phí hơn Nền tảng kết hợp này đã giảm thiểu chi phí và nâng cap năng suất giữa các doanh nghiệp và hơn thế nữa Một phần của lộ trình công nghệ thông tin và truyền thông nên được củng cố về cơ sở

hạ tầng, trong khi đó thêm vào những lợi ích cho người dùng trong việc hợp tác, gửi tin, sắp xếp lịch, tin nhắn tức thời (IM), âm thanh, video, và hội nghị qua Web

nên hiệu quả hơn và đưa ICT lên một tầm cao mới.[6]

ICT trong c ng đ ng ộ ồ

ngày của chúng ta từ thương mại đến giải trí và thậm chí cả văn hóa Ngày nay,

Trang 4

điện thoại di động, máy tính để bàn, thiết bị cầm tay, thư điện tử và việc sử dụng

tạo nên một xã hội toàn cầu, nơi mà mọi người có thể tương tác và liên lạc với nhau một cách nhanh chóng và hiệu quả

ICT đã đóng góp vào sự xóa bỏ rào cản ngôn ngữ Ví dụ những công cụ (ICT) như thư điện tử, tin nhắn tức thời (IM), chat room và các mạng xã hội như Facebook,

lợi là những người thuộc thế hệ trước đây khó mà bắt kịp với những thay đổi của công nghệ ngày nay Sự phản kháng với thay đổi và không có khả năng theo kịp với sự tiến hóa nhanh chóng của công nghệ cần được chú ý Nhiều người trong xã hội không có điều kiện để tận hưởng công nghệ hiện có.[7] Lý do có thể là sự nghèo khó, vị trí địa lý hoặc thiếu tiếp cận với công nghệ.[8]

ICT trong giáo d c ụ

Trong các hệ thống giáo dục trên toàn cầu hiện nay, ICT không được thực thi rộng

rãi như ở những lĩnh vực khác, như kinh doanh.[9] Có nhiều lý do khác nhau cho lỗ hổng của những công nghệ này trong giáo dục Nhiều chuyên gia cho rằng chi phí cao trong việc trang bị đã không tạo điều kiện cho các trường học tiếp cận với công nghệ này trong lớp học Các chuyên gia khác lại cho rằng theo tính chất xã hội của những hệ thống giáo dục hiện nay, nó đòi hỏi đáng kể sự liên lạc cá nhân giữa giáo

trong lớp học

Sử dụng

Việc sử dụng ICT trong giáo dục đã mở rộng hơn với việc trang bị cho lớp học

Trang 5

học có thể được thực hiện để nâng cao kinh nghiệm học tập của các sinh viên trong rất nhiều cách Những trường đại học này hầu hết thực hiện ICT để hoàn thành những mục tiêu sau:

Tăng cơ hội kết nối mạng: ICT giúp kết nối các trường với nhau, cũng như

những cá nhân trong các trường Khả năng kết nối thực sự quan trọng cho các học sinh, sinh viên vùng xa ở các nước đang phát triển

Cung cấp giáo dục từ xa: Với sự xuất hiện của ICT, việc học dần dần diễn tra

trên Web Kết quả là, ICT đã thay thế cho thư gửi từ trường học

Bổ sung cho học tập truyền thống: Một trong các lợi ích phổ biến của ICT

trong giáo dục là việc cho các sinh viên sử dụng những chương trình như là

Lợi thế

Như với các công nghệ khác được thực hiện trong giáo dục hàng năm, ICT đã tạo

lợi thế cho cả học sinh và giáo viên khi kết hợp thành công trong môi trường học tập Lấy ví dụ như:

Tăng khả năng tiếp cận tài nguyên: Không giống như lớp học truyền thống

được khóa lại vào cuối ngày, ICT cho phép các sinh viên truy cập những tài nguyên học tập bất cứ lúc nào Điều này làm tăng sự tiếp cận đến những tài nguyên đặc biệt có giá trị đối với những sinh viên có nhu cầu đặc biệt và những sinh viên sống ở vùng xa hoặc những nước đang phát triển

