Địa lý: Học sinh hiểu được vấn đề về tốc độ gia tăng dân số nhanh trên thế giới đặc biệt là khả năng sinh sản của phụ nữ ở châu Á và châu Phi.. Địa lý: Qua bảng thống kê và dự báo phát t
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO LÀO CAI
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO BẢO THẮNG
PHIẾU MÔ TẢ DỰ ÁN DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP
BÀI 14: BÀI TOÁN DÂN SỐ
Trang 2Phòng: Giáo dục và Đào tạo huyện Bảo Thắng
Trường: THCS Xuân Giao
Địa chỉ: thôn: Hùng Xuân-xã Xuân Giao-huyện Bảo Thắng-tỉnh Lào CaiEmail: thcsxuangiao@gmail.com
Họ tên nhóm giáo viên: Đoàn Thúy Hà
Điện thoại: 01654261574 ; Email: doanhaxg@gmail.com
XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG NGƯỜI THỰC HIÊN
Phụ lục 2
Trang 31 Tên chủ đề
Dạy học tích hợp các môn học: Văn học, GDCD, toán học, sinh học, địa lí,
lịch sử dân số và môi trường thông qua chủ đề: Bài toán dân số (Ngữ văn 8: Bài 14 - Tiết 56)
2 Mục tiêu dạy học
2 1 Kiến thức:
Văn học Sự hạn chế gia tăng dân số là con đường ‘‘tồn tại hay không tồn tại’
của loài người Sự chặt chẽ, khả năng thuyết phục của cách lập luận bắt đầu bằngmột câu chuyện nhẹ nhàng mà hấp dẫn
Toán học: Học sinh dùng kiến thức môn toán về cấp số nhân để tính được số
thóc ở ô 64 của bàn cờ theo yêu cầu của nhà thông thái là bao nhiêu Đồng thờiqua đó học sinh nắm bắt được tốc độ của gia tăng dân số của thế giới là rất cao
Sinh học: Học sinh hiểu được độ tuổi, thời kì sinh sản và khả năng sinh sản
của người phụ nữ Đồng thời, học sinh nắm bắt được đặc điểm sinh sản tự nhiêncủa người phụ nữ
Địa lý: Học sinh hiểu được vấn đề về tốc độ gia tăng dân số nhanh trên thế
giới đặc biệt là khả năng sinh sản của phụ nữ ở châu Á và châu Phi
Lịch sử: Học sinh hiểu được một trong các nguyên nhân tăng dân số là do
dân số bị giảm sau chiến tranh dẫn đến tình trạng sinh con đông để bù lại nhữngthiệt haị về người sau chiến tranh
Giáo dục công dân: Học sinh hiểu được tác hại to lớn của bùng nổ dân số để
nâng cao hiểu biết của mình và tích cực tuyên truyền cho mọi người cùng chungtay giảm gia tăng dân số, bảo vệ môi trường, nâng cao nhận thức của người dângóp phần bảo vệ môi trường, nghèo nàn, lạc hậu
2.2 Kĩ năng:
Học sinh cần có năng lực vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các vấn
đề liên quan đến bài học đặt ra:
Văn học: - HS phân biệt tích hợp với phần tập làm văn , vận dụng kiến thức
đã học ở bài phương pháp thuyết minh để đọc - hiểu nắm bắt được vấn đề có ýnghĩa thời sự trong văn bản Vận dụng vào việc viết bài văn thuyết minh
Các môn học khác: Học sinh có kĩ năng vận dụng kiến thức các môn học
khác (lịch sử, toán học, sinh học, địa lý, giáo dục công dân ) để hiểu về bài
toán dân số, liên hệ thực tế, đánh giá những tác hại to lớn của gia tăng dân số đốivới con người và môi trường, đề xuất giải pháp
2 3 Thái độ
Văn học: Có ý thức góp phần mình vào việc tuyên truyền chủ trương kế
hoạch hoá gia đình của địa phương, thực hiện khẩu hiệu : Mỗi gia đình chỉ nên có
từ một đến hai con
Trang 4Toán học: Học sinh thấy trân trọng ngưỡng mộ các thành tựu toán học có thể
ác dụng ở mọi lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống Từ đó học sinh nhận thức rõtác dụng của môn toán để không ngừng học hỏi đem kiến thức của mình để xâydựng quê hương đất nước
Lịch sử: Bằng những số liệu cụ thể thấy được để chúng ta có cuộc sống như
hôm nay không thể quên công ơn của những người đã hi sinh có ta có cuộc sốnghôm nay Đồng thời, gia tăng dân số cũng ảnh hưởng đến an ninh thế giới, khanhiếm tài nguyên, đói nghèo, lạc hậu
Sinh học: Nhận thức rõ về khả năng sinh sản và độ tuổi, thời kì sinh sản của
phụ nữ để kế hoạch hóa gia đình
Địa lý: Qua bảng thống kê và dự báo phát triển của dân số thế giới từ 1950
