Mặt khác, trong địa tầng cũng tồntại nhiều loại khí độc như CO2, CH4, H2S…do quá trìnhphân huỷ sinh vật/ phân giải hoá học của nước dưới đất.Để đảm bảo sức khoẻ và tính mạng của hành khá
Trang 1Chương VI: Cơ sở hạ tầng kỹ thuật
bên trong công trình hầm
6.1 thông gió trong đường hầm
6.1.1 Khái niệm chung
Để duy trì sự sống và hoạt động bình thường, conngười cần có đủ lượng không khí sạch để thở Khi cácphương tiện giao thông qua lại trong hầm, nhiên liệu bị
đốt cháy sẽ thải vào trong hầm nhiều loại khí độc cùngvới bụi, khói, tiếng ồn, hơi nước, nhiệt độ cao làm chokhông khí trong hầm bị nhiễm bẩn Không khí bẩn gây
Trang 2nguy hại cho sức khoẻ của hành khách và công nhân khilưu thông trong hầm Mặt khác, trong địa tầng cũng tồntại nhiều loại khí độc như CO2, CH4, H2S…do quá trìnhphân huỷ sinh vật/ phân giải hoá học của nước dưới đất.
Để đảm bảo sức khoẻ và tính mạng của hành khách
và công nhân khi lưu thông trong hầm, cần đảm bảokhông khí trong hầm có tỷ lệ chất khí độc và các loạibụi, khói ở dưới mức cho phép của qui phạm vệ sinhcông nghiệp Muốn không khí trong hầm luôn trongsạch, cần đưa vào hầm một lượng không khí sạch cầnthiết để hoà loãng và đẩy khí độc ra ngoài
Trang 3Quá trình này được gọi là thông gió Có hai cách đểthông gió trong hầm:
- Thông gió tự nhiên: làm cho không khí chuyển độngqua hầm dựa vào các yếu tố tự nhiên: địa hình, độ
đốc, hướng gió…
- Thông gió nhân tạo: sử dụng các hệ thống dẫn gió,quạt thổi, quạt hút/đẩy gió cùng một số các biện phápnhân tạo khác để thông gió
Quá trình này đòi hỏi phải có nhiều thiết bị và nănglượng cho hệ thống thông gió hoạt động Nhiều trườnghợp công trình thông gió chiếm một tỷ lệ khá lớn trong
Trang 4quá trình xây dựng hầm Khi thiết kế công trình hầm,cần lưu tâm tới việc thiết kế thông gió để tăng cườnghiệu quả của thông gió tự nhiên, giảm chi phí xây dựng
hệ thống thông gió nhân tạo
6.1.2 Tính toán lượng không khí sạch cần thiết
Lượng không khí sạch (gió sạch) thổi vào hầm để hạthấp tỷ lệ các chất khí độc xuống dưới mức cho phép củaqui phạm vệ sinh được gọi là lượng không khí sạch (giósạch) cần thiết Để tính lượng không khí sạch cần thiết,cần xác định được lượng khí độc thải ra trong hầm
Trang 56.1.2.1 Đối với hầm đường sắt, metro
- Lượng than tiêu thụ khi máy chạy:
0,105 .H Z m
Với: - hệ số cung cấp than, khi đưa than vào lò thủ công
=1,03 và khi đưa bằng các thiết bị cơ giới = 1,0
H - diện truyền nhiệt và bốc hơi trong nồi supde, m 2
Zm - suất tiêu hao hơi nước của đầu máy trong 1h , KG/m 2 h
- đương lượng kỹ thuật của than, kcal.kg
Trang 6- Lượng than tiêu thụ khi máy đỗ trong hầm hoặc đóngmáy xuống dốc trong hầm:
Với: li - chiều dài đoàn tàu thứ i, m
vi - vận tốc của đoàn tàu thứ i, km/h
Trang 7- Lượng nhiên liệu tiêu thụ do đầu máy điezen:
1
n
i i i
E G t
Với: ti - thời gian đầu máy chạy trên một đoạn hầm, phút
Gi - lượng nhiên liệu tiêu thụ trên đoạn hầm tương ứng, KG/phút
- Lượng khói do 1 kg than thải ra:
Trang 96.1.2.2 Đối với hầm đường bộ
Lượng khí độc chủ yếu là CO và CO2 do việc đốtcháy xăng và dầu của động cơ thải ra Lượng khí nàyphụ thuộc vào nhiều yếu tố:
+ số lượng xe chạy trong hầm, N
+ tốc độ xe chạy trong từng đoạn, vk
+ lượng nhiên liệu mà xe tiêu thụ, qc
+ hàm lượng oxitcacbon có trong khí thải
- Lượng nhiên liệu do xe tiêu thụ trong 1s:
.3600
k c
v
Trang 10- Lượng khí độc do ôtô thải ra trên mỗi đoạn hầm:
Trang 11A2 - tỷ lệ xe xuống dốc
mi - tỷ lệ xe tương ứng theo từng loại xe
b'i - lượng khí độc do xe thải ra trong đoạn lên dốc
b''i - lượng khí độc do xe thải ra trong đoạn xuống dốc
- Khi các xe cùng chuyển động theo một hướng:
i i k
Trang 13B Q
D
(m3/giây)
Với: B - lượng khí độc do xe thải ra, g/giây
D - nồng độ khí độc cho phép, mg/lit hoặc g/m3
Giả thiết này cho phép việc tính toán đơn giản nhưngkhông chính xác do khi độc trong không khí bị hoàloãng còn bị đẩy ra ngoài do hầm có hai cửa thông nhau.Giả thiết này phù hợp cho hầm đường bộ
Trang 14b/ Giả thiết 2
Giả thiết khi thổi khí sạch vào hầm, khí độc vừa bịhoà loãng, vừa bị đẩy ra ngoài Giả thiết này phù hợpcho hầm đường sắt, metro
- Nồng độ khí độc sau khi tàu đi qua hầm:
Trang 15- Tốc độ chuyển động của luồng gió thổi vào hầm: vớigiả thiết lưu lượng không khí sạch cần thiết Q (m3/h)thổi vào hầm nhằm làm giảm nồng độ khí độc từ C0xuống Ck trong khoảng thời gian thông gió tk
k
Q v
C
V Q
Trang 16Thông thường, với mỗi chiều dài đoạn hầm lớn hơn
1500 m thì cần phải tổ chức thông gió cưỡng bức
6.1.3 Thông gió tự nhiên
Để lưu lượng không khí sạch Q vào hầm có nhiềucách, trong đó việc để không khí tự lưu thông qua hầm
do tác động của các điều kiện tự nhiên, gọi là thông gió
tự nhiên Có nhiều điều kiện tự nhiên tác động làmkhông khí lưu thông qua hầm:
Trang 176.1.3.1 Chênh lệch áp suất không khí do sự chênh lệch cao độ giữa hai cửa hầm
Giữa hai cửa hầm có độ chênh cao H (m) thì chiềucao cột nước thuỷ ngân của khí áp kế có chênh lệch độcao là h Vì thế:
hH = 13,6 - h (mm cột nước)Phía cửa hầm thấp sẽ có áp suất lớn hơn và không khí
sẽ chuyển động qua hầm để lên cửa hầm cao, là nơi có
áp suất nhỏ hơn
Trang 186.1.3.2 Chênh lệch áp suất do chênh lệch nhiệt độ giữa trong và ngoài hầm
Về mùa hè, nhiệt độ không khí bên ngoài hầm caohơn nhiệt độ trong hầm, nhiệt độ ở cửa hầm thấp lớn hơnnhiệt độ ở cửa hầm cao Do không khí trong hầm lạnhhơn nên áp suất không khí ở trong hầm sẽ lớn hơn ápsuất không khí phía cửa hầm thấp nên có sự chuyển
động của không khí từ trong hầm xuống cửa hầm thấp
Về mùa đông, hiện tượng ngược lại và có sự chuyển
động của không khí từ cửa hầm thấp lên cửa hầm cao
Trang 19Vì thế, độ chênh lệch áp suất giữa trong và ngoài hầmtính theo công thức:
Với: n - trọng lượng riêng của không khí ngoài hầm
H - chênh lệch cao độ giữa hai cửa hầm
tt - nhiệt độ không khí ở trong hầm
tn - nhiệt độ không khí ở ngoài hầm
Trang 206.1.3.3 Chênh lệch áp suất do chuyển động của gió thiên nhiên bên ngoài hầm
Khi bên ngoài hầm có gió thiên nhiên chuyển động,không khí sẽ được thổi vào trong hầm áp suất do gióthiên nhiên tuỳ thuộc vào tốc độ chuyển động của chúng
và hướng gió so với cửa hầm Nếu cửa hầm thẳng vớihướng gió thì áp suất lớn và luồng không khí vào hầmnhiều, còn khi cửa hầm vuông góc với hướng gió thì gióchỉ lướt qua mà không vào được bên trong hầm