Trải nghiệm học tập tương tác: Nhiều giáo viên truyền đạt thông tin cho

các sinh viên qua bài giảng ICT cho phép sinh viên truy cập thông tin qua

Trang 6

video, podcast và nhiều phương tiện tương tác khác mà nó tạo ra một trải nghiệm học tập hấp dẫn cho các sinh viên

Học tập lấy sinh viên làm trung tâm: Trong một lớp học truyền thống, sinh

viên không thể kiểm soát được việc những bài học được xây dựng như thế nào Qua ICT, sinh viên đã có thể kiểm soát được trải nghiệm học tập của mình Ngoài ra sinh viên còn có thể quyết định khi nào học, và những nội dung trong bài sẽ được trình bày như thế nào

Bất lợi

Mặc dù ICT có thể nâng cao việc học bằng nhiều cách nhưng vẫn có một số bất lợi

đi kèm với việc thực hiện những công nghệ tinh vi này trong các trường và đại học trên khắp thế giới Ví dụ như:

Chi phí cao: Thực hiện ICT trong giáo dục có thể rất tốn kém vì việc nâng

cấp cơ sở hạ tầng hiện tại, huấn luyện giáo viên và phát triển nội dung khóa học Việc tài trợ cho những dự án này thường khan hiếm, nên làm cho vấn

đề càng tệ hơn

Huấn luyện giáo viên: Nhiều giáo viên không quen với việc sử dụng ICT trong lớp học và không thể phối hợp với những công nghệ này vào kinh nghiệm sư phạm có sẵn của họ Để thành công, việc áp dụng ICT trong giáo dục cần phải được hỗ trợ của những giáo viên có tay nghề

Không chắc chắn về tỉ lệ thành công: Hiện tại, không có công trình nghiên

cứu lớn nào được thực hiện để cho thấy việc áp dụng ICT trong giáo dục có

Trang 7

đem lại kết quả đáng kể trong thành tích học tập của học sinh hay không, làm cho ban quản lý của trường ngại đầu tư vào những công nghệ này

Dù đã có những nghiên cứu hiện tại và nghiên cứu dựa trên bằng chứng, tương lai của ICT trong giáo dục vẫn chưa thể chắc chắn được Nghiên cứu bổ sung là cần thiết để hiểu rõ hơn nếu có một liên kết tồn tại giữa việc sử dụng ICT trong giáo dục và sự cải thiện việc học của học sinh

Ngh nghi p ề ệ

Có rất nhiều cơ hội nghề nghiệp cho cả những chuyên viên ICT mới bắt đầu và đã

có kinh nghiệm Những người quản lý hệ thống thông tin máy tính[10] giám sát tất

cả những khía cạnh của một tổ chức, như việc phát triển phần mềm, bảo mật mạng

và các hoạt động Internet Những người thích thiết kế chương trình phần mềm có thể chú ý đến một công việc như là một lập trình viênmáy tính.[11] Làm việc theo nhóm rất cần thiết cho các Kỹ sư phần mềmmáy tính,[12] những người làm việc với một nhóm lớn để giải quyết vấn đề và tạo ra sản phẩm mới Thậm chí những người

đi du lịch hoặc liên lạc từ xa phải báo cáo cho đội hoặc ban quản lý Những người quản trị cơ sở dữ liệu (DBA)[13] sử dụng phần mềm để lưu trữ và quản lý thông tin

Họ cũng thiết lập cơ sở dữ liệu và có trách nhiệm giữ cho hệ thống vận hành hiệu quả Những chuyên viên thống kê[14] thu thập dữ liệu và xử lý chúng, tìm ra những khuôn mẫu giải thích hành vi hoặc mô tả thế giới như nó hiện tại

2./

Marketing xã hội chính thức được coi là một lĩnh vực marketing kể từ năm

1971, khi huyền thoại marketing thế giới Philip Kotler và Gerald Zaltman cùng xuất bản cuốn "Social Marketing: An Approach to Planned Social Change" (tạm dịch: Marketing xã hội: một cách tiếp cận những thay đổi xã hội có kế hoạch)

