1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 rèn kĩ năng tính giá trị biểu thức SKKN TH

24 313 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 586,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sáng kiến kinh nghiệm tiểu học này quý thầy cô sẽ có nguồn tài liệu tham khảo hay, củng cố xây dựng phương pháp dạy hiệu quả, qua đó giúp các em học sinh tiếp thu bài tốt, nắm vững kiến thức phát triển tư duy trí tuệ. Sáng kiến kinh nghiệm tiểu học tập hợp các đề tài đa dạng mang tính ứng dụng cao như ứng dụng công nghệ thông tin trong trường học

Trang 1

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3

RÈN KĨ NĂNG TÍNH GIÁ TRỊ BIỂU THỨC.

Người thực hiện: Lê Thị Khuyên

Chức vụ: Giáo viên

Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Xuân Phú- Thọ

Xuân

SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Toán

THANH HOÁ NĂM 2018

Trang 2

STT NỘI DUNG Trang

2.3.1 Giải pháp 1: Tự học, tự bồi dưỡng của giáo viên 5

2.3.3 Giải pháp 3: Ôn tập, củng cố kiến thức cơ bản có liên quan đến

“Tính giá trị biểu thức”

7

2.3.4 Giải pháp 4: Giúp học sinh có kĩ năng “Tính giá trị biểu thức”

trong các tiết học chính khóa

82.3.5 Giải pháp 5: Ôn tập, củng cố các dạng bài “Tính giá trị biểu thức” 122.3.6 Giải pháp 6: Hướng dẫn học sinhthực hành các dạng bài “Tính giá

trị biểu thức” mở rộng và nâng cao

152.3.7 Giải pháp 7: Tuyên dương khen thưởng học sinh 18

1 MỞ ĐẦU 1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Trang 3

Môn Toán là một môn học chiếm một vị trí rất quan trọng và then chốt trongnội dung chương trình các môn học bậc tiểu học Nó không chỉ truyền thụ và rènluyện kỹ năng tính toán để giúp các em học tốt các môn học khác mà còn giúp các emrèn luyện trí thông minh, óc tư duy sáng tạo, khả năng tư duy lôgic, làm việc khoa học.Đồng thời qua đó rèn luyện kĩ năng tính toán cho học sinh Việc tính đúng và tính cẩnthận, đó là một việc làm hết sức quan trọng giúp các em có tính cẩn thận, chu đáotrong cuộc sống Vì vậy chúng ta cần phải quan tâm tới việc dạy toán ở Tiểu học

“Tính giá trị biểu thức”ở Tiểu học thuộc phần kiến thức số học Biểu thức không được định nghĩa bằng khái niệm cụ thể mà chỉ giới thiệu “hình thức thể hiện” là các

số, các chữ liên kết bởi các dấu của phép tính Biểu thức đã được giới thiệu ngay từlớp 1 thông qua các phép cộng, trừ Ở lớp 2, dạy học về phép nhân, phép chia Tuynhiên, đến lớp 3 mới hình thành biểu tượng về biểu thức Chương trình sách giáokhoa ở lớp 3 xây dựng ba dạng bài tính giá trị biểu thức cơ bản, rõ ràng và có cáchtính cho từng dạng bài: Biểu thức chỉ có dấu cộng, trừ hoặc nhân, chia; biểu thức códấu cộng, trừ, nhân, chia; biểu thức có dấu ngoặc đơn Ngoài ra, còn nhiều dạng bàimới về tính giá trị biểu thức đòi hỏi học sinh phải tư duy cao hơn, phải có kĩ năng vậndụng thành thạo các dạng cơ bản đã học để thực hiện yêu cầu như: Biểu thức chỉ cómột dấu phép tính nhưng nhiều số, viết thành biểu thức rồi tính, tìm số, đều lànhững dạng bài có nhiều số hoặc nhiều phép tính

Thực tế, học “Tính giá trị biểu thức” không phải khó đối với học sinh Song kĩnăng tính toán của học sinh còn hạn chế nên nhiều em đã làm sai ngay từ những biểuthức đơn chỉ với 1 phép tính Khi học biểu thức 2 phép tính trở lên, đa số học sinh cònlúng túng, nhầm lẫn khi thực hiện thứ tự các phép tính trong biểu thức, nhầm lẫn cáchlàm các dạng bài dẫn đến sai kết quả tính Một mặt, do giáo viên chưa hệ thống cáckiểu bài tập đa dạng, khác nhau về 1 dạng bài để các em được luyện tập và nâng cao kĩ năng

Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp 3, tôi thấy tính giá trị biểu thức là cơ sở

để học các mạch kiến thức khác như: hình học, giải toán và vận dụng tính toán trongđời sống thực tế Vì vậy, làm cách nào để học sinh lớp 3 nói chung, học sinh tiểu họcnói riêng học tốt các dạng bài tính giá trị biểu thức là một vấn đề trăn trở đối với mỗigiáo viên Tiểu học Do đó, trong quá trình giảng dạy tôi đã tìm tòi, nghiên cứu, đúc kếtkinh nghiệm Qua quá trình nghiên cứu và thực tế giảng dạy, tôi muốn chia sẻ với các

bạn đồng nghiệp kinh nghiệm nhỏ: “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 rèn kĩ

năng Tính giá trị biểu thức”.

Đối với đề tài này, tôi chỉ đi sâu nghiên cứu để giúp học sinh làm chắc dạng

“Tính giá trị biểu thức” học trong chương trình Toán lớp 3 Mong rằng sẽ nhận được

sự góp ý chân thành của các cấp quản lí và các bạn đồng nghiệp để đề tài của tôi đượchoàn chỉnh hơn và áp dụng rộng rãi trong giảng dạy

1.2 M ỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU :

Trang 4

Mục đích nghiên cứu là tìm ra những biện pháp rèn cho học sinh lớp 3 kĩ năngtính giá trị biểu thức Kĩ năng tính toán và giải các dạng toán trong chương trình.

1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU :

Với đề tài này tôi chỉ đi sâu nghiên cứu và áp dụng giảng dạy cho học sinh lớp 3C

do tôi chủ nhiệm và học sinh khối 3 trong 2 năm học 2016 – 2017; 2017 - 2018

1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU :

Để thực hiện đề tài này tôi đã vận dụng những phương pháp để nghiên cứu như sau:+ Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết

+ Phương pháp điều tra khảo sát thực tế

+ Phương pháp điều tra

Lớp 2: Học về phép cộng, trừ các số trong phạm vi 100; phép cộng, trừ các số trong

phạm vi 1000 Các bảng nhân, chia từ 2 đến 5 Thực hiện dãy tính có đến 2 dấu phép tínhcộng, trừ hoặc nhân, chia xong chưa hình thành quy tắc tính Tìm thành phần chưa biết.Giới thiệu các phần bằng nhau của đơn vị Giải toán có lời văn,

Lớp 3: Củng cố bảng nhân, chia từ 2 đến 5 Bổ sung cộng, trừ các số có ba chữ số

(có nhớ 1 lần) Lập bảng nhân (chia) 6, 7, 8, 9 Nhân, chia ngoài bảng trong phạm vi

1000 Tìm thành phần chưa biết của phép tính Tính chu vi một số hình Đặc biệt, ở lớp 3học sinh được làm quen với biểu thức số và giá trị biểu thức, giới thiệu thứ tự thực hiệncác phép tính trong biểu thức số có đến hai dấu phép tính, có dấu ngoặc Học sinh đượclàm quen với vòng số lớn hơn: phép cộng, trừ có nhớ Phép nhân, chia các số trong phạm

vi 10 000; Nhận biết các số trong phạm vi 100 000, phép cộng, trừ có nhớ các số có 5 chữ

số Nhân, chia các số có 5 chữ số với các số có 1 chữ số Tính diện tích một số hình.Tiếp tục tính giá trị của biểu thức có đến 2 dấu phép tính; Gấp một số lên nhiều lần,giảm đi một số lần; giải toán, …

Lớp 4, lớp 5: Học sinh tiếp tục học cộng, trừ, nhân, chia nhưng vòng số lớn hơn.