đến năm 2050, và tỉ lệ sinh của phụ nữ trong sgk văn 8 để hạn chế gia tăng dân sốgóp phần làm cho đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu để có kinh phí chăm sóc
y tế và giáo dục ngày càng tốt hơn
Giáo dục công dân: HS tăng cường tuyên truyền cho mọi người thấy được
vấn đề dân số, kế hoạch hóa gia đình và vấn đề dân số và môi trường là vấn đề cấpthiết phải làm để không đe dọa đến môi trường, đó nghèo ở các nước trên thế giớiđặc biệt châu Ávà châu Phi, tranh chấp tài nguyên do khan hiếm, an ninh thế giới
3 Đối tượng dạy học của bài học
- Học sinh lớp 8A1
- Số lượng: 30 học sinh
4 Ý nghĩa của bài học
Gắn với kiến thức, kĩ năng, thái độ của các môn học với nhau, với thực tiễnđời sống xã hội, làm cho học sinh yêu thích môn học hơn và yêu cuộc sống, nângcao ý thức về dân số và tác hại của gia tăng dân số với môi trường, an ninh, nghèonàn, lạc hậu Đồng thời giúp học sinh có thêm động lực để bản thân và tuyêntruyền cho gia đình, cộng đồng thấy được tác hại của gia tăng dân số khi còn ngồitrên ghế nhà trường
Trên cơ sở học tập tích hợp liên môn học sinh sẽ dễ dàng hình thành được kĩnăng vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các vấn đề thực tiễn cuộc sống
Đó cũng chính là đích đến của mọi hoạt động dạy và học: ”Học để biết, học đểlàm, học để chung sống và học để tự khẳng định mình.”
5 Thiết bị dạy học, học liệu
Trang 55.2 1 Tầm quan trọng của vấn đề dân số đối với thế giới
Học sinh vận dụng kiến thức liên môn địa, toán, sinh, giáo dục công dân
để thuyết minh vấn đề bùngdân số trên thế giới cũng như ở Việt Nam là vấn
đề cấp bách mang tính chất toàn cầu.
Ngày nay, khái niệm “con quái vật dân số” hay “quả bom dân số” đã trở lênkhông còn xa lạ gì với mỗi chúng ta Gọi như vậy phần nào đã cho chúng ta mộtcái nhìn khái quát nhất về tính nguy hại và cấp thiết, cũng như những áp lực màvấn đề dân số gây ra cho chúng ta Trong vòng bốn thập niên trở lại đây, nhân loại
đã có cái nhìn khác về vấn đề dân số, đã không còn quan niệm “trời sinh voi trờisinh cỏ” nữa mà thay vào đó, con người đã có cái nhìn nghiêm túc hơn trước thựctrạng diễn biễn ngày càng phức tạp của vấn đề dân số Vấn đề dân số đang làmđau đầu lãnh đạo nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam - để từ đó làmsáng tỏ vấn đề bùng nổ dân số hiện đã vượt ra ngoài biên giới của một quốc gia,một khu vực và đã trở thành một vấn đề toàn cầu
Dân số phát triển với tốc độ chóng mặt Xét trong toàn bộ tiến trình lịch sử xãhội cho đến nay,tỉ lệ phát triển dân số trên phạm vi toàn thế giới ngày càng cao Vào những năm công nguyên, dân số thế giới chỉ vào khoảng 250 triệungười Cách đó 1.600 năm, dân số thế giới tăng trưởng rất chậm, đến năm 1650dân số thế giới chỉ tăng gấp đôi con số trên
Năm 1825, dân số thế giới lên đến 1 tỉ người Năm 1925 dân số thế giới là 2
tỉ người 50 năm tiếp theo dân số thề giới tăng gấp đôi, tức là vào năm 1975 đạt tới
4 tỉ người
Năm 1987,vào ngày 11 tháng 7, dân số thế giới tròn 5 tỉ người,tức là chỉ cần
12 năm để tăng thêm 1 tỉ người Dân số thế giới đã vượt qua ngưỡng 6 tỉ ngườivào cuối thập kỷ XX, đạt 6,616 tỉ người vào năm 2007, với tỷ lệ tăng dân số hằngnăm 1,2% (so với 2% của những năm thập kỷ 60 của thế kỷ XX) Chỉ trong vòng
12 năm, thế giới đã tăng thêm 1 tỉ dân (từ 1987 - 1999), là giai đoạn ngắn nhấttrong lịch sử loài người để có thêm 1 tỉ dân và 1 tỉ tiếp theo sẽ đạt được sau 13năm Theo dự báo của cục dân số Hoa Kì, dân số thế giới vào ngày 1/1/ 2016 là
7295889256 người tăng thêm 7 triệu người(1,08%) so với năm 2015 Trung Quốcđông dân nhất thế giới 1,36 tỉ người, Ấn Độ xếp thứ 2 với số dân 1,52 tỉ người.Hoa Kì đứng thứ ba 3332 triệu người theo chuyên gia liên hợp Quốc và đại họcWasshinhton (Hoa Kì) đến năm 2100 dân số thế giới chạm mốc 11 tỉ người Theo