Trang 8

Khác với marketing thương mại (commercial marketing), marketing xã hội được thực hiện không phải bởi các công ty nhằm mục đích lợi nhuận, mà bởi chính phủ hoặc các tổ chức xã hội, vì lợi ích chung và phi lợi nhuận

Marketing không phải khái niệm mới ở Việt Nam, nhưng marketing xã hội (social marketing) thì vẫn còn rất mới mẻ

Vứt rác, khạc nhổ và đi bậy nơi công cộng, phóng nhanh giành đường vượt ẩu, chen lấn xô đẩy mỗi chỗ xếp hàng… Ai ai cũng có thể kể ra hàng chục thói xấu của người Việt Nhưng đâu phải có những dân tộc sinh ra đã thích nhổ bậy và chen hàng Vấn đề nằm ở ý thức, và ý thức lại là cái có thể thay đổi Đây chính là khi marketing xã hội ra tay

Marketing không phải khái niệm mới ở Việt Nam, nhưng marketing xã hội (social marketing) thì vẫn còn rất mới mẻ Nó được định nghĩa là việc ứng dụng marketing hướng vào và nhằm thay đổi hành vi của một nhóm người hoặc toàn xã hội, để đạt được lợi ích chung cho nhóm người hoặc toàn xã hội đó

Trong khi còn mới với Việt Nam thì ở trên thế giới, marketing xã hội đã phát triển rất mạnh Hàng trăm chương trình marketing xã hội đã và đang được áp dụng tại rất nhiều nước nhằm thay đổi hành vi của các công dân: không hút thuốc lá nơi công cộng, chống vi phạm bản quyền sở hữu trí tuệ, ngừng tiêu diệt tê giác sừng đen v.v

Các chương trình thường được thực hiện một cách cực kỳ ấn tượng và sáng tạo nhằm đạt hiệu quả cao nhất

Trang 9

Một tổ chức chống thuốc lá ở Mỹ từng thiết kế một chương trình marketing xã hội lớn, sử dụng phương tiện quảng cáo trên ấn phẩm (printed ad.) Hình ảnh nổi tiếng gắn với chương trình này là bức ảnh (ghép kỹ xảo) chụp một người đàn ông hút thuốc, đứng cách anh ta không xa là cả một lũ kền kền đang chờ đợi; chúng sẽ không phải chờ lâu vì điếu thuốc sẽ rút ngắn tuổi thọ của anh ta

Để chống thói xấu phóng nhanh vượt ẩu của các "ma tốc độ", cơ quan giao thông tại bang New South Wales (Australia) cũng thực hiện marketing xã hội Thông điệp được truyền tải qua một đoạn phim vui, trong đó mỗi khi thấy một anh lái xe phóng

ẩu, cánh phụ nữ bên đường lại cười bảo nhau: "Chắc gã này "có vấn đề", thiếu tự tin nên phải làm thế để chứng tỏ bản lĩnh đàn ông"

Marketing xã hội ở Việt Nam

Điều có thể khiến nhiều người ngạc nhiên là tuy chưa bao giờ được đề cập một cách chính thức ở Việt Nam (và do đó còn mới mẻ), nhưng marketing xã hội thật ra

đã xuất hiện ở Việt Nam từ rất lâu Đó chính là các chương trình tuyên truyền kế hoạch hóa gia đình, chống "ma túy và mại dâm – con đường dẫn tới HIV/AIDS", hoặc vận động toàn dân đi bầu cử

Hình thành đã từ lâu, nhưng những chiến dịch ấy không được chú trọng với tư cách marketing xã hội Chúng được coi là các chương trình tuyên truyền, vận động của các cơ quan chính phủ Cách thể hiện cũng ở mức khá đơn giản, kiểu