Xoay quanh dạng phép cộng, trừ, nhân, chia đó, học sinh tiếp tục học các dạng bài tậptính giá trị của biểu thức, giải toán có liên quan đến phép tính giải bằng hai cách

Đối với dạng bài “Tính giá trị biểu thức” ở lớp 3, ngoài 3 dạng cơ bản trong sáchgiáo khoa đã cung cấp, tôi mở rộng và cung cấp thêm cho học sinh một số dạng bài về tínhgiá trị biểu thức có nhiều hơn 2 dấu phép tính nhưng vừa sức với học sinh, giúp các em vận

Trang 5

dụng tốt các dạng bài đã học và nâng cao kĩ năng tính giá trị biểu thức Cụ thể có các dạngnhư sau:

* Biểu thức dạng yêu cầu tính nhanh, tính thuận tiện, hợp lý:

đã căn cứ vào thực tế việc dạy học trên lớp khi dạy xong 3 dạng bài tính giá trị biểuthức trong chương trình sách giáo khoa Toán 3 Vào tháng 10 năm học 2016 – 2017;

2017 – 2018, tôi đã ra đề khảo sát kiểm tra phần tính giá trị của biểu thức như sau:

§ề kiểm tra (Thêi gian: 40phót) Bài 1: Tính giá trị của biểu thức:

Trang 6

Từ kết quả trên, tôi nhận thấy: Kĩ năng tính giá trị biểu thức của học sinh cònnhiều hạn chế Các em vẫn còn làm sai kết quả tính và nhầm lẫn cách làm các dạngbài Để khắc phục tình trạng trên, tôi tìm ra lỗi sai của các em trong từng dạng bài vànguyên nhân của những tồn tại đó để từ đó có những giải pháp kịp thời, phù hợp, giúp các

em nắm vững các dạng bài về tính giá trị biểu thức

a Những tồn tại của học sinh trong từng dạng bài tính giá trị biểu thức.

* Trường hợp 1: Đối với các biểu thức đơn: (Biểu thức chỉ có 2 số và 1 dấu phép tính)

+ Đối với biểu thức đơn có 1 phép tính: cộng, trừ, nhân, chia có nhớ, đa số họcsinh sai do quên không nhớ khi thực hiện tính hoặc do không thuộc các bảng cộng, trừ,nhân, chia đã học nên tính sai kết quả

* Trường hợp 2: Đối với các biểu thức có 2 dấu phép tính.

+ Biểu thức chỉ có dấu cộng, trừ hoặc nhân, chia.

Ví dụ: Tính giá trị biểu thức sau:

a) 163 + 50 + 6 b) 329 – 20 + 5 c) 84 : 3 x 2

- Một số học sinh đã làm bài như sau:

a) 163 + 50 + 6 = 163 + 56 b) 329 – 20 + 5 = 329 – 25 c) 84 : 3 x 2 = 84 : 6 = 219 = 304 = 14

+ Câu a: Học sinh sai không nắm được cách tính giá trị biểu thức ở dạng 1 Thø

tù c¸ch tính biểu thức từ phải sang trái

+ Câu b, c: Học sinh sai vì nhầm lẫn với cách tính ở dạng 2 Do đó, khi gặp cácdạng biểu thức có 2 phép tính: nhân và chia; cộng và trừ các em không thực hiện tínhtheo thứ tự từ trái sang phải mà thực hiện tính phép nhân trước rồi đến phép chia, phépcộng trước rồi đến phép trừ

+ Biểu thức chỉ có dấu cộng, trừ hoặc nhân, chia.

Với dạng bài này, tôi nhận thấy ngoài việc học sinh nhân, chia, cộng, trừ sai, thìhọc sinh thường mắc lỗi sai khi viết kết quả biểu thức sau dấu bằng thứ nhất

Ví dụ: Tính giá trị của biểu thức:

a) 500 + 6 x 7 b) 304 + 93 : 3

- Một số học sinh đã làm như sau:

a) 500 + 8 x 6 = 48 + 500 b) 304 + 93 : 3 = 31 + 304

= 548 = 335

Học sinh làm sai vì viết chưa đúng vị trí kết quả trong biểu thức vì cho rằng

“trong biểu thức có dấu cộng, trừ, nhân, chia ta thực hiện các phép tính nhân, chiatrước, thực hiện các phép tính cộng, trừ sau” Do đó, thực hiện phép nhân, chia trướcthì viết kết quả trước rồi với cộng số hạng còn lại

+ Biểu thức có dấu ngoặc.

Ví dụ: Tính giá trị biểu thức:

a) (45 + 15) x 2 b) 45 x (4 : 2) c) 124 x ( 42 – 40)

- Một số học sinh đã làm sai như sau:

a) (45 + 15) x 2 = 45 + 30 b) 45 x (4 : 2) = 180 : 2 c)124 x (42 – 40) = 2 x 124 = 75 = 90 = 248

+ Câu a: Học sinh làm sai vì thực hiện phép tính nhân trước, thực hiện phép tínhcộng sau

+ Câu b: Học sinh làm sai vì thực hiện phép tính nhân rồi mới đến phép tính chia + Câu c: Học sinh làm sai vì cho rằng tính phép tính trong ngoặc trước thì viết kếtquả trước

Trang 7

b Nguyên nhân của những tồn tại.