dự báo dân số thế giới sẽ tăng thêm 2,6 tỉ trong vòng 45 năm tới, tức đến năm
2050 dân số thế giới sẽ đạt 9,1 tỉ người Như vậy có thể thấy thời gian để dân sốthế giới tăng thêm gấp đôi, cũng như thời gian để Trái Đất đón thêm 1 tỉ công dânmới ngày càng được rút ngắn một cách nhanh chóng Người ta tính rằng cứ 6tháng dân số thế giới lại tăng thêm bằng số dân của nước Pháp (50 triệu) và cứ sau
10 năm lại có một nước Trung Quốc ra đời ở những vùng nghèo nàn nhất trên TráiĐất Đó quả thật là những con số khủng khiếp
Tuy nhiên tốc độ tăng dân số ở các khu vực khác nhau trên thế giới là khônggiống nhau Có một nghịch lí là khu vực các nước nghèo và kém phát triển nhất lại
là những khu vực có tốc độ tăng dân số nhanh nhất Theo điều tra của Cục Điều
Trang 6tra dân số Mỹ, tốc độ tăng dân số nhanh nhất lại là ở các khu vực nghèo khổ nhấttại châu Phi, Trung Đông và tiểu lục địa Ấn Độ, nơi trung bình một phụ nữ đẻ 7con Trong tương lai gần, tốc độ phát triển dân số nhanh nhất vẫn là khu vực châuPhi và Nam Á Trong vòng nửa đầu thế kỉ XXI, dân số châu Phi sẽ tăng khoảng2,4 - 3 lần, cao hơn tốc độ tăng dân số toàn cầu khoảng 1,7-1,8 lần Cũng như vậytốc độ tăng dân số ở khu vực Nam Á cũng cao hơn tốc độ tăng dân số toàn cầu 10
- 15% Chỉ tính riêng trong giai đoạn 2000 - 2005, theo thống kê của Liên hợpquốc, hằng năm dân số thế giới tăng thêm khoảng 76 triệu người, trong đó 6 nước
có số dân tăng thêm chiếm 45% là Ấn Độ (số dân tăng thêm chiếm 22%), TrungQuốc (11%), Pa-ki-xtan, Ni-giê-ri-a, Mỹ, Băng-la-đét (mỗi nước 4%) Ngoài ra,
16 nước khác có số dân tăng thêm chiếm 25%, trong đó In-đô-nê-xi-a (số dân tănghằng năm 2,7 triệu), Băng-la-đét (2,6 triệu), Bra-xin (2,5 triệu), Ê-ti-ô-pi-a (1,8triệu), Cộng hòa Công-gô (1,5 triệu), Phi-líp-pin (1,5 triệu), Mê-hi-cô (1,4 triệu),Ai-cập (1,3 triệu), Áp-ga-ni-xtan (1,2 triệu), Việt Nam (1,1 triệu), Thổ Nhĩ Kỳ (1triệu), U-gan-đa (0,9 triệu), I-rắc (0,7 triệu), Kê-ni-a (0,7 triệu), Cộng hòa Tan-dani-a (0,7 triệu), Cô-lôm-bi-a (0,7 triệu) và Xu-đăng (0,7 triệu) Trong khi dân sốcủa nhiều nước, đặc biệt là ở châu Phi và châu Á tiếp tục gia tăng trong vài thậpniên tới, thì ở một số nước phát triển đạt dưới mức sinh thay thế lại có xu thế suythoái dân số trong vòng 50 năm (2000 - 2050) như CHLB Nga (số dân giảm 35triệu), U-crai-na (23 triệu), Nhật (15 triệu), Ba-lan (7 triệu), Ru-ma-ni (5 triệu),CHLB Đức (4 triệu), Bê-la-rút và Bun-ga-ri (3 triệu)1 Như vậy, sức ép dân số đốivới đa số các nước đang phát triển, trong đó có nước ta do số dân tăng thêm hằngnăm còn rất lớn trước đời sống kinh tế, chính trị và xã hội, hạn chế đến khả năngcải thiện, phát triển và tiềm ẩn nguy cơ tụt hậu.Dân số tăng nhanh nằm ở khu vựcnhững nước đang phát triển, với hơn 95% sự gia tăng dân số nằm ở khu vực này:Hiện nay, dân số thế giới đang gia tăng với tỷ lệ trung bình là 1,2%/năm Cục điềutra dân số Mỹ dự báo, tốc độ này sẽ giảm xuống còn 0,5% năm 2050 Khi đó, Ấn
Độ sẽ vượt Trung Quốc trở thành nước đông dân nhất thế giới Trong tiến trìnhtoàn cầu hóa hiện nay, có một vấn đề nan giải đó là sự tăng nhanh dân số ở khuvực các thành phố lớn Tỷ lệ dân cư tại các thành phố, đặc biệt là các thành phốlớn ngày càng cao Năm 1955, dân số đô thị là 872 triệu người (chiếm 32% dân sốtoàn cầu), năm 1975 là 1,5 tỉ người (chiếm 38%), năm 1995 là 2,6 tỉ người (chiếm45%) Theo dự báo của Liên Hợp Quốc, tới năm 2025 số dân sống ở các đô thị sẽchiếm 60% dân số toàn cầu Số thành phố có trên 10 triệu dân cũng tăng lên nhanhchóng Nếu như năm 1975 mới chỉ có 5 thành phố như vậy thì tới năm 1995 đã có