Trang 21áp suất chênh lệch do gió thiên nhiên gây ra:
2 .cos2
v
v h
g
Với: - trong lượng riêng của không khí
v - vận tốc gió thiên nhiên bên ngoài hầm
g - gia tốc trọng trường
- góc hợp bởi phương của hầm với hướng gió chủ
đạo
Trang 22e i
v
L h
Trang 23L - chiều dài hầm, m
R - bán kính thuỷ lực của tiết diện hầm, bằng thương
số của diện tích tiết diện với chu vi tiết diện
ve - tốc độ gió chuyển động trong hầm, m/giây
i - các trở lực cục bộ trong hầm, do thay đổi tiết diệnhầm
- Từ đó, xác định được tốc độ gió tự nhiên trong hầm:
(273 )0,236
.4
Trang 24- Muốn đạt được thông gió tự nhiên thì tổng áp suấtgây ra thông gió tự nhiên phải thắng được các tổn thất ápsuất trong hầm Lưu lượng không khí qua hầm đạt được
do thông gió tự nhiên là:
Qe = 3600.F.ve (m3/h)Nếu Qe lớn hơn lưu lượng thông gió cần thiết thì chỉcần thông gió tự nhiên cho công trình Ngược lại, cần bốtrí các hệ thống thông gió nhân tạo
Trang 256.1.4 Thông gió nhân tạo
Khi lượng không khí ra vào hầm do thông gió tựnhiên hoặc tác dụng pistong của đoàn tàu chạy quakhông đảm bảo lưu lượng không khí sạch cần thiết thìphải bố trí thông gió nhân tạo Thông gió nhân tạo thựchiện bằng quạt đẩy không khí vào hầm hay hút khôngkhí bẩn bên trong hầm ra ngoài bằng các thiết bị quạtgió và dẫn gió Có nhiều biện pháp thông gió nhân tạotrong hầm
Trang 266.1.4.1 Thông gió dọc
Thông gió dọc là làm cho không khí chuyển động dọctheo chiều dài hầm Khi đó, đường dẫn gió chính là lònghầm Với những hầm dài, do lực cản lớn nên không thể
sử dụng các giếng đứng để chia hầm làm nhiều đoạn,trong các đoạn đó không khí chuyển động dọc theo hầm.Các giếng đứng bố trí cấp và thoát gió xen kẽ nhau,trong đó chọn giếng sâu hơn để thoát gió
Trang 27Bố trí hệ thống thông gió dọc với giếng đứng vừa hút vừa
đẩy gió
Bố trí hệ thống thông gió dọc với các giếng
đứng hút và
đẩy gió xen kẽ
Trang 28Do lực cản nên các tổn thất gió dọc hầm rất lớn, vì thếphải đẩy gió với tốc độ cao mới gây ra được tác dụngthông gió Tuy nhiên để đảm bảo điều kiện khai thác antoàn, tốc độ chuyển động của không khí trong hầmkhông được lớn quá 5 m/s Từ đó, xác định được chiềudài tối đa của đoạn hầm phải thông gió dọc:
max
g
Q L
F v
Với: Q - lưu lượng gió cần thổi vào
F - diện tích tiết diện ngang của hầm
vg - tốc độ chuyển động của không khí trong hầm
Trang 29Phương pháp thông gió dọc có nhược điểm làm tốc độgió lưu thông trong hầm rất lớn, gây ra lực cản lớn vàotàu xe và nguy hiểm khi có hoả hoạn trong hầm, làmgiảm mức độ khai thác tiện nghi cho người sử dụng Cónhiều cách bố trí thông gió dọc:
Trang 30- Phương pháp hút: thường áp dụng chủ yếu cho mùanóng, với đường hầm có chiều dài trung bình Nhược
điểm là không khí bẩn chạy dọc theo đường hầm và tác
động đến hành khách tham gia giao thông và công nhânvận hành sửa chữa
Bố trí hệ thống thông gió dọc bằng phương pháp hút
Trang 31- Phương pháp đẩy: áp dụng chủ yếu cho đường hầmnằm ngang với chiều dài không lớn lắm Nhược điểm làkhông khí sạch bị nhiễm bẩn khi thổi dọc từ ngoài hầmvào trong.