Từ những tồn tại của các em khi thực hành các dạng bài tính giá trị biểu thứctôi đã tìm ra một số nguyên nhân cơ bản như sau:

+ Giáo viên đôi lúc chưa linh hoạt trong giảng dạy, chưa đầu tư nghiên cứu tìm

ra phương pháp giảng dạy hợp lý đối với từng dạng bài Chưa khắc sâu cách làm từngdạng bài cho học sinh

+ Một số em có lực học không ổn định và nhanh quên kiến thức; kĩ năng tínhtoán của một số em còn sai; học sinh chưa thuộc bảng cộng, trừ, nhân, chia

+ Lên đến lớp 3, các em được thực hiện các phép tính cộng, trừ, nhân có nhớnhưng khi thực hiện các em thường quên không nhớ hoặc cộng, trừ, nhân, chia sai.Học sinh chưa hiểu bản chất của từng quy tắc, chưa nắm vững cách tính của từng dạngtính giá trị biểu thức

+ Học sinh chưa được làm quen với các dạng bài tập mở rộng về tính nhanh giátrị biểu thức nên hầu hết các em tính sai hoặc đưa ra cách tính chưa hợp lý khi thựchiện yêu cầu bài tập

+ Do hoàn cảnh gia đình các em hầu hết là gia đình nông nghiệp, nhiều em có hoàncảnh khó khăn, đi học thiếu đồ dùng học tập, sức khỏe không tốt nên khả năng tiếp thu bàihọc của các em trên lớp không tốt

Từ thực trạng như trên, để học sinh có được các kĩ năng tính giá trị biểu thứcmột cách chắc chắn, bền vững Tôi đã tích cực học tập, tham khảo các tài liệu mônToán và đã tìm ra phương pháp dạy kĩ năng tính giá trị biểu thức cho học sinh lớp 3.Sau đây tôi xin trình bày các giải pháp mà tôi đã thực hiện như sau

2 3 Các giải pháp tổ chức thực hiện.

Giải pháp 1: Tự học và tự bồi dưỡng của giáo viên.

Tự học, tự bồi dưỡng là phương thức tốt nhất giúp người giáo viên tiến bộ,trưởng thành, có đủ phẩm chất năng lực chuyên môn nghiệp vụ để hoàn thành nhiệm

vụ giáo dục đào tạo được giao Tự học, tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho mình,tôi nghĩ không phải là trong một, hai ngày mà là cả một quá trình làm nghề dạy học Ýthức được điều đó, tôi luôn tự học hỏi nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ chobản thân mình

Ngay từ đầu năm học, dưới sự chỉ đạo của BGH, tôi đã xây dựng cho mình kếhoạch tự học, tự bồi dưỡng một cách khoa học nhất Trong kế hoạch tôi đã xác địnhđược mục tiêu, nội dung, hình thức, phương pháp tự học, tự bồi dưỡng Với cácchuyên đề nhà trường tổ chức, tôi đã tự mình tìm hiểu nội dung chương trình của cáclớp, tìm hiểu mục tiêu của các tiết học để cùng tham gia thảo luận đóng góp ý kiến vớiđồng nghiệp

Khi được giao nhiệm vụ dạy lớp 3, tôi đã tìm hiểu sâu về chương trình nóichung và dạy tính giá trị biểu thức nói riêng, chỗ nào băn khoăn chưa hiểu tôi hỏi ngayđồng nghiệp, chuyên môn để được tháo gỡ Nắm vững bản chất dạng Tính giá trị biểuthức tôi chú trọng nghiên cứu diễn đạt câu từ một cách dễ hiểu nhất để truyền đạt chocác em

Đặc biệt, dưới sự góp ý của Ban giám hiệu qua các tiết dự giờ, kiểm tra của bảnthân hay của đồng nghiệp, tôi tiếp thu và chỉnh sửa nghiêm túc Ngoài ra, tự bản thânluôn học hỏi bạn bè đồng nghiệp trong nhà trường, liên tục tham gia dự giờ đồngnghiệp trong khối để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cũng như khả năngtruyền đạt giúp học sinh nắm vững cách làm bài trong mỗi tiết học