14 thành phố, theo dự đoán thì tới năm 2025 chỉ riêng châu Á sẽ có tới 20 thànhphố trên 10 triệu dân.1 Khi dân số đô thị toàn cầu bùng nổ (cứ 38 năm lại tăng gấpđôi) các thành phố lớn nhất thế giới ngoại trừ Tokyo sẽ bị tuột xuống cuối danhsách vào năm 2015 và thay thế chúng là các đô thị nhỏ hơn mà ở đó đang có sựbùng nổ dân cư, cũng theo dự đoán này, Bombay và New Delhi sẽ trở thành cácthành phố lớn thứ hai và thứ ba trên thế giới thay thế cho Mexico city và NewYork hiện nay
5.2.2 Nguyên nhân bùng nổ dân số
Sự chênh lệch lớn về tỷ lệ sinh tử: trong giai đoạnđầu phát triển lịch sử pháttriển của nhân loại, tỷ lệ sinh tương đối cao do nhu cầu duy trì nòi giống và nhu
Trang 7cầu lực lượng sản xuất phục vụ phát triển xã hội, trong khi đó tỉ lệ tử cũng tươngđối cao do điều kiện sống hạn chế, thiên tai, dịch bệnh nhiều… Do đó, trong giaiđoạn này tỷ lệ sinh và tử tương đối cân bằng Ngược lại, trong giai đoạn “bùng nổdân số” tỷ lệ sinh vẫn tiếp tục được duy trì trong khi đó tỷ lệ tử có xu hướng giảm
do điều kiện sống được nâng cao, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹthuật, các nhu cầu cơ bản của con người được chú trọng đặc biệt là trong công tác
vệ sinh và y tế dẫn tới tỉ lệ tử giảm xuống Thêm vào đó, tuổi thọ của con ngườiđược nâng cao dần, năm 1975 tuổi trung bình của dân cư thế giới là 21,9 tuổi, tớinăm 2000 là 26,6 tuổi Quá trình toàn cầu hóa đã mang lại cho các quốc gia kémphát triển khả năng tiếp cận với những tiến bộ khoa học kĩ thuật
Những căn bệnh trước kia được coi là nan y đã tìm ra phương pháp chữa trị,người dân đã biết sử dụng rộng rãi các loại thuốc văc-xin, thuốc kháng sinh Mặtkhác khoa học kĩ thuật cũng góp phần làm giảm tỉ lệ tử ở trẻ sơ sinh, mang lạinhiều cơ hội cho các cặp vợ chồng hiếm muộn… Chính những yếu tố trên đã làmnảy sinh tình trạng mất cân bằng giữa sinh và tử, dẫn đến tình trạng tăng dân sốmột cách chóng mặt Nhu cầu về lực lượng sản xuất: ở các quốc gia kém pháttriển, những nơi mà khoa học kỹ thuật chưa mấy phát triển và việc áp dụng khoahọc và sản xuất còn rất hạn chế, lực lượng sản xuất vẫn chỉ mới ở trình độ cơ khíthủ công, sử dụng lao động cơ bắp, lao động chân tay là chủ yếu, cộng với nhữngnguồn năng lượng có sẵn trong tự nhiên để sản xuât, trong xã hội như vậy thì dân
số càng tăng, sức lao động càng nhiều, càng đẩy mạnh sức sản xuất xã hội Do đó
mà dân số thế giới của chúng ta không ngừng tăng lên một cách nhanh chóng, đểđáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của từng quốc gia Quan niệm lạc hậu: ở một
số nước đặc biệt là các nước phương đông vẫn còn một số quan niệm lạc hậu: sinhnhiều con, tư tưởng trọng nam khinh nữ, muốn sinh con trai… Điều này có thểthấy rất rõ ở Việt Nam, tại các vùng dân tộc thiểu số hoặc các vùng nông thônthường có tư tưởng sinh càng nhiều càng tốt và nhất thiết phải có con trai, do đó
mà ở các vùng này gia đình nào cũng có 3 con trở lên Ở các nước này vai trò vàđịa vị của người phụ nữ vẫn còn rất thấp, phụ nữ nhiều nơi vẫn chưa được giảiphóng hoàn toàn Ngược lại có thể thấy ở các quốc gia phát triển phương Tây, nơi
mà người phụ nữ khá bình đẳng với nam giới và tham gia ngày càng nhiều vào lựclượng lao động của xã hội thì tỉ lệ sinh rất thấp, chính quyền nhiều nước còn phải
đề ra các chính sách khuyến khích tăng tỉ lệ sinh
Ở một số nước nghèo và các nước đang phát triển thì vấn đề tiếp cận, và nhậnthức về dân số còn rất hạn chế, đặc biệt là châu phi và một số nước ở châu Á, kinh
tế nghèo đói, lương thực không đủ ăn chua nói đến vấn đề tiếp cận đến vấn đề giáodục dân số và kế hoạch hóa gia đình Họ thiếu những kiến thức và phương tiện cơbản về phòng tránh thai Thậm chí nhiều khi chính các nhà lãnh đạo cũng có nhậnthức chưa đầy đử về vấn đề này, ví dụ cách đây 8 năm thị trưởng thành phốMannila đã ra lệnh cấm các trung tâm y tế cung cấp các biện pháp ngừa thai hiệnđại như bao cao su, thuốc tránh thai và triệt sản nhằm mục đích bảo vệ các giá trịcuộc sống?