Bố trí hệ thống thông gió dọc bằng phương pháp đẩy
Trang 32- Phương pháp hỗn hợp: là sự kết hợp của hai phươngpháp trên.
Bố trí hệ thống
thông gió dọc bằng phương pháp hỗn hợp
Trang 336.1.4.2 Thông gió ngang
Để khắc phục các nhược điểm của phương pháp thônggió dọc, có thể sử dụng phương pháp thông gió ngang.Thông gió ngang là dùng các thiết bị dẫn gió vào vàthoát gió ra riêng biệt Không khí được đưa vào theobuồng dẫn gió bố trí trên trần hoặc dưới đáy hầm Khôngkhí thoát ra bốc lên trần hầm bị hút vào buồng dẫn gió ra
và đẩy ra ngoài
Trang 341, 2, 3 - §êng tho¸t giã
4, 5, 6 - §êng cÊp giã
Trang 35Do bè trÝ ®êng dÉn giã riªng biÖt nªn kh«ng khÝtrong èng dÉn cã thÓ lu th«ng víi vËn tèc lín tíi 16
Trang 36Phương pháp này có ưu điểm là không khí chuyển
động trong hầm điều hoà, không gây lực cản lớn đối vớichuyển động của tàu xe Khi có xảy ra hoả hoạn tại mộtkhu vực nào đó trong hầm, chỉ cần đóng van gió ngangtại khu vực đó Nhược điểm của phương pháp là yêu cầuchi phí lớn cho hệ thống thiết bị cấp dẫn và thoát gió
6.1.4.3 Thông gió hỗn hợp
Phương pháp này là sự kết hợp của hai phương pháptrên Gió đưa vào hầm theo đường dẫn riêng và theonhững đường dẫn ngang và van gió để thoát ra hai cửahầm
Trang 37Vì cấp gió vào hang bằng đường dẫn riêng nên tốc độchuyển động của không khí trong đó có thể rất mạnh(lên tới 16 20m/s) để đi được xa Có khi gió thoát ra,
do điều chỉnh van xả nên tốc độ chuyển động của giódọc hầm có thể giữ ở mức 5 6 m/s Theo phương phápnày, có thể thông gió cho những hầm đường bộ dài tới1600m có mật độ xe chạy cao chỉ với hai trạm quạt gió
đặt ở hai cửa hầm
Phương pháp này khắc phục được nhược điểm của cảhai phương pháp trên
Trang 386.2 Phòng và thoát nước cho công trìnhhầm
Sự cố thấm nước trong đường hầm không những làmmất thẩm mỹ mà còn làm cho bêtông vỏ hầm bị chónghư hại và làm giảm cơ năng của các thiết bị kỹ thuậttrong công trình, làm giảm khả năng khai thác an toàncho các phương tiện giao thông Ngoài ra, tại các vùngkhí hậu lạnh, sự đông kết nước cũng gây ảnh hưởng tới
sự làm việc của kết cấu và dễ xảy ra tai nạn giao thông
Trang 39Chính vì thế, để đảm bảo cho công trình khai thácbình thường cũng như tính chất vĩnh cửu cho công trìnhhầm, cần phải bảo vệ không gian bên trong và cả kết cấucông trình khỏi tác động của sự cố thấm nước.