Trang 8

Qua các việc làm trên, tôi thấy mình vững vàng hơn về kiến thức và phươngpháp Không những thế, tôi đã nắm vững nội dung chương trình ở từng khối lớp vàđứng ở vị trí lớp nào tôi cũng có thể dạy được

Như vậy, với ý thức trách nhiệm trong công việc đến nay tôi đã có trình độchuyên môn vững vàng hơn trong dạy học Xây dựng được kế hoạch dạy từng mạchkiến thức cho học sinh một cách vững chắc Học sinh được cung cấp các mạch kiếnthức trong sách giáo khoa ngắn gọn, đúng và dễ hiểu nhất từ giáo viên Đó là kết quảnghiên cứu tìm tòi, học hỏi thực sự mà tôi tâm đắc Tôi đem kết quả đó vào chươngtrình dạy học cho học sinh lớp 3 trong năm học 2017 – 2018

Giải pháp 2: Phân loại đối tượng học sinh để nâng cao chất lượng dạy học.

Trong một lớp học thì lực học của học sinh thường không đồng đều nên việcgiáo viên nắm bắt được lực học của từng học sinh trong lớp là nhiệm vụ đầu tiên vàcũng hết sức quan trọng Từ đó, giáo viên có những giải pháp giúp các em đạt đượcchuẩn kiến thức kĩ năng của môn học Chính vì vậy, qua theo dõi thực tế lực học củalớp, tôi chia học sinh thành các nhóm sau:

+ Nhóm 1: Học sinh bị rỗng kiến thức ở lớp dưới: 11/33 em

+ Nhóm 2: Học sinh thiếu điều kiện học tập do hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố mẹ

không quan tâm: 4/33 em

+ Nhóm 3: Học sinh không chú ý học, nghịch ngợm: 4/33 em

+ Nhóm 4: Học sinh tiếp thu bài tốt, tích cực học bài: 14/33 em.

Sau khi phân loại được đối tượng học sinh, tôi giải thích để các em hiểu và biếtcác em còn chưa đạt chuẩn phần kiến thức nào Sau đó, tôi cho các em tự đăng kí thiđua theo mẫu in sẵn Tất cả 33/33 em đều đăng kí đạt chuẩn kiến thức kĩ năng của tất

cả các môn học Đặc biệt, có nhiều em mạnh dạn đăng kí các danh hiệu thi đua cuốinăm Sau đó, tôi lập ngay kế hoạch kèm cặp giúp đỡ và bồi dưỡng học sinh theo từng nhóm

+ Nhóm 1: Đây là nhóm học sinh tôi quan tâm nhiều nhất Tôi vừa phải giúp các em

nhớ lại kiến thức cũ, vừa phải đạt được chuẩn kiến thức kĩ năng trong từng tiết học.Nên tôi liên tục kiểm tra các phép tính cộng, trừ, nhân, chia bằng nhiều hình thức khácnhau: đọc thuộc lòng, phiếu bài tập, chấm bài thường xuyên,…

+ Nhóm 2: Với đối tượng học sinh này, tôi đến nhà để tìm hiểu điều kiện hoàn cảnh

của học sinh đó; vận động phụ huynh và học sinh trong lớp giúp đỡ về: sách vở, đồdùng… Ngoài ra, tôi luôn lắng nghe tâm sự để chia sẻ động viên các em kịp thời

+ Nhóm 3: Trường hợp học sinh nghịch ngợm, không chú ý trong giờ học, tôi xếp cho

các học sinh đó ngồi ngay bàn đầu và xếp em học sinh ngoan, học giỏi bên cạnh đểgiúp đỡ, kèm cặp Trong giờ học, tôi thường xuyên quan tâm đến học sinh đó bằng cáchgọi trả lời các câu hỏi, khen ngợi và động viên khích lệ các em khi có sự tiến bộ…

+ Nhóm 4: Là nhóm học sinh ngoan, tiếp thu bài tốt, ngoài những bài tập yêu cầu cần

đạt chuẩn, tôi luôn chuẩn bị thêm một số bài tập nâng cao hơn để giúp các em phát huykhả năng của mình