5.2.3 Hậu quả của bùng nổ dân số
*Dân số và vấn đề nghèo đói, lạc hậu
Trang 8Ở phương Tây, có tác giả cho rằng: nếu dân số tăng lên 1% thì thu nhập quốcdân tăng khoảng 4% Ở nhiều nước kém phát triển thuộc châu Phi, tỉ lệ tăng dân
số hàng năm rất cao lên đến 3%, nếu muốn đảm bảo nhu cầu cho số dân mới tăng
đó thì thu nhập quốc dân bình quân mỗi năm phải tăng khoảng 13%, điều đó là vôcùng khó khăn ngay cả với một quốc gia phát triển chứ đừng nói là một quốc giakém phát triển Trong phạm vi một quốc gia, việc bùng nổ dân số sẽ khiến chomức sống của người dân trong nước bị hạ xuống,mức sống của người dân giảmdẫn tới các dịch vụ chăm sóc tối thiểu không được đáp ứng, dịch bệnh gia tăng Trên phạm vi quốc tế, bùng nổ dân số sẽ dẫn tới sự chênh lệch trong phânphối của cải giữa các khu vực, khiến cho những nước giàu vẫn cứ giàu, nhữngnước nghèo vẫn cứ nghèo, mặt bằng chất lượng dân số của thế giới bị kéo tuộtxuống
Trang 9
* Dân số và vấn đề bệnh tật
Mặc dù chưa có nhà khoa học nào khẳng định được mối liên hệ giữa vấn đềbùng nổ dân số và bệnh tật, tuy nhiên trên thực tế, tại các quốc gia đang và kémphát triển, những nước có tốc độ bùng nổ dân số cao nhất thế giới cũng là nhữngnước mà ở đó vấn đề dịch bệnh đang trở nên rất nghiêm trọng Có thể lấy ví dụsau để thấy được điều đó: theo thống kê năm 2000, thế giới có khoảng 40 triệungười bị nhiễm AIDS, trong đó 90% là ở các nước đang phát triển, chủ yếu là ởcác quốc gia châu Phi (chiếm tới 2/3 số người mắc bệnh) 1 Bùng nổ dân số dẫntới điều liện sống nghèo khổ, chiến tranh xung đột triền miên khiến cho các dịch
vụ chăm sóc sức khỏe cho người dân không được đảm bảo chính là nguyên nhânchính dẫn tới bệnh tật tràn lan ở châu lục này
Trang 10
* Dân số và vấn đề tài nguyên thiếu hụt
Trong xã hội công nghiệp hiện đại, để đảm bảo cho cuộc sống của mỗi nguời,mỗi năm phải đào lên được 25 loại khoáng sản trong lòng đất Tài nguyên dầu lửa,nếu tiếp tục được khai thác với tốc độ như trong thập niên 90 của thế kỉ trước thì
sẽ cạn kiệt đến năm 2016 Tài nguyên than trên thế giới cũng chỉ còn dùng được
1500 năm nữa, và ước tính 12 loại tài nguyên khác chỉ duy trì đựoc 50 năm nữa làcùng Trong đó nghiêm trọng nhất là phải kể tới vấn đề thiếu nước ngọt Vào đầuthế kỉ XXI, một số vùng Nam Á, Trung Mỹ, nhất là Bắc Phi, Đông Phi, Tây Phi đãxuất hiện tình trạng thiếu nước ngọt hoàn toàn
* Dân số và vấn đề thiếu đất canh tác, lương thực căng thẳng
Với sự tăng trưởng cùa dân số trên toàn thế giới, bình quann ruộng đất canhtác theo đầu người ngày một giảm đi Năm 1950 bình quân ruộng đất theo đầungười trên thế giới là 8,5 mẫu, năm 1960 giảm xuống chỉ còn 7,1 mẫu, năm 1968
là 6,1 mẫu, năm 1974 còn 5,6 mẫu và tới năm 1960 chỉ là 3,9 mẫu Ruộng đấtcanh tác giảm đi tất nhiên không chỉ vì lí do dân số bùng nổ mà còn do nhiềunguyên nhân khác như quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, tuy nhiên nguyênnhân dân số tăng lên vẫn là nguyên nhân chủ yếu Ruộng đất giảm, dân số tăngnhanh làm cho vấn đề lương thực trên phạm vi toàn cầu ngày càng trở lên căngthẳng Đầu năm 2008 vừa qua đã xảy ra cuộc khủng hoảng lương thực lớn và chưabao giờ vấn đề an ninh lương thực lại được đặt ra cấp thiết như lúc này Hiện nayđại đa số các đang phát triển tại châu Á, châu Phi và Mỹ La-tinh đã phải nhậplương thực, đó là một minh chứng rõ ràng cho hậu quả của việc bùng nổ dân số tạicác nước này