"marketing thô sơ": kẻ chữ, trương áp phích, băng rôn khẩu hiệu, và đơn giản nhất là… sử dụng hệ thống loa phường, loa xã với âm thanh vang dội hang cùng ngõ

Trang 10

Nếu không tính đến yếu tố "chuyên nghiệp, sáng tạo, ấn tượng", chỉ xét về hiệu quả, thì các chương trình marketing xã hội đã thực hiện ở Việt Nam không phải là không thành công Tác dụng của marketing xã hội trong việc làm thay đổi hành vi của người dân là không thể phủ nhận

Và chuyện bây giờ mới kể

DKT International là một tổ chức phi chính phủ quốc tế, có trụ sở ở Washington

DC Họ là tổ chức tiên phong về marketing xã hội trong nhiều lĩnh vực, như: tránh thai bằng các phương pháp khoa học, chống HIV/AIDS Năm 1993, DKT

International vào Việt Nam (văn phòng của họ hiện đóng tại Trung Hòa Nhân Chính – Hà Nội)

Những năm đầu thập niên 90 đó, Việt Nam mở cửa chưa lâu, đã phải đối mặt với nguy cơ bùng nổ dân số, sự gia tăng tệ nạn xã hội và đại dịch HIV/AIDS Công việc của DKT là hỗ trợ Việt Nam thực hiện một chương trình phân phối bao cao su trên toàn quốc Sản phẩm được trợ giá, bán rất rẻ để tạo ra một mạng lưới an toàn cho người dân trước căn bệnh thế kỷ AIDS

Vấn đề vấp phải là khi ấy, người dân hãy còn thiếu thông tin về các biện pháp an toàn tình dục Người ta không ý thức được mức độ quan trọng của việc sử dụng bao cao su trong phòng chống AIDS Tuy nhiên, cản trở lớn nhất chính là tâm lý

ngượng ngùng của người Á Đông Kể cả khi được cấp phát miễn phí, người ta vẫn

Trang 11

ngại, nói gì tới việc chủ động hỏi mua bao cao su Hiểu được "cái khó" đó, DKT Việt Nam đã có một chiến lược marketing xã hội có thể nói là rất khôn ngoan

Hãy nói "OK"!

Vì cụm từ "bao cao su" với người Việt Nam thật khó nói, các nhà marketing xã hội

có sáng kiến thay nó bằng một từ rất ngắn gọn, phổ biến, dễ đọc: OK Họ hiểu rằng, phải làm sao để người đi mua bao cao su có thể nói tránh cụm từ "nhạy cảm" ấy Thay vì hỏi mua bao cao su, anh ta chỉ cần bảo người bán hàng: "Tôi muốn mua mấy cái OK"

Chiến dịch quảng cáo cho bao cao su OK tập trung vào khẩu hiệu "Nhà vô địch" DKT Việt Nam phát triển khẩu hiệu này dựa vào một cuộc điều tra về nhận thức thương hiệu Họ nhận thấy, đối với sản phẩm bao cao su, người tiêu dùng thích sức bền và độ mỏng hơn tất cả các tiêu chí khác Khẩu hiệu "Nhà vô địch" thể hiện hai tiêu chí chất lượng này

Chương trình marketing xã hội của DKT Việt Nam diễn ra rầm rộ: Tháng 11/1994, bao cao su OK được giới thiệu ở Việt Nam như một sản phẩm hữu ích và tiện lợi Một hệ thống biển tấm lớn (quảng cáo ngoài trời), những slogan trên xe buýt

(quảng cáo di động) thu hút sự chú ý của người dân Quảng cáo trên truyền hình, báo giấy cũng vào cuộc mà không vấp phải rào cản "liệu có vi phạm thuần phong

mỹ tục?"

Logo OK với chữ OK màu trắng như bông hoa giữa hai chiếc lá xanh, nổi bật trên nền đỏ tươi, tạo cảm giác vui nhộn, gần gũi Chiến dịch marketing xã hội của DKT

Ngày đăng: 03/12/2018, 15:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w