Ngoài ra, với học sinh nhóm 1, 2, 3 tôi luôn đánh giá các em theo hướng độngviên, khuyến khích còn nhóm 4 tôi đánh giá theo sự sáng tạo Bên cạnh đó, trong thờigian dạy buổi 2, tôi dành nhiều thời gian để ôn tập củng cố lại các bảng nhân, chia,cộng, trừ với nhiều hình thức: đọc đồng thanh từng bảng nhân, chia; bằng cách nốitiếp, cá nhân, thi đọc thuộc lòng, hỏi vấn đáp nhanh các phép tính cộng, trừ trong bảng

đã học ở lớp 2, giải toán liên quan đến tính giá trị biểu thức… với mục đích giúp các

em nhớ lại các dạng bài đã học

Trang 9

Sau thời gian được ôn tập và có hệ thống, học sinh lớp tôi có nhiều chuyển biếntích cực trong học tập: đi học chuyên cần, tích cực tự giác học bài và biết vận dụng vàotính giá trị của biểu thức tốt hơn Đó là cơ sở để các em học tốt tính giá trị biểu thứctrong chương trình học.

Giải pháp 3 : Ôn tập, củng cố kiến thức cơ bản có liên quan đến tính giá trị biểu thức.

Để học sinh học tốt được dạng bài tính giá trị biểu thức ở lớp 3, trước hết họcsinh phải thực hiện thành thạo các bảng nhân, chia, cộng, trừ đã học Có kĩ năng thựchiện thành thạo các phép tính về cộng, trừ, nhân, chia từ dễ đến khó theo các vòng sốcủa chương trình sách giáo khoa Do đó tôi đã tiến hành ôn tập lại cho học sinh cácmạch kiến thức trên như sau:

Với các bảng nhân chia từ 2 đến 9.

Ở lớp 2, các em đã được học các bảng cộng, trừ Ngoài ra các em còn học bảngnhân, chia từ 2 đến 5 Do đó, tôi tổ chức cho các em ôn tập ngay từ đầu năm học,thường xuyên kiểm tra nhắc nhở trong quá trình học toán Để ôn tập cho học sinh tôitiến hành dưới các hình thức như: Phát phiếu bài tập cho các em làm với nhiều dạngbài Tổ chức trò chơi xì điện, trò chơi đố nhau Tổ chức học nhóm đôi học sinh kiểmtra lẫn nhau về các bảng cộng trừ, nhân, chia đã học, báo cáo kết quả kiểm tra Cáchình thức ôn tập trên tôi tiến hành vào 15 phút đầu của các buổi ôn Toán - buổi 2 trongngày Tiến hành ôn tập tương tự cho học sinh với các bảng nhân chia từ 6 đến 9 các emđược học ở lớp 3

Với các phép nhân, chia các số có 2, 3 chữ số với số có 1 chữ số.

Với các biểu thức là phép nhân, chia các số có 2, 3chữ số cho số có 1 chữ số,sau khi cung cấp đầy đủ kiến thức theo chương trình sách giáo khoa, tôi cũng tiến hànhcho học sinh ôn tập vào buổi 2 dưới dạng phiếu bài tập, kiểm tra kĩ năng tính của họcsinh thường xuyên bằng bảng con, giấy kiểm tra 15 phút Tiến hành ôn tập tương tựvới phép nhân, chia các số có 4, 5 chữ số cho số có 1 chữ số các em được học sau này.Đặc biệt với phép chia hết và phép chia có dư trong bảng, tôi rèn cho học sinh kĩ năngnói nhanh kết quả tính bằng cách hỏi đáp nhanh Với phép chia tôi lưu ý cho học sinhnhư sau:

+ Chia từ trái sang phải: lần lượt lấy chữ số từ hàng cao nhất đến chữ số hàng thấpnhất của số bị chia để chia cho số chia Mỗi lượt chia, được mấy thì viết chữ số đó vàothương Mỗi lượt chia còn dư bao nhiêu thì gộp với một chữ số ở hàng liền sau ở số bị chia

để chia lượt sau

Trang 10

+ Khi ở lượt chia trước không còn số dư, kể từ lượt chia thứ 2 trở đi, mỗi lần hạxuống là 1 lần chia Nếu hạ chữ số ở số bị chia bé hơn số chia thì phải viết 0 vàothương rồi mới hạ thêm các chữ số ở hàng tiếp theo ở số bị chia để chia.