Trang 11
* Dân số và vấn đề ô nhiễm môi trường
Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa đang diễn ratrên khắp thế giới, sự bùng nổ dân số đã khiến cho tình hình ô nhiễm môi trườngngày càng trở lên nghiêm trọng Tại các nước đang phát triển, do sức ép của việcphát triển kinh tế, cho đến nay vẫn tiếp tục sử dụng sử dụng một cách rộng rãi cácloại thuốc trừ sâu, khai thác đất quá mức…khiến cho sự phá hoại môi trường sinhthái ngày càng tăng lên
* Dân số và vấn đề an ninh, xã hội
Dân số tăng nhanh gây ra nhiều bất ổn trong xã hội, đó là nạn cướp bóc,khủng bố,…Dễ thấy khi dân số tăng cao, việc kiếm được miếng ăn sẽ ngày càngtrở lên khó khăn hơn, và để đảm bảo sinh tồn cho mình người ta có thể sẵn sànglàm mọi việc, kể cả phạm tội Nghiêm trọng hơn, xuất phát từ vấn đề dân số quánhiều dẫn tới việc thiếu đất sống, thiếu “không gian sinh tồn” có thể dẫn tới cáccuộc xung đột, chiến tranh giữa các nhóm người, gây nên những hậu quả to lớn
Có thể thấy vấn đề bùng nổ dân số đối với vấn đề nghèo đói, dịch bệnh, ô nhiễmmôi trường, khan hiếm tài nguyên đều có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp Bảnthân các vấn đề đó đã là các vấn đề mang tính toàn cầu, có ảnh hưởng tới sự tôn
Trang 12vong của nhân loại, chính vì vậy, không còn gì nghi ngờ nữa, vấn đề bùng nổ dân
số cũng là một vấn đề có tầm ảnh hưởng sâu sắc, rộng lớn tới tương lai của nhânloại
5.2.3 Vấn đề về gia tăng dân số đối với Việt Nam
Thống kê của Việt Nam dân số nước ta không vượt quá 93 triệu người năm
2015 Tháng 7/ 2016 dân số Việt Nam là 95 261021 Theo thống kê của tổng cụcdân số kế hoạch hóa gia đình mục tiêu quốc gia về y tế gia đình 2011 - 2015 sốphụ nữ ở tuổi sinh đẻ của nước ta là 26triệu người năm 2030 Đến năm 2020 tỉ lệphụ nữ ở độ tuổi từ 20 - 29 chiếm 30% trong đó nhóm tuổi từ 15 -> 49 ở nữ giớităng Sự gia tăng xuất phát từ sinh bù sau chiến tranh Nhóm tuổi này đang vàogiai đoạn sinh sản lớn nếu không có giải pháp dân số sẽ bùng nổ hoặc gia tăng pháthai ngoài ý muốn tăng tai biến sản khoa, tăng tỉ lệ tử vong ở bà mẹ, trẻ em Duytrì mức sinh thì tỉ lệ vợ chồng ở độ tuổi sinh đẻ có nhu cầu sử dụng biện pháptránh thai hiện đại chiếm 75% tương đương 13, 14 triệu cặp Như vậy mỗi năm sốcặp vợ chồng mới có nhu cầu sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại lên hơn 4000người ( chưa kể nhu cầu của vị thành niên, thanh niên Ước tính kinh phí mỗi nămthực hiện biện pháp tránh thai sẽ tiêu tốn 350 tỉ đồng Mỗi năm Việt Nam có 1,6triệu em bé Việt Nam có 252người sống / 1km, mật độ dân số gấp đôi TrungQuốc, gấp 10 lần các nước phát triển Để cuộc sống thuận lợi bình quân trên 1km2chỉ 35 -> 40 người nhưng các thành phố lớn tỉ lệ chuẩn này vượt hàng trăm lầnnhư Hà Nội 3490 người/1km2, thành phố Hồ Chí Minh là 2910 người/ 1km2
*Gia tăng dân số ở xã Xuân Giao - Bảo Thắng - Lào Cai
Năm 2014 số dân là 10345, tổng số nữ ở độ tuổi sinh sản ( 15 -> 49 tuổi) là
2577, tỉ lệ trẻ ra đời là 164 Tổng số dân năm 2015 là 10369, nữ độ tuổi sinh sản
là 2681, tỉ lệ trẻ ra đời là 183 Tổng số dân năm 2016 là 10403, nữ độ tuổi sinh sản
là 2601, tỉ lệ trẻ ra đời là 143
5.2 4 Hậu quả gia tăng dân số ở Việt Nam
Tình hình dân số nước ta vẫn đang tăng nhưng có xu hướng giảm nghĩa là
tăng nhưng kiểm soát được trước năm 75 thì nước ta là 1 trong những nước có tốc