6.2.1 Các biện pháp chống thấm cho công trình
Có rất nhiều biện pháp để chống thấm cho công trìnhhầm Tựu chung lại gồm có 2 nhóm biện pháp chính làdùng màng chống thấm bao quanh hầm và sử dụng cácvật liệu chống thấm phun hoặc phủ lên vách hang, vỏhầm
Trang 406.2.1.1 Sử dụng màng chống thấm bao quanh hầm
Màng chống thấm bằng vật liệu nhựa tổng hợp, đượclắp đặt vào trong các lớp kết cấu vỏ hầm nhằm để tăngcường khả năng chống thấm cho kết cấu công trình.Trong phương pháp thi công NATM, màng chống thấm
được lắp đặt vào giữa lớp bêtông phun và bêtông vỏhầm, tạo nên lớp chống thấm có độ tin cậy cao, dễ thicông Khi đó, hai lớp bêtông bị phân cách bởi màngchống thấm hầu như không có độ dính bám Kết quả làgiảm thiểu được những vết nứt ở mặt bêtông vỏ hầm
Trang 41Tuy nhiên, phải lựa chọn kỹ lưỡng chất liệu màngchống thấm cũng như biện pháp thi công phù hợp để
đảm bảo phát huy được khả năng mà không gây ảnhhưởng xấu đến chất lượng của bêtông vỏ hầm
Thông thường, màng chống thấm nên được thi côngcho toàn bộ chiều dài đường hầm Nhưng ở trường hợp
đường hầm không có mạch nước ngầm chảy ra thì có thểkhông cần thi công chống thấm mà chỉ sử dụng loạimàng đơn giản với mục đích phân chia giữa các lớp kếtcấu vỏ hầm Tuy nhiên, mạch nước ngầm có thể xuấthiện sau khi thi công, do sự phục hồi mạch nước ngầm
Trang 42hoặc do sự thay đổi vị trí của mạch nước ngầm trong địatầng Vì thế, khi thiết kế phạm vi chống thấm cần phải
dự kiến trước về các hiện tượng này Đặc biệt chú ý vị trígần cửa hầm thường có nhiều nước ngầm, do sự thẩmthấu của nước trên mặt đất cũng như dễ đông kết ởnhững vùng lạnh
Tuỳ theo điều kiện mạch nước ngầm chảy ra và hệthống thoát nước trong công trình hầm, phạm vi thi công
được giới hạn ở phần vòm đỉnh và tường hầm hoặc trêntoàn bộ biên hầm Riêng đối với dạng công trình hầmkhông có hệ thống thoát nước, phải thiết kế cấu tạo của
Trang 43bêtông vỏ hầm có thể chịu được áp lực nước và hệ thốngchống thấm có tính năng không thấm nước dưới tácdụng của áp lực nước cao.
6.2.1.2 Phun, phủ vật liệu chống thấm
Việc phòng chống thấm nước cho công trình hầm
được thực hiện bằng cách phun, phủ lớp vật liệu chốngthấm lên bề mặt hang, vỏ hầm Các dạng vật liệu nàykhá đa dạng như:
- Nhóm vật liệu silicat, bitum, hắc ín
- Vữa ximăng cát
- Nhựa tổng hợp gồm có keo Epoxy (20%), nhựa
Trang 44Phuphorol axetat (20%), phụ gia đông cứng (10%) vàcát thạch anh hạt mịn (50%).
Các vật liệu này được phun lên vách hang, vỏ hầmbằng máy phun tạo áp lực hoặc máy phun tạo bụi Ngoàitác dụng chống thấm cho kết cấu, chúng còn có tác dụnglàm đặc nền xung quanh công trình, cho phép tăng tính
đồng nhất của nền, làm tăng môđun biến dạng của nền.Tuy nhiên, nhược điểm của biện pháp là gây bụi trongquá trình phun và tiêu hao lượng vật liệu khá lớn, độ bềnkhông cao Do đó, hiện nay nhóm biện pháp này ít được
sử dụng, hoặc chỉ sử dụng mang tính chất thử nghiệm
Trang 456.2.2 Thoát nước cho công trình hầm
Trong điều kiện địa tầng ở khu vực công trình hầm có
áp lực nước lớn hoặc nguồn nước ngầm có lưu lượng lớnthì cần phải bố trí hệ thống thoát nước cho công trình.Việc lựa chọn biện pháp thoát nước phụ thuộc vào các
điều kiện địa chất – thuỷ văn, các quá trình lý hoá trong
địa tầng kết cấu và vật liệu của vỏ hầm, điều kiện thicông và khai thác của công trình