+ Nếu chữ số đầu tiên ở số bị chia bé hơn số chia thì ta phải lấy 2 chữ số đểchia, mỗi một lượt chia có 3 bước: chia, nhân ngược lại và trừ

+ Số dư trong mỗi lượt chia luôn bé hơn số chia

Sau khi cung cấp, ôn tập lại cho học sinh phần lý thuyết về các biểu thức đơn, tôi ra

hệ thống bài tập vận dụng, giúp học sinh được rèn kĩ năng tính đúng và nhanh, đồng thờikiểm tra mức độ tiếp thu kiến thức của học sinh sau khi ôn tập với hệ thống bài tập như sau:

Phiếu bài tập minh họa.

Bài 5: Cả hộp sữa cân nặng 456g, vỏ hộp sữa cân nặng 67g Hỏi trong hộp sữa có bao

nhiêu gam sữa?

Với việc hệ thống ôn tập lại các kiến thức liên quan đến tính giá trị biểu thức đãhọc ở lớp 2; cộng, trừ, nhân, chia các số có 2, 3 chữ số ở lớp 3 là cơ sở giúp các em cónền tảng cơ bản vững chắc nhất để các em tự tin, vận dụng và làm tốt được các dạngbài tính giá trị biểu thức nhiều phép tính và nhiều số ở lớp 3

Qua việc thực hiện biện pháp trên, tôi thấy hầu hết các em học sinh trong lớp đãthuộc và hiểu được bản chất, ý nghĩa của các bảng cộng, trừ, nhân, chia Đặc biệt, kĩnăng tính giá trị biểu thức đơn của các em nhanh và thành thạo

Giải pháp 4: Giúp học sinh có kĩ năng “Tính giá trị biểu thức” trong các bài học

chính khóa.

Sau khi giúp học sinh ôn tập, củng cố lại các kiến thức có liên quan đến dạng “Tínhgiá trị biểu thức”, tôi đã nghiên cứu để tìm cách dạy dạng toán về tính giá trị biểu thứccho học sinh một cách dễ hiểu nhất Cũng như các mạch kiến thức, khi dạy đến dạng toán

“Tính giá trị biểu thức”, tôi luôn yêu cầu học sinh nắm chắc các kiến thức cơ bản mà sáchgiáo khoa cung cấp

a, Cho học sinh làm quen với biểu thức (Tiết 77 - SGK – Trang 78 )

Ở các lớp 1, 2 các em mới chỉ thực hiện các phép tính cộng trừ, nhân, chia dạngđơn giản nhưng các em chưa biết gì về biểu thức Vậy để học sinh làm quen với biểu thức

và biết cách tính giá trị, tôi đã cung cấp giới thiệu cho học sinh nhận biết về biểu thức

VD: 126 + 51; 62 – 11; 13 x 7; 125 + 10 – 4 được được gọi là biểu thức

Tôi đưa ra kết luận: Biểu thức là một dãy các số, dấu phép tính viết xen kẽ vớinhau Từ đây, học sinh nhận biết được khái niệm ban đầu về biểu thức và các em không

486 2

Trang 11

còn bỡ ngỡ về biểu thức mà cảm thấy quen thuộc vì lâu nay các em đã được học, đượclàm Đồng thời tôi còn giới thiệu cho các em biết về giá trị của biểu thức.

VD: 126 + 51 = 177 Vậy 177 được gọi là giá trị cả biểu thức 126 + 51

VD: 62 – 11 = 51 Vậy 51 được gọi là giá trị của biểu thức 62 - 11

VD: 125 + 10 – 4 = 131 Vậy 131 được gọi là giá trị của biểu thức 125 + 10 – 4 Tôi khẳng định cho học sinh: Giá trị của biểu thức chính là kết quả tìm được củabiểu thức Từ đây các em hiểu rõ hơn về biểu thức và giá trị biểu thức

* Sau khi các em đã có khái niệm ban đầu về biểu thức và giá trị biểu thức, tôi mớitiến hành dạy các dạng bài “Tính giá trị biểu thức” trong sách giáo khoa thông qua cácbước sau:

Bước 1: Hướng dẫn học sinh nhận xét biểu thức

Bước 2: Hướng dẫn học sinh cách làm

Bước 3: Hướng dẫn học sinh cách trình bày

Bước 2: Hướng dẫn học sinh cách làm:

- Biểu thức trên ta tính như sau: lấy 60 cộng 20 bằng 80, 80 trừ 5 bằng 75 Các

em thực hiện phép tính từ trái sang phải có nghĩa là thực hiện phép tính cộng trướcđược kết quả bao nhiêu rồi thực hiện tiếp phép trừ

Bước 3: Hướng dẫn học sinh cách trình bày như sau:

Bước 4: Củng cố cách làm cho học sinh

+ Muốn tính giá trị biểu thức khi có nhiều dấu cộng, trừ ta làm thế nào?