độ gia tăng dân số nhanh nhất trên thế giới Gia tăng dân số tạo ra sức ép đối với
việc phát triển kinh tế - xã hội
- ở nông thôn không phá được cái xiềng 3 sào,
- ở đô thị thì thất nghiệp tăng,
- Ngân sách phải chi tiêu nhiều cho những vấn đề xã hội v.v
Sức ép đối với tài nguyên môi trường
- Dự trữ của các nguồn tài nguyên nhanh chóng bị cạn kiệt
- Phá rừng để mở rộng đất nông nghiệp dẫn đến mất cân bằng sinh thái
- Dân thành thị tăng nhanh, nơi ở chật hẹp, chất lượng môi sinh giảm sút.Sức ép đối với chất lượng cuộc sống
Trang 13- Hiện tại kinh tế nước ta căn bản vẫn là kinh tế nông nghiệp lạc hậu, bìnhquân thu nhâp đầu người vào loại thấp nhất thế giới, dân số tăng nhanh không thểthực hiện cân bằng "cung - cầu".
- Cái nghèo về đời sống vất chất sẽ dẫn đến cái nghèo về đời sống tinh thần
- Đối với sự phát triển kinh tế - xã hội : + Làm chậm tốc độ tăng trưởng GDP+Vấn đề việc làm luôn là vấn đề lớn của xã hội
- Khó khăn cho việc nâng cao chất lượng cuộc sống :
+ GDP bình quân theo đầu người còn thấp
+ Bình quân lương thực, thực phẩm theo đầu người thấp, tỉ lệ đói nghèo còncao
+ Sức ép cho y tế, giáo dục, nhà ở, nảy sinh nhiêu vấn đề xã hội cần phảigiải quyết
Dân số tăng nhanh làm cho môi trường không đáp ứng được các nhu cầu cơbản của con người Muốn tồn tại, con người buộc phải phá rừng để mở rộng diệntích canh tác và chăn nuôi gia súc Từ năm 1950 - 1993, diện tích canh tác theođầu người đã giảm từ 0,23 ha xuống 0,13 ha Để khắc phục sự hạn chế về diệntích, người ta phải tăng năng suất cây trồng bằng thủy lợi và phân bón Nhưngngày nay diện tích canh tác, diện tích thuỷ lợi hoá và lượng phân bón tính theo đầungười cũng giảm và xu thế này còn tiếp tục diễn ra chừng nào số dân còn tiếp tụctăng
Năm 1996 lượng cá đánh bắt đạt 93 triệu tấn đến năm 1999, con số này chỉcòn lại 86 triệu tấn Do lượng đánh bắt giảm nên nuôi trồng thủy sản phát triển vàgây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, rừng ngập mặn bị tàn phá, các hệ độngthực vật bị suy thoái
.Biến đổi khí hậu là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện trởlại của một số bệnh truyền nhiễm ở vùng nhiệt đới (sốt rét, sốt Dengue, dịch hạch,dịch tả, viêm não Nhật Bản), xuất hiện một số bệnh truyền nhiễm mới (SARS,cúm A/H5N1, cúm A/H1N1), thúc đẩy quá trình đột biến của virut gây bệnh cúmA/H1N1, H5N1 nhanh hơn Phát thải khí nhà kính ngày càng tăng là nguyên nhânchủ yếu của xu thế ấm lên toàn cầu, tầng ozon bị phá hủy dẫn đến sự tăng cường
độ bức xạ tử ngoại trên mặt đất, là nguyên nhân gây bệnh ung thư da và các bệnh
về mắt Nhiệt độ không khí tăng cao trực tiếp làm tăng tỷ lệ tử vong do bệnh timmạch và hô hấp
Ở Việt Nam, Khánh Hoà là tỉnh ven biển Nam Trung Bộ với khoảng 84,1%dân cư sống ở khu vực ven biển, 4,7% dân số thuộc dân tộc thiểu số (theo niêngiám thống kê năm 2010), đây cũng là khu vực dễ chịu ảnh hưởng của biến đổikhí hậu và nước biển dâng Theo số liệu thống kê trung bình mỗi năm dân số tỉnhKhánh Hoà tăng thêm khoảng trên 10.000 người Trong những năm gần đây do tácđộng của BĐKH, các loại hình thiên tai như: bão, lũ, hạn hán, nắng nóng xảy ravới tần suất và cường độ ngày càng nhiều gây thiệt hại lớn đối với kinh tế và sự
Trang 14phát triển của tỉnh: năm 2007 thiệt hại khoảng 56 tỷ đồng; năm 2008: 100 tỷ đồng;năm 2009: khoảng 450 tỷ đồng; năm 2010 thiệt hại khoảng 450 tỷ đồng.
Biến đổi khí hậu tác động đến sự di dân làm mất cân bằng dân số, ảnh hưởngđến an ninh xã hội Hàng trăm nghìn người hiện đang sống ở những vùng ven biểntrũng có thể sẽ phải từ bỏ nhà cửa của họ nếu mực nước biển dâng tiếp tục dângcao và lũ lụt tiếp tục hoành hành với tần suất càng ngày càng gia tăng như hiệnnay Ngoài ra hạn hán kéo dài và nghiêm trọng có thể đẩy nhiều nông dân từ cácvùng nông thôn ra các đô thị để kiếm kế sinh nhai mới vì vậy càng gia tăng sự mấtcân bằng dân số, dẫn tới ở thành phố đất chật người đông, sự phân hoá giàu nghèongày càng thể hiện rõ rệt
Bên cạnh đó biến đổi khí hậu làm giảm chất lượng nước và trữ lượng nướcsạch, nguy cơ gia tăng các bệnh truyền nhiễm và đây chính là các yếu tố đe dọasức khỏe sinh sản, điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc bà mẹ và trẻ em BĐKH khôngnhững gây nguy hiểm tới cuộc sống và hủy hoại sinh kế của con người mà còn giatăng sự bất bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới
Trang 15Hình ảnh mưa bão ở miền Trung
Trang 16
Môi trường bị hủy hoại ở Việt Nam do hậu quả của gia tăng dân số quá nhanh
5 2 5 Những hậu quả do dân số tăng nhanh ở xã Xuân Giao ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe con người.
5 2 6 Những giải pháp giảm hậu quả do gia tăng dân số quá nhanh với thế giới và Việt Nam
Ban hành các giải pháp về luật:
- Việt Nam qui định mỗi gia đình chỉ có 1-2 con
- Trung Quốc ban hành qui định mỗi gia đình có 1 con từ năm 1979
Trang 17- Hiệu quả của biện pháp này là nhanh chóng, tức thì Theo tính toán, nếukhông ban hành qui định trên, Trung Quốc đã có thể có thêm 400 triệu dân
- Thế hệ trẻ ngày nay đã có sự thay đổi về quan niệm sinh con, chấp nhận có
ít con để nuôi dạy cho tốt
Tuy nhiên, việc ban hành các qui định mang tính áp chế này lại gây ra sựmất cân bằng về giới:
- Nhiều phụ nữ ở Trung Quốc đã phá thai khi biết mình mang thai con gái
- Tháng 1/2005, tỉ lệ bé trai / bé gái ở Trung Quốc là 119/100 (thế giới:105/100)
- 40 triệu người dân Trung Quốc đối diện nguy cơ không có bạn đời trongtương lai
- Khảo sát năm 2005, một số tỉnh ở Việt Nam, tỉ lệ bé trai/bé gái cũng đạtmức 115/100
- Nhiều hệ lụy tai hại: xung đột, án mạng, tệ nạn xã hội
* Tuyên truyền các biện pháp tránh thai
- Rất nhiều các biện pháp tránh thai đã được áp dụng tại Việt Nam từ nhữngnăm 1980
- Ở Mỹ, qui định cho phép người trên 18 tuổi mua thuốc tránh thai khẩn cấpvào năm 2007 đã khiến doanh số loại thuốc này tăng gấp đôi
- Các biện pháp tránh thai giúp giảm tỉ lệ sinh con ngoài ý muốn, góp phầnlớn trong nỗ lực giảm dân số của các chính phủ những năm gần đây
- Tất cả các biện pháp tránh thai đều ẩn chứa nguy cơ thất bại, khiến nhiềutrường hợp, việc tránh thai không đạt hiệu quả như mong muốn
- Một số biện pháp “cực đoan” như triệt sản sẽ khiến người được thực hiệntrở nên vô sinh, gây nên hậu quả vĩnh viễn đối với họ
* Các giải pháp dài hạn
- Với hệ thống tuyên truyền viên đến tận cơ sở, Việt Nam hy vọng nâng cao
ý thức người dân trong việc hạn chế gia tăng dân số
- Tổ chức phát bao cao su miễn phí cho thanh niên, gái bán hoa tại các khuvực nhạy cảm, vừa hạn chế gia tăng dân số, vừa giảm thiểu lây truyền các bệnh xãhội