(Thực hiện tính từ trái sang phải)

VD2: 49 : 7 x 5 (SGK – Trang 79)

Bước 1: Hướng dẫn học sinh nhận xét biểu thức:

- Biểu thức này có phép tính chia và nhân

Bước 2: Hướng dẫn học sinh cách làm:

- Biểu thức trên ta tính như sau: Lấy 49 chia cho 7 được 7, 7 nhân 5 bằng 35.Các em thực hiện từ trái sang phải, thực hiện phép tính chia trước được kết quả baonhiêu rồi thực hiện tiếp phép nhân

Bước 3: Hướng dẫn học sinh cách trình bày:

49 : 7 x 5 = 7 x 5

= 35

* Tôi lưu ý học sinh như sau:

+ Sau khi tìm được kết quả của phép tính chia các em viết kết quả tìm được sau dấubằng rồi viết nhân 5 sang phải

Trang 12

+ Thực hiện phép tính nhân được kết quả bao nhiêu viết dấu bằng xuống dòng dướithẳng với dấu bằng ở trên và viết kết quả của phép tính nhân vừa tìm được.

Bước 4: Củng cố cách làm cho học sinh

+ Trong biểu thức có chứa dấu phép tính cộng, trừ, nhân, chia ta thực hiện tính nhưthế nào? (Thực hiện tính từ trái sang phải)

Qua 2 ví dụ nêu trên tôi khẳng định cho học sinh: Đây là dạng “Tính giá trị biểu thức” chỉ có các dấu (cộng, trừ) hoặc (nhân, chia) (Dạng 1)

Tôi quy ước cho học sinh cách làm như sau: Khi tính giá trị của các biểu thứcchỉ có phép tính cộng, trừ hoặc nhân, chia thì ta thực hiện các phép tính theo thứ tự từtrái sang phải

c Biểu thức có dấu cộng, trừ, nhân, chia (Tiết 79)

VD1: 60 + 35 : 5 (SGK – Trang 80)

Bước 1: Hướng dẫn học sinh nhận xét biểu thức:

- Biểu thức này có phép tính cộng và chia

Bước 2: Hướng dẫn học sinh cách làm:

- Biểu thức trên ta tính như sau: Ta thực hiện phép chia trước lấy 35 chia cho 5được 7, Lấy 60 cộng 7 bằng 67 Các em thực hiện chia trước, cộng sau

Bước 3: Hướng dẫn học sinh cách trình bày:

- Tôi hướng dẫn học sinh cách trình bày như sau:

60 + 35 : 5 = 60 + 7

= 67

* Tôi lưu ý học sinh cách trình bày như sau:

+ Số 60 đứng ở vị trí đầu nên các em phải giữ nguyên vị trí của số 60 sang sau dấubằng không được đổi vị trí giữ nguyên giống biểu thức ban đầu

+ Thực hiện phép chia được kết quả bao nhiêu viết sang bên phải dấu cộng

+ Thực hiện phép tính cộng được kết quả bao nhiêu viết dấu bằng xuống dòng dướithẳng với dấu bằng ở trên rồi viết kết quả của phép tính cộng vừa tìm được

Bước 4: Củng cố cách làm cho học sinh

+ Muốn tính giá trị biểu thức khi có dấu cộng và chia ta làm thế nào?

(Thực hiện phép tính chia trước, phép tính cộng sau)

VD2: 86 - 10 x 4 (SGK – Trang 80)

Bước 1: Hướng dẫn học sinh nhận xét biểu thức:

- Biểu thức này có phép tính trừ và nhân

Bước 2: Hướng dẫn học sinh cách làm:

- Biểu thức trên ta tính như sau: Ta thực hiện phép nhân trước lấy 10 nhân 4được 40; Lấy 86 trừ 40 bằng 46 Các em thực hiện phép tính nhân trước, phép tính trừ sau.Bước 3: Hướng dẫn học sinh cách trình bày:

- Tôi hướng dẫn học sinh cách trình bày như sau:

86 – 10 x 4 = 86 - 40

= 46

* Tôi lưu ý học sinh:

Ngày đăng: 30/11/2018, 21